Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 69
Lượt truy cập: 1008385
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÁC CHẤN THƯƠNG SỌ NẶNG ĐƯỢC XỬ TRÍ TỐT HƠN.


NHỮNG ĐIỂM MỐC
NGUỒN GỐC. Các chấn thương sọ (traumatisme crânien) là do những va chạm lên sọ (tai nạn, hành hung, té ngã), có thể gây nên những thương tổn của não bộ. Những va chạm này có thể được thể hiện bởi những gãy xương ít nhiều nghiêm trọng nhưng cũng bởi những thương tổn bên trong, không gãy xương, trên“ buồng máy ” tế bào thần kinh (machinerie neuronale). Các tế bào của não bộ có thể bị “lay động ”, bị xê dịch, bị kéo dài, thậm chí bị vỡ.

NHỮNG PHẢN XẠ TỐT CẦN CÓ. Đứng trước một người bị bất tỉnh sau một va chạm mạnh lên đầu, vài động tác có thể tránh cho nạn nhân nhiều di chứng. Một khi đã báo cho Samu (15 hay 112), và đồng thời lưu ý những vết thương khác, nếu có thể hãy đặt bệnh nhân nằm nghiêng (tư thế bên an toàn : position latérale de sécurité) và làm dễ sự hô hấp (cravate, cổ áo...). Hãy đè ép lên chỗ xuất huyết có thể nhìn thấy. Tránh không để cho bệnh nhân bị lạnh, điều này sẽ gây nên giảm lưu lượng tim và do đó một sự oxy hóa não bộ ít tốt hơn.

THÁI ĐỘ XỬ TRÍ. Sự xử trí các nạn nhân bị chấn thương sọ đã được cải thiện nhiều, mặc dầu vẫn còn những tiến bộ cần được thực hiện. Thí dụ những phương pháp mới cho phép phân biệt nhanh hơn giữa những trường hợp nhẹ (80%) và những trường hợp nặng. Trong trường hợp chấn thương sọ nặng, khi sự mất tri giác thường được biến đổi thành hôn mê, những đơn vị điều trị phục hồi sau hồi sức (unités de soins de réadaptation post-réanimation) (SRPR), quy tụ các chuyên viên của các chuyên môn khác nhau, sẽ đảm trách bệnh nhân từ đầu đến cuối.

NGHIÊN CỨU. Những thứ thuốc cho phép hạn chế những thương tổn tế bào trong não bộ là đối tượng của nhiều nghiên cứu. Thí dụ có liên hệ là các statine, progestérone hay érythropoiétine. Những hướng khác cũng được thăm dò, để làm dễ tính dẻo (plasticité) của não bộ và do đó sự tái sinh của những nối kết thần kinh.



Một tổng thể các biện pháp cho phép giới hạn các di chứng.

NÃO BỘ. Với hơn 100.000 trường hợp chấn thương sọ được nhập viện mỗi năm, mối ưu tư đầu tiên của các thầy thuốc là phân biệt giữa những chấn thương sọ nhẹ (traumatisme crânien mineur, 80% các trường hợp) và những chấn thương sọ nặng (traumatisme crânien grave, dưới 10.000 trường hợp mỗi năm), sẽ là nguồn của các di chứng gây phế tật, vật lý và/hoặc tinh thần.

Khi một tai nạn công lộ là nguyên nhân, trường hợp thường gặp nhất, thì não bộ không phải là cơ quan duy nhất bị thương tổn. “ Mặc dầu sự khó khăn này, chính trong sự nhận biết các chấn thương nặng mà chúng ta đã đạt được tiến bộ nhất, GS Jean-François Payen, người phụ trách đại học của clinique de réanimation thuộc CHU de Grenoble (pôle anesthésie-réanimation) đã giải thích như vậy. Giai đoạn chủ yếu này liên hệ đến nhiều người chủ chốt trong điều trị : Samu và những khoa cấp cứu, gây mê, hồi sức và ngoại thần kinh. Để đạt được điều đó, vùng Dauphiné-Savoie đã thiết lập hệ thống Chấn thương của mạng lưới bắc núi Alpes của các khoa cấp cứu (Trenau : Trauma system du réseau nord-alpin des urgences), nhưng đây không phải là vùng duy nhất có tổ chức này ở Pháp.

Ngoài ra, những tiến bộ đã được thực hiện trong việc đánh giá ban đầu của những bệnh nhân chấn thương sọ để phát hiện nhanh chóng những bệnh nhân bị thương tổn não bộ cấp tính, được đánh dấu bởi một sự giảm tuần hoàn não bộ. Ngoài những tiến bộ về chụp hình ảnh (imagerie), nước Pháp là một trong những nước cổ vũ sự sử dụng Doppler xuyên sọ (doppler transcrânien) : thăm dò không xâm nhập và chỉ cần vài phút, cho phép có được một sự đánh giá rất nhanh chóng về tình trạng thương tổn nhờ một sonde Doppler, được cặp với một siêu âm hay không, để đo lưu lượng trong các động mạch não. Vậy đó là một hỗ trợ quý báu để xác định những bệnh nhân mà tình trạng có nguy cơ trở nặng rất nhanh, nhằm thực hiện nhanh chóng một điều trị và chuyển đến những trung tâm điều trị tiên tiến.

Tiến bộ khác : trong các khoa hồi sức (service de réanimation), vài thầy thuốc chuyên về hồi sức (réanimateur) từ ít lâu nay nhận một đào tạo chuyên khoa về hồi sức thân kinh (neuroréanimation). “ Vì tình trạng của các kiến thức y khoa được biến đổi nhanh chóng và vì hồi sức thần kinh là phức tạp, nên cần đào tạo một hay hai người cho mỗi kíp để làm thầy thuốc tham vấn (référent) về hồi sức thần kinh : sự thiết lập các protocoles đối với những bệnh nhân bị thương tổn não bộ, định hướng các lựa chọn điều trị, đào tạo kíp điều trị,... Sự đào tạo này cũng cho phép biết khi nào sử dụng một cách đúng đắn nhiều dụng cụ theo dõi chức năng não bộ.”

Bước tiến này tự bản thân không có vẻ ngoạn mục lắm, nhưng những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng các bệnh nhân bị thương tổn não bộ, được điều trị bởi các thầy thuốc hồi sức thần kinh (neuroréanimateur) có một tiên lượng tốt hơn những người khác. “ Vậy đó là một biện pháp hoàn toàn thiết yếu và đang được thiết đặt trong toàn bộ đất nước của chúng ta.”, GS Payen đã nhấn mạnh như vậy.

“ SAU HỒI SỨC ” ( L’APRES-REANIMATION).

Sau cùng, các kíp hồi sức từ nay chăm chút đến tình trạng “ sau hồi sức ” ( l’après réanimation ) : những biện pháp được thực hiện ngay lúc bệnh nhân còn nằm trong phòng hồi sức để dự kiến sớm thời kỳ phục hồi chức năng (période de reéducation). Thí dụ, một việc ngăn ngừa sự cứng các khớp có thể làm thay đổi đời sống tương lai của người bị chấn thương.

Lại còn sự nghiên cứu, nhằm tìm hiểu điều gì xảy ra một cách chính xác trong não bộ sau một chấn thương sọ. Ở mức tế bào, có nhiều các phản ứng sinh hóa xảy ra nối tiếp, nhưng các khả năng phục hồi của não bộ đôi khi đáng ngạc nhiên. “ Vì lẽ sự phức tạp của vấn đề, có thể rằng giải pháp không phải do một thứ thuốc duy nhất, mà do sự phối hợp của nhiều thứ lại với nhau.” Chính vì thế nhiều hướng thuốc được thăm dò.

Nhiều thứ thuốc đang được nghiên cứu, đã cho thấy những tính chất đáng lưu ý để làm giới hạn những thiệt hại tế bào (neuroprotection). Trong số những loại thuốc này, có statines (điều trị sự thặng dư cholestérol), progestérone và érythropoiétine. Nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi: những điều trị này phải được cho theo thứ tự nào ? Với liều lượng ra sao ? Với những tác dụng lâu dài nào ? Vài thử nghiệm lâm sàng đã bắt đầu trên thế giới. Chúng hẳn sẽ cho phép những bước tiến cụ thể khác trong những năm đến.
(LE FIGARO 30/8/2010)

2/ CHÚNG TA CÓ ĐƯỢC BÌNH ĐẲNG ĐỐI VỚI GIẤC NGỦ ?

Không. Các nhu cầu về giấc ngủ và giờ ngủ thay đổi tùy theo mỗi cá nhân.

Bạn dậy sớm hay ngủ muộn ? Bạn ngủ nhiều hay ít hơn 8 giờ mỗi đêm ? Số lượng và chất lượng của giấc ngủ thay đổi nhiều từ người này đến người khác. Chúng ta hãy xem tại sao.

Cũng như nhiều chức năng sinh học, sự luân phiên giữa thức tỉnh (veille) và giấc ngủ (sommeil) chịu một nhịp ngày đêm (rythme circadien), một nhịp khoảng 24 giờ. Đó là đồng hồ sinh học nội tại (horloge biologique interne), nằm trong một cấu trúc não đặc hiệu : các nhân trên giao thoa của vùng dưới đồi thị (noyaux suprachiasmatiques de l’hypothalamus), có nhiệm vụ điều hòa nhịp ngày đêm này. Sự dao động ngày đêm (fluctuation circadienne) xác định những lúc thuận lợi để ngủ.

Tuy nhiên, sự chuyển từ thức tỉnh (éveil) sang giấc ngủ cần đến sự can thiệp của một hiện tượng khác, được gọi là hằng nội môi (homéostasie). Hiện tượng này đặc biệt duy trì, một mặt, một sự quân bình giữa thời gian và cường độ của giấc ngủ, và một mặt khác, thời gian và cường độ của thức tỉnh, độc lập đối với những yếu tố bên ngoài cơ thể. Hằng nội môi (homéostasie) được đặc trưng bởi sự gia tăng “ áp lực ” gây ngủ trong lúc thức tỉnh và sự thức tỉnh này tiêu tan đi vào lúc ngủ.Thí dụ sau một đêm thức trắng, hệ hằng nội môi (système homéostatique) buộc một sự gia tăng thời gian ngủ tỷ lệ với thời gian mất ngủ.

Các hệ thống ngày đêm và nội hằng định (système circadien et homéostatique) thay đổi tùy theo người, nguyên nhân của sự bất bình đẳng đứng trước giấc ngủ. Như thế, trung bình 7-8 giờ ngủ mỗi đêm là cần thiết để cảm thấy sung sức. Nhưng cũng có những người “ ngủ ngắn ” (courts dormeurs) và những người “ ngủ dài ” (longs dormeurs). Trong khi Napoléon Bonaparte, Victor Hugo và Winston Churchill bằng lòng ngủ ít hơn 6 giờ mỗi đêm, thì Einstein phải ngủ nhiều hơn 10 giờ.

Trong một thí nghiệm, những người được làm cho thức trong 40 giờ. Hoạt động điện của não bộ nơi người ngủ ngắn (courts dormeurs) nhanh hơn so với những người ngủ dài (longs dormeurs), cho thấy rằng những người ngủ ngắn thức tỉnh hơn những người ngủ dài. Những người ngủ ngắn có thể chịu được, trong lúc thức, một áp lực gây ngủ mạnh hơn những người ngủ dài.

Cũng có những “ chronotypes ” khác : 66% dân số được gọi là trung lập, nghĩa là không dậy sớm (“ du matin ”, lève-tôt) cũng không ngủ muộn ( “du soir ”, couche-tard). Một nhóm nghiên cứu người Bỉ đã cho thấy rằng những hiệu năng nhận thức (performance cognitive) thay đổi tùy theo giờ trong ngày và tùy thuộc vào profil circadien của cá thể : Những hiệu năng tốt hơn vào buổi sáng hay buổi chiều, tùy theo profil, dầu áp lực gây ngủ như thế nào. Thí dụ, các khả năng nhận thức (capacités cognitives) của những người dậy sớm giảm vào lúc tối.

CÁC GENE CỦA GIẤC NGỦ.

Làm sao giải thích một sự biến thiên như thế về nhu cầu của giấc ngủ và các giờ thức ? Câu trả lời thường được tìm kiếm trong các gène. Nhiều gène, được mệnh danh là những gène của đồng hồ sinh học (gènes de l’horloge), có liên quan trong sự điều hòa hằng nội môi và nhịp ngày đêm của chu kỳ thức-ngủ. Mới đây, người ta nhận diện một sự biến dị của gène DEC2 trong một gia đình có giấc ngủ ngắn (court dormeurs), chỉ ngủ 6 giời mỗi đêm để được thoải mái trong thời gian còn lại trong ngày. Cũng vậy, một sự biến dị của gène PER2 đã được tìm thấy trong một gia đình những người dậy sớm : gène bị biến dị này làm cho muốn dậy 30 phút sớm hơn mỗi ngày. Ngoài ra những biến thể khác nhau của gène PER3 được liên kết với các chronotype chiều hay sáng. Cũng loại gène này can thiệp trong tính dễ bị thiếu ngủ vào ban đêm.

Ngoài ra, tuổi tác ảnh hưởng lên giấc ngủ. Toàn bộ số lượng giấc ngủ giảm dần từ lúc sinh ra đời cho đến tuổi trưởng thành. Vào thời niên thiếu, đồng hồ sinh học có khuynh hướng bị lệch pha (se déphaser) và ngủ muộn hơn so với người trưởng thành. Rồi, trong thời kỳ lão hóa, đồng hồ sẽ càng ngày càng hướng về buổi sáng hơn. Mùa, vào lúc một cá thể được sinh ra, cũng ảnh hưởng lên loại thời gian (chronotype) : những em bé sinh ra vào mùa xuân cố định nhịp thức ngủ của chúng 3 tháng sau khi sinh, khi ngày trở nên dài ra, và thường vẫn là những người ngủ muộn (sujets du soir). Ngược lại với những trẻ sinh vào mùa thu.

Do đó, tùy theo tuổi tác, các gène và những yếu tố khác nhau, những nhu cầu về giấc ngủ và các giờ giấc ngủ khác nhau đối với mỗi cá thể. Không có giờ cũng như khoảng thời gian lý tưởng. Hãy nghe những dấu hiệu mệt mỏi và tôn trọng đồng hồ sinh học của mình là những bí quyết của một giấc ngủ có hiệu quả và bồi sức.
(POUR LA SCIENCE 9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 140 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 24/8/2009 )

4/ TẠI SAO VÀI NGƯỜI LÀ NHỮNG NGƯỜI DẬY SỚM.

NEUROLOGIE. Một biến dạng di truyền (mutation génétique) hiếm giải thích rằng vài người chỉ cần ngủ 4 đến 6 giờ.

Đại đa số cần ngủ 8 giờ mỗi đêm. Một số nhỏ, không uống cà phê lẫn các chất kích thích, chỉ ngủ 6 thậm chí 4 giờ mỗi đêm. Những người này, ngủ vào lúc 22 giờ và thức dậy, tươi mát như một đóa hoa hồng vào 4 giờ sáng và bắt đầu làm việc, trong khi những người đồng loại vẫn còn nằm trên giường, say sưa trong một giấc ngủ không kìm hãm được. Những người dậy sớm (lève-tôt) này, làm thèm muốn những người không hài lòng rằng ngày của họ không đủ dài để có thể hoàn thành các dự án, thật ra là những người có các gène biến dị (mutants). Họ có một sự biến dị lên một gène (DE2), mà những người khác không có.

Nhóm của các chuyên gia thần kinh, được lãnh đạo bởi Ying Hui-fu, thuộc đại học Californie ở San Francisco, có một con chủ bài lớn trong nghiên cứu : ngân hàng ADN của 60 gia đình người Mỹ có những rối loạn về giấc ngủ, đã chấp nhận cho họ một mẫu nghiệm máu. Thật vậy vào năm 2001 và 2005, các nhà nghiên cứu California đã nổi danh do nhận diện một sự biến dị trên một gène (Per2), can thiệp trong những chu kỳ của giấc ngủ, nguồn gốc của một rối loạn rất đặc biệt : hội chứng gia đình giai đoạn giấc ngủ tiến triển (Syndrome familial de phase de sommeil avancé, tiếng Anh là FASPS). Những người bị bệnh này có một thời gian ngủ 8 giờ giống hệt với thời gian trung bình của con người, nhưng giấc ngủ này hoàn toàn bị xê xích trong thời gian. Thật vậy, những bệnh nhân này ngủ vào khoảng 18 giờ hay 19 giờ và thức dậy lúc 3 giờ hay 4 giờ sáng, khi mọi người đang còn ngủ.

Từ lúc có được khám phá này, các nhà nghiên cứu khai thác các dữ kiện ADN mà họ có được. Công trình của họ tiến từng bước nhỏ, nhưng tiến triển. Chính như thế mà họ vừa nhận diện được một sự biến dị trên một gène (DEC2) nơi một bà mẹ và đứa con gái chỉ cần ngủ 6 giờ mỗi ngày. Thế mà sự biến dị này không xảy ra nơi 5 thành viên khác của cùng gia đình ; những người này như đại đa số dân chúng cần ngủ 8 giờ mỗi ngày. Gène DEC2 can thiệp trong nhịp sinh học (rythme circadien), điều hòa sự phân chia tế bào, can thiệp vào lúc ngủ và oxygénation.

MỘT HỆ THỐNG PHỨC TẠP.

Sự biến dị được khám phá bởi Ying Hui-fu và nhóm nghiên cứu của ông rất là hiếm. Họ đã chỉ tìm thấy điều đó trong ADN của hơn 250 người mà họ đã phân tích vào dịp này. Tuy vậy họ đã có thể kiểm tra tính hiệu quả của nó lúc đưa vào gène bị biến dị (gène muté) nơi các con chuột chuyển di truyền (souris transgénique), mô hình động vật tốt nhất để nghiên cứu giấc ngủ. Họ đã quan sát thấy rằng các con chuột bị biến đổi này ngủ ít hơn và cần hồi sức ít hơn lúc chúng bị làm mất ngủ. Cũng vậy nơi các drosophiles bị biến đổi về mặt di truyền.

“ Câu hỏi muốn biết người ta cần ngủ bao nhiêu không những chỉ có lợi ích thực tiễn mà nó còn giúp chúng ta hiểu tốt hơn giấc ngủ vận hành như thế nào ”, Mehdi Tafti thuộc đại học Lausane đã phân tích như vậy. Thật vậy, giấc ngủ là một hệ thống phức tạp mà các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa hiểu được. Đặc biệt họ có nhiều khó khăn trong việc làm sáng tỏ những mối tương tác giữ các nhịp sinh học (rythme circadien), con lắc (balancier) thức (veille) và ngủ (sommeil) (homéostasie: hằng nội môi), môi trường và các gène mà ngày nay người ta còn đo lường vai trò chủ chốt.
(LE FIGARO 17/8/2009)

5/ “ ĐỒNG HỒ SINH HỌC CHỐNG LẠI GIẤC NGỦ ”.

COGNITION. Những người ngủ muộn (couche-tard) vẫn tỉnh táo lâu hơn những người ngủ sớm (lève-tôt), một công trình nghiên cứu chụp hình ảnh não bộ tiết lộ như vậy. Lúc thực hiện như thế, công trình này chứng minh vai trò chủ chốt của đồng hồ sinh học (horloge circadien) trong sự đề kháng của chúng ta chống lại giấc ngủ.

Hỏi : Sự cảnh giác (vigilance) của chúng ta tiến triển trong ngày. Tại sao ?
Pierre Maquet : Chúng ta biết rằng hiện tượng này liên kết với hai yếu tố, đồng hồ sinh học nội tại (horloge circadien interne), mà trung tâm là một nhân nhỏ nằm trong vùng dưới đồi (hypothalamus) ở trung tâm não bộ, và nội hằng định (homéostasie) hay áp lực ngủ (pression de sommeil), nghĩa là nhu cầu ngủ gia tăng với thời gian trôi qua trong ngày. Nhưng người ta không biết hai yếu tổ này tương tác với nhau như thế nào. Chúng tôi đã muốn hiểu điều đó bằng cách nhờ đến chụp hình ảnh não bộ (imagerie cérébrale).

Hỏi : Ông đã tiến hành như thế nào ?
Pierre Maquet : Chúng tôi đã quyết định nghiên cứu hiện tượng này nơi những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt) (ngày mẫu : 5 giờ –20 giờ) và những người ngủ rất trễ (extrêmes couche-tard) (11 giờ-2 giờ) bởi vì những yếu tố đồng hồ sinh học (circadien) và nội hằng định (homéostasie) rất khác nhau nơi hai loại người này. Chúng tôi đã thực hiện hai buổi chụp hình ảnh bằng résonance fonctionnelle với họ, một vào buổi sáng, 1 giờ 30 sau khi thức dậy và một vào buổi chiều, 10 giờ 30 sau khi thức dậy, trong suốt những thời gian này họ phải thực hiện một công tác rất đơn giản được gọi là thời gian phản ứng (temps de réaction) : nhìn một đồng hồ bấm giờ (chronomètre) được điều chỉnh ở mức zero và làm dừng lại ngay khi đồng hồ khởi động. Chúng tôi muốn phân biệt giữa những đáp ứng não bộ của chúng, chịu trách nhiệm thời gian phản ứng trung bình và nhanh.

Hỏi : Ông đã nhận thấy gì ?
Pierre Maquet : Không có một sự khác nhau nào giữa hai nhóm vào buổi sáng. Ngược lại vào buổi tối, những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt), để duy trì một hiệu nang trung bình, hoạt hóa vùng đồi thị (thalamus), một vùng thường được kích thích nơi những người bình thường, khi họ bị thiếu ngủ. Những người ngủ muộn (couche-tard) không cần điều đó. Ngoài ra, những người ngủ muộn đã thành công phản ứng nhanh bằng cách hoạt hóa đồng hồ sinh học nơi não bộ, điều mà những người dậy sớm không thực hiện được. Nói một cách khác, sau một ngày 10 giờ 30 , những người ngủ muộn thức tỉnh hơn những người ngủ sớm, và họ cưỡng lại tốt hơn áp lực ngủ nhờ đồng hồ sinh học của họ.

Hỏi : Chúng ta có thể kết luận điều gì ?
Pierre Maquet : Chúng ta phải tôn trọng nhịp sinh học (rythme biologique) của chúng ta : để làm việc buổi tối, một người dậy sớm sẽ rút từ kho dự trữ của mình trong khi một người ngủ muộn sẽ được giúp đỡ bởi đồng hồ sinh học (horloge circadienne) của họ.
(LA RECHERCHE 7-8/2009)


3/ 10 NĂM THÀNH CÔNG CỦA CÁC LIỆU PHÁP GENE.

5 liệu pháp gène (thérapie génique) mới để chữa bệnh thiếu hụt miễn dịch phối hợp nghiêm trọng (DISC : déficit immunitaire combiné sévère) sẽ được bắt đầu vào mùa thu này, sau khi kíp của nhà miễn dịch học người Pháp Alain Fischer (bệnh viện Necker) đã nhận được giấy phép của giới hữu trách y tế. Cách nay đúng 10 năm, kíp nghiên cứu này đã loan báo trong tạp chí Science trường hợp chữa lành đầu tiên của một căn bệnh nơi người bằng liệu pháp gène. 7 “ enfants-bulle ”(trong số 9 trẻ được điều trị ở Pháp vào thời kỳ đó) vẫn mạnh khỏe và sống bình thường, các nhà nghiên cứu hôm nay đã nhắc lại như vậy trong tạp chí The New England Journal of Medicine.

Thí nghiệm đã cho phép, bằng cách thay thế một gène bị thiếu nơi những trẻ bị bệnh DISC, phục hồi tính nhạy cảm của các tế bào gốc của hệ miễn dịch của chúng đối với những yếu tố tăng trưởng. Liệu pháp gène đã không thành công trong một trường hợp, và trong một trường hợp khác đã gây nên tử vong cho một em bé do vecteur rétroviral được sử dụng. Do đó phương cách này đã bị đình chỉ ở Pháp. Tổng cộng, khoảng 30 enfants-bulle đã được chữa lành ở Pháp, ở Ý và ở Vương quốc Anh. Những thử nghiệm đã bắt đầu để điều trị những cháu trai bị một loại bệnh di truyền hiếm khác của hệ miễn dịch, hội chứng Wiskott Aldrich, luôn luôn với sự ủng hộ của Hiệp hội Pháp chống các bệnh cơ (myopathie).
(SCIENCES ET AVENIR 9/2010)

Chú thích :

1/ Liệu pháp gène (thérapie génique hay génothérapie) : phương pháp điều trị, sử dụng các gène và thông tin mà chúng mang để điều trị một bệnh di truyền (maladie génétique) hay để biến đổi một hành vi tế bào (un comportement cellulaire). Liệu pháp gène cũng được dự kiến như là một kỹ thuật điều trị có thể áp dụng đối với các bệnh không phải di truyền như ung thư hay sida. Trong những trường hợp này, chiến lược nhằm đưa vào trong các tế bào bị bệnh một gène có khả năng tiêu diệt chúng.

2/ Bulle : khoảng bao quanh vô trùng và trong suốt, trong đó sống những trẻ được gọi là enfants-bulle, bị bệnh thiếu hụt miễn dịch nghiêm trọng (déficit immunitaire grave).

3/ Hội chứng Wiskott-Aldrich : bệnh di truyền được đặc trưng bởi một nồng độ các tiểu cầu huyết tăng cao một cách bất thường. Hội chứng này được truyền bởi nhiễm sắc thế X theo cách lặn (mode récessif) (gène chịu trách nhiệm phải được nhận từ cha và từ mẹ để đứa bé phát triển bệnh). Hội chứng này chỉ gây bệnh cho con trai.


4/ NHỮNG HƯỚNG ĐỂ PHÒNG NGỪA BỆNH SA SÚT TRÍ TUỆ.

Làm sao tránh được sự sa sút trí tuệ (démence) sau 65 tuổi ? Bằng cách chống lại bệnh đái đường và chứng trầm cảm, bằng cách tăng cường các khả năng trí tuệ (capacité intellectuelle) và bằng cách ăn nhiều trái cây và rau xanh. Đó là điều được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu Pháp-Anh.

Bằng cách làm giảm bớt vài yếu tố nguy cơ đặc hiệu (tim mạch, các tiền sử trầm cảm, chế độ ăn uống, rượu và trình độ học vấn), phải chăng ta có thể làm giảm tỷ lệ mắc phải bệnh sa sút trí tuệ ? Để trả lời câu hỏi này, Karen Ritchie (Inserm) và các đồng nghiệp đã thực hiện một công trình nghiên cứu trên dân chúng thành phố Montpellier ở miền Nam nước Pháp. Như thế họ đã đưa vào công trình nghiên cứu 1.433 người hơn 65 tuổi (tuổi trung bình 72,5 tuổi), được tuyển mộ giữa năm 1999 và 2001.

Trong 7 năm, các nhà nghiên cứu đã nêu lên những trường hợp thiếu hụt nhận thức (déficit cognitif) mức độ trung bình và những trường hợp sa sút trí tuệ. Những người tham gia đã chịu những trắc nghiệm về nhận thức (test cognitif) vào lúc bắt đầu nghiên cứu, rồi 2,4 và 7 năm sau đó. Một trắc nghiệm đọc (test de lecture) đã cho phép đánh giá các khả năng trí tuệ của họ. Những tiền sử y khoa, tầm vóc, thể trọng, những lợi tức hàng tháng, trình độ học vấn, sự tiêu thụ rượu và thuốc lá cũng đã được nêu lên. Sau cùng nguy cơ mắc phải chứng sa sút trí tuệ do di truyền của mỗi cá thể đã được đo lường.

POMMES, POIRES VA SUDOKUS.

Các kết quả cho thấy rằng việc hủy bỏ chứng trầm cảm (10,31%) và bệnh đái đường (4,88%) và một sự gia tăng tiêu thụ trái cây và rau xanh (6,46%) dẫn đến một sự giảm toàn bộ 21% những trường hợp sa sút trí tuệ hay những thiếu hụt nhận thức mức độ vừa ; chứng trầm cảm có phần đóng góp mạnh nhất (10%). Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng tính chất nhân quả của mối liên hệ trầm cảm-sa sút trí tuệ vẫn không chắc chắn. Sau cùng, sự cải thiện các khả năng trí tuệ, trong 7 năm, dẫn đến một sự thu giảm 18% số những trường hợp mới, trong toàn dân. Các tác giả còn đưa ra nhận xét rằng sự loại bỏ yếu tố nguy cơ di truyền chính (allèle 4 của gène de l’apolipoprotéine E) chỉ làm giảm 7% số những trường hợp mới.

Như vậy, sự cải thiện các khả năng trí tuệ, sự gia tăng tiêu thụ trái cây và rau xanh và sự loại bỏ bệnh trầm cảm và đái đường dường như có một ảnh hưởng quan trọng nhất lên sự thu giảm của tỷ lệ mắc phải các chứng sa sút trí tuệ, quan trọng hơn cả việc loại bỏ yếu tố nguy cơ di truyền được biết.

Mặc dầu những liên hệ nhân quả không có thể được xác lập một cách chắc chắn, tuy nhiên công trình nghiên cứu này gợi ý những ưu tiên về y tế công cộng : “ những chương trình y tế công cộng phải khuyến khích những hoạt động trí tuệ ở mọi lứa tuổi, dầu khả năng của mỗi người như thế nào, khiến phải điều trị nhanh chóng các triệu chứng trầm cảm và phát hiện sớm sự bất dung nạp đường (intolérance au glucose) và sự đề kháng đối với insuline, những dấu hiệu đầu tiên của sự phát triển của bệnh đái đường. Từ nay, cần những công trình nghiên cứu rộng lớn hơn, đặc biệt bao gồm những người trưởng thành trẻ tuổi hơn để trắc nghiệm tác động của những biện pháp can thiệp phát xuất từ những kết quả này ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/8/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

5/ GEL ÂM ĐẠO BẢO VỆ MỘT PHẦN CHỒNG LẠI VIH.

Lần đầu tiên, một thử nghiệm lâm sàng kết luận rằng, một gel âm đạo mang lại cho các phụ nữ một sự bảo vệ một phần chống lại virus của bệnh sida. Để được hiệu quả, gel này phải được đặt 12 giờ trước khi giao hợp rồi, một lần nữa, trong 12 giờ tiếp theo sau đó. So sánh với một gel placebo, gel được thử nghiệm này trung bình đã làm giảm 39% số những trường hợp nhiễm trùng. Tỷ lệ giảm là 28% nếu gel được đặt dưới 1 lần trên hai và 54% nếu được đặt hơn 8 lần trên 10. Thế giới y khoa không ngờ một kết quả như thế sau khoảng một chục thử nghiệm không thành công với những công thức khác. Cho đến nay, các dược phẩm được sử dụng không có một hiệu quả nào, hay, tệ hại hơn, chúng làm dễ vỡ các niêm mạc và làm dễ sự nhiễm trùng. Nhưng lần này, gel chứa 1% ténofovir, một antirétroviral được sử dụng rộng rãi, tác động bằng cách phong bế sự tăng sinh của HIV. Thử nghiệm, Caprisa 004, đã được tiến hành ở Nam Phi từ 2007 đến 2010 nơi 900 phụ nữ trẻ, bởi hai nhà nghiên cứu Salim và Quarraisha Abdool Karim. Mặc dầu tác dụng bảo vệ được quan sát là không hoàn toàn, nhưng gel này mang lại cho các phụ nữ khả năng tự bảo vệ mà không cần sự chấp thuận của các người đàn ông, một điểm quan trọng nơi các nước trong đó việc sử dụng túi dương vật khó lòng áp đặt được. Vấn đề còn phải hiểu tại sao vài phụ nữ đã bị nhiễm trùng. Những nghiên cứu bổ sung sẽ làm sáng tỏ vấn đề này, nhưng OMS đã vận động để có thể đưa ra thị trường nhanh chóng dược phẩm này.
(SCIENCE ET VIE 9/2010)

6/ THỜI KỲ MÃN KINH LÀM BIẾN ĐỔI NHỮNG CHỨC NĂNG NHẬN THỨC.

Một công trình nghiên cứu, được thực hiện trên 2000 phụ nữ đến tuổi 50, xác nhận rằng vài rối loạn được quan sát ở thời kỳ mãn kinh biến đổi các chức năng nhận thức (fonctions cognitives). Đó là trường hợp của chứng trầm cảm (dépression) và lo âu (anxiété), đôi khi là nguyên nhân của một rối loạn nhẹ về trí nhớ những sự việc mới xảy ra (mémoire à court terme) hay trí nhớ công tác (mémoire de travail).
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 69 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/3/2008 )

10/ CHỨNG TRẦM CẢM TRONG THỜI KỲ MÃN KINH VÀ MELATONINE

Các rối loạn của nhịp sinh học (rythme circadien) có thể góp phần trong sự phát sinh chứng trầm cảm trong thời kỳ mãn kinh (dépression de la ménopause). Người ta đã quan sát thấy nơi các phụ nữ bị chứng trầm cảm này, một nồng độ cao mélatonine và một sự xê dịch đường cong tiết của hormone này vào buổi sáng.

Chúng ta có thể giả thiết rằng, một sự thay đổi trong hoạt động chức năng nội tiết góp phần vào sự xuất hiện chứng trầm cảm của thời kỳ mãn kinh.Tuy vậy, dường như khó xác định chính xác những gì không ổn nơi nhiều phụ nữ vào thời kỳ này. Barbara L.Parry và các cộng sự viên (Đại học California, San Diego, Hoa Kỳ) nghĩ rằng điều giải thích có thể được tìm thấy trong sự biến đổi của nhịp sinh học của sự tiết mélatonine . Để kiểm tra giả thuyết của họ, các nhà nghiên cứu đã thực hiện các đo lường nồng độ mélatonine trong huyết thanh nơi 29 phụ nữ trong thời kỳ quanh hay sau mãn kinh (péri- ou postménopause), có hoặc không có chứng trầm cảm. Ngoài các đo lường mélatonine mỗi 30 phút, các tác giả cũng đã theo dõi các nồng độ trong huyết thanh của gonadotrophines và các hormones stéroides, cũng như các điểm số trên một thang đánh giá chứng trầm cảm. Lý thuyết của các tác giả đã được xác nhận : nơi các bệnh nhân bị trầm cảm, thời gian giảm dần của mélatonine bị chậm lại và bị xê dịch vào buổi sáng, trong khi các nồng độ của hormone này gia tăng. Mặt khác có thể quan sát một mối liên hệ giữa số năm trôi qua từ khi bắt đầu thời kỳ mãn kinh và thời gian tiết mélatonine. Ngoài thời gian tiết mélatonine, những yếu tố khác cũng có một ảnh hưởng lên các điểm số của chứng trầm cảm, như chỉ số khối lượng cơ thể, số năm từ khi bắt đầu thời kỳ mãn kinh, các nồng độ FSH và giờ thức giấc.Trái lại, các nồng độ oestradiol, progestérone và LH không có ảnh hưởng đáng kể.

Các tác giả đã kết luận rằng một sự tiếp xúc ít hơn với ánh sáng có thể giải thích sự khác nhau trong các đường cong tiết của mélatonine nơi các bệnh nhân trầm cảm. Do đó các nhà nghiên cứu đề nghị một phép trị liệu bằng giấc ngủ và ánh sáng, cũng như sự sử dụng betabloquants vào sáng sớm để làm giảm sự tiết mélatonine vào buổi sáng.
LE GENERALISTE 28/2/2008


7/ ALZHEIMER

Không một tuần nào trôi qua mà tên của nhà khoa học này lại không được nhắc đến. Nhưng ai biết được tiểu sử của ông ta ? Alois Alzheimer, nhà bệnh lý thần kinh và thầy thuốc chuyên khoa tâm thần người Đức, sinh ở Marktbreit, Bavière, là nơi cha ông làm chưởng khế. Thầy thuốc vào năm 23 tuổi, ông quan tâm môn tâm thần học và hành nghề trong một nhà thương điên của Francfort. Cùng với đồng nghiệp của ông, Niessl, ông lao mình vào trong cuộc nghiên cứu vi thể vỏ não bình thường và bệnh lý. Một tác phẩm 6 tập ra đời, được xuất bản giữa năm 1906 và 1918. Hai người bạn bổ sung cho nhau và trí tưởng tượng của Niessl lợi dụng sức mạnh loại suy và kỹ thuật tiên tiến của Alzheimer về mô học. Vào năm 1895, mỗi người tìm được một chức vị uy thế riêng cho mình và Alzheimer mở rộng các nghiên cứu về bệnh trầm cảm hưng phấn (dépression maniaque) và bệnh tâm thần phân liệt. Bắt đầu từ năm 1903, ông trở thành giám đốc cửa phòng thí nghiêm cơ thể học của bệnh viện tâm thần Munich, nhanh chóng nổi tiếng thế giới. Trong những năm tháng thành đạt này, ông mô tả không những căn bệnh sẽ mang tên ông, mà còn những thương tổn của bệnh chorée de Huntington hay sự mất tế bào trong hồi hải mã (hippocampe) của nhiều bệnh nhân động kinh.

Chính trong một cuộc họp các thầy thuốc tâm thần người Đức, ông đã trình bày trường hợp của một phụ nữ 40 tuổi, mà não bộ cho thấy những thương tổn chịu trách nhiệm các triệu chứng mà chúng ta biết rõ, tiến triển đến tử vong trong 5 năm. Ông mô tả vỏ não bị teo lại, mảng lão hóa (plaque sénile), đáng ngạc nhiên nơi một người bệnh trẻ như thế, và các rối sợi nhỏ thần kinh (emmêlements neurofibrilaires), được phát hiện bởi một thuốc thử đặc biệt có chất bạc, là nguồn gốc của sự nổi tiếng của ông. Các sinh viên của tất cả các nước đổ đến để lợi dụng sự giảng dạy của Alzheimer. Ông dành nhiều thời gian cho các sinh viên, chia sẻ các kính hiển vi của họ, cái kính cặp mũi (pince-nez) của ông được treo bằng một sợi dây quanh cổ, luôn luôn với một điếu xì gà trên môi, đến độ các khúc xì gà La Ha-ba-na nằm rải rác trên các chiếc ghế ngồi của sinh viên đánh dấu cuộc chu du của ông trong phòng thí nghiệm. Được bổ nhiệm ở Breslau bởi vua Phổ, nhưng ông sẽ không bao giờ giảng dạy ở đó, ông mất sớm vào năm 51 tuổi vì bị bệnh viêm nội tâm mạc (endocardite).
(LE GENERALISTE 5/8/2010)

8/ HORMONE CỦA TÌNH YÊU KHÔNG LÀM QUÁ CẢ TIN.

Thường được gọi là kích thích tố của tình yêu (hormone de l’amour), ocytocine đóng vai trò “ glu sociale ” (nhựa dính xã hội). Những tác dụng đầu tiên của ocytocine là khả năng thúc nhanh sự sinh đẻ. Nhưng kích thích tố này cũng được xác định như là kích thích tố của sự giao du (hormone de la sociabilité). Một sự thiếu hụt oxytocine gây nên sự khó khăn trong việc tiếp xúc với bạn bè đồng nghiệp ; ngược lại, một nồng độ cao khiến con người trở nên dễ tin cậy và rộng rãi.

Đến độ người ta bán trên internet, các lọ bơm oxytocine để “ chinh phục những người đối thoại, về phương diện tình cảm hay thương mãi ”. Đúng hay sai ? Moira Mikolajczak, nhà nghiên cứu ở Viện nghiên cứu khoa học tâm lý (Psychological Sciences Research Institute) của UCL (Bỉ), đã muốn biết xem ocytocine có làm cho con người trở nên ngây thơ đến độ đặt lòng tin của mình vào một người ít được tin cậy hay không. Bà đã ra chỉ thị cho 60 thanh niên đầu tư tiền vào các bạn đường, được mô tả, hoặc như là những người đáng tin cậy, hoặc như là những người ít có thể tin được. Những người này nhận, 50 phút trước khi trắc nghiệm, một hơi ocytocine hay một placebo. Người ta chứng thực được điều gì ?

“ MỘT HORMONE TỰ NHIÊN ”

Những người, dưới tác dụng của hormone ocytocine, dành nhiều sự tin cậy hơn cho những partenaire “ đáng tin cậy ”. Trái lại, đứng trước một người đối thoại được cảm nhận là ít đáng tin cậy, phản ứng giống nhau trong hai nhóm : họ đầu tư rõ rệt ít hơn. Tác giả, công bố những kết luận của mình trong Psychological Science số tháng chín, nhấn mạnh rằng, điều đó chứng tỏ rằng ocytocine, mặc dầu làm cho người ta tin cậy hơn, nhưng không đến độ cả tin.“ Tác dụng hạn chế này có lẽ là do sự kiện hormone này được tiết ra tự nhiên trong cơ thể và đã đi kèm theo tiến triển của con người. Ocytocine có cùng những tác dụng làm mất ức chế (effet désinhibiteur) như rượu, nhưng không đi xa hơn. Cá thể vẫn có thể phân biệt được. Phải có thể trắc nghiệm nó, nhưng đối với những kẻ rụt rè mong tìm kiếm các giao tiếp xã hội, ocytocine có lẽ có thể được thích hơn là sự tiêu thụ rượu, vi chất này sẽ làm bất chấp mọi sự thận trọng, ngay cả đứng trước mối nguy hiểm.
(LE SOIR 20/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 172 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 03/5/2010 )

5/ MỘT HORMONE TĂNG CƯỜNG LÒNG TIN CẬY CỦA CÁC BỆNH NHÂN TỰ KỶ (AUTISTE).

Việc cho một hormone, oxytoxin, bằng đường mũi, đã cho phép cải thiện hành vi xã hội (comportement social) của những bệnh nhân mắc bệnh tự kỷ (autistes). Đó là kết quả đáng phấn khởi thu được bởi một nhóm nghiên cứu Pháp, được lãnh đạo bởi Marion Leboyer (Inserm, Créteil) và Angela Sirigu (CNRS, Bron). Được tổng hợp bởi vùng dưới đồi (hypothalamus), oxytoxine đặc biệt làm dễ sự điều hoàn các cảm xúc, làm dễ sự quyến luyến hay sự nhận biết các khuôn mặt.

Tài liệu khoa học đã gợi ý rằng bệnh tự kỷ (autisme) có thể là do những bất thường trong sự tổng hợp của kích thích tố chủ chốt này. Dựa trên tất cả các dữ kiện này, các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm sau đây : 13 bệnh nhân bị bệnh tự kỷ mức độ cao (hay hội chứng Asperger : có trí năng được bảo tồn nhưng khó khăn trong giao tiếp xã hội) đã chơi bóng (ballon). Cách chơi : bệnh nhân được tiền mỗi lần nhận được bóng. Trước mỗi bệnh nhân là 3 cầu thủ mà hành vi khác nhau : cầu thủ thứ nhất dội lại bóng 7 lần trên 10, cầu thủ thứ hai, 3 lần trên 10 và cầu thủ thứ ba chỉ 1 lần trên 10. Nhận xét : với placebo, bệnh nhân tự kỷ chuyển bóng một cách không phân biệt cho 3 ba cầu thủ đối diện, không tỏ một ưu tiên nào đối với một trong những người này. Với oxytoxine, bệnh nhân tự kỷ nhiên hậu chuyển bóng cho cầu thủ có tinh thần hợp tác nhất. “ Ngoài ra, sau cuộc chơi, bệnh nhân cho cầu thủ được ưa thích này điểm tốt nhất trên một thang đánh giá, Angela Sirigu đã ghi nhận như vậy. Vậy bệnh nhân đã cải thiện khả năng phân biệt và năng lực tin cậy. ” Oxytocine, điều trị tương lai của bệnh tự kỷ ? Hiện nay thì không, bởi vì tác dụng của nó lên não bộ chỉ khoảng 90 phút mà thôi, nhà nghiên cứu nói tiếp như vậy. Phải sản xuất một chất tương tự nhưng có thời gian tác dụng dài hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2010)


9/ CHỈ CẦN NHỮNG CÁI VUỐT VE CŨNG ĐỦ NGĂN NGỪA CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Chỉ cần một cái vuốt hay cù lên các ngón tay, lên các làn môi hay lên gương mặt cũng có thể ngăn ngừa một tai biến mạch máu não, nhóm nghiên cứu của Christopher Lay, thuộc đại học Californie (Irvine) đã gợi ý như vậy. Tai biến mạch máu não do thiếu máu cục bộ (AVC ischémique) xảy ra khi một động mạch não bị bịt, lấy đi một phần oxy của não bộ. Từ đó nảy ra ý nghĩ của nhóm nghiên cứu, được trắc nghiệm trên các con chuột, kích thích vùng não bị tưới máu kém để cho máu có thể tiếp tục mang lại oxy bằng cách mượn những con đường khác. Trong hai giờ tiếp theo sau động mạch não chính bị tắc nơi các động vật gặm nhấm, các nhà sinh học đã vuốt một cách đoạn hồi các râu mép của chúng trong 4 phút. Kỹ thuật đã tỏ ra có hiệu quả 100% bằng cách ngăn cản sự xuất hiện của tai biến mạch máu não nơi các con vật, như các phân tích hoạt động neurone, mô não hay cả hành vi, tất cả đều bình thường, đã chứng tỏ đều đó. Ngược lại sự chờ đợi thêm một giờ hủy bỏ những lợi ích của thủ thuật này. Ở người, điều tương tự, cần phải được trắc nghiệm, nhằm kích thích các vùng có thể rất nhạy cảm như môi ngay những dấu hiệu đầu tiên của tai biến mạch máu não : yếu nơi một chi, khó khăn lúc diễn đạt...
(SCIENCE ET VIE 9/2010)

10/ BISPHERON A BỊ CẤM DÙNG TRONG BÌNH SỮA.

Độc tính của chất làm rối loạn nội tiết này, được xác nhận nơi động vật, tuy nhiên lại không được chứng minh đối với người.

SANTE. Pháp vừa quyết định cấm chỉ việc chế tạo và thương mãi hóa các bình sữa chứa bisphénol A (BPA). Chất hóa học này được xếp loại như là reprotoxique loại 3, nói một cách khác “ đáng lo ngại cho khả năng sinh sản của con người ”, nhưng lại không được chứng minh nơi người. Có phải đi xa hơn và cấm sử dụng bisphénol trong những sản phẩm khác ?

TẠI SAO CHỈ CẤM CÁC BÌNH SỮA ?

Bisphénol là một hợp chất hóa học tổng hợp, được sử dụng để chế tạo các plastique, các kính đeo, các bình sữa và những lớp lót trong của các boite de conserve, các CD hay những hỗn hống răng (amalgame dentaire). “ Phải dành ưu tiên cho những đối tượng yếu ớt nhất, như các trẻ sơ sinh. “ Cũng phải bảo vệ các phụ nữ có thai ”, Alfred Spira, nhà dịch tễ học đã giải thích như vậy. Thật vậy, chúng ta biết rằng các thai nhi nhạy cảm bởi vì “ BPA có khả năng đi qua hàng rào nhau ”, Inserm (Institut national de la santé et de la recherche médicale) đã nhắc lại như vậy. Thế mà điều này đòi hỏi phải truy nã tất cả những yếu tố của đời sống hàng ngày, việc này là phức tạp. Hủy bỏ các bình sữa bằng plastique là dễ vì lẽ có những bình sữa bằng thủy tinh, mặc dầu việc sử dụng đòi hỏi khéo léo hơn.

CHÚNG TA BIẾT GÌ VỀ CHẤT NÀY ?

“ Bằng cớ về mối nguy cơ không hiện hữu ”, GS Philippe Bouchard, nhà nội tiết học đã nhấn mạnh như vậy. Trái lại hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành trên động vật. Có hai công trình nghiên cứu kết luận rằng không có nguy cơ ở liều lượng nhỏ. Vả lại, có những nghiên cứu khác, trái lại khiến nghĩ đến những tác dụng không được mong muốn, Rémy Slama, nhà dịch tễ học môi trường thuộc Inserm đã xác nhận như vậy. Những công trình nghiên cứu lớn là nghiêm túc nhưng “ không hoàn toàn ăn khớp với nghiên cứu mới đây ”, nhà khoa học nói tiếp như vậy.

CÓ PHẢI XÉT LẠI LIỀU LƯỢNG TỐI THIẾU CÓ THỂ ĐƯỢC CHẤP NHẬN ?

Ngày nay, ở châu Âu, liều lượng này được xác lập ở mức 50 microgramme đối với 1 kilo thể trọng và mỗi ngày. “ Hôm nay người ta nhận thức rằng đối với vài chất gây ô nhiễm, tiến triển của nguy cơ không tỷ lệ theo đường thẳng ”. Nói một cách khác, những liều lượng nhỏ, đôi khi dưới múc liều lượng quy chiếu, có thể có những hiệu quả có hại và những liều lượng lớn hơn, lại không làm gia tăng nguy cơ.

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NGUYÊN TẮC THẬN TRỌNG LÀ GÌ ?

“ Phải báo động một cách có ý thức ”. Tất cả sự khó khăn là biết khi nào ta cho rằng những bằng cớ gián tiếp là đủ. Đó là trường hợp ngày hôm nay.“ Phải cấm bisphénol trong tất cả các plastique của các vật chứa thức ăn. Người ta đã chờ đợi 20 năm rồi mới cấm chlordécone, có phải sẽ đợi hai mươi năm rồi mới cấm bisphénol ? ”
(LE FIGARO 27/6/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 96 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 10/10/2008 )

6/ BISPHENOL A

Bisphénol A (BFA) , ngày nay có thể được phát hiện nơi hơn 90% dân số, dường như được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ bị bệnh đái đường và bệnh tim mạch. Được thêm vào polycarbone được sử dụng trong nhiều đồ vật, những bình sữa cho con bú cũng như trong những résines époxy hiện diện ở mặt trong các đồ hộp thực phẩm bằng sắt tây, BFA có mặt khắp nơi trong môi trường sống của chúng ta. Năm qua, các trung tâm kiểm tra và phòng ngừa bệnh tật đã tiết lộ rằng BFA đã được phát hiện trong nước tiểu của 93% những người tham dự vào công trình nghiên cứu National Health and Nutrition Examination Survey.

Những nồng độ cao bisphénol A (BPA), được sử dụng trong việc chế tạo các chai bằng plastique và bao bì thực phẩm, được liên kết với một nguy cơ cao hơn mắc phải bệnh tim mạch, bệnh đái đường và các bất thường gan, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong Jama.

Phân tích các dữ kiện, được thực hiện trên 1.455 người Mỹ, tuổi từ 18 đến 74, các tác giả của nghiên cứu đã khám phá rằng những nồng độ cao nhất của BPA trong nước tiểu được liên kết với một sự gia tăng trung bình 39% nguy cơ bị bệnh tim mạch, bệnh đái đường loại 2 và những bất thường của các men gan. Các nhà nghiên cứu đã chia những người tham dự thành 4 nhóm ngang nhau, tùy theo nồng độ của BPA trong nước tiểu của họ. 15% những người tham dự có nồng độ BPA cao nhất, có một nguy cơ bị bệnh tim mạch gần 3 lần lớn hơn 25 % những người tham dự có nồng độ BPA thấp nhất. Đối với bệnh đái đường, nguy cơ được nhân lên 2,4 giữa hai nhóm này. Sự gia tăng của nguy cơ bị bệnh đái đường và bệnh tim mạch được nhận thấy ngay cả khi sự tiếp xúc hàng ngày với những nồng độ BPA, 50 đến 100 lần thấp hơn những nồng độ đến nay được cho là an toàn. Công trình nghiên cứu này, được thực hiện giữa năm 2003 và 2004 là công trình rộng rãi nhất được thực hiện trên người để đánh giá nguy cơ do BPA gây nên.

Công trình nghiên cứu này xác nhận những kết quả của nhiều công trình nghiên cứu, đã được thực hiện trên động vật và đã phát hiện những hiệu quả có hại của BPA với nồng độ thấp, đặc biệt vào lúc tăng trưởng . Như thế BPA có thể gây nên những biến đổi trong não bộ, tuyến tiền liệt, các tuyến vú và biến đổi tuổi dậy thì nơi các thiếu nữ.

BPA là một sản phẩm hoá học thuộc họ các hợp chất hữu cơ thơm (composés organiques aromatiques). Chất này cũng được xem như là một chất gây rối loạn nội tiết (un perturbateur endocrinien). BPA đã là đối tượng của nhiều nghiên cứu trong những năm 1930, khi người ta thấy đó là một oestrogène tổng hợp.Trên cơ sở những công trình nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi công nghiệp các chất plastique, từ lâu công nghiệp này lập luận rằng BPA không có một mối nguy cơ nào bằng đường ăn uống đối với loài người. Nhưng những nghiên cứu khác, độc lập, được tiến hành trên chuột và người, mới đây đã đi đến kết luận khác, đối với BPA lẫn phtalates. Những chất phtalates cũng hiện diện trong cac đồ plastique và có thể có một tác dụng âm tính lên những chức năng nội tiết, đã bị cấm chỉ trong Liên Hiệp Châu Âu. Được công bố năm 2007 trong tạp chí Environmental Health Perspective, một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã xác lập nơi người những mối tương quan giữa các nồng độ phtalates trong nước tiểu và chứng béo phì vùng bụng (obésité abdominale).

Vào giữa tháng 4 năm nay, chính phủ Canada loan báo ý định cấm sự thương mại hóa các bình sữa (biberons), được cấu tạo bởi plastique chứa bisphénol A (BPA), từ nay được xem là chất độc bởi đất nước này. Ở Hoa Kỳ, nhiều người hữu trách thuộc đảng Dân Chủ vừa yêu cầu Cơ quan quản trị thực và dược phẩm hãy đánh giá lại những mức độ tiếp xúc có thể được xem là có thể chấp nhận được về phương diện y tế.
(LE SOIR 29/9/2008) (LE JOURNAL U MEDECIN 2/10/2008) (LE MONDE 6/5/2008)

Thời Sự Y Học Số 161 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 15/2/2010 )

2/ BISPHENOL A TẤN CÔNG RUỘT.

Người ta đã nghi ngờ những tác dụng của bisphénol lên sự sinh sản, sự phát triển của não bộ và hệ tim mạch. Bisphénol A (BPA), hợp chất hóa học hiện diện trong các plastiques và đặc biệt là trong các bình sữa (biberons), cũng tác dụng lên ruột, theo các nhà nghiên cứu của INRA (Toulouse). “ Ruột là cơ bia (organe cible) đầu tiên của BPA ngay khi chất này được nuốt vào ”, Eric Houdeau, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã chỉ rõ như vậy. Các con chuột cái trưởng thành đã nhận BPA với những liều lượng 10 lần thấp hơn so với liều lượng hàng ngày dược cấp cho người. “ BPA khi đó có những tính chất của một hormone, oestrogène, bằng cách hoạt hóa các thụ thể của thành ruột. Do đó BPA được nuốt vào mỗi ngày làm gia tăng các tác dụng hormone. Hậu quả : tính thẩm thấu (perméabilité) của thành ruột, đường trao đổi cho phép sự lưu thông của nước và muối khoáng cần thiết cho cơ thể, bị giảm sút. Nơi động vật gặm nhấm, một sự tiếp xúc với BPA trong tử cung và trong thời kỳ cho bú cũng làm gia tăng nguy cơ phát triển một viêm ruột nặng. “ Ta không thể suy kết quả này, thu được trên ruột động vật, lên ruột người ”, Eric Houdeau phát biểu như vậy. Giới hữu trách y tế Pháp đang xem xét tất cả các dữ kiện hiện có để quyết định một sự cấm chỉ khả dĩ.
(SCIENCE ET VIE 2/2010)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (6/9/2010)

-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969