Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 63
Lượt truy cập: 1026956
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ BÁO ĐỘNG NHỮNG VI KHUẨN MỚI CỰC KỲ ĐỀ KHÁNG.

Đến từ Ân Độ, những vi khuẩn này đề kháng hầu hết các kháng sinh và đã lưu hành trong nhiều nước.

INFECTIONS. Những giống gốc vi khuẩn (souches bactériennes) mới, đề kháng với hầu hết tất cả các kháng sinh, đã được phát hiện từ năm 2003 ở Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Một công trình nghiên cứu được công bố tuần qua nhấn mạnh rằng những vi khuẩn mới cực kỳ đề kháng (bactéries ultrarésistantes) này có thể có mặt khắp nơi trên hành tinh trong những năm tới. Nhóm nghiên cứu, được lèo lái bởi Timothy Wallsh, thuộc đại học Cardiff, kêu gọi một sự giám sát quốc tế (The Lancet on line).

Thật vậy, các công trình của họ cho thấy rằng tỷ lệ lưu hành đã gia tăng rất nhanh ở Ấn Độ : từ chỗ rất hiếm hoi cách nay ba năm, từ nay các vi khuẩn cực kỳ đề kháng này có liên hệ trong gần 3% các nhiễm trùng ruột đề kháng (infections intestinales résistantes). Lại còn đáng lo ngại hơn, những vi khuẩn này đã ra khỏi tiểu lục địa. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy chúng nơi 37 bệnh nhân người Anh đến Ấn Độ vì những phẫu thuật khác nhau : ghép các cơ quan, thẩm tách thận, điều trị thẩm mỹ …nhiều trường hợp đã được ghi nhận trên thế giới, trong đó một ở Pháp.

NHỮNG NGƯỜI LÀNH MANG TRÙNG.

Hiện tượng này rất là đáng quan ngại, nhất là bởi vì các vi khuẩn ruột biến dị (entérobactéries mutantes) này đề kháng với carbapénème, một lớp các thuốc kháng sinh, ngày nay là thành lũy cuối cùng chống lại các vi trùng đa đề kháng khó điều trị nhất. Ở Châu Âu, mỗi năm, gần 25.000 trường hợp tử vong liên quan với những vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes), vì lẽ thiếu các kháng sinh có hiệu quả.

“ Mối đe dọa là có thật ”, Patrice Nordmann, giám đốc của đơn vị Inserm, chuyên về những vi khuẩn mới phát khởi và đa đề kháng, đã xác nhận như vậy. Trước hết, bởi vì các cơ chế đề kháng được quan sát ở Ấn Độ là hiệu quả một cách đáng sợ. Thật vậy, cơ chế này là do một gène đi qua dễ dàng từ vi trùng này qua vi trùng khác. “ Paris sẽ không bị xâm chiếm trong một sớm một chiều ”, tuy nhiên Patrice Nordmann vội vã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, sự khuếch tán của những vi khuẩn này không có liên hệ gì với một dịch bệnh virus, ví dụ như cúm H1N1, đi vòng quanh thế giới trong vài tháng.

Yếu tố khác chẳng thuận lợi chút nào, gène của khả năng cực kỳ đề kháng (ultrarésistance) này, được mệnh danh “ blaNDM-1” (New Dehli métallo-bêtalactamase), hiện diện nơi những loài vi khuẩn, trong điều kiện tự nhiên, có rất dồi dào trong khuẩn chí ruột và hệ hô hấp (Escherichia Coli và Klebsiella pneumoniae), trong đó một vài loài sinh bệnh. Sự chung đụng của chúng với người do đó làm gia tăng các nguy cơ lây nhiễm, nhất là trong một quốc gia có 1,1 tỷ dân, trong đó điều kiện vệ sinh và chất lượng nước uống không được thỏa mãn. Thật vậy, trong tiểu lục địa Ấn Độ, gène blaNDM-1 không bị giam hãm trong các bệnh viện, nơi đây hiện diện phần lớn những bệnh nhân bị những nhiễm trùng đa đề kháng. Gène này lưu hành trong môi trường và trong nước.

Do đó du lịch y khoa (tourisme médical) không phải là đường lây nhiễm khả dĩ duy nhất. Ở Ấn Độ, là nơi hoạt động du lịch chữa bệnh mang lại thu nhập ngoại tệ ngày càng nhiều, giới cầm quyền cực lực phản đối, cho rằng công trình nghiên cứu Ấn Độ là một sự mạ lị vu khống và rằng gène blaNDM-1 vốn có khắp nơi trên quả địa cầu. “ Hiện nay, không gì chỉ rõ rằng các giống gốc đa đề kháng là độc lực hơn những giống gốc khác ”, Patrice Nordmann đã xác nhận như vậy. Noi chung, chúng gây nên những nhiễm trùng đường tiểu và ruột, nhưng vài người bị lây nhiễm có thể không phát triển bệnh, điều mà ta gọi là những người lành mang trùng (porteurs sains).

Vấn đề gay gắt nhất được đặt ra đối với những bệnh nhân yếu ớt và bị thiếu hụt miễn dịch (immunodéficient). Chỉ có hai kháng sinh dường như có hiệu quả : “ colimycine, một kháng sinh xưa khó sử dụng và độc, cũng như một thứ thuốc mới, tigecycline, mà liều lượng chưa được xác lập ”, Jean Carlet, cựu chủ tịch của Ủy ban kỹ thuật quốc gia về những nhiễm trùng bệnh viện và ngày nay là tham vấn của OMS, đã giải thích như vậy. Không có một loại thuốc mới nào hiện nay được dự kiến phát triển. Các kháng sinh không sinh lợi dưới mắt của các hãng bào chế lớn.

Nước Anh, có những trao đổi rất chặt chẽ với cựu thuộc địa của mình, là chịu nhất sự xuất hiện của những vi khuẩn mới này. Gần 4 triệu người có nguồn gốc tiểu lục địa sống ở Anh. Tuy nhiên vài trường hợp đã được ghi nhận ở Hòa Lan, ở Canada, ở Hoa Kỳ, ở Kenya và ở Oman. NMD-1 đã gây nên tử vong cho một người ở Suède cũng như ở Bỉ và Úc đại lợi. Trường hợp duy nhất được ghi nhận ở Pháp có liên quan đến một người được nhập viện vì một vết thương ở bàn tay. “ Người này đã không phát triển một nhiễm trùng nào ”, Patrice Nordmann đã nhấn mạnh như vậy. Dầu sao đó là những người có nguồn gốc Ấn Độ-Pakistan, hoặc là những du khách đơn thuần, hoặc là những người đã lưu trú ở đó trong một bệnh viện.

Mối đe dọa nghiêm trọng nhất trước hết liên quan đến nguy cơ thấy các đề kháng với các kháng sinh gia tăng do sự lạm dụng chúng. “ Rất là nghiêm trọng. Chính những kháng sinh này vốn đã cứu nhiều mạng người nhất cho đến ngày nay. Đó không phải là những loại thuốc như những loại thuốc khác. Chúng tấn công các vi sinh vật biết tự bảo vệ, do đó chỉ nên dùng chúng một cách có ý thức và một cách dè sẻn, Jean Carlet đã giải thích như vậy. Chúng ta đang đứng trước một vấn đề sinh thái y học (écologie médiacle) : phải xem các kháng sinh như là một gia sản điều trị (patrimoine thérapeutique) bị đe dọa.” Cùng với những chuyên gia khác, năm qua, ông đã thảo một kế hoạch hành động khẩn cấp nhằm làm giảm tình trạng đề kháng đối với các kháng sinh ở Pháp. Sự tiêu thụ kháng sinh lại đang tăng cao trong đất nước chúng ta ”, ông đã phàn nàn như vậy. Dầu cho tình hình không có liên hệ gì với tình hình ở Ấn Độ hay các nước khác phía nam, là nơi các kháng sinh có thể được bán không cần toa bác sĩ và không bị kiểm soát, đất nước chúng ta vẫn còn tụt hậu.
(LE FIGARO 16/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 60 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 21/1/2008 )

5/ SỰ ĐỀ KHÁNG CỦA CÁC VI KHUẨN ĐỐI VỚI CÁC KHÁNG SINH ĐÃ ĐẠT ĐẾN MỘT QUY MÔ HÀNH TINH

Một công trình nghiên cứu của Thụy Điển xác lập rằng các con chim hiện hiện ở các vùng xa xôi khác nhau của Bắc Cực mang một loại vi khuẩn đã trở nên đề kháng với hầu hết tất các các thuốc kháng sinh.

Phải chăng ngày nay những hiện tượng đa đề kháng (multirésistance) của các vi khuẩn đối với các kháng sinh có thể được quan sát trên quy mô hành tinh ? Đó là điều mà chúng ta có thể quan ngại, theo một công trình của những nhà nghiên cứu Thụy Điển được công bố trong số báo vừa qua của Emerging Infectious Diseases Journal, một tạp chí của những Trung tâm kiểm tra và ngăn ngừa bệnh tật của Hoa Kỳ. Được lãnh đạo bởi BS Bjorn (đại học Uppsala), các nhà khoa học này đã muốn biết xem các vi khuẩn Escherichia coli hiện diện nơi các con chim sống ở Bắc Cực có đề kháng với các kháng sinh hay không, như là điều này thường xảy ra trong các nước công nghiệp.

Được tổ chức trong khung cảnh của Année polaire internationale, công trình điều tra của họ đã được tiến hành trong ba vùng xa xôi : đông bắc Sibérie, Alaska và bắc Groenland. Những mẫu nghiệm sinh học đã được lấy trong các chất phế thải hay ống tiêu hóa của 97 con chim. Các giống gốc vi khuẩn sau đó đã được trắc nghiệm đối với 17 loại thuốc kháng sinh có tác dụng lên toàn bộ khuẩn lạc thường được sử dụng trong y khoa. Các nhà nghiên cứu Thụy Điển giải thích là họ đã có thể phát hiện những hiện tượng đề kháng vi khuẩn đối với 14 trong số 17 kháng sinh. Công trình nghiên cứu này tiếp theo nhiều công trình khác nhau đã làm sáng tỏ một hiện tượng tương tự nơi các loài chim di trú hiện diện ở Bắc Mỹ và Châu Âu.

Nhiều giả thuyết có thể được đưa ra để giải thích sự xuất hiện của một sự đề kháng kháng sinh nơi các loài chim hoang dã trong những vùng mà ở đó con người hầu như vắng bóng. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng hiện tượng này là hậu quả của những biến dị ngẫu nhiên trong bộ gène của vi khuẩn Escherichia coli, hoặc là của sự chuyển gènes đề kháng từ bộ gène của các vi khuẩn khác thường hiện diện trong môi trường (sự truyền được gọi là “ngang”).

Vùng eo biển Béring là một vùng có rất nhiều loài chim đến kiếm ăn. Đó cũng là một vùng đi qua của nhiều chim di trú từ 6 lục địa.Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng hiện tượng đa đề kháng của vi khuẩn đối với các kháng sinh được quan sát ở các loài chim ở Bắc Cực là đã có được dưới các vĩ độ khác, trước khi được truyền cho các loài chim tại chỗ.

“ Công trình nghiên cứu chứng tỏ rõ ràng rằng có một sự phát tán thụ động các vi khuẩn bởi các chim di trú, do đó lý thuyết về sự đốt biến ngẫu nhiên có thể được loại trừ, Patrice Courvalin, giám đốc của đơn vị của các tác nhân kháng khuẩn của Viện Pasteur, đã đánh giá như vậy. Những đề kháng quan sát được cũng là những đề kháng thường được thấy nhất nơi các vi khuẩn sinh bệnh đối với người. Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng sự toàn cầu hóa của các trao đổi, kết hợp tính chất đa dạng và hiệu quả của các đường phát tán các giống gốc vi khuẩn đa đề kháng, làm cho không một ai, dầu ở bất cũ nơi đâu, dầu lối sống và môi trường sống như thế nào, cũng không tránh khỏi hiện tượng đề kháng này.”

Theo ông, tình hình này lại càng đáng quan ngại khi chúng ta càng ngày càng có những dữ kiện chỉ rõ ràng các vi khuẩn bình thường hiện diện trong ống tiêu hóa tạo nên một chỗ chứa các gènes đề kháng đối với các vi khuẩn gây nhiễm trùng nơi người.

“ Một khía cạnh quan trọng được làm sáng tỏ bởi công trình nghiên cứu này là nó xác nhận rằng sự đề kháng rất là ổn định, bởi vì ở Bắc Cực không có áp lực của sự chọn lọc kháng sinh, Patrice Courvalin nói thêm như thế. Trong lúc chọn lọc các giống gốc đề kháng, đặc biệt do sự sử dụng không hợp lý các kháng sinh, chúng ta tạo ra những vấn đề đối với các thế hệ tương lai. Ở đây, đó là một nguy cơ xã hội thật sự với quy mô hành tinh. Một lần nữa phải nói rằng những vấn đề y tế công cộng phải được ưu tiên so với sự toàn cầu hóa của các trao đổi.” Nguồn:
(LE FIGRO 17/1/2008)


2/ CÁC NHIỄM TRÙNG LẬU CẦU TIẾN TRIỂN MẠNH Ở PHÁP.

Sự tăng cao của những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục này phản ảnh sự tiến triển của những giao hợp có nguy cơ (rapports à risque).

SANTE PUBLIQUE. Tất cả các chỉ dấu đều đi theo cũng chiều hướng : các nhiễm trùng lậu cầu (infections à gonocoques) đang tiến triển mạnh ở Pháp. Thế mà khuynh hướng càng gây báo động khi những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục (IST : infections sexuellement transmissibles) này là phản ảnh của những hành vi tình dục có nguy cơ (comportements sexuels à risque). Giữa năm 2008 và 2009, các bệnh lậu (gonorrhée, còn được gọi là blennorragie hay thân mật hơn bệnh đái nóng (chaude-pisse) nơi đàn ông) đã nhảy vọt lên 52% ở Pháp, Viện theo dõi y tế (IVS : Institut de veille sanitaire) đã đánh giá như vậy. Cơ quan này căn cứ trên hai mạng lưới theo dõi đặc biệt. Điều chứng thực của hai hệ thống theo dõi này phù hợp với điều chứng thực của các thầy thuốc đa khoa thuộc mạng lưới Sentinelles, theo dõi những bệnh viêm niệu đạo (urétrite) của nam giới.

Theo IVS, sự tiến triển hơi ít quan trọng hơn ở Il-de-France (+38%) với một sự ổn định tương đối nơi các phụ nữ. Trong những vùng khác, sự gia tăng số các trường hợp (+54%) ngược lại rõ ràng nơi hai giới : + 51% nơi đàn ông và +75% nơi phụ nữ. “ Các lậu cầu khuẩn đã bắt đầu gia tăng vào khoảng năm 1996, nhưng sự tăng trưởng của chúng gia tốc, BS Anne Gallay, thuộc IVS đã xác nhận như vậy. Những người dị tính luyến ái (hétérosexuels) dường như càng ngày càng bị liên hệ, cũng như đối với những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục (IST) khác, như bệnh giang mai.

NGUY CƠ VÔ SINH.

Ở người đàn ông, một nhiễm trùng bởi các lậu cầu khuẩn gây nên một viêm niệu đạo cấp tính (với tiểu ra mủ, đau rát khi đi tiểu), hiếm mà không nhận biết được. Thời hạn giữa lúc bị lây nhiễm và lúc bắt đầu các triệu chứng rất ngắn, giữa 3 và 5 ngày. Tổng cộng, ở Pháp giữa 15.000 và 20.000 người đàn ông (thường là trẻ) bị liên hệ bởi nhiễm trùng này.

Những đánh giá rõ rệt phức tạp hơn đối với nữ giới, ở đối tượng này các nhiễm trùng, ít gây triệu chứng, hiếm khi khiến phải đi thăm khám. “ Chúng ta không biết tần số mắc bệnh nơi các phụ nữ là bao nhiêu, và đó là một mối âu lo bởi vì, khi những phụ nữ bị lây nhiễm này không tự phát hiện, họ sẽ tham gia vào sự làm lây truyền những vi khuẩn này ”, Anne Gallay đã tiếp tục phát biểu như vậy.

Mặc dầu các bệnh lậu (gonococcies) thường là những nhiễm trùng hiền tính, được chữa lành với một điều trị kháng sinh thích ứng, nhưng sự tiến triển của chúng đặt ra hai vấn đề về y tế công cộng. Không được điều trị hay điều trị kém, chúng có thể tiến triển thành những nhiễm trùng mãn tính, với một nguy cơ vô sinh nơi phụ nữ, và chúng làm dễ những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục khác.

Nhất là các bệnh lậu là một chỉ dấu tốt về những hành vi tình dục có nguy cơ. Vậy sự tiến triển của chúng tiết lộ một sự gia tăng các thói quen tình dục mang nhiều nguy cơ. Vào đầu những năm sida, những hành động phòng ngừa (bằng cách mang các túi dương vật) đã cho phép làm giảm tần số các nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. Từ đó, các điều tra đã mô tả sự lơi lỏng của các hành vi, đặc biệt là trong các giới đồng tính luyến ái. “ Ngoài ra, bối cảnh của tình dục đã tiến triển nhiều nơi những người dưới 30 tuổi, BS Gallay đã nói thêm vào như vậy. Có nhiều cuộc gặp gỡ bất ngờ hơn và nhiều bạn đường phối ngẫu hơn, điều này có thể làm dễ những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. ”

Đứng trước sự tiến triển này, những thông điệp phòng ngừa bằng túi duơng vật vẫn là cần thiết, “ nhưng khó mà hướng tất cả mọi chuyện vào đó ”, nhà dịch tễ học đã đánh giá như vậy. Cũng phải nhấn mạnh việc phát hiện sớm, bằng cách đốc thúc giới trẻ thăm khám trong trường hợp bị phải nguy cơ hay trong trường hợp có triệu chứng.

Theo BS Gallay, người ta đang suy nghĩ để tái tổ chức hệ thống phát hiện các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục hiện nay. Với sự khó khăn là những nhiễm trùng này không gây bệnh cho cùng lứa tuổi và rằng thời gian tiềm phục của chúng rất là biến thiên.
(LE FIGARO 22/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 65 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/2/2008 )

6/ BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC LẠI BÙNG NỔ Ở PHÁP.

Việc gia tăng trở lại những nhiễm trùng bởi lậu cầu, bởi chlamydia và của bệnh giang mai là hậu quả của sự tái tục các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).

Chính sách ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục (MST : maladies sexuellement transmissibles) đang bị nguy ngập. Tất cả các yếu tố chỉ báo cho thấy có một sự gia tăng trở lại các bệnh nhiễm trùng (lậu cầu, chlamydia, giang mai), được lây truyền lúc giao hợp (dù cho đó là giao hợp đồng tính hay dị tính). Thật vậy, bảng thông báo dịch tễ hàng tuần của Viện theo dõi y tế đã công bố tuần này các con số xác nhận về sự gia tăng các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục ở Pháp. Ngoài các hậu quả về mặt y tế riêng cho các nhiễm trùng này (các bệnh mãn tính nơi người, nguy cơ vô sinh nơi phụ nữ), các dữ kiện này thể hiện sự tái tục những hành vi tính dục có nguy cơ, nói lên việc sử dụng phương tiện bảo vệ ít hơn và do đó mang lại một nguy cơ truyền virus bệnh Sida gia tăng.

Các nhiễm trùng do lậu cầu có đặc điểm là có một thời gian tiềm phục ngắn và cho những triệu chứng “ ồn ào ” nơi đàn ông. Do đó những nhiễm trùng này là một chứng tỏ rất rõ về các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).

Một mạng lưới 200 phòng xét nghiệm phân tích mỗi năm số giống gốc các lậu cầu được phân lập. Suốt trong 3 năm qua, sự gia tăng số trường hợp xảy ra một cách thường xuyên, với 50% được thêm vào trong năm 2006 so sánh với năm 2005. Với một sự gia tăng rất rõ rệt nơi các phụ nữ (thêm 264%) và ở tỉnh (thêm 94%). Tuổi trung bình của các bệnh nhân này là 30 tuổi đối với đàn ông và 23 tuổi đối với phụ nữ. Sau cùng phải ghi nhận một sự tiến triển của các giống gốc đề kháng với ciprofloxacine, một trong những kháng sinh chuẩn trong điều trị bệnh này.

Nhiễm trùng do chlamydia trachomatis thường xảy ra nhất ở phụ nữ. Nhiễm trùng này chỉ gây ít triệu chứng nhưng nếu không được điều trị, có thể gây nên những thương tổn nơi các vòi trứng, nguyên nhân của vô sinh hoặc có thai ngoài tử cung. Từ đầu những năm 2000, một sự gia tăng các nhiễm trùng do chlamidia được quan sát ở Pháp, cũng như trong tất cả các nước công nghiệp hóa khác.Thí dụ ở Anh, sự gia tăng này có thể được quy cho công tác điều tra phát hiện được thực hiện một cách có hệ thống trong chiến dịch chống vô sinh nơi những người dưới 25 tuổi. Phải nhấn mạnh rằng ở Pháp, từ năm 2003 đến 2006, số các trường hợp nhiễm trùng do chlamydia đã gia tăng 55% nơi đàn ông và 62% nơi phụ nữ. Nhưng còn cần phải biết xem một sự gia tăng như thế là do sự tiến triển của bệnh hay chỉ do sự cải thiện của công tác điều tra phát hiện và của chẩn đoán.

ĐẨY MẠNH TRỞ LẠI CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA

Bệnh giang mai gần như đã biến mất ở nước Pháp trong những năm 1990 để rồi lại xuất hiện trở lại vào đầu những năm 2000, hầu như chỉ xảy ra ở những người đồng tính (homosexuel) hay lưỡng tính (bisexuel), đặc biệt là ở những người bị nhiễm đồng thời bởi virus sida. Mặc dầu những chiến dịch thông tin và phòng ngừa được phát động, bệnh có tiềm năng nghiêm trọng này vẫn không tỏ dấu hiệu lùi bước.Từ năm 2000 đến 2006, có 2.305 trường hợp giang mai đã được chẩn đoán ở Pháp. Sau một đợt giảm nhẹ vào năm 2005, số các trường hợp lại tăng lên năm 2006, đặc biệt là ở Ile-de-France và trong vùng Bắc Pas-de-Calais. Số các trường hợp giang mai bắt đầu xuất hiện ở những người dị tính (hétérosexuel) mà mãi đến nay phần lớn không bị nhiễm bệnh. Việc công bố những dữ kiện này hẳn phải khiến chính quyền cần phải phát động trở lại những chiến dịch phòng ngừa nhằm vào các hành vi tính dục có nguy cơ. Nguồn:
(LE FIGARO 6/2/2008)


3/ TẠI SAO PHẢI UỐNG ĐỦ NƯỚC ?

Professeur Raymond Ardaillou
Néphrologue
Membre de l’Académie nationale de médecine


Cơ thể chúng ta chứa 60% nước. Như thế, một người cân nặng 72kg được cấu tạo bởi 42 lít nước. Nước được nhận vào là nước uống, nước được chứa trong các thức ăn và, một phần rất nhỏ nơi người, nuớc nội tại (eau endogène), nghĩa là nước phát xuất từ sự oxy hóa của hydrogène, được chứa trong các glucide và lipide. Chúng ta hãy nhắc lại rằng không phải như thế đối với con lạc đà, trong thời kỳ bị hạn chế nước, oxy hóa mỡ của bướu (bosse de chameau) để thu được nước mà nó thiếu.

Ngược lại, con người không có một dự trữ nước nào và phải bù những thất thoát hàng ngày bằng những thu nhập tương ứng. Trong điều kiện bình thường, những lượng nước xuất chủ yếu là nước tiểu và mồ hôi ; lượng nước xuất trong mồ hôi tùy theo những điều kiện khí hậu (nhiệt độ và hygrométrie). Những lượng xuất này có thể gia tăng trong các bệnh kèm theo nôn mửa hay ỉa chảy. Việc thiếu nước là không thể chịu đựng được và gây nên tử vong do mất nước tế bào (déshydratation cellulaire).

NHỮNG NGƯỜI GIÀ : COI CHỪNG !

Không nên chờ đợi có cảm giác khát rồi mới uống nước. Lý tưởng là không phải chỉ bù những lượng nước bị mất bắt buộc (pertes d’eau obligatoires), mà còn phải uống vào một lượng bổ sung để đi tiểu mỗi ngày ít nhất 1.500 ml.Có rất nhiều lý do :

  • Ngăn ngừa sự tạo thành các sỏi trong những đường bài tiết nước tiểu, là nguồn gốc của những cơn đau quặn thận (colique néphrétique) và, nếu sỏi không được bài xuất hay lấy đi, sẽ gây nên sự ứ đọng nước tiểu ở phía trên chướng ngại vật.
  • Ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiểu bằng cách duy trì một lưu lượng nước tiểu cao, làm dễ sự bài xuất các vi trùng và bởi vì kích thích tố kháng lợi tiểu (hormone antidiurétique), được tiết ra dư thừa trong trường hợp mất nước, làm dễ sự dính (adhérence) của các trực khuẩn ruột (colibacilles) vào biểu mô đường tiểu và làm dễ sự xâm nhập các tế bào bởi những vi khuẩn này.
  • Cho phép bài tiết urée và các muối khoáng một cách thỏa mãn ; Thật vậy, ngươi ta đã chứng tỏ rằng khả năng bài tiết urée (clairance de l’urée) gia tăng với sự bài niệu. Ngoài ra, năng suất làm cô đặc nước nước tiểu nơi người được giới hạn khoảng 4 lần nồng độ các chất hòa tan trong huyết thanh. Năng suất này giảm đi trong trường hợp suy thận, ngay cả ở mức trung bình.


Sự cung cấp nước phải được thích ứng và tăng cao hơn vào mùa hè, nhất là trong bầu không khí khô ráo. Khi đó, phải đặc biệt chú ý đến việc cung cấp nước cho các người già, vì nơi những đối tượng này cảm giác khát bị giảm, điều này đòi hỏi sự giúp đỡ của một người thứ ba. Ta phải cảnh báo các lão ông bị đi tiểu thường xuyên vì u hiền tuyến tiền liệt (adénome prostatique), về nguy cơ uống ít hơn để khỏi phải bị trở ngại trong cuộc sống xã hội của họ. Thà đi tiểu thường xuyên hơn là bị mất nước và làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu. Phải uống nước chủ yếu từ robinet (nước được phát ra ở Pháp đặc biệt được theo dõi và có chất lượng tốt), hoặc nước khoáng đóng chai với phí tổn cao hơn và với điều kiện chọn một thứ nước ít sodium. Phải tránh tất cả các nước uống có đường và những nước uống pha cồn, nguồn gốc của chứng béo phì và nghiện ngập. Rượu ức chế sự tiết của kích thích tố kháng bài niệu (hormone antidiurétique) và như thế làm dễ sự tiếp diễn của ngộ độc. Sự uống nước phải được chia ra trong ngày. Về mùa hè, cũng nên uống giữa các bữa ăn và ngay cả ban đêm.

UỐNG NHIỀU NƯỚC CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

Uống nước quá mức kinh niên hay potomanie (3L hay hơn mỗi ngày) có thể có những hậu quả tai hại, bởi vì điều này dẫn đến một sự kém thích ứng đối với những điều kiện thiếu nước. Uống nước quá mức cấp tính có thể dẫn đến quá tải (surcharge) với hyperhydratation cellulaire và giảm nồng độ sodium trong huyết thanh. Thật vậy, cũng như năng suất làm cô đặc nước tiểu bị hạn chế, năng suất làm loãng cũng vậy.

Nhưng mối nguy hiểm này ít xảy ra trong đời sống hàng ngày. Phải tránh điều đó trong trường hợp tiêm truyền dung dịch glucose hay uống nước quá nhiều nơi những người phụ thuộc.
(LE FIGARO 28/6/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 74 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 18/4/2008 )

5/ UỐNG NƯỚC CHO ĐÃ KHÁT LÀ ĐỦ

Dan Negolanu và Stanley Goldfarb, thuộc Renal, Electrolyte and Hypertension Division (Philadelphie), công bố trong Journal of the American Society of Nephrology một duyệt xét lại các tài liệu y học về các lợi ích của việc uống mỗi ngày 1,5 lít nước, theo những lời khuyến nghị hiện nay. Kết luận của các tác giả là không có bằng cớ về những lợi ích xác thực, đối với việc uống lượng nước nhiều hơn lượng mà cảm giác khát đòi hỏi.

Các chuyên gia đã xác nhận rằng uống nhiều nước cho phép “thải bỏ các độc tố, mang lại sự hoạt động tốt cho các cơ quan, làm giảm sự tăng thể trọng và cải thiện trương lực của da”.

Để làm sáng tỏ vấn đề, các tác giả đã tập hợp các nghiên cứu lâm sàng đã được tiến hành về đề tài này. Họ tìm thấy các luận cứ xác đáng để chứng tỏ rằng những người sống ở các vùng có khí hậu nóng và khô, cũng như các vận động viên điền kinh, đều có nhu cầu gia tăng về nước. Và rằng sự gia tăng nhu cầu nước có thể có lợi cho những tình trạng bệnh lý nhất định. Nhưng đối với những người lành mạnh thì hoàn toàn không phải như vậy.

Các nghiên cứu trong đó sự tiêu thụ nước được gia tăng trong mục đích chính là để cải thiện chức năng thận và bài xuất các độc tố, mặc dầu chứng tỏ một tác động lên sự thanh thải Na và Urée, nhưng không cho thấy một lợi ích lâm sàng nào đó.

Các nghiên cứu trong đó hiệu quả của nước lên hoạt động của các cơ quan đã được trắc nghiệm, cho thấy rằng tốc độ nước được uống có một hiệu quả : tốc độ uống nhanh gây nên sự thải nhanh, tốc độ uống chậm làm nước dễ bị giữ lại trong cơ thể. Nhưng không có một lợi ích nào trên sự hoạt động của các cơ quan cả. Các nghiên cứu về việc phòng ngừa sự tăng thể trọng liên kết với cảm giác no đầy do uống nước nhiều cũng không được thuyết phục

Mặt khác, người ta thường cho là một tình trạng thiếu nước gây nên đau đầu. Ở đây cũng thiếu các dữ kiện. Sau cùng, nước không phải là thuốc làm đẹp : không có luận cứ khoa học từ thí nghiệm lâm sàng chứng tỏ rằng uống nhiều nước cải thiện trương lực của da. Tóm lại, mặc dầu chúng ta không biết lời khuyến cáo và các ý niệm này xuất phát từ đâu, nhưng dầu sao chúng cũng đáng được xem xét lại.
LE JOURNAL DU MEDECIN 11/4/2008


4/ BỆNH ALZHEIMER : THẤT BẠI NGHIÊM TRỌNG ĐỐI VỚI MỘT LOẠI THUỐC MỚI.

Hãng dược phẩm Ely Lily tuần này đã ngừng sự nghiên cứu đối với semagacesta, một loại thuốc có tiềm năng chống lại bệnh Alzheimer. Phòng bào chế đã chấm dứt hai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 (giai đoạn cuối cùng trước khi đưa thuốc ra thị trường), đã được bắt đầu vào tháng tư, bởi vì điều trị không làm chậm lại sự tiến triển của căn bệnh này. Lại còn tệ hại hơn, thuốc làm trầm trọng ngay cả những triệu chứng của những người tham gia.

Semagascesta nhắm đích các protéine bêta-amyloide, mà sự tích tụ, cùng với prtéine Tau, được xem như đóng một vài trò chủ yếu trong bệnh Alzheimer. Dĩ nhiên đây không phải là lần đầu tiên mà một thuốc ứng viên (candidat-médicament) tỏ ra không có hiệu quả, nhưng những kết quả này tạo nên những nghi vấn về tính chất có căn cứ của ngay giả thuyết, theo đó sự tích tụ các beta-amyloide trong não bộ đúng là nguồn gốc của bệnh Alzheimer. Theo giả thuyết này, nếu ta làm giảm nồng độ của các protéine độc hại này, hẳn ta có thể, một cách logic, làm chậm lại, thậm chí làm ngừng sự tiến triển của bệnh. “ Chúng tôi đã có thể đưa semagascesta với một lượng đủ vào trong não bộ của những bệnh nhân này để có một tác dụng lên sự sản xuất bêta-amyloide nhưng bất hạnh thay những kết quả đã không như điều mà chúng tôi hằng mong đợi ”, BS Eric Siemers, tổng giám đốc của nhóm nghiên cứu đã lấy làm tiếc như vậy. Thật vậy, semagacestat là một trong những thuốc hiếm hoi đã vượt qua được hàng rào huyết-não (barière hémato-encéphalique), hàng rào bảo vệ đặc biệt kín, lọc các chất trong dòng màu có thể đi đến não bộ.

MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG NGÕ CỤT.

Phần lớn các điều trị đang được phát triển để chống lại bệnh Alzheimer đều phong bế một enzyme, gamma secrétase, cần thiết cho sự sản xuất các protéine bêta-amyloide. Đối với BS Lon Schneider, nhà nghiên cứu thuộc Đại Học Nam Calfornornia, sự thất bại này có lẽ có nghĩa là những cố gắng chỉ tập trung vào việc kiểm soát sự sản xuất bêta-amyloide đang đi vào ngõ cụt.

“ Sự nghiên cứu chống lại bêta-amyloide đã đi theo 3 đường hướng, GS Adrian Ivanoiu, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc Clinique de la mémoire của Cliniques Saint-Luc (UCL) đã giải thích như vậy. Hướng thứ nhất, đó là vaccin. Nhưng vào khoảng năm 2000, những thử nghiệm đã mang lại hậu quả là những bệnh não (encéphalopathie) và những dị ứng nghiêm trọng, đã gây nên những trường hợp tử vong hay các di chứng. Hướng này đã bị bỏ, nhưng hôm nay những dự án mới trổi dậy. Hướng thứ hai, đó chính là sự phong bế của enzyme secrétase, để đồng thời phong bế sự tạo thành của mảng bêta-amyloide. Phương pháp này cũng làm vài người hoài nghi, bởi vì enzyme này cũng được sử dụng cho những chức năng khác trong các hệ tiêu hóa hay thần kinh. Vậy theo lý thuyết, ức chế nó có thể gây nên những tác dụng có hại đối với bệnh nhân. Vậy đó thật sự là điều dường như đã xảy ra khiến phải ngừng đột ngột các thử nghiệm. Nhưng có một đường hướng thứ ba, đó là sự sử dụng các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux), phương pháp này có ưu điểm hơn vaccin“ là nhắm đúng đích hơn và được dung nap tốt hơn nhiều.” Ngoài ra, hãng Eli Lilly đã xác nhận rằng những thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 cho một thuốc ứng viên khác, solanezumab, một kháng thể đơn dòng, sẽ được tiếp tục. “ Nhưng chủ yếu có những nghiên cứu về một nguyên nhân khác của bệnh, protéine Tau, có tương quan với thương tổn nhận thức hơn là mảng bêta-amyloide. Tuy nhiên không có hy vọng nào mà lại không được suy xét cân nhắc : những kết quả nghiêm chỉnh đầu tiên không được mong chờ trước 4 hay 5 năm ”.
(LE SOIR 21-22/8/2010)

5/ UNG THƯ VÚ VÀ MỠ ĐỘNG VẬT.

Mối liên hệ nào giữa việc tiêu thụ lipide và ung thư vú ? Những công trình nghiên cứu mâu thuẫn nhau đã được công bố, nhưng ít có công trình nào được hướng về các lipide có nguồn gốc động vật. Đó là mục đích của một công trình tổng hợp, được thực hiện trên khoảng 1500 bài báo khoa học. Những công trình nghiêm chỉnh nhất không cho phép phát hiện một sự liên kết nào giữa ung thư vú và sự tiêu thụ mỡ động vật.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ VÚ (Breast Cancer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

6/ TA CÓ THỂ BỊ CON ĐAU TIM DO STRESS KHÔNG ?

Professeur Jean-Paul Bounhoure
Cardiologue
Membre de l’Académie nationale de médecine

Ta có thể bị chết vì sợ hãi lúc bị hành hung, bị ám sát, vào khi xảy ra một thiên tai hay do nỗi đau khổ vì sự qua đời của một người thân ? Nhiều quan sát xác nhận sự kiện này. Là căn bệnh của thế kỷ của chúng ta, stress gây nên những tác dụng có hại lên trạng thái thần kinh và vật lý của chúng ta, lên toàn bộ cơ thể của chúng ta, đặc biệt là lên trái tim và các mạch máu của chúng ta.

Những trường hợp thử thách của cuộc sống, những chấn thương tâm lý hay tình cảm mạnh mẽ kích thích hệ thần kinh giao cảm, làm tiết các hormone, làm suy giảm hệ thống phòng ngự của chúng ta. Stress gây nên sự phóng thích các kích thích tố ; các hormone này làm gia tốc tần số tim, làm tăng cao huyết áp, làm gia tăng công của tim, gây nên nhưng rối loạn đông máu, làm dễ những tai biến cấp tính động mạch vành và não bộ.

Những điều bất ngờ của một cuộc sống hàng ngày nhộn nhịp và khó khăn, những xung đột trong gia đình, những bó buộc của cuộc sống nghề nghiệp, tạo nên một sự căng thẳng thường trực (un stress permanent), làm dễ sự xuất hiện của bệnh cao huyết áp, của chứng xơ mỡ động mạch (athérosclérose) và của những biến chứng tim của chúng. Lúc làm việc, những gò bó gây nên bởi mối ưu tư về hiệu năng, những yếu tố nguy hại của môi trường, sự lao lực, mối ám ảnh bị đuổi việc, là nguyên nhân của các tai nạn, của tình trạng nghỉ bệnh, của những phí tổn y tế, của những rối loạn tâm lý và cũng của những bệnh lý tim mạch.

Những tác dụng và những hậu quả của các tình trạng căng thẳng thay đổi tùy theo thời gian, sự lặp đi lặp lại, cường độ của chúng và nhân cách của cá thể. Stress là một yếu tố phát khởi của những rối loạn nhịp tim, của những tai biến động mạch vành cấp tính, của những suy tim thình lình và của những trường hợp chết đột ngột. Tất cả các thầy thuốc chuyên khoa tim đều có thể báo cáo những quan sát về những trường hợp chết lúc bệnh nhân bị xúc động mạnh, vào lúc xảy ra những biến cố bi thảm. Nơi những bệnh nhân Hoa Kỳ mang những máy khử rung (défibrillateurs), những nhân chứng của cuộc ám sát 11/9, người ta đã chứng thực rằng, hơn 1/3 những người mang máy đã phản ứng bởi những rối loạn rất trầm trọng cần đến một sốc điện (choc électrique).

Sự phân tích những đường điện tâm đồ của các bệnh nhân bị nhập viện vì những loạn nhịp tim khác nhau, cho thấy vai trò có hại của những cơn giận dữ, của những xúc cảm mạnh. Sự theo dõi những bệnh nhân bị xơ mỡ động mạch vành cho thấy rằng những cơn đau thắt ngực, một sự tưới máu tồi thầm lặng của cơ tim, các tắc động mạch vành, thường được phát khởi bởi những tình huống căng thẳng.

Những biến cố thể thao có nguy cơ đối với tim của những khán giả say mê theo dõi những cuộc đấu lớn bóng đá và rugby : nhồi máu cơ tim, các rối loạn nhịp tim xảy ra nhiều trong những trận giao đấu lớn. Tất cả những biến cố căng thẳng có thể làm bất ổn định bệnh động mạch vành, gây nên những phản ứng huyết quản, dẫn đến sự vỡ các mảng xơ mỡ, sự tạo thành các cục máu đông, những nguyên nhân của nhồi máu cơ tim.

LOẠN NHỊP TIM VÀ CHẾT ĐỘT NGỘT

Sự co đột ngột của các động mạch, được gọi là co thắt động mạch vành (spasme coronaire), có thể gây nên những loạn nhịp, những nhồi máu và những trường hợp chết đột ngột. Những thương tổn cấp tính của cơ tim, nguyên nhân của suy tim cấp tính, xảy ra hơn nơi những phụ nữ sau một sốc tình cảm, những biến cố bi thảm xảy ra đột ngột. Huyết áp thay đổi một cách thường trực tùy theo thái độ, các cảm xúc, môi trường, những gò bó nghề nghiệp, như các ghi huyết áp ngoại trú kéo dài đã cho thấy điều đó. Cao huyết áp thường xảy ra nơi những người có những điều kiện sống khó khăn, lao lực, nguồn tài chánh bấp bênh, một môi trường đầy xung đột hay nguy hiểm. Trong cuộc sống hàng ngày, tình trạng căng thẳng thường trực gây nên một vệ sinh đời sống kém, khiến theo đuổi những thói quen có hại, làm nghiện thuốc lá, nghiện rượu, tạo nên sự nhàn rỗi không hoạt động, dễ đưa đến chứng béo phì và bệnh đái đường.

Để ngăn ngừa tình trạng căng thẳng hàng ngày (stress quotidien), chỉ cần có một tổ chức đời sống nghề nghiệp tốt hơn, một sự hỗ trợ xã hội, một vệ sinh cuộc sống tốt. Người ta cũng khuyên nên được săn sóc bởi các chuyên khoa : thư giãn, tâm lý liệu pháp, yoga, liệu pháp hành vi, liên kết với sự sử dụng các thuốc an thần. Chúng làm dễ sự bớt căng thẳng, sự giãn cơ, sự cải thiện tình trạng thoải mái, sự quản lý stress, và làm giảm sự âu lo. Trong lòng cuộc sống đầy sôi động của chúng ta, do càng ngày càng nhiều đòi hỏi trước mắt, chúng ta cần khẩn trương bảo vệ trái tim mình.
(LE FIGARO 28/6/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 64 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 15/2/2008 )

3/ XEM MỘT TRẬN BÓNG ĐÁ LÀM TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ BỊ NHỒI MÁU CƠ TIM

Cúp bóng đá thế giới vừa qua, được tổ chức bởi FIFA, đã diễn ra ở Đức từ 9/6 đến 9/7 năm 2006. Các nhà nghiên cứu người Đức đã lợi dụng dịp này để nghiên cứu mối liên hệ giữa sự căng thẳng cảm xúc (stress émotionnel) và các biến cố tim mạch. Để thực hiện điều này, Ute Wilbert-Lampen và các cộng sự viên, đã thực hiện một nghiên cứu về những chẩn đoán các biến cố tim mạch xảy ra nơi những bệnh nhân ở Munich trong thời gian thi đấu này. Các nhà nghiên cứu đã so sánh chúng với một thời kỳ kiểm tra : 1/5 đến 8/6 và 10/7 đến 31/7 2006, và từ 1/5 đến 31/7 2003 và 2005.

Theo kết quả của các nhà nghiên cứu, 4.279 biến cố tim mạch cấp tính đã xảy ra trong thời kỳ này. Những hôm đội bóng đá Đức ra sân, tỷ lệ các cấp cứu tim là 2,66 lần cao hơn so với thời kỳ kiểm tra : đối với các ông, tỷ lệ các cấp cứu tim được nhân lên 3,26 và đối với các bà thì tỷ lệ này được nhân lên 1,82. Sau hết, nơi những người có tiền sử tim mạch lại còn tệ hại hơn : khi đội bóng Đức thi đấu, những người này chiếm 47% các trường hợp, so với 29,1% trong các thời kỳ chứng.

Những hôm đội bóng đã Đức ra sân, tỷ lệ các biến cố tim mạch này đạt cao nhất trong hai giờ đầu của trận đấu. Suốt trong hai giờ này, người ta đã ghi nhận các trường hợp nhồi máu cơ tim với nâng cao đoạn ST được nhân lên 2,49 lần, các trường hợp nhồi máu cơ tim không có nâng cao đoạn ST hay cơn đau thắt ngực không ổn định (angor instable) được nhân lên 2,61 lần, và các trường hợp loạn nhịp tim 3,07 lần. Nguy cơ này vẫn cao trong vài giờ.

Như vậy, tác giả kết luận rằng xem một trận đấu bóng đá căng thẳng sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ bị những biến cố tim mạch cấp tính (nhồi máu cơ tim và loạn nhịp tim có triệu chứng)

Vì lẽ có quá nhiều nguy cơ như vậy nên cần phải áp dụng những biện pháp phòng ngừa, đặc biệt là nơi những người bị bệnh động mạch vành. Đó là những bài học được rút ra từ Cúp bóng đá thế giới vừa qua. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 8/2/2008)

Thời Sự Y Học Số 119 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 31/3/2009 )

2/ SỰ GIẬN DỮ, LÒNG THÙ HẬN VÀ NGUY CƠ TIM MẠCH

Một phân tích méta đã cho thấy rằng những cảm xúc như sự giận dữ và lòng thù hận được liên kết với một sự gia tăng 19% nguy cơ bị những biến cố động mạch vành nơi những người lành mạnh và 24% nơi những người đã bị những vấn đề động mạch vành. Mối liên hệ xuất hiện rõ hơn nơi những người đàn ông. Đó là kết luận của một duyệt xét các tư liệu, được thực hiện bởi Yoichi Chida và Andrew Steptoe (Unversity College de Londres), về sự xuất hiện những biến cố động mạch vành nơi những người lành mạnh và nơi những người đã có những vấn đề động mạch vành.

Những công trình nghiên cứu, được tiến hành trên 80.000 người ở Úc châu, châu Á, châu Âu và Hoa Kỳ. Các tác giả đã chứng nhận rằng những cảm xúc như sự giận dữ và lòng thù hận được liên kết với một nguy cơ bị những biến cố động mạch vành cao hơn nơi những người lành mạnh và có một tiên lượng xấu nơi những người vốn đã có những vấn đề động mạch vành. Trong một bài xã luận đi kèm bài báo được đăng tải trong Journal of the American College of Cardiology, Johan Denollet và Susanne S.Pedersen (Tilburg, Hoà Lan) viết rằng công trình nghiên cứu này cho thấy những ý nghĩa lâm sàng quan trọng bởi vì nó ủng hộ giả thuyết cho rằng những yếu tố tâm lý âm tính can thiệp trong sự phát triển của một bệnh lý động mạch vành. Do đó những triệu chứng giận dữ và thù hận phải được xét đến một cách nghiêm chỉnh. Theo Denollet, điều này muốn nói rằng các thầy thuốc phải gợi ý với các bệnh nhân bị những cảm xúc quá mức như thế, phải nên theo một liệu pháp hành vi (thérapie comportementale).
(LE JOURNAL DU MEDECIN 24/3/2009)

Thời Sự Y Học Số 150 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 30/11/2009 )

6/ STRESS, ĐÚNG LÀ CÓ HẠI CHO TIM.

Một cách cổ điển, người ta chấp nhận rằng chứng trầm cảm (dépression) ảnh hưởng một cách âm tính lên tiên lượng tim mạch. Đó cũng là điều được rút ra từ tư liệu y học, nhưng cũng có thể rằng mối liên hệ này cũng đúng đối với mọi dạng stress tâm lý-xã hội.Chứng trầm cảm thường được thấy nơi những bệnh nhân bị các bệnh tim mạch : gần 20% những bệnh nhân này bị trầm cảm. Thường không được chẩn đoán, bởi vì không phải luôn luôn dễ dàng xác lập : ví dụ những hậu quả vật lý và tâm thần của nhồi máu cơ tim có thể gây nên những triệu chứng tương tự với những triệu chứng của chứng trầm cảm. Về mặt thuốc men, điều quan trọng cần nhấn mạnh là các bêta-bloquant, trái với điều mà chúng ta tưởng từ lâu, không gây nên trầm cảm. Nhiều lắm, chúng gây nên vài dấu hiệu riêng rẻ, nhưng không phải là một bệnh cảnh trầm cảm hoàn toàn.

MỘT MỐI LIÊN HỆ RÕ RÀNG.

Các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng các bệnh nhân, trở nên trầm cảm trong hai tuần đầu sau một nhồi máu cơ tim, có một nguy cơ tử vong tim mạch hai đến ba lần cao hơn những bệnh nhân không trầm cảm. Vài công trình nghiên cứu không tìm thấy một tương quan nào giữa chứng trầm cảm và tỷ lệ tử vong tim mạch, nhưng mối tương quan này nói chung được xác nhận trong tư liệu y khoa. Khoảng hai mươi công trình nghiên cứu gợi ý rằng, ngoài việc bị nhồi máu cơ tim, những bệnh nhân trở nên trầm cảm chịu một sự biến đổi tiên lượng về tim mạch. Ngoài ra, nguy cơ tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh trầm cảm : chính những bệnh nhân với một điểm số trầm cảm cao có nguy cơ bị gia tăng. Điều quan sát này làm tăng thêm niềm tin rằng đó không phải là một sự tình cờ. Sau cùng, những bệnh nhân trầm cảm và lúc đầu không bị một bệnh tim mạch nào, có một nguy cơ cao hơn trên bình diện này. Mặc dầu nhiều công trình nghiên cứu đều liên hệ đến nhồi máu cơ tim, nhưng người ta cũng đã chứng minh rằng chứng trầm cảm cũng làm gia tăng nguy cơ tai biến mạch máu não.

Vậy chứng trầm cảm có thể được thêm vào danh sách cổ điển của các yếu tố nguy cơ tim mạch. Dường như nó không nguy hiểm như chứng nghiện thuốc lá, nhưng các thầy thuốc chuyên khoa tim càng ngày càng có nhiều người cho rằng nguy cơ mà chứng trầm cảm gây ra cũng bằng với nguy cơ liên kết với sự gia tăng thể trọng (excès pondéral).

Vấn đề được đặt ra là tìm biết xem chứng trầm cảm có phải là một yếu tố nguy cơ độc lập hay không. Người ta có thể cho rằng một bệnh nhân trầm cảm có khuynh hướng hút thuốc nhiều hơn, ít hoạt động hơn hay ăn uống thường không đúng quy cách, điều này có thể làm gia tăng nguy cơ. Hay có thể rằng những người bị nhồi máu cơ tim trở nên trầm cảm và do đó có một nguy cơ từ vong cao hơn. Hay những bệnh nhân trầm cảm ít chú ý hơn việc theo dõi tốt các điều trị nhằm vào tim mạch. Nhưng các thống kê đều rõ ràng : ngay cả sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với những yếu tố nguy cơ khác, chứng trầm cảm vẫn làm phương hại tiên lượng tim mạch. Ta cũng có thể tự hỏi những dạng khác của căng thẳng tâm lý-xã hội, như lo âu hay giận dữ, có thể tạo nên một nguy cơ tim mạch hay không. Các dữ kiện của tư liệu y học khác nhau về điểm này nhưng nhìn toàn bộ, dường như là như vậy.

CƠ CHẾ.

Mối liên hệ giữa stress và các biến cố tim mạch có thể được giải thích bởi sự kiện là stress làm rối loạn toàn cơ thể. Nó kích thích trục thượng thận (axe surrénalien), điều này làm gia tăng cortisol trong máu. Hậu quả là sự gia tăng nguy cơ bị xơ mỡ động mạch và phản ứng viêm, cũng như khả năng đông máu (do sự hoạt hóa của các tiểu cầu). Sự rối loạn hệ thần kinh tự trị dẫn đến sự gia tăng huyết áp và nhịp tim. Một mức độ đề kháng nào đó đối với insuline (insulinorésistance) cũng xảy ra trong trường hợp trầm cảm.
(LE GENERALISTE 12/11/2009)

Thời Sự Y Học Số 171- BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 26/42009 )

4/ KHI CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĂN NHỊP VỚI CƠN ĐAU TIM.

CARDIOLOGIE. Chắc chắn là số nạn nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế không ngừng gia tăng. Điều chứng thực sau cùng : các biến động của tỷ giá của các cổ phần ảnh hưởng trực tiếp lên số các trường hợp các cơn đau tim (crises cardiques) ! Đó là điều đã được chứng thực bởi các nhà nghiên cứu của Duke University Medical Center, Hoa Kỳ, trong lúc phân tích các trường hợp nhập viện vì cơn đau tim được đăng ký ở bệnh vien Duke giữa tháng giêng 2006 và tháng 7/2009. Bảng tổng kết : “ Khi thị trường chứng khoáng sụt xuống, tỷ lệ cơn đau tim gia tăng. Tỷ lệ này giảm xuống khi các giá trị chứng khoáng tăng lên trở lại, Mona Fiuzat, người đã thực hiện công trình nghiên cứu, giải thích như vậy. Những dữ kiện này xác nhận ảnh hưởng của các biến cố gây căng thẳng (événements stressants) lên sức khỏe của nhân dân. Cũng vậy, một sự gia tăng tỷ lệ cơn đau tim đã được quan sát trong những ngày theo sau biến có 11/9. Cũng vậy lúc trận bão Katrina đi qua.
(SCIENCE ET VIE 5/2010)


7/ ĐỒ THỊT LỢN (CHARCUTERIE) VÀ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG.

Sự tiêu thụ đều đặn đồ thịt lợn (charcuterie) làm gia tăng nguy cơ ung thư đại tràng. Nhóm nghiên cứu của Denis Corpet (Inra) lần đầu tiên giải thích quan sát dịch tễ học này. Sự xử lý kỹ nghệ thịt heo được thêm nitrite và nấu chín làm xuất hiện, nếu được cho tiếp xúc với không khí, những hợp chất có khả năng gây nên nơi chuột những thương tổn tiền ung thư của đại tràng. Để vô hiệu hóa những sản phẩm này, mà ta cũng tìm thấy trong thịt đỏ (viande rouge), theo bài báo được công bố trong Cancer Prevention Research, ta chỉ cần tiêu thụ calcium, dưới dạng yaourt hay fromage trong bữa ăn, là đủ.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

8/ MAGNESIUM ĐỂ TRÁNH SỰ SA SÚT TRÍ NHỚ.

Được hấp thụ bởi não bộ thay vì được thải ra trong nuớc tiểu, magnésium cải thiện các hiệu năng nơi các con chuột.

NEUROLOGIE. Làm sao dập tắt sự sa sút trí tuệ lúc lớn tuổi ? Một nhóm nghiên cứu quốc tế, bao gồm những nhà nghiên cứu, trong đó có Susumu Tonegawa, người từng được giải thưởng Nobel, đã tìm thấy một hướng mới đáng lưu tâm, ít nhất là nơi động vật : magnésium. Vai trò trung tâm của yếu tố này để làm vững các nối kết thần kinh của chúng ta đã được biết từ lâu, nhưng các nhà nghiên cứu đã phải đối đầu với một vấn đề : làm sao gia tăng nồng độ của magnésium trong não bộ trong khi mọi sự thặng dư trong thức ăn đều được thải nhanh trong nước tiểu ? Các nhà nghiên cứu của MIT (Massachusetts Institute of Technology) Hoa Kỳ đã tìm ra một sản phẩm có thể làm dễ sự hấp thụ của magnésium bởi cơ thể và sự đi qua não bộ của nó. Và cuối cùng họ đã tìm ra : Các nhà nghiên cứu loan báo trong tạp chí Neuron rằng, đuợc liên kết với acide L-thréonique, magnésium có thể đạt những nồng độ cao hơn 10% nồng độ bình thường trong não bộ.

Khi sản phẩm này được trắc nghiệm nơi chuột, những tác dụng của nó đã gây ngạc nhiên : sau một tháng theo chế độ ăn uống được bổ sung thréonate de magnésium (MgT), sự sa sút trí nhớ ngắn hạn, dài hạn và của không gian (mémoire à court terme, à long terme et de l’espace) không xuất hiện nữa nơi các động vật già. Sự nghiên cứu não bộ của những động vật này đã xác nhận hiệu quả mạnh của MgT : các nối kết thần kinh (connexions nerveuses) rõ rệt nhiều hơn trong hồi hải mã, một vùng của não bộ quan trọng đối với sự ghi nhớ, cũng như các thụ thể và một yếu tố tăng trưởng có liên hệ trong trí nhớ.

“ Công trình phân tích này có vẻ rất vững chắc, Jean-Marie Billard, thuộc nhóm thần kinh sinh học (neurobiolgie) của sự lão hóa bình thuờng và bệnh lý của đại học Paris-V (Paris), đã phát biểu như vậy. Nó mở ra hướng mới để chống lại sự sa sút nhận thức (déclin cognitif) do tuổi tác. Còn hơn thế nữa, nó củng cố lý thuyết của chúng tôi về vai trò quan trọng của một acide aminé, D-sérine, đối với trí nhớ, bởi vì magnésium kích thích sự sản xuất nó. Và những kết quả tương tự đã thu được nơi động vật lúc cho nó D-cyclosérine, một sản phẩm đã được kê đơn nơi những bệnh nhân bị tâm thần phân liệt để cải thiện khả năng nhận thức (capacité cognitive) của họ.” Kết quả này cũng làm lưu ý những chuyên gia khác như GS Alain Berthelot, thuộc đại học Franche-Comté, nghiên cứu những tác dụng của magnésium lên cơ thể : “ Công trình nghiên cứu này có công là lôi kéo sự chú ý về magnésium, thường bị lãng quên trong khi 20% dân số bị thiếu hụt mãn tính. Thí dụ stress hay bệnh đái đường gây nên một sự loại bỏ magnésium. Thế mà người ta đã cho thấy rằng nơi chuột, nguyên tố này can thiệp để ngăn ngừa nhiều bệnh lý hay làm chậm lại sự lão hóa. Nơi người, các công trình nghiên cứu cho thấy một tác dụng bảo vệ của magnésium chống lại các bệnh tim mạch và những biến chứng mạch máu do bệnh đái đường. Ngược lại, ít có những dữ kiện hỗ trợ cho tác dụng trực tiếp mà người ta gán cho magnésium lên chứng mỏi mệt thần kinh (fatigue nerveuse). Nhiều thức ăn giàu magnésium, nhất là bánh mì đầy đủ (pain complet), các quả hồ đào (noix), cacao, chuối hay rau xanh, cũng như vài loại nước khoáng . ”
(LE FIGARO 16/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 165 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/3/2010)

3/ MAGNESIUM ĐỂ “KÍCH THÍCH ” CÁC TẾ BÀO THẦN KINH.

Chính một chất kích thích trí nhớ, ly kỳ, mà các nhà nghiên cứu của đại học Tsinghua ở Bắc Kinh (Trung Hoa) và của Massachusetts Institute of Technology ở Boston (Hoa Kỳ), loan báo đã khám khá trong tạp chí Neuron. Một loại thuốc hoàn toàn mới ? Không, đó là magnésium, nhưng dưới dạng hợp chất cho phép nó đi vào trong não bộ một cách dễ dàng hơn. Magnésium cần thiết cho sự chuyển hóa của các tế bào và đặc biệt là cho sự vận hành chức năng của các tế bào thần kinh. Mặc dầu rất hiện diện, thí dụ trong chocolat, chuối hay vài loại nước uống, nhưng đôi khi magnésium bị thiếu hụt trong chế độ ăn uống hiện đại. Bù lại, sự thặng dư của magnésium trong máu được loại bỏ rất nhanh, điều này khiến nồng độ của nó trong máu ít có khả năng tăng cao trong não bộ, mặc dầu có lợi. Nhóm nghiên cứu Trung quốc-Hoa Kỳ đã khám phá ra rằng sự kết hợp của magnésium với một phân tử nhỏ, acide L-thréonique, làm dễ sự hấp thụ của nó bởi não bộ. Một tháng sử dụng thréonate de magnésium (MgT) cải thiện trí nhớ nơi chuột và dập tắc sự suy đồi của trí nhớ không gian (mémoire spatiale) nơi các động vật gậm nhấm lớn tuổi. Những hiệu năng tốt hơn này vẫn được duy trì chừng nào MgT được thêm vào nước uống của chúng. Những hiệu năng này cũng được thể hiện nơi chuột bởi một sự gia tăng số các nối kết thần kinh (connexions nerveuses) và sự ổn định của chúng trong một vùng não bộ quan trọng đối với trí nhớ và học tập, thùy hải mã (hippocampe). Được hấp thụ dễ dàng bởi cơ thể, vô hại, MgT có thể nhanh chóng thay thế các công thức pha chế Mg đang hiện diện trên thị trường.
(SCIENCE ET AVENIR 3/2010)


9/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : DANH SÁCH CÁC THỦ PHẠM ĐƯỢC NHẬN DIỆN.

90% các tai biến mạch máu não là do 10 yếu tố nguy cơ. Đó là kết luận của công trình nghiên cứu Interstroke được tiến hành nơi 6000 người trong 4 năm trên 22 nước và mới đây được công bố trong The Lancet. Các thủ phạm không phải là những kẻ vô danh : cao huyết áp, chứng nghiện thuốc lá, chứng béo phì bụng, chế độ ăn uống, rượu, sự nhàn rỗi không hoạt động, lipide, bệnh đái đường, stress và chứng trầm cảm, các rối loạn tim. Nhưng, và đó là một tin vui, tất cả 10 yếu tố nguy cơ này đều được tiếp cận với những thông điệp phòng ngừa. Thường được liên kết nơi cùng một cá thể, vậy chúng thường có liên hệ trong sự phát sinh một tai biến mạch máu não, tương ứng với, hoặc là sự tắc một mạch máu não (sự thiếu máu cục bộ), hoặc sự vỡ của nó (xuất huyết não). Một cách tổng quát, các tai biến mạch máu não do thiếu máu cục bộ (AVC ischémique) được gây nên bởi sự phối hợp của toàn bộ 10 yếu tố, trong khi những tai biến mạch máu não xuất huyết (AVC hémorragique) được gây nên bởi 5 yếu tố nguy cơ đầu tiên của danh sách. Các tác giả sẽ tiếp tục công trình nghiên cứu của họ và chuyển qua giai đoạn hai của nghiên cứu, sẽ bao gồm 20.000 người tham dự.
(SCIENCE ET AVENIR 8/2010)

10/ HỌC SỬ DỤNG CÁC MÁY KHỬ RUNG TỰ ĐỘNG TRONG TRƯỜNG HỢP NGỪNG TIM.

Một đạo luật dự kiến đào tạo ngắn ngày để biết sử dụng máy khử rung (défibrillateur) trên công lộ.

SANTE. Hiện nay, ở Pháp, khoảng 35.000 máy khử rung ngoài tim (défibrillateur cardiaque externe) từ nay được thiết đặt. Một con số đã bùng nổ, nếu ta so sánh nó với 9.000 máy chỉ có sử dụng trong năm 2005. Những máy khử rung này, từ nay được thiết đặt trong những nơi chiến lược của các thành phố (bưu điện, toà thị chính, nhà ga, viện bảo tàng, các cơ sở thể thao, hay các xí nghiệp...), cho phép tất cả mọi người, lúc đứng trước một người bất tỉnh sau một cơn đau tim (crise cardiaque), thực hiện một sốc điện (choc électrique) có khả năng hồi sinh bệnh nhân. Mặc dầu các cố gắng còn cần phải thực hiện về các thiết bị và sự phân bố trên lãnh thổ, câu hỏi thật sự từ nay liên quan đến sự đào tạo. Ai có khả năng nhận diện một ngừng tim nơi một người đột ngột bị quật ngã bởi một sự khó ở và khi đó, ai có thể dám, trong trường hợp cần thiết, sử dụng một máy khử rung ? Mặc dầu những máy khử rung này được động hóa (défibrillateur automatique), với một commande vocale mô tả, cho mỗi giai đoạn, 3 hay 4 động tác phải hoàn thành, nhưng một chương trình đào tạo, ngay cả ngắn ngày, không phải là vô ích, dầu đó chỉ để làm nhận thức được tính cách đơn giản của thủ thuật.

Trong khung cảnh này, một nghị quyết của Bộ Nội vụ, được công bố hôm qua trong Journal officiel, chấp thuận sự thiết đặt một nhập môn “ xử trí ngừng tim và sử dụng các máy khử rung ngoài tự động (défibrillateur externe automatisé) ”. Sự nhập môn này sẽ được tổ chức trong khung cảnh “ làm nhạy cảm dân chúng với những động tác sơ cứu ”. Sự khai tâm này nhằm mục đích làm cho dân chúng thụ đắc những kiến thức cần thiết để nhận diện những dấu hiệu cho phép nhận biết một ngừng tim và thực hiện, nơi một nạn nhân ngừng tim, những động tác cho phép làm gia tăng những cơ may sống sót ”. Lớp nhập môn này, không bắt buộc, được đảm nhận, trong một thời gian tối đa một giờ, bởi những người đào tạo sơ cứu của những cơ quan có thẩm quyền hay bởi những hiệp hội được công nhận trong sự giảng dạy cứu thương. Từ khi có nghị quyết tháng năm 2007, mọi người đều được phép sử dụng một máy khử rung tự động.

“ NGAY LỚP 6 ”

“ Sự thiết đặt các máy khử rung ở những nơi công cộng, trong những vùng được nhiều người lui tới (nhà ga, chợ búa, các phòng chiếu bóng, các sân vận động, các tàu hỏa), đã cho phép vài nước chứng tỏ rằng họ có thể cứu được rất nhiều mạng người, GS Alexandre Mignon (thầy thuốc gây mê-hồi sức, bệnh viện Cochin, Paris) đã giải thích như vậy. Thí dụ, Nhật Bản vừa công bố một công trình nghiên cứu trình độ rất cao trong New England Journal of Medicine (thánh kinh của các tạp chí y học) vào tháng ba năm 2010, báo cáo kinh nghiệm của mình ở quy mô toàn cả nước.” Từ tháng giêng năm 2005 đến tháng 12 năm 2007, hơn 300.000 trường hợp ngừng tim ở nơi công cộng đã được ghi nhận ở Nhật Bản, đối với một dân số khoảng 125 triệu người. Trong thời kỳ nghiên cứu, số các máy khử rung ở nơi công cộng đã bùng nổ, chuyển từ 9000 lên gần 90.000 máy, hoặc từ 1 trên 1 cây số vuông đến hơn 4 mỗi cây số vuông. Trong cùng thời gian, tỷ lệ sống sót không có di chứng thần kinh đã được nhân lên 2 lần nơi những bệnh nhân, chuyển từ 15% lên hơn 30%. Thời hạn trung bình để cho các sốc điện cũng đã được giảm gần một nửa, đặc biệt sự thực hiện sốc điện không còn do các đội cứu thương, mà bởi những nhân chứng ngừng tim đầu tiên.

Hiệp hội RMC BFM, được chủ trì bởi Isabelle Weill từ hai năm nay, đã tranh đấu từ nhiều năm nay để phát triển một bãi các máy khử rung (parc de défibrillateurs) nơi công cộng, để xác định những nơi thiết đặt tối ưu và thành lập những chương trình đào tạo nhanh chóng để dạy cho dân chúng sử dụng những máy này. Một chương trình đào tạo ngắn ngày là đủ, GS Alexandre Mignon đã đảm bảo như vậy. Rất đơn giản trong việc sử dụng những máy khử rung này. Sự vận dụng chúng có thể được dạy ở trường ngay lớp 6, với một đào tạo 60 phút về những động tác cứu mạng, có thể được dạy lúc thi bằng lái xe, vào ngày nhập ngủ, trong các xí nghiệp..”
(LE FIGARO 5/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 60 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 21/1/2008 )


10/ SỰ KHỬ RUNG Ở BỆNH VIỆN CÓ THỂ ĐƯỢC LÀM TỐT HƠN

Theo các chuyên gia, thời hạn giữa một ngừng tuần hoàn (arret circulatoire) thứ phát một asystolie hoặc loạn nhịp, và một khử rung (défibrillation) không được vượt quá 2 phút ở bệnh viện. P.Chan (Hoa kỳ) và các cộng sự viên đã nhận diện 6789 bệnh nhân, nạn nhân của một ngừng tuần hoàn do rung thất (fibrillation ventriculaire) hoặc tim đập nhanh thất (tachycardie ventriculaire) trong 369 bệnh viện tham gia vào National Registry of Cardiopulmonary Resuscitation. Họ đã ghi nhận những đặc điểm được liên kết với việc khử rung chậm, cũng như những hậu quả lên sự sống sót của các bệnh nhân. Thời gian khử rung trung bình là 1 phút và 30% các trường hợp được khử rung chậm. Đó thường là những bệnh nhân da đen, các bệnh nhân được nhập viện bởi những bệnh lý không phải do tim, trong một trung tâm điều trị dưới 250 giường, trong một khoa phòng không có monitoring, hoặc những bệnh nhân có cơn loạn nhịp ngoài giờ làm việc (17 giờ chiều đến 8 giờ sáng). Một khử rung chậm làm giảm một cách đáng kể tỷ lệ sống sót (22% so với 39,3% trong trường hợp khử rung trong vòng 2 phút) và điều này tỷ lệ với khoảng thời hạn can thiệp. Nguồn:
(LE JOURNAL DU MEDECIN 18/1/2008)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (23/8/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969