Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 29
Lượt truy cập: 1009008
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT GIÁC MẠC NHÂN TẠO MANG LẠI THỊ GIÁC VÀ HY VỌNG.

Ghép các giác mạc sinh tổng hợp (cornée biosynthétique) có khả năng cải thiện một cách rõ rệt thị lực, đó là thách thức được nhận lãnh bởi May Griffith, thuộc Viện nghiên cứu của bệnh viện Ottawa. Công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Science Translational Medicine, mở ra những triễn vọng đáng phấn khởi trong lãnh vực của các giác mạc nhân tạo (cornée artificielle).

Trên thế giới, hơn 10 triệu người bị những vấn đề về thị giác do một sự biến đổi hay một căn bệnh của giác mạc (cornée), tấm màn mảnh trong suốt nằm ở phía trước nhãn cầu. Và khi những rối loạn thị giác này đã trở nên quá quan trọng, các thầy thuốc không có lựa chọn nào khác là dự kiến ghép giác mạc.

Được thực hiện từ nhiều năm nay, các ghép giác mạc cổ điển, nghĩa là trên cơ sở một mẫu ghép (greffon) được lấy từ một tử thi, nói chung thu được những kết quả tốt. Và điều đó cũng dễ hiểu, vì giác mạc rất ít các tế bào và các mạch máu, nên nguy cơ bị thải bỏ rất là giới hạn. “ Vấn đề cơ bản của những loại ghép này, đó là sự thiếu hụt nghiêm trọng những người cho (donneur) ”, May Griffith đã giải thích như vậy. Nếu ở Bỉ không bị tình trạng thiếu các mẫu ghép, thì đó không phải là trường hợp đối với Trung Quốc.

Một sự thiếu hụt thúc đẫy các nhà khoa học tìm kiếm những phương pháp thay thế cho các mẫu ghép người này. Trên ghế thử nghiệm : các giác mạc giả (prothèse) và những giác mạc sinh tổng hợp (cornée biosynthèse). Chính phương pháp thứ hai đã gây sự chú ý của nhóm của BS Griffith. Một cách chính xác hơn, các nhà nghiên cứu Canada và Thụy Điển đã tái tạo một lớp giác mạc nhờ collagène người. Sau đó họ đã ghép giác mạc loại này nơi một người bị bệnh thoái hóa giác mạc và nơi chín người khác bị keratocon (tật giác mạc hình nón), một bệnh thoái hóa của mắt, được đặc trưng bởi sự mất dạng hình cầu của giác mạc. Khi đó giác mạc trở nên hình nón và có thể gây nên những biến đổi thị giác.

THỊ GIÁC ĐƯỢC CẢI THIỆN.

2 năm sau ghép, các nhà nghiên cứu rất là phấn khởi : “ Không một giác mạc nào được ghép bị thải bỏ. Chúng vẫn hoàn toàn hoạt động và đã góp phần làm tái sinh những tế bào của giác mạc và của những dây thần kinh bị thương tổn trong lúc giải phẫu. Ngoài ra, 6 trong số 10 người được ghép đã thấy thị lực của mình được cải thiện. Công trình nghiên cứu này lần đầu tiên cho thấy rằng một giác mạc được tạo nên một cách nhân tạo có thể hội nhập vào trong mắt người và kích thích sự tái sinh các mô. Với nhiều nghiên cứu hơn, phương pháp này có thể cho phép phục hồi thị giác của hàng triệu người.

Một sự phấn khởi được chia sẻ bởi Minh-Tri Hua, một thầy thuốc chuyên về mắt của CHR de la Citadelle (Liège, Bỉ), tuy nhiên vẫn tỏ ra thận trọng : “ Đó là một công trình rất đẹp. Tuy nhiên, kỹ thuật này phải được cải thiện trước khi có thể được áp đúng nơi những bệnh nhân của chúng tôi. Ngoài ra, kỹ thuật này không cho phép phục hồi một giác mạc chức năng nơi những bệnh nhân bị dystrophie endothéliale de Fuchs, chỉ định ghép giác mạc đầu tiên ở Bỉ ”.
(LE SOIR 27/8/2010)

2/ CÓ GIỚI HẠN TUỔI ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG MỘT STENT HAY MỘT PHẪU THUẬT BẮT CẦU ĐỘNG MẠCH VÀNH ?

Professeur Claude Le Feuvre
Vice-président de la Fédération de cardiologie.


Từ 25 năm qua, hy vọng sống (espérance de vie) đã gia tăng một cách đáng kể ở Pháp. Ngày nay, tuổi thọ là 77 tuổi nơi dàn ông và 84 tuổi nơi phụ nữ. Sự gia tăng hy vọng sống này chủ yếu là do một sự giảm số những trường hợp tử vong tim-mạch, đã hạ một nửa từ 25 năm qua.

Với 150.000 trường hợp tử vong mỗi năm do nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não, các bệnh tim mạch tuy vậy vẫn chịu trách nhiệm 1/3 các trường hợp tử vong ở Pháp. Chúng chiếm hàng đầu những bệnh có thời gian kéo dài, với 2,8 triệu người bị liên hệ vào năm 2008, và 18,7 tỷ euro bồi hoàn. Dĩ nhiên không có giới hạn tuổi tác trong việc điều trị các bệnh tim mạch. Những thăm khám hay nhập viện thường gặp sau 80 tuổi, đôi khi ngay cả sau 90 tuổi, nhưng những lựa chọn điều trị sẽ phải được thích ứng với tuổi của bệnh nhân.

Đặc biệt đó là trường hợp đối với những bịt tắt của các động mạch vành (obturation des coronnaires). Các động mạch vành là những động mạch cung cấp oxy cho tim. Rất mảnh và hẹp (đường kính chỉ khoảng 3mm), các động mạch này đặc biệt dễ bị thương tổn. Tuổi tác, các tố bẩm di truyền và vài hậu quả của lối sống của chúng ta có nguy cơ gây nên sự tạo thành những lắng đọng trên thành động mạch (chứng xơ vữa động mạch). Dần dần, động mạch bị hẹp lại, tạo thành một chứng hẹp (sténose), ngăn cản máu lưu thông một cách bình thường.Tim sẽ không còn được tưới máu một cách đúng đắn nữa. Sự tưới máu không đầy đủ này sẽ là nguyên nhân của những cơn đau ngực lúc gắng sức (angine de poitrine). Biến chứng đáng sợ nhất là nhồi máu cơ tim (infarctus du muocarde), được biểu hiện bởi một cơn đau ngực ngẫu nhiên và kéo dài, không biến mất khi được cho trinitrine. Nhồi máu cơ tim là do sự tạo thành một cục máu đông ở chỗ hẹp, gây nên tắc động mạch vành. Biến chứng này có thể gây tử vong và cần một điều trị cấp cứu bằng cách gọi Samu (15) hay các pompier (18), dầu ở lứa tuổi nào.

Sự bịt tắc các động mạch vành (hay hẹp động mạch vành) luôn luôn cần một điều trị nội khoa và sự điều chỉnh của những yếu tố nguy cơ. Điều trị này đôi khi phải được bổ sung bằng một sự tái tạo động mạch (revascularisation) của động mạch bị bịt tắc. Có hai loại tái tạo mạch : bắc cầu động mạch vành (pontage coronarien) và stent. Bắc cầu động mạch vành là một điều trị ngoại khoa, cần mở lồng ngực. Phẫu thuật nhằm đặt một chiếc cầu, phía trên chỗ bị bịt tắc, giữa động mạch chủ và động mạch vành. Thủ thuật này được thực hiện ưu tiên với một động mạch trong ngực, động mạch vú trong (artère mammaire interne). Sự bắc cầu cho phép mang lại cho cơ tim máu được oxy hóa, ở phía trên chỗ động mạch vành bị bít, và tránh được những hậu quả của những thương tổn động mạch vành lên chức năng của trái tim.

Loại tái tạo mạch thứ hai là stent, cho phép làm giãn ở nơi bít động mạch vành (angioplastie coronaire hay giãn động mạch vành). Thủ thuật làm giãn động mạch vành này được thực hiện dưới gây mê tại chỗ, stent được mang đến nơi bị hẹp lại của động mạch vành, dưới sự kiểm tra quang tuyến, nhờ một ống thông, thường được đưa vào qua một động mạch ở cổ tay (động mạch quay). Các stent là những lò xo nhỏ bằng kim loại hình trụ, giữ động mạch mở ở nơi nó đã được giãn ra. Vài loại stent có thể phóng thích tại chỗ một thứ thuốc để tránh nguy cơ động mạch vành bị hẹp trở lại.

Lợi ích về mặt phòng ngừa tử vong và nhồi máu cơ tim là tương tự nhau với hai phương pháp tái tạo mạch. Sự tái tạo mạch bằng phẫu thuật bắt cầu (pontage) hay stent cũng cải thiện sự thoải mái của đời sống, vì cho phép bệnh nhân không còn bị những cơn đau ngực lúc gắng sức.

Sự lựa chọn giữa phẫu thuật bắt cầu và thủ thuật làm giãn động mạch vành tùy thuộc nguy cơ của mỗi thủ thuật và vị trí cũng như số lượng các chỗ hẹp động mạch vành. Bắt cầu được ưa thích hơn khi có nhiều chỗ hẹp động mạch vành và stent khó có thể đưa đến, còn giãn động mạch vành khi nguy cơ phẫu thuật bắt cầu là quan trọng và các thương tổn có thể tiếp cận được với stent. Việc lựa chọn cách tái tạo mạch thường khó nơi người già.

LOẠI BỎ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ.

Bản thân tuổi tác chỉ can thiệp một phần nhỏ trong nguy cơ ngoại khoa. Tuổi tác sinh lý (age physiologique) quan trọng hơn là ngày sinh. Nguy cơ của một phẫu thuật tim hai lần ít quan trọng hơn nơi một bệnh nhân 85 tuổi có tình trạng tổng quát tốt, không có vấn đề khác về sức khỏe, so với một bệnh nhân 65 tuổi với suy thận và suy tim.

Tuy nhiên, những bệnh nhân già cả thường có nhiều tiền căn nội khoa hơn, điều này làm gia tăng nguy cơ của một cuộc phẫu thuật tim. Mặt khác, những hẹp động mạch vành thường nhiều hơn và phân tán hơn so với những người trẻ, và do đó stent khó có thể đưa đến được. Đặc biệt nơi người già, chỉ định một phẫu thuật bắt cầu hay giãn động mạch vành phải được đặt ra sau khi hội chẩn nội-ngoại khoa và đả thông bệnh nhân.

Vậy không có giới hạn tuổi để được hưởng một bắt cầu hay một stent động mạch vành và cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân. Chỉ định của một tái tạo mạch sẽ được chấp nhận nếu lợi ích của stent hay bắt cầu lớn hơn nguy cơ của thủ thuật. Sự đả thông và ý kiến của bệnh nhân là những yếu tố thiết yếu trong chỉ định và lựa chọn thủ thuật. Sự điều trị bít động mạch vành bằng bắt cầu hay stent không được làm quên rằng sự hẹp này là do quá trình xơ mỡ động mạch, do đó sự điều trị thật sự dựa vào việc loại bỏ những yếu tố nguy cơ.

Không có một vệ sinh đời sống tốt, sự sửa chữa sẽ chẳng ích lợi gì. Hơn bao giờ hết phương châm nổi tiếng “ 0-5-30 ” (O thuốc lá, 5 trái cây và rau xanh, 30 phút thể dục mỗi ngày) của liên đoàn tim học của Pháp phải được áp dụng. Những biện pháp phòng ngừa này là điều bắt buộc, dầu ở lứa tuổi nào, để tránh những chỗ hẹp mới của động mạch vành xuất hiện nơi những bệnh nhân được điều trị, và đồng thời để tránh căn bệnh này nơi những người có sức khoẻ tốt.
(LE FIGARO 25/5/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 166 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/3/2010 )

6/ NGĂN NGỪA CÁC HUYẾT KHỐI TRÊN STENT : ĐIỀU TRỊ MỚI.

GS Michel Desnos, trưởng khoa tim bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, giải thích tiến bộ quan trọng với sự thương mãi hóa mới đây ở Pháp thuốc prasugrel.

Hỏi : Trong những trường hợp nào khiến ta phải thực hiện một angioplastie đồng thời đặt stent và protocol là gì ?
GS Michel Desnos : Angioplastie là thủ thuật nhằm đưa một quả bóng nhỏ (baloonet) vào trong các động mạch của tim (các động mạch vành), để mở lỗ bị hẹp. Trong đại đa số các trường hợp, để tránh sự hẹp tái phát, người ta thiết đặt một loại lưới sắt nhỏ, được gọi là stent. Có hai chỉ định chính đối với thủ thuật này. 1. Nhồi máu cơ tim khi động mạch vành bị bít bởi một cục máu đông. 2. Những cơn đau ngực không kiểm soát được bằng điều trị ngoại khoa, bởi vì cơn đau xảy ra do động mạch bị hẹp. Ở Pháp, người ta thực hiện khoảng 120.000 angioplastie với đặt stent mỗi năm. Và con số này không ngừng gia tăng.

Hỏi : Những kết quả thu được là gì ? Những biến chứng là những biến chứng nào ?
GS Michel Desnos : Về nhồi máu cơ tim, từ 10 năm qua, kỹ thuật này đã cho phép một sự thu giảm một nửa tỷ lệ tử vong. Nhưng cũng như mọi sự can thiệp, có những nguy cơ có thể xảy ra trong khi làm thủ thuật hay xuất hiện thứ phát. Người ta quan sát thấy 2 biến chứng muộn. 1. Một sự hẹp trở lại (resténose) : sau 3 đến 6 tháng động mạch lại bị hẹp lại ở cùng vị trí trước đây. 2. Một sự tắc (occlusion) : động mạch bị trít lại hoàn toàn với huyết khối (thrombose) trên stent (2 đến 3%), một tai biến trầm trọng có thể dẫn đến tử vong (trong 40% các trường hợp).

Hỏi : Mãi đến nay, làm sao ta có thể ngăn ngừa những biến chứng này ?
GS Michel Desnos : Khi sự hẹp trở lại xuất hiện ở cùng một chỗ, ta có thể thực hiện một sự nong giãn mới. Để ngăn ngừa sự xuất hiện một huyết khối (thrombose), ta kê đơn một điều trị chống kết tụ tiểu cầu (traitement antiagrégant plaquettaire), sẽ ngăn cản sự tạo thành một cục máu đông (caillot) trong máu. Trong ít nhất năm đầu sau khi đặt stent, ta kê đơn hai thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégant) là aspirine kết hợp với clopidogrel (Plavix) và sau đó nói chung chỉ còn một thứ thuốc.

Hỏi : Những thất bại nơi các bệnh nhân được điều trị phòng ngừa này là do đâu ?
GS Michel Desnos : Chủ yếu do 3 nguyên nhân. 1. Một sự tuân thủ điều trị kém của các bệnh nhân, quên uống thuốc hay ngừng điều trị không được biện minh (ví dụ để chữa răng hay nội soi tiêu hóa). 2. Sự hiện hữu của vài loại bệnh liên kết, đặc biệt là bệnh đái đường. 3. Một sự đề kháng đối với clopidogrel do những bất thường di truyền được biểu hiện nơi gan : nơi 25% các bệnh nhân, chất chống ngưng kết này tỏ ra không có hiệu quả.

Hỏi : Liệu pháp mới nhất dành cho các trường hợp đề kháng với điều trị cổ điển là gì ?
GS Michel Desnos : Đó là prasugrel, một chất chống ngưng kết tiểu cầu mới được thương mãi hóa ở Pháp. Đối với những bệnh nhân đề kháng này, thuốc prasugrel có hiệu quả hơn và tác dụng của nó ít được liên kết với chuyển hóa gan hơn và do đó ít nhạy cảm hơn với những bất thường di truyền. Người ta kê đơn thuốc này với liều lượng 10 milligramme mỗi ngày, liên kết với 75 đến 325 mg aspirine.

Hỏi : Những thử nghiệm nào đã chứng tỏ hiệu quả của prasugrel ?
GS Michel Desnos : Công trình nghiên cứu lớn “ Triton ” (được công bố trong “ New England Journal of Medicine ”) đã được thực hiện trên hơn 13.000 bệnh nhân đã bị một nhồi máu cơ tim và mang stent (trong 700 bệnh viện của 30 nước). Các nhà nghiên cứu đã so sánh trong vòng một năm những bệnh nhân được điều trị cổ điển (aspirine +clopidogrel) với những bệnh nhân được điều trị bởi aspirine và prasugrel. Kết quả : thuốc mới đã tỏ ra có hiệu quả hơn do làm giảm 52% các huyết khối trên stent.

Hỏi : Điều trị mới này có gây nên những phản ứng phụ hay không ?
GS Michel Desnos : Điều trị với prasugrel có một nguy cơ gây xuất huyết, nhất là nơi não bộ, ít xảy ra hơn (2,4% các xuất huyết với clopidogrel so với 1,8% với prasugrel).

Hỏi : Người ta có thể giảm mối nguy hiểm này không ?
GS Michel Desnos : Có, bằng cách không cho thuốc này nơi các bệnh nhân có nguy cơ cao hơn : những người trên 75 tuổi, những người đã bị một tai biến mạch máu não, những người cân nặng dưới 60kg.
(PARIS MATCH 1/3-17/3/2010)


3/ VIAGRA PHỤ NỮ BỊ FDA ĐÁNH HỎNG.

Thuốc được cho là kích thích ham muốn nơi phụ nữ vừa bị đánh hỏng bởi FAD (Food and Drug Administration). Fibansérine, chất đáng lý được thương mại hóa dưới tên Girosa, đã không chứng minh được tính hiệu quả của nó đối với cơ quan quản lý dược phẩm Hoa Kỳ. Cơ quan này đã bác bỏ loại thuốc này bởi 10 phiếu chống một.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 112 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/2/2009 )

1/ THUỐC GÂY KHOÁI LẠC PHỤ NỮ.

Một thứ thuốc kích thích dục tính (libido) phụ nữ có thể sẽ xuất hiện trên thị trường ngay trong năm nay. Cuộc cách mạng này đã gây nhiều tranh cãi

“Cưng yêu dấu, em lên giường ngủ đi chứ? Khoan đã nào, em phải lấy viên thuốc flibansérine cái đã”. Đó là điều mà có lẽ chúng ta sẽ nghe các cặp vợ chồng sẽ nói thì thầm ngay trong năm nay. Thật vậy, flibansérine, đứa con sinh sau cùng của Hãng Bào chế Đức Boehringer Ingelheim, có thể được ghi vào trong lịch sử của dược điển như là chất kích thích ham muốn tình dục phụ nữ. Một cuộc cách mạng, cũng như lúc xuất hiện, vào năm 1998, của Viagra đối với đàn ông !

Hiện nay các trắc nghiệm đang được tiến hành trên 5000 phụ nữ ở Hoa Kỳ, ở Châu Âu và Canada. Nếu những kết quả được loan báo trong năm nay thỏa mãn, thuốc sẽ được lưu hành trên thị trường tiếp ngay sau đó. Thật đúng lúc, vài người đã nói như vậy: “Nhiều phụ nữ có nhiều khó khăn để đạt được dễ dàng sự ham muốn và khoái lạc, Philippe Brenot, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần và giám đốc giảng dạy sexologie ở đại học Paris-V đã chứng nhận như thế. Thế mà hiện nay, chúng ta không có thuốc để kê đơn cho họ.”

Vậy không còn phải chậm trễ được nữa. Nhất là nghiên cứu lại đang sôi nổi. Có không dưới một chục loại thuốc đang được thí nghiệm ở châu Âu hay ở Hoa Kỳ, trong đó flibansérine đứng đầu danh sách. Hãng dược phẩm Boehringer xác nhận rằng “thuốc flibansérine kích thích những nơi của não bộ liên kết với các cảm xúc và khoái lạc”. Mặc dầu “các nghiên cứu đang được tiến hành để biết rõ hơn cách tác dụng”, người ta đã biết rằng thuốc này tác dụng chủ yếu lên nồng độ sérotonine trong não bộ, một chất trung gian hóa học có liên hệ trong sự lo lắng và các cảm xúc. Trong một công trình nghiên cứu vào năm 2002, Franco Borsini, nhà nghiên cứu của phòng bào chế Ý, cũng gán cho nó một tác dụng lên các thụ thể của dopamine, chất dẫn truyền thần kinh can thiệp trong vòng khoái lạc (circuit du plaisir).

Trong trắc nghiệm đang được tiến hành, các phụ nữ tất cả đều có một bệnh lý mới, được mệnh danh là “rối loạn ham muốn tình dục thiếu hoạt động” (hypoactive sexual desire disorder (HSDD), trouble du désir sexuel hypoactif).

Sự đầu tư tài chánh đã đổ ra ồ ạt, được khích lệ bởi những kết quả của các công trình nghiên cứu sơ khởi của giai đoạn II, trong đó, theo phòng thí nghiệm, các bệnh nhân được điều trị với flibansérine “ đã cảm thấy ham muốn nhiều hơn và một thỏa mãn tính dục gia tăng ”.

Tuy nhiên cần ghi chú rằng để có hiệu quả người dùng phải là người bệnh ! Thuốc dường như chỉ tác dụng sau 6-8 tuần điều trị. Trái với Viagra, tác dụng gần như tức thời, đây đúng hơn là một điều trị lâu dài (traitement de fond). Dẫu sao đi nữa, “ flibansérine mang lại một ham muốn ở một mức bình thường ” . Mặc dầu không nói rõ thế nào là “ bình thường ”.

Tuy vậy, chất kích thích dục tính này suýt nữa có một định mệnh khác hẳn. Boehringer trước hết, trong những năm 1990, đã trắc nghiệm flibansérine để chống lại chứng trầm cảm. Các nhà nghiên cứu người Đức trông đợi một tác dụng nhanh của flibansérine trong chỉ định này. Nhanh hơn những điều trị với Prozac, Deroxat..đã có trên thị trường, điều này cho phép họ cạnh tranh với các thuốc chống trầm cảm này. Thế mà, với sự ngạc nhiên toàn thể, nếu những kết quả chống lại bệnh trầm cảm đã không có sức thuyết phục, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một tác dụng đáng kể lên dục tính của phụ nữ. Nhưng làm sao giải thích hiệu quả nghịch lý này trong khi các thuốc chống trầm cảm được biết là làm hạ dục tính ?

Trả lời của Boehringer : flibansérine, do cách tác dụng của nó, không thuộc vào họ của những IRS (inhibiteurs de la recapture de la sérotonine, loại Prozac, Deroxat, Zoloft,...). Các IRS làm gia tăng nồng độ sérotonine trong khớp thần kinh (synapse) bằng cách ngăn cản sự bắt giữ trở lại (recapture) trong neurone trước khớp thần kinh (neurone présynaptique). “ Trái lại, flibansérine tác dụng với tư cách chất chủ vận (agonist) của các thụ thể 5-HT1A và chất đối kháng của các thụ thể 5-HT2A.”, Kết luận của phòng bào chế : “ flibansérine không phải là thuốc chống trầm cảm ”, điều này đã mở đường cho những nghiên cứu khác. Thế mà Paolo D’Aquila thuộc đại học Swansea (Vương Quốc Anh), vào năm 1977, kết luận rằng những kết quả được quan sát nơi chuột cho thấy một tác dụng chống trầm cảm nhanh của flibansérine ” . Thế thì biết tin ai ?

Cần phải làm sáng tỏ vì cần phải biết rằng những thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những hiện tượng làm mất ức chế (désinhibitiion), mà trong vài trường hợp có thể dẫn đến tự tử. Coi chừng sử dụng flibansérine như thuốc kích dục mà không được theo dõi ! Trong khi chờ đợi những xác nhận rõ ràng hơn, hãng Boehringer chỉ xác nhận rằng flibansérine nhìn toàn bộ là thuốc “dung nạp tốt”. Như vậy tránh được một bất ngờ tai hại.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2009)

Thời Sự Y Học Số 152 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 14/12/2009 )

6/ MỘT LOẠI THUỐC KÍCH THÍCH DỤC TÍNH PHỤ NỮ.

Thuốc flibanserine đã được trắc nghiệm với các kết quả tốt nơi hàng ngàn phụ nữ bị các rối loạn về ham muốn (troubles du désir).

SEXUALITE. Các ông có Viagra từ năm 1998 để chữa chứng hỏng dục tình (pannes sexuelles). Các phụ nữ chẳng bao lâu nữa sẽ có flibanserine để kích thích dục tính của họ. Được trắc nghiệm nơi nhiều ngàn phụ nữ bị các rối loạn về ham muốn, thuốc này đã cải thiện một cách đáng kể đời sống tình dục, theo các công trình nghiên cứu được trình bày mới đây ở hội nghị lần thứ 12 của Hiệp hội y khoa tình dục (médecine sexuelle) châu Âu ở Lyon. Sau sự đăng quang của viên thuốc màu xanh (Viagra) và các thuốc cạnh tranh nó, (đã biến đổi việc điều trị các rối loạn sinh dục nam giới và đã chinh phục một thị trường có doanh thu hàng tỷ dollar), các hãng bào chế dược phẩm đã tìm kiếm loại thuốc tương đương nơi nữ giới. Nhưng mối thách thức đã tỏ ra gay go hơn dự kiến, nhất là bởi vì bản năng giới tính (sexualité) ở phụ nữ phức tạp hơn nhiều so với đàn ông. Một loại thuốc dán (patch) testostérone được đặt tên là Intrinsa, đã được thương mại hóa năm 2007, để điều trị chứng giảm ham muốn xảy ra sau mãn kinh ngoại khoa (ménopause chirurgicale).

Ngoài bối cảnh hạn hẹp này, ý niệm loạn năng tính dục phụ nữ (dysfonction sexuelle féminine) đã không tạo nên sự nhất trí. Đối với những người bi quan, đó là một điều được dựng lên bởi các hãng dược phẩm để bán những thứ thuốc mới, hiện tượng được biết dưới tên disease mongering. Trái lại các chuyên gia về dục tính đã xác nhận rằng đó là những bệnh lý thật sự, thường xảy ra nhưng không được biết rõ . “ Hơn một nửa các phụ nữ có những khó khăn lớn trong việc đạt được ham muốn hay khoái lạc ”, BS Philippe Brenot, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần và giám đốc giảng dạy tình dục học (sexologie) ở đại học Paris-Descarte đã đánh giá như vậy. Theo nhà điều trị này, nhà tìm tòi nghiên cứu của một trong những thử nghiệm với flibansérine, “ người ta không biết nhiều về bản năng giới tính nữ giới bởi vì có ít các nghiên cứu trong lãnh vực không gây chết người và cấm kỵ này ”.

Cũng như trong trường hợp của Viagra, các lợi ích của flibansérine trên dục tính đã được khám phá một cách tình cờ. Thuốc này, tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, nơi các thụ thể của sérotonine, trước hết đã được sử dụng như thuốc chống trầm cảm trong những năm 1990 bởi phòng bào chế Boehringer Ingelheim. Nhưng những tác dụng của nó lên sự ham muốn của phụ nữ đã tỏ ra có sức thuyết phục hơn những hiệu quả lên tính khí, và hãng bào chế đã chuyển hướng trong sự phát triển của thứ thuốc này. Những kết quả được tiết lộ ở Lyon, phát xuất từ những công trình nghiên cứu giai đoạn III (giai đoạn trước khi đưa thuốc ra thị trường), được tiến hành ở Hoa Kỳ và châu Âu nơi các phụ nữ không bị mãn kinh và mắc phải chứng “ giảm hoạt ham muốn tình dục ” (désir sexuel hypoactif) (DSH). Ít được biết đến bởi công chúng và ngay cả bởi các thầy thuốc, thuật ngữ này là thuật ngữ được sử dụng trong các sách giáo khoa tâm thần học để định nghĩa những rối loạn tình dục, được đặc trưng bởi một sự thiếu ham muốn cùng với sự đau khổ và những khó khăn giữa người với nhau, mà không có một bệnh lý thực thể nào khác.

Trong 24 tuần, các người tình nguyện đã nhận uống 100mg flibanserine buổi chiều vào lúc đi ngủ hay một placebo. Để đánh giá tác dụng của nó trong một lãnh vực phức tạp như bản năng giới tính phụ nữ (sexualité féminine), các nhà nghiên cứu đã nhờ đến một cuốn sổ theo dõi điện tử. Như vậy, các phụ nữ tham dự đã đo lường mỗi ngày lòng ham muốn của họ, “ những biến cố tình dục thỏa mãn ” (không nhất thiết đồng nghĩa với khoái lạc cực độ) và mức độ đau khổ liên kết với những rối loạn tình dục. Sau nhiều tuần, những tham số này được cải thiện nơi các phụ nữ được điều trị bởi flibanserine. “ Các hiệu quả không thể tranh cãi được, GS François Giuliano, thầy thuốc chuyên khoa niệu và chuyên viên về những rối loạn tính dục (bệnh viện Raymond-Poincaré, Garches) đã xác nhận như vậy. Nhưng lưu ý, đó không phải cùng với khái niệm với các rối loạn cương (dysfonction érectile), mà trong trường hợp này thuốc được uống theo yêu cầu. Ở đây, đó là một điều trị hàng ngày, dài lâu.” Một vài người loan báo thuốc sẽ được thương mãi hóa vào năm 2011. Một kỳ hạn mà hãng bào chế Boehringer Ingelheim muốn tỏ ra thận trọng trong lúc chờ đợi các kết quả bổ sung. Một nhóm các thứ thuốc khác, với những cách tác dụng khác nhau, đang được nghiên cứu, trong những giai đoạn lâm sàng rất sơ khởi hay nơi động vật.
(LE FIGARO 9/12/2009)


4/ BÍ QUYẾT CỦA NHỮNG NGƯỜI NGỦ ĐƯỢC TRONG TIẾNG ỒN.

Não bộ của những người ngủ ngon (bon dormeur) sinh ra nhiều làn sóng hơn để phong bế các âm thanh bên ngoài.

SOMMEIL. Đó là điều bất công và cho mãi đến nay vẫn là một bí mật đối với các nhà khoa học : vài người có thể ngủ như chết trong những nơi có quá nhiều tiếng ồn như trong một phi trường hay một hộp đêm, trong khi đó những kẻ khác thì thức dậy ngay đối với một tiếng động nhỏ. Các nhà nghiên cứu của Đại Học Harvard (Boston) vừa vén một phần của tấm màn bí mật, khi chứng minh vai trò căn bản của các sóng não (ondes cérébrales) đặc biệt, được gọi là những “ fuseaux du sommeil ”, trong sự ổn định của giấc ngủ, đứng trước những xáo động bên ngoài. Theo những công trình của họ, được công bố trong ấn bản vừa qua của tờ báo Current Biology, não bộ của những người được ưu tiên này phát ra, trong điều kiện tự nhiên, nhiều fuseau hơn, điều này cho phép họ phong bế sự lan truyền của các âm thanh trong khi họ đang mê man trong giấc điệp.

Chất lượng của giấc ngủ là một yếu tố chủ yếu của sức khỏe và sự thoải mái. Đó là điều được biết rõ. Thế mà trong những xã hội hiện đại của chúng ta, những tiếng ồn là một trong những yếu tố quan trọng nhất gây xáo trộn giấc ngủ, nhất là trong môi trường đô thị. “ Trong một công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi bệnh viện Hôtel-Dieu và Caisse primaire d’assurance-maladie de Paris, tiếng ồn được nêu lên bởi 40% những người dân Paris như là yếu tố gây rối loạn giấc ngủ đầu tiên ”, GS Damien Léger, người phụ trách của Centre du sommeil của bệnh viện Hôtel-Dieu (Paris) đã chỉ rõ như thế. Nguyên nhân : các décibel gây nên bởi các vận chuyển, dưới đất nhưng cả trên không trong những vùng gần phi trường ; và những tiếng ồn của những nhà bên cạnh, kể cả của chính gia đình mình.

Về phương diện sinh lý, ban đêm là một chuỗi liên tiếp 4 đến 6 chu kỳ giấc ngủ (cycle de sommeil). Mỗi chu kỳ, mà thời gian tổng cộng từ một đến hai giờ, bắt đầu bằng một giấc ngủ nhẹ (sommeil léger), tiếp theo bởi một giấc ngủ chậm và sâu (sommeil lent profond) và chấm dứt bởi giấc ngủ nghịch lý (sommeil paradoxal) (vào lúc các giấc mơ). Những giai đoạn này được thể hiện bởi các sóng khác nhau ở điện não đồ. Thien Thanh Dang-Vu và các đồng nghiệp đã quan tâm đặc biệt đến các fuseaux de sommeil, hay spindles theo tiếng Anh, các tràng sóng nhịp nhanh (salves d’ondes de rythme rapide) xuất hiện trong giấc ngủ chậm và nhẹ. Các làn sóng này được sinh ra bởi đồi thị (thalamus), một vùng não bộ có liên quan trong việc lọc các thông tin cảm giác (informations sensorielles).

“ ĐIỂM NEO CỦA GIẤC NGỦ ”

“ Những làn sóng này được xem như là một điểm neo (point d’ancrage) của giấc ngủ, cho phép đi từ trạng thái thức tỉnh (éveil) qua giấc ngủ chậm và sâu (sommeil lent profond) ”, GS Léger đã xác nhận như vậy. Các sóng này cũng có liên hệ trong những hiện tượng ghi nhớ. Thí nghiệm của Hoa Kỳ được tiến hành nơi 12 người trẻ tuổi có sức khoẻ tốt, không có vấn đề về giấc ngủ. Hoạt động não bộ của họ đã được ghi trong một đêm đầu tiên yên tĩnh, rồi trong hai đêm, trong đó các thanh niên này đã chịu một loạt 14 tiếng ồn khác nhau. Đối thoại, tiếng reo của chuông điện thoại, tiếng nước dội cầu, máy giặt, tiếng máy bay trực thăng...Cứ mỗi 30 giây, các âm thanh được phát ra từng tràng 10 giây, trước hết ở mức 40 décibels, rồi với một cường độ tăng dần cho đến khi làm nhiễu loạn điện não đồ.

“ Não bộ của một cá thể càng sản xuất nhiều fuseaux de sommeil một cách tự nhiên, thì giấc ngủ của người này càng chống lại với những tiếng ồn bên ngoài ”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy. “ Chúng tôi đã dự kiến các kết quả này, nhưng chúng tôi đã bị ngạc nhiên bởi cường độ của nó, Thiên Thanh Dang-Vu, tác giả đầu tiên của bài báo đã bình luận như vậy. Công trình nghiên cứu của chúng tôi chứng minh rằng sự phong phú dồi dào các fuseaux de sommeil là một chỉ dấu sinh học (biomarqueur) của tính dễ bị thương tổn (vulnérabilité) đối với tiếng ồn trong khi ngủ.” Do đó theo ông, thật là hay khi khảo sát một cách có hệ thống hơn tham số này trong khi thăm dò những rối loạn giấc ngủ.

Nhiên hậu, khám phá này cũng sẽ có thể có những áp dụng điều trị. Chúng ta có thể tưởng tượng sự hiệu chính các phương pháp cơ học, từ trường, hay ngay cả các thuốc men để kích thích sự sản xuất các “ fuseaux de sommeil ”, Thiên Thanh Dang-Vu đã xác nhận như thế.

“ Lợi ích của bài báo này là, xuất phát từ sinh lý học, để tìm giải pháp cho một vấn đề rất quan trọng của y tế cộng đồng, nhưng, hiện nay, không có điều trị gây ngủ (traitement hypnotique) nào tác động một cách đặc hiệu lên các fuseau de sommeil cả ”, GS Léger đã nhắc lại như vậy.
(LE FIGARO 1/8/2010)

5/ MỘT TRẮC NGHIỆM HƠI THỞ ĐỂ PHÁT HIỆN CÁC UNG THƯ.

Chiếc mũi điện tử cho phép phân biệt nhiều loại ung thư, nhưng còn phải được chuẩn nhận.

CANCER. Phát hiện một ung thư phổi, vú, đại tràng hay kể cả tuyến tiền liệt trong vài phút chỉ bằng một phân tích hơi thở. Đường hướng nghiên cứu quyến rũ này, được thăm dò từ nhiều năm nay bởi nhóm nghiên cứu của Hossam Haick (Viện công nghiệp học israel, Haifa), bắt đầu được trắc nghiệm trên lâm sàng. Và những kết quả rất là đáng phấn khởi, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện nơi 177 người tình nguyện, vừa được công bố trong British Journal of Cancerology.

Nguyên tắc của “ chiếc mũi điện tử ” này, được sinh ra đời trong những năm 1970, là tìm kiếm trong không khí thở ra những phân tử nhỏ, các những hợp chất hữu cơ bay hơi (COV : composés organiques volatiles), mà nồng độ cao hơn trong trường hợp ung thư. Thật vậy, các tế bào ung thư bị những biến đổi hóa học nơi bề mặt của chúng, do đó có thể được tìm thấy trong máu, nước tiểu hay cả khí thở ra. Để phát hiện chúng, các nhà nghiên cứu israel nhờ đến một công nghệp học cực kỳ nhạy cảm và được thu nhỏ (une tecnologie ultrasensible et miniaturisée) với những nanocapteur, mà chất cơ bản là những hạt vàng (particules d’or). Trong công trình nghiên cứu này, họ đã đưa vào 177 người tình nguyện mà một nửa vừa có một chẩn đoán ung thư (phổi, vú, tuyến tiền liệt hay đại tràng) và đã chưa được điều trị. Những người khác đã không có bệnh gì đặc biệt.

Nhờ chiếc “ mũi điện tử ”, các nhà nghiên cứu đã có thể phân biệt hơi thở của những người chứng với các hơi thở của những bệnh nhân bị ung thư, và trong số những bệnh nhân bị các bướu ung thư này, họ phân biệt được các loại ung thư khác nhau. Đối với mỗi vị trí ung thư, mũi điện tử đã nhận diện 4 đến 6 hợp chất hữu cơ bay hơi đặc biệt. Nhưng hiệu năng của các chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) này hơi ít tốt hơn đối với các ung thư của tuyến tiền liệt, các tác giả israel đã ghi nhận như vậy.

Như thế trong tương lai, các tác giả này hy vọng “ phát triển một công cụ ít tốn kém, dễ sử dụng, có thể mang theo và không xâm nhập ”, ưu thế hơn những phương pháp phát hiện hay chẩn đoán sớm các ung thư hiện nay.“ Đó là một việc làm hay, được tiến hành bởi một nhóm nghiên cứu nghiêm túc, với một khái niệm tài tình. Nhưng còn phải chuẩn nhận nó bằng những nghiên cứu được thực hiện trên nhiều ngàn người, GS Dominique Bellet, người phụ trách phòng thí nghiệm ung thư sinh học (oncobiologie) thuộc bệnh viện René Huguenin của Viện Curie, đã đánh giá như vậy. Thế mà người chuyên gia này nhấn mạnh rằng mặc dầu việc nghiên cứu các chất chỉ dấu sinh học của các ung thư rất phát đạt, nhưng chỉ có 1% cuối cùng được chuẩn nhận mà thôi.

Jean-Louis Viovy, nhà sinh vật lý (biophysicien) ở Viện Curie, cũng vẫn tỏ ra thận trọng. “ Các nhà nghiên cứu đã so sánh những người lành mạnh với những người bị bệnh ung thư, nhưng cũng phải cần kiểm tra rằng những trắc nghiệm này không dương tính đối với những bệnh không phải ung thư ”, ông đã nêu lên như vậy. Câu trả lời sẽ có trong những năm sắp đến.
(LE FIGARO 13/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 91 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 04/9/2008 )

10/ MỘT CÁI MŨI ĐỂ PHÁT HIỆN UNG THƯ DA

Chiếc máy có thể cho phép thực hiện chẩn đoán sớm mà không cần làm sinh thiết.

Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã cho thấy rằng một vài loại ung thư da, các carcinome baso-cellulaire, ít hung hãn nhất, tỏa ra một mùi đặc biệt khả dĩ được phát hiện nhờ những cái mũi điện tử. Họ đã trình bày những công trình này ở hội nghị hàng năm của American Chemical Society, bế mạc hôm qua ở Philadelphie.

“Từ lâu, cộng đồng khoa học nghi ngờ rằng các mùi phát ra từ các ung thư da, nhưng chúng tôi là những người đầu tiên đã nhận diện chúng và đo lường các cấu chất mà chúng chứa” , Michelle Gallgher, thuộc Monell Chemical Senses Center ở Philadelphie đã xác nhận như thế. “Sự khám phá này mở đường cho những phương thức mới để chẩn đoán ung thư da, căn cứ trên các mùi, sẽ đưa đến chẩn đoán nhanh hơn và không cần phải làm sinh thiết ” .

Carcinomes baso-cellulaires, loại ung thư da thường xảy ra nhất (60 đến 80 trường hợp mới trên 100.000 người mỗi năm), chủ yếu gây bệnh cho những người có da sáng, rất nhạy cảm với các tia tử ngoại. Mặc dầu không có tính chất nghiêm trọng của các ung thư da khác, nhưng chúng có thể gây nên những hủy hoại mô quan trọng nếu chúng không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Mong muốn kiểm tra xem mùi của ung thư có thật sự là một hướng đáng tin cậy hay không, nhóm của giáo sư Gallagher đã lấy máu và phân tích không khí ở gần các khối u của 11 bệnh nhân bị dạng thông thường nhất của ung thư da này (carcinome baso-cellulaire). Các nhà khoa học sau đó đã so sánh những phân tích này với những dữ kiện thu lượm được nơi những người lành mạnh. Các kết quả cho thấy các mùi phát ra từ các khối u khác với mùi của các mô lành mạnh. “Cùng những hợp chất hóa học hiện diện nơi tất cả những người tham dự. Nhưng gần các khối u ung thư, nồng độ của một vài trong những chất này tăng lên, trong khi những chất khác giảm xuống, so sánh với da của những người lành mạnh”.

Các nhà nghiên cứu dự kiến sáng tạo một “mũi điện tử” có khả năng phát khởi một báo động trong trường hợp có sự hiện diện của một carcinome baso-cellulaire và họ đang đưa đơn đòi bằng sáng chế...Một sự khẳng định làm GS Louis Dubertret, trưởng khoa da BV Saint-Louis Paris, phải mỉm cười. “Mặc dầu công trình nghiên cứu này là lý thú, nhưng nó sẽ không bao giờ cạnh tranh được với những máy phân tích hình ảnh bằng vi tính, ngày nay đang phát triển mạnh. Những máy này, đặc biệt có hiệu năng, bắt đầu có thể thực hiện những chẩn đoán mô học mà không cần phải lấy mô làm sinh thiết”. Chắc chắn đó mới là tương lai của khoa da.
(LE SOIR 22/8/2008)


6/ OMEGA-3 CHỐNG BỆNH TRẦM CẢM.

Các nhà nghiên cứu của đại học Montréal đã phát hiện tính hiệu quả của các acide eicosapentaéoique (oméga), được cho bổ sung nơi những bệnh nhân bị bệnh trầm cảm quan trọng mà không có những rối loạn của sự lo âu. Công trình nghiên cứu, Omega3D, đã được tiến hành nơi 432 bệnh nhân, trong đó vài người bị những thể nặng. Các oméga-3 đã tỏ ra có hiệu quả như các thuốc chống trầm cảm.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 83 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 13/6/2008 )

3/ CÁC NGƯỜI GIÀ : OMEGA-3 CHỐNG BỆNH TRẦM CẢM.

Một công trình nghiên cứu của Pháp chỉ rõ rằng một chế độ ăn uống giàu oméga-3 sẽ ngăn ngừa nguy cơ bị trầm cảm (dépression) nơi các người già.

Vào đầu những năm 2000, một cuộc tranh luận kịch liệt về những lợi ích đối với sức khỏe của các oméga-3, các acide béo được đặc biệt tìm thấy trong cá, đã làm sôi nổi nước Pháp. Đặc biệt, lợi ích của các chất mỡ này trong việc ngăn ngừa và điều trị những người bị bệnh trầm cảm nhẹ đã được cổ xướng bởi vài người và bị tranh cãi bởi những người khác.

Các nhà nghiên cứu của Inserm nghiên cứu vấn đề này, vừa cho thấy rằng, từ một công trình nghiên cứu quan sát trên gần 1.400 lão niên, một nồng độ cao trong máu của acide béo oméga có chuỗi dài được gọi là EPA (acide eicosapentaénoique) được liên kết với một tần suất ít lớn hơn các triệu chứng trầm cảm nơi những người này. Trong khi đó, ngược lại, các người bị trầm cảm có những nồng độ thấp EPA. Vấn đề còn cần phải biết xem là có phải chính bởi vì các lão niên này bị trầm cảm nên có một nồng độ EPA thấp hay chính do nồng độ của acide béo thiết yếu này thấp (do chế độ thức ăn nghèo oméga-3) mà họ bị những triệu chứng trầm cảm. Công trình nghiên cứu, được công bố trong American Journal of Clinical Nutrition ngày 13/5 vừa qua không cho phép nói về điều đó vào giờ phút này.

Mục tiêu của dự án nghiên cứu do Pascale Barberger-Gateau (giám đốc của phòng dịch tễ học về dinh dưỡng ở Bordeaux) là nghiên cứu tác động của tình trạng dinh dưỡng acide béo và các chất chống oxy hóa (antioxydant) lên sự lão hóa của não bộ (suy thoái tinh thần và sa sút trí tuệ) và lên các rối loạn về khí chất (chứng trầm cảm). Trong công trình nghiên cứu, các tác giả đã khảo sát mối liên hệ giữa nồng độ acide béo trong máu và tầm quan trọng của các triệu chứng trầm cảm.

1.390 người, tuổi trung bình 75, được theo dõi ở Bordeaux, đã chấp nhận cho lấy máu đều đặn mỗi hai năm, nhằm định lượng 12 acide béo khác nhau. Trong cùng thời gian, các nhà tâm lý học đã tìm cách nhận diện sự hiện diện của chứng trầm cảm hay các tiền sử bị trầm cảm và mức độ nghiêm trọng của chúng, nhờ bảng câu hỏi. Theo kết quả, một oméga đặc biệt, acide eicosapentaénoique (EPA) đã gây sự chú ý của các nhà khoa học. Họ đã khám phá ra rằng, các người bị trầm cảm có các nồng độ EPA trong máu thấp hơn so với những người không hề có vấn đề trầm cảm. “Oméga-3 này là thành phần của các màng tế bào, đặc biệt là trong các neurone của não bộ”, Catherine Féart, một trong các nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. “Người ta càng có nhiều oméga-3, những trao đổi não bộ sẽ càng được thực hiện dễ dàng hơn”. Có thể nói EPA làm dễ các liên lạc giữa các neurone.

CÁ HỒI HAI LẦN MỖI TUẦN

“ Người ta có thể đặt giả thuyết rằng oméga-3 này đóng một vai trò trong chuyển hóa của sérotonine, can dự trong chứng trầm cảm. Một giải thích khả dĩ khác : trong trường hợp trầm cảm, có một tình trạng viêm thần kinh (neuro-inflammation) khả dĩ được điều hòa bởi các oméga-3 này. Để hiểu rõ hơn những kết quả đầu tiên này, các nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục nghiên cứu và đo các nồng độ acide béo đồng thời trong màng các hồng cầu và trong huyết thanh . Bởi vì các nồng độ huyết thanh phản ảnh ăn uống 15 ngày trước đó, trong khi những nồng độ của các hồng cầu là bằng cớ lâu dài hơn của thức ăn được ăn vào.

Giai đoạn hai, các nghiên cứu sẽ cố gắng kiểm tra xem việc cho bổ sung oméga-3 có lợi đối với các người già (thường giảm ăn các thức ăn có oméga-3) hay không. “ Nhưng hiện giờ, chúng tôi không thể nói với các lão niên là cần gia tăng đáng kể các thức ăn có oméga-3 ”, Cathérine Féart đã phát biểu như thế.

Cần nhắn lại rằng các oméga-3 thuộc loại các acide béo polyinsaturé, thiết yếu cho cơ thể. Và cơ thể chỉ có thể chế tạo ra chúng với số lượng nhỏ từ các chất tiền thân. Đặc biệt từ dầu thực vật, của cây cải dầu và đậu nành. Ngược lại, cá mỡ hoang dã (sardine, cá thu, cá ngừ và cá hồi) chứa oméga-3 với nồng độ cao.
LE FIGARO (28/5/2008)


7/ SAU KHI SẨY THAI, KHÔNG PHẢI CHỜ ĐỢI RỒI MỚI CÓ CON.

Các phụ nữ thụ thai trong vòng 6 tháng sau khi sẩy thai có ít các nguy cơ bị các biến chứng.

OBSTETRIQUE. Sau một sẩy thai, vô ích phải chờ đợi nhiều tháng rồi mới bắt đầu một thai nghén mới. Theo một công trình nghiên cứu của Ecosse, được thực hiện trên hơn 30.000 phụ nữ, những phụ nữ có thai trở lại dưới 6 tháng sau một sẩy thai đầu tiên có nhiều khả năng có thai đủ tháng hơn và ít nguy cơ bị các biến chứng hơn so với những phụ nữ đã phải chờ một, thậm chí hai năm, rồi mới có thai. Những dữ kiện mới này, được công bố mới đây trong British Medical Journal (BMJ), đi ngược lại với nhiều định kiến về chủ đề này, và ngay cả đi ngược lại những lời khuyên của Tổ chức y tế thế giới, chủ trương một thời hạn ít nhất là 6 tháng.

Sớm (ngay trước khi trễ kinh) hoặc muộn hơn, các sẩy thai ảnh hưởng lên 15% đến 20% các thai nghén. Ngoài ảnh hưởng tâm lý, những tai biến này khiến các cặp vợ chồng tự đặt câu hỏi, một cách không tránh được, về việc “ khi nào có thể thử lại ? ”. Một câu hỏi đặc biệt quan trọng trong các nước phát triển, là nơi lứa tuổi làm mẹ đầu tiên không ngừng bị lùi lại. “ Bắt đầu từ tuổi 35, hoàn thành một cuộc thai nghén trở nên khó khăn hơn (…). Do đó mọi sự chờ đợi trong cố gắng thụ thai có thể làm giảm các cơ may sinh ra một em bé có sức khỏe tốt, Sohinee Bhattacharya (bệnh viện Aberdeen, Ecosse), tác giả chính của bài báo của BMJ, đã viết như vậy.

“ NHỮNG PHỤ NỮ RẤT CÓ ĐỘNG CƠ ”

Người thầy thuốc này đã khảo sát một tổng hợp hơn 30.000 phụ nữ được nhập viện giữa năm 1981 và 2000 trong những bệnh viện Ecosse. Những phụ nữ này có lần thai nghén đầu tiên đều bị sẩy và đã có thai trở lại. Các kết quả là hùng hồn. Nguy cơ bị sẩy thai lần nữa đã giảm 1 phần ba nơi những phụ nữ đã chờ dưới 6 tháng rồi mới thụ thai, so với những phụ nữ đã tôn trọng một khoảng thời gian từ 6 đến 12 tháng. Xác suất có thai ngoài tử cung được chia hai. Còn về tỷ lệ mổ lấy thai, sinh non, trọng lượng thấp lúc sinh, xác suất cũng thấp hơn trong số những phụ nữ có thai trở lại trong vòng dưới 6 tháng. Ngược lại, những phụ nữ đã chờ hơn hai năm rồi mới bắt đầu có thai trở lại đã có một nguy cơ gấp đôi có thai ngoài tử cung.

Theo các tác giả, những kết quả này có thể có nhiều giải thích. Có thể là một thai nghén (dầu cho nhiên hậu đưa đến sẩy thai) làm gia tăng khả năng sinh sản trong những tháng tiếp theo. Giả thuyết khác : vài yếu tố liên kết với một rối loạn về khả năng sinh sản, làm kéo dài thời hạn thụ thai, cũng có thể làm dễ những biến chứng chu sinh (complications périnatales). “ Cũng có thể rằng các phụ nữ có thai trở lại một cách nhanh chóng sau một sẩy thai rất là những người có động cơ, điều này làm họ có những hành vi lành mạnh hơn đối với thai nghén của họ ”, Sohinee Bhattacharya gợi ý như vậy.

Lời chứng thực này có sẽ khiến OMS xét lại những lời khuyến nghị được căn cứ trên những công trình nghiên cứu được tiến hành trong những nước đang phát triển ? Đó là điều mà những nhà nghiên cứu của Aberdeen mong muốn. Họ chủ trương không làm nản lòng các phụ nữ muốn lao vào một cách nhanh chóng trong một thái nghén mới sau một sẩy thai, trừ trong những trường hợp chính xác như các bệnh nhiễm trùng. Cũng nên cảnh cáo các cặp vợ chồng về những nguy cơ chờ đợi hơn 18 tháng rồi mới có con. “ Những dữ kiện này là một tin tức rất tốt và nó củng cố thực hành hàng ngày của chúng tôi ”, BS Jean Mary, tổng thư ký của công doàn quốc gia của các thầy thuốc sản phụ khoa của Pháp đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 25/8/2010)

8/ NHỮNG TÁC DỤNG CHỒNG BÉO PHÌ CỦA MỘT CHẤT DẪN XUẤT TỪ RƯỢU VANG.

Resvératrol cũng rất được nghiên cứu trong sự lão hóa và các bệnh tim mạch.

OBESITE. Trong thiên nhiên, hiện diện nơi các loại rượu vang, nhưng cũng trong hơn 70 loài thực vật, trong đó có nho, lạc (arachide) hay cacao, resvératrol không ngừng làm say mê và làm ngạc nhiên các nhà nghiên cứu. Trong vòng 20 năm, resvératrol (thuộc họ lớn các polyphénols) đã là đối tượng của hơn 3.300 ấn bản khoa học. Trước hết, do tính chất chống oxy hóa của nó, bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch và các ung thư. Resvératrol, được mang lại do sự hấp thụ đều đặn rượu vang, là một trong những giải thích sinh học cho cái nghịch lý Pháp (paradoxe français), cái mâu thuẫn rõ ràng giữa một tỷ lệ tử vong tim mạch thấp và một chế độ ăn uống giàu mỡ và đường. Những công trình khác cũng phát hiện những lợi ích lên tuổi thọ, các bệnh thoái hóa thần kinh (affections neuro-dégéneratives), bệnh đái đường, chứng béo phì. Mặc dầu chung đối với các polyphénols, nhưng những tác dụng này mạnh mẽ đối với resvératrol.

Công trình nghiên cứu mới nhất, được công bố tuần này bởi một nhóm nghiên cứu người Pháp trong tạp chí BMC Physiology, mang lại những dữ kiện chưa từng có trước đây nơi những động vật linh trưởng (primate), khi chứng tỏ rằng resvératrol, khi được cho bổ sung, làm giảm một cách đáng kể sự lên cân vào mùa đông, do một sự gia tăng các tiêu hao năng lượng và một tác dụng cắt đói (effet coupe-faim). Cho mãi đến nay, phần lớn các công trình nghiên cứu được thực hiện trên những động vật gặm nhấm được làm béo phì bằng biến đổi di truyền (manipulations génétiques) hay bằng một chế độ tăng calo (régime hypercalorique). Nhóm nghiên cứu của Fabienne Aujard (CNRS, Museum national d’histoire naturelle, Brunoy) đã chọn nghiên cứu các microcèbe, những động vật linh trưởng nhỏ bé, nặng khoảng 100 g, có sinh lý học rất đặc biệt.

Những động vật họ vượn cáo (lémuriens) này có một nhịp theo mùa rõ rệt, chúng gia tăng gần như gấp đôi trọng lượng của chúng vào mùa đông nhờ một sự tích trữ mỡ dần dần. Ngoài ra, chúng là những sinh vật dị nhiệt (hétérotherme), nghĩa là nhiệt độ nội tại của chúng có thể giảm rất mạnh, điều này cũng là một nguồn tiết kiệm năng lượng. Với tuổi thọ từ 8 đến 10 năm, những động vật này là một mô hình càng ngày càng được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu để nghiên cứu sự lão hóa, đặc biệt là não bộ.

NHỮNG KẾT QUẢ CÓ SỨC THUYẾT PHỤC.

Trong vòng 4 tuần, vào cái mùa khi mà chúng thường có khuynh hướng tích trữ mỡ cho mùa đông, 6 microcèbe đã chịu một chế độ ăn uống giàu resvératrol : 200mg/kg/ngày, một liều lượng lớn hơn liều mà một con người tiêu thụ một cách bình thường. Trọng lượng, nhiệt độ thân thể, các cung cấp và tiêu hao năng lượng đã được theo dõi cẩn thận.

Các kết quả rất có sức thuyết phục. “ Sự lên cân, thường là một gam mỗi ngày vào thời kỳ này, đã được chia cho năm ”, Fabienne Aujard đã kể lại như vậy. Một cán cân hơi dương tính, được giải thích bởi một sự gia tăng rõ rệt các tiêu hao năng lượng (gia tăng 29% của chuyển hóa lúc nghỉ ngơi) và một sự giảm các cung cấp năng lượng (13%, từ tuần lễ thứ ba). Các nhà nghiên cứu cũng nêu lên những biến thiên nhỏ nhất về nhiệt độ cơ thể của các microcèbe, mà không giảm hoạt động vật lý của chúng, trong khi bình thường chúng ở trong trạng thái đờ đẫn. “ Chúng tôi đã chờ đợi sự gia tăng các tiêu hao năng lượng, đã được mô tả nơi các con chuột. Điều đã làm cho chúng tôi ngạc nhiên, đó là tác dụng lên sự no nê (satiété), thuộc loại cắt đói (coupe-faim), hiện tượng này trước đây không được biết đến ”, Fabienne Aujard đã nhấn mạnh như vậy.

Công trình của các nhà nghiên cứu của Brunoy chưa hẳn đã hoàn tất. Với cùng các con linh trưởng này, họ khảo sát các tác dụng lâu dài của resvératrol lên các bệnh lý liên quan đến tuổi tác và tuổi thọ của các động vật này.

TÁC DỤNG CẮT ĐÓI.

“ Những kết quả này rất là lý thú, đặc biệt là tác dụng cắt đói (effet coupe-faim), nhưng cần phải biết xem hiệu quả này có hiện hữu với những liều lượng sinh lý hơn của resvératrol hay không, GS Norbert Latruffe (unité Inserm 866“ lipides nutrition et cancers ”, Dijon), nghiên cứu các cơ chế tác dụng của resvératrol, đặc biệt trong lãnh vực viêm và sự sinh ung thư (cancérogenèse), đã nhận xét như vậy. GS Johan Auwerx, thuộc Trường bách khoa liên bang của Lausane, cũng chào đón các công trình trên một mô hình các động vật linh trưởng này. “ Đó là một bước nữa tiến về phía con người. Cách nay vài năm, nhà nghiên cứu này đã xác lập rằng các tính chất chống đái đường và chống béo phì của resvératrol được liên kết với sự hoạt hóa của một enzyme (sir1) thuộc họ các sirtuines. Thật vậy, resvératrol tác dụng bằng cách kích thích các ty lạp thể (trung tâm năng lượng của tế bào), do đó cơ thể bắt đầu đốt cháy các dự trữ của mình.

Sau khám phá này, GS Auwerx đã nhận diện một phân tử tổng hợp, SRT 1720, một loại super-resvératrol, mà những kết quả đã là ngoạn mục nơi các con chuột. Từ nay, các chất hoạt hóa của sirtuines đang được thử nghiệm nơi người trong nhiều bệnh lý, trong đó có bệnh đái đường và các tim-mạch. Thay vì các thuốc điều trị, từ nay GS Auwerx tìm cách dự kiến một chất bổ sung dinh dưỡng có chất căn bản là resvératrol. Nhưng còn lâu mới có để sử dụng . “Thànhphần cuối cùng chưa được xác định. Và với điều lệ mới của Châu Âu về các alicament, việc phát triển hứa hẹn sẽ dài lâu như đối với việc phát triển một loại thuốc ”, nhà nghiên cứu thở dài phát biểu như vậy.
(LE FIGARO 24/6/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 103 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/11/2008 )

8/ RƯỢU VANG : MỘT NGUỒN BỔ SUNG POLYPHÉNOLS

Ở Pháp, người dân có một cơ may mà những người Mỹ thèm muốn. Mặc dầu có một chế độ ăn uống giàu nước chấm (sauce), phó mát, đồ thịt lợn thổ địa, gratins, nhưng người Pháp vẫn giữ một tỷ lệ bị nhồi máu cơ tim tương đối thấp. Vùng của nước Pháp, nơi tỷ lệ mắc bệnh nhồi máu cơ tim thấp nhất, thật lạ lùng chính là nơi mà món ragout là chúa tể, đó là miền Tây Nam nước Pháp. Cái “nghịch lý Pháp” (french paradox) này từ lâu đã được xem như đặc biệt liên kết với sự tiêu thụ rượu vang đỏ, thông thường ở Pháp hơn là ở bên kia Đại tây dương, ở đây bia và whisky được ưa thích hơn.
Sự kiện một sản phẩm tổng hợp có tác dụng giống polyphénol, được chứa trong vỏ của trái nho, có thể làm giảm nguy cơ bị béo phì và bị bệnh đái đường, có cho phép kết luận rằng chính sự tiêu thụ nho giải thích “cái nghịch lý Pháp” hay không? “Thật vậy chất polyphénol (resveratrol) được chứa chủ yếu trong nho đen. Thế mà chất này sau đó lại được thấy nhất trong rượu vang đỏ. Nhưng có lẽ phải uống hàng trăm lít rượu trong ngày để có được một liều lượng có hiệu quả chống lại chứng béo phì và bệnh đái đường”. Thế mà uống trên ba ly rượu vang mỗi ngày đối với đàn ông và hai đối với phụ nữ, các biến chứng do rượu sẽ bắt đầu xuất hiện. Cái “nghịch lý Pháp” có lẽ có thể được giải thích một phần bởi rượu vang, nhưng cũng có những yếu tố khác can dự vào.
(LE FIGARO 6/11/2008)

Thời Sự Y Học Số 105 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/12/2008 )

5/ MỘT CHẤT CHỐNG BÉO PHÌ ĐẦY HỨA HẸN XUẤT PHÁT TỪ RƯỢU VANG

Pháp đã khám phá một chất tổng hợp có tác dụng giống với vài thành phần của rượu vang và cho phép chuột giữ một trong lượng không thay đổi mặc dầu co một chế độ ăn uống tăng calo (un régime hypercalorique).
Những nhà nghiên cứu người Pháp đã nhận diện một chất được mệnh danh hiện nay là SRT 1720, cho phép các chú chuột tiếp tục một chế độ ăn uống giàu mỡ, nhưng không béo phì, không trở nên bị bệnh đái đường, đồng thời cải thiện hiệu năng cơ. Các kết quả của những công trình này, được công bố hôm qua trong tạp chí Hoa Kỳ Cell Metabolism, hết sức làm lưu ý công nghiệp dược phẩm, bởi vì có ít nhất ba hãng dược phẩm đang phát triển một thứ thuốc phát xuất từ những nghiên cứu này.
Tất cả bắt đầu cách nay vài năm, khi các thầy thuốc người Pháp khám phá ra rằng một trong những polyphénols được chứa trong vỏ của trái chanh đen, resvératrol, bảo vệ chuột chống lại bệnh đái đường và chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu khi đó cho thấy rằng phân tử resvératrol tác dụng lên cả hai bệnh lý này bằng cách làm hoạt hóa một protéine của cơ thể được gọi là Sirt 1. Sirtris, một hãng Hoa Kỳ có cơ sở ở Boston, quyết định đầu tư vào khái niệm này và hiện nay đang trắc nghiệm một thứ thuốc có chất cơ bản là resvératrol để chống lại bệnh đái đường mỡ (diabète gras), cũng được gọi là bệnh đái đường loại 2. Các nhà nghiên cứu người Pháp của Viện di truyền và sinh học phân tử và tế bào, nguồn gốc của những khám phá đầu tiên này, sau đó bắt đầu tìm kiếm những phân tử tổng hợp cho phép hoạt hóa chất protéine Sirt 1, chất có ảnh hưởng một cách quan trọng lên thể trọng và nguy cơ bị bệnh đái đường. Sau cùng, họ nhận diện một hợp chất tổng hợp tương tự với resvératrol trên bình diện hóa học, SRT 1720 và quyết định trắc nghiệm chất này trên hàng chục con chuột được cho những chế độ ăn uống khác nhau.
MỘT HIỆU QUẢ KÉO DÀI.
Những kết quả của công trình nghiên cứu được công bố trong Cell Metabolism thật đặc biệt đáng quan tâm. Những chú chuột được điều trị với SRT 1720 và chịu một chế độ ăn uống rất giàu mỡ đã không lên một gam trọng lượng nào và không phát triển khối lượng mỡ (masse grasse), trái với những con chuột được nuôi cùng cách thức nhưng không được điều trị với loại thuốc này. Ngoài ra không có chú chuột nào được điều trị với SRT 1720 bị bệnh đái đường cả, trong khi những con chuột khác có một sự đề kháng với insuline sau chế độ ăn uống quá nhiều mỡ. Rõ ràng là thuốc SRT 1720 bảo vệ chống lại chứng béo phì và bệnh đái đường loại 2. Thời gian tác dụng lên chuyển hóa kéo dài : tác dụng xuất hiện ngay tuần lễ thứ tư và tiếp tục trong suốt thời gian quan sát các chú chuột hoặc 15 tuần
“Những con chuột được điều trị bởi thuốc SRT 1720 đã giữ một trọng lượng không thay đổi mặc dầu chế độ ăn uống nhiều mỡ, trong khi những chú chuột khác đã tăng 2/3 trọng lượng của chúng. Thuốc này kích thích sự sử dụng mỡ, một cách tương tự như điều mà chúng ta quan sát trong trường hợp hạn chế calo, mặc dầu thức ăn giàu mỡ mang lại sự thặng dư năng lượn” , BS Jérome Feige (Viên di truyền và sinh học phân tử Illkirch) đã giải thích như vậy.
Nhiều hãng dược phẩm đã khởi đầu những thứ nghiệm để trắc nghiệm SRT 1720 chống lại chứng béo phì, bệnh đái đường. Một vài hãng cho là hợp lý đánh giá tác động của nó lên những bệnh khác liên quan với tuổi tác, và nhất là trong bệnh Alzheimer. Công việc vẫn gay go. Đến mãi ngày nay, các thuốc chống béo phì đã không có cơ may, vì lẽ chúng hầu như bị rút ra khỏi thị trường sau vài năm, do những tác dụng phụ của chúng.
(LE FIGARO 6/11/2008)


9/ BẮC KINH BỊ ĐE DỌA BỞI MỘT VỤ TAI TIẾNG MỚI VỀ SỮA BỊ Ô NHIỄM.

CHINE. Chứng loạn tâm thần (psychose) đang trở lại nơi các bố mẹ người Trung Hoa. Hai năm sau vụ tai tiếng của sữa có chứa mélanine, đã giết chết 6 trẻ em và đã làm ngộ độc 300.000 trẻ em khác, bóng ma của một sự ô nhiễm mới đang bao trùm lên đất nước Trung Hòa. Và phát khởi sự huy động của giới cầm quyền, nhằm nắm lại tình hình để ngăn ngừa một cơn hoảng sợ. Bởi vì sự vụ tỏ ra khó xử và không phải bình thường.

Vào đầu tháng này, trong tỉnh Hubei, 3 gia đình đã trông thấy các chiếc vú nhú ra trên ngực của em bé gái của họ, tuổi chỉ mới từ 4 đến 15 tháng. Những trắc nghiệm đầu tiên, được thực hiện trên 3 em bé, đã xác nhận một nồng độ tăng cao một cách bất bình thường của các hormone, đạt mức của các nồng độ của một người đàn bà trưởng thành. Điểm chung giữa ba trường hợp từ cái tỉnh thuộc miền trung của đất nước : các em bé này được nuôi dưỡng bằng sữa bột, được sản xuất bởi cùng xí nghiệp Trung Quốc Synutra. Điều đó đủ để mang lại các mối nghi ngờ và gieo một luồng gió hoảng sợ nơi các bố mẹ vốn đã bị chấn thương bởi vụ tai tiếng về sữa chứa mélanine, trong đó 22 xí nghiệp đã bị liên hệ và dẫn đến sự kết án tử hình 4 thủ phạm.

Tin tức lan truyền rất nhanh trong báo chí và trên Web Trung Quốc, làm cho các cổ phần của Sunutra bị sụt giảm 27%. “ Những đứa con đáng thương của chúng ta sẽ luôn luôn là những nạn nhân ! ”, một internaute của Hải Nam đã kêu lên giận dữ như vậy. “ Những sản phẩm của chúng tôi là an toàn, chúng không có liên hệ gì với những luận điệu này ”, Liang Zhang đã đáp trả lại như vậy trong một thông cáo ; ông nhấn mạnh rằng ông nhập cảng sữa từ các nhà sản xuất Tân Tây Lan và Pháp. Sau khi đã đe dọa lôi các phóng viên ra tòa, nhà chế tạo đã cố làm ra vẻ trong sáng bằng cách mở cửa nhà máy cho công chúng vào xem. Nhưng quá muộn màng.

MẤT NIỀM TIN.

Sợ xảy ra thêm một vụ việc quốc gia, giới cầm quyền đã nắm lấy hồ sơ ngày 1 tháng tám, đồng thời mở một cuộc điều tra chớp nhoáng, được thực hiện bởi một nhóm gồm 9 chuyên gia. Nhất là một trường hợp thứ tư được khai báo ở Bắc Kính. “ Bộ y tế cho vụ việc này có một tầm quan trọng to lớn ”, phát ngôn viên của bộ này đã tuyên bố như vậy trong một cuộc họp báo hiếm hoi, dấu hiệu của sự bực tức của giới cầm quyền. Ngày hôm qua, sau khi đã xem xét 73 mẫu nghiệm các sản phẩm sữa của Synutra và những nhãn hiệu cạnh tranh khác, các quan chức điều tra đã đưa ra một phán quyết nhanh chóng. Theo họ, các sản phẩm sữa chẳng liên hệ gì đến việc lớn lên lạ thường của bộ ngực của các em gái nhỏ. Lấy lại những kết luận của một cuộc điều tra đầu tiên, được tiến hành bởi giới hữu trách của Hubei, nhóm chuyên gia cáo giác luận điểm một sự dậy thì sớm, nhấn mạnh rằng các bé gái đã không bị một sự tăng trưởng bất thường. Những dị dạng của các em bé có thể là do một chế độ ăn uống bất quân bình hay một bệnh hiếm hoi, các chuyên gia đã đề xuất ý kiến như vậy.

Những lời giải thích đã không thuyết phục được các bố mẹ nổi cơn giận dữ. “ Tôi nhận thấy kết quả này là không thể tin được ”, Deng Xiaoyng, bà mẹ của một bé gái ở Vũ Hán đã giải thích như vậy. “ Làm sao giải thích từ khi tôi dừng cho con gái tôi uống sữa Synutra thì trường hợp của cháu được cải thiện ? ”, bà nói thêm như vậy. Bị thúc ép bởi các nhà báo cho biết là sữa của nhà chế tạo tiêu thụ có tốt không, chuyên gia chính quyền ưa giữ thái độ trù trừ hơn. Đối với giới cầm quyền, hồ sơ này là kín và họ không có ý định thăm khám các em bé. Nhưng vụ việc có thể nổi lên trở lại nếu các trường hợp gia tăng khắp mọi miền của đất nước trong những ngày đến. Bởi vì công luận không được thuyết phục và các bố mẹ, trong tinh thần cảnh giác, sẵn sàng gởi đứa con độc nhất thương yêu của họ đi trắc nghiệm y khoa. “ Nhà nước phải đảm nhận trách nhiệm để mở rộng cuộc điều tra và tìm ra những nguyên nhân thật sự. Đó là cần thiết đối với tương lai của đất nước chúng ta ”, Zhuzhou, internaute của Hồ Nam, đã xác nhận một cách kiên quyết như vậy.
(LE FIGARO 16/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 100 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 7/11/2008 )

10/ MỘT THUỐC ĐỘC ĐƯỢC GỌI LÀ MELAMINE

4 nhũ nhi bị chết ở Trung Quốc sau khi mélamine được thêm vào trong các thực phẩm. Điểm tình hình về chất độc này.

MELAMINE LÀ GÌ ?

Đó là một résine, cũng được gọi là cyanuramide, có công thức hoá học 1,3,5-triazine-2,4,6-triamine và C3H6N6. Được hiệu chính trong những năm 1930, mélamine được sử dụng nhất là trong việc chế tạo các chất dẻo (matières plastiques) và colles. Đó là thành phần chính của Formica.

TẠI SAO PHẢI THÊM MELAMINE ?

Dường như sữa gây nhiễm độc đã được pha loãng với nước. Vì vậy, để tôn trọng nồng độ tối thiểu protéine theo quy định, các nhà công nghiệp đã thêm mélamine vào. Thật vậy, hợp chất giàu azote này “đánh lừa” dễ dàng việc kiểm tra nồng độ protéine, vì việc kiểm tra này được căn cứ trên định lượng các hợp chất azotes.

NHỮNG TÁC DỤNG CỦA MELAMINE LÊN SỨC KHỎE NHƯ THỂ NÀO ?

Cơ quan kiểm tra Hoa Kỳ FDA cho rằng sự hấp thụ mélamine 0,63 mg mỗi kg thể trọng mỗi ngày là có thể chấp nhận được. Trên mức này, mélamine có thể gây nên sự kết tủa của các tinh thể trong các mô của thận. Điều này có thể dẫn đến những biến chứng như suy thận cấp tính và đôi khi tử vong. Vào giữa tháng năm và tháng tám 2008 , 4 em bé bị chết ở Trung Quốc và gần 50.000 trẻ em đã phải được nhập viện. Vào đầu tháng mười, gần 11.000 trẻ em bị nhập viện ở Trung Hoa Lục Địa, ở Macao, và ở Hồng Kông, trong đó khoảng 100 trong tình trạng nặng.

SẢN PHẨM NÀO BỊ LIÊN QUAN ?

Nhất là các sữa maternisés cho các nhũ nhi với những nồng độ 2.500 mg/kg. Nhưng những sản phẩm dẫn xuất (kem lạnh, kem bột để uống cà phê), biscuit, kẹo (White Rabbit), mứt kẹo (Cadbury) cũng bị liên hệ. Năm 2007, mélamine đã được tìm thấy ở Hoa Kỳ trong các thức ăn dùng cho động vật, được nhập cảng từ Trung Quốc. 400 con mèo và chó đã bị chết. Thức ăn để nuôi cá cũng chứa mélamine.

CÒN Ở PHÁP ?

Viện quốc gia theo dõi y tế đã thiết lập một cơ quan theo dõi đặc biệt và yêu cầu những người làm công tác y tế báo cáo mọi trường hợp nghi ngờ nơi những trẻ em dưới 15 tuổi có những dấu hiệu gợi ý những sỏi thận mà không biết nguyên nhân. Tính đến hôm nay, không còn một trường hợp nào đã được ghi nhận.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2008)


10/ LÀM SAO XỬ TRÍ MỘT TAI NẠN VỀ RĂNG NƠI CÁC TRẺ EM ?

Bảo tồn một cách đúng đắn, và không được quá lâu, chiếc răng hay mảnh răng bị liên hệ là điều thiết yếu.

ODONTOLOGIE. Những trường hợp té ngã vào mặt trong lúc tập đi và về sau trên các sân chơi, thường gây nên những va chạm vào răng. Theo các ước tính của Union française pour la santé bucco-dentaire (UFSPD), hơn một triệu chấn thương răng được liệt kê mỗi năm ở Pháp và một chirurgien-dentiste điều trị trung bình một tai nạn thuộc loại này mỗi tuần. Chính 60% các trẻ em sẽ trải qua giai đoạn này, với một đa số các bé trai (6 trên 1).

Nếu một trẻ bị gãy răng hay răng bị bật ra, trong khi các răng vĩnh viễn đã xuất hiện, điều thiết yếu là phải hành động càng nhanh càng tốt, “ mặc dầu người ta có cảm tưởng rằng điều đó chẳng hề gì ”, BS Marguerite Landru, chuyên khoa về odontologie pédiatrique, đã xác nhận như vậy. Nếu một chiếc răng vĩnh viễn (dent définitive ou permanente) bị tống xuất hoàn toàn, phải thu hồi nó lại càng nhanh càng tốt và đặt nó trong một chất dịch (thuộc loại sữa hay nước miếng), sẽ sinh ra lại những thành phần của các dây thần kinh và của các dây chằng, Nhưng trái với điều ta có thể nghĩ, huyết thanh sinh lý là một sản phẩm quá hung hãn.

ĐỪNG LAU SẠCH RĂNG.

Những dung dịch này sẽ cho phép “ bảo tồn sức sống của chiếc răng và của chân răng. Bởi vì chiếc răng ở ngoài ổ răng càng ít lâu, ta càng có cơ may đính nó vào lại ổ răng ”, BS Landru đã giải thích như vậy. Nhất là không nên có phản xạ lau chùi chiếc răng, vì khi đó những đặc điểm của chiếc răng có thể bị biến đổi. Những dung dịch này có hiệu quả, nhưng chỉ một hoặc hai giờ. UFSPD khuyến khích một sản phẩm mới, SOS Dentobox, cho phép bảo tồn chiếc răng thêm được hai giờ. “ Đó là một chất dịch rất đổi mới, tương tự nhất với những thành phần tự nhiên của cơ thể. Nếu ta để một chiếc răng trong một chất dịch không thích hợp, ví dụ nước, ta sẽ đánh mất các muối khoáng ở nơi bề mặt ”, BS Jean-Paul Dupin, nhà phẫu thuật răng và phó chủ tịch của UFSPD đã giải thích như vậy. Nếu việc cắm trở lại không thể thực hiện được, xét vì tình trạng của chiếc răng, sự thiết đặt một implant hay một cầu răng (bridge) sẽ được dự kiến. Nơi một đứa bé, điều đó sẽ vẫn là tạm thời, cho đến khi hàm răng đạt được kích thước vĩnh viễn của nó. Theo những ước tinh của BS Dupin, việc cắm lại (réimplantation) một chiếc răng chỉ chiếm 10% phí tổn của sự thay thế răng và vẫn là một giải pháp rất có thể chấp nhận.

Nếu những chấn thương như thế xảy ra nơi những trẻ em nhỏ vẫn còn có các răng sữa, thì sự theo dõi bệnh nhân sẽ càng trở nên quan trọng, nhất là khi có thể có những hậu quả lên những chiếc răng vĩnh viễn. Trước hết, trong trường hợp một chiếc răng bên (dent latérale) bị tống ra, phải biết rằng chiếc răng này sẽ không bao giờ được đính trở lại. Ngoài ra, như BS Dupin đã giải thích, “ Có xác suất một trên hai rằng răng đính chặt vào xương. Nhưng thiên nhiên đã hành động vô cùng đúng vì lẽ rễ các răng cửa bên (incisives latérales) có dạng hình một lưỡi lê, điều này sẽ bảo vệ mầm của chiếc răng vĩnh viễn, hiện diện vào lúc sinh đứa bé ”. Còn về gãy răng, luôn luôn đối với các chiếc răng sữa và sau một va chạm tương đối quan trọng. “ Phải kiểm tra tình trạng của chân răng đối với mầm và bảo vệ ngà răng để tránh một nhiễm trùng của chân răng ”, BS Landru đã xác nhận như vậy. Thật vậy, có những nguy cơ diệt tủy (dévitalisation) hay mất men răng, nhưng chỉ có thể kiểm tra khi những chiếc răng vĩnh viễn bắt đầu mọc ra.
(LE FIGARO 9/8/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (30/8/2010)

-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969