Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 44
Lượt truy cập: 1028471
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG : NHỮNG ĐIỀU TRỊ TỐT HƠN CHỐNG LẠI DỊCH BỆNH CỦA THẾ KỶ.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

TỤY TẠNG. Có những loại diabète khác nhau (chữ diabète phát xuất từ cổ Hy lạp, có nghĩa là “ đi xuyên qua ” do chứng tiểu nhiều (polyurie) mà nó gây nên). Diabète được gọi là loại 1, cũng được gọi là đái đường (diabète sucré), là hậu quả của một bệnh tự miễn dịch (maladie auto-immune), trong đó những tế bào sản xuất insuline bị phá hủy bởi hệ miễn dịch. Đó là một dạng khá hiếm. Diabète loại 2, được gọi là diabète béo (92% các bệnh nhân đái đường ở Pháp), thường là một bệnh của người trưởng thành (maladie de la maturité), nhưng có thể xuất hiện ở bất cứ lứa tuổi nào. Những nguyên nhân hữu cơ của nó có nhiều (sản xuất thiếu hụt insuline, thiếu tác dụng của insuline…).

BỆNH DỊCH. Mặc dầu bệnh đái đường không phải là một bệnh lây nhiễm, nhưng ta có thể nói dịch bệnh (épidémie) đang diễn biến trong các nước trên thế giới. Từ 75 triệu bệnh nhân năm 1975, hiện nay con số đã lên đến 220 triệu và từ nay đến 2030, ta có thể vượt quá 430 triệu.

HẬU QUẢ. Bệnh đái đường là một yếu tố nguy cơ quan trọng của cao huyết áp, các bệnh tim mạch, chứng mù lòa, suy thận mãn tính hay cắt cụt các chi. Những công trình nghiên cứu mới đây đã chứng thực rằng bệnh Alzheimer và vài ung thư cũng có thể bị liên hệ. ĐIỀU TRỊ. Các chiến lược điều trị, một mặt, nhằm điều hòa nồng độ đường huyết và mặt khác, tránh hay chế ngự các biến chứng có thể xảy ra. Trong vài trường hợp, những biện pháp vệ sinh-dinh dưỡng đơn giản cũng đủ để kiểm soát đường huyết một cách hiệu quả. Nếu không phải vậy, phải nhờ đến những thứ thuốc, nếu uống đều đặn, cho phép kiểm soát đường huyết. Trong vài trường hợp cần tiêm insuline.

TĂNG THỂ TRỌNG. Những công trình nghiên cứu mới nhất cho thấy một mối tương quan rất rõ rệt giữa sự tăng thể trọng và chứng béo phì với sự xuất hiện của bệnh đái đường. Gần 43% những trường hợp đái đường mới liên kết với những yếu tố này.


Từ nay có rất nhiều biện pháp cho phép điều trị bệnh đái đường và ngăn ngừa các biến chứng của nó.

INSULINE. Chỉ trong vài năm bệnh đái đường đã trở thành một dịch bệnh thật sự, gây bệnh cho hơn 220 triệu người trên thế giới (75 triệu vào năm 1975). Theo OMS, vào năm 2025, con số này có thể vượt quá 350 triệu người. Gần 90% các bệnh nhân đái đường, trong nhiều năm, sống với căn bệnh này mà không hay biết, bởi vì, nói chung bệnh đái đường không gây nên những biểu hiện trong một thời kỳ rất dài. Tuy vậy, một bệnh nhân đái đường được điều trị đúng đắn và sớm có thể sống một cách thanh thản với căn bệnh của mình.

“ Hy vọng sống của những bệnh nhân đái đường loại 2 đã gia tăng nhiều trong những thập niên qua, đặc biệt là nhờ những tiến bộ được thực hiện trong sự phòng ngừa nguy cơ tim mạch ”, GS Patrick Vexiau, trưởng khoa bệnh đái đường thuộc bệnh viện Saint-Louis, Paris, đã nhấn mạnh như vậy. Kho thuốc điều trị hiện nay cho phép chống lại một cách hiệu quả chính bệnh đái đường và ngăn ngừa những biến chứng của nó.

Tuy vậy việc điều trị bệnh đái đường không hẳn là thỏa mãn trong đất nước chúng ta. Các chuyên gia lo ngại phí tổn về con người và tài chánh do sự chậm trễ này, một bệnh dịch đã ảnh hưởng 5% dân số Pháp và tiếp tục trở nên trầm trọng.

Theo định nghĩa của OMS, bệnh đái đường được đặc trưng bởi một tăng đường huyết mãn tính trên 1,26g/L. Sự hiện diện của glucose trong máu có những hậu quả lên toàn cơ thể và có thể dẫn đến mù lòa, cắt cụt các chi, suy thận nặng và những thương tổn tim-mạch, vẫn là nguyên nhân tử vong chính của những bệnh nhân đái đường.

Ngoài ra, một công trình nghiên cứu mới đây đã xác lập một mối liên hệ giữa bệnh đái đường và bệnh Alzheimer và những người bị bệnh đái đường có một nguy cơ bị các ung thư cao hơn dân chúng nói chung. Vậy việc điều trị của bệnh đái đường nhằm làm chậm lại sự xuất hiện của những biến chứng này bằng cách điều hòa đường huyết, nhưng đồng thời cũng nhằm một cách đặc hiệu đến những yếu tố có thể làm dễ chúng. Sự tăng thể trọng, chứng béo phì và sự thiếu hoạt động là những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với bệnh đái đường.

Chúng tác động đồng thời lên sự sản xuất insuline và lên sự đề kháng insuline (insulino-résistance) và trận dịch hiện nay về chứng béo phì là nguyên nhân chính của sự gia tăng tỷ lệ lưu hành của bệnh đái đường trên thế giới.

LÀM GIẢM NGUY CƠ TIM MẠCH.

Vậy những biện pháp vệ sinh-ăn uống là điều trị đầu tiên của bệnh đái đường và đôi khi cũng đủ để kiểm soát một cách hiệu quả đường huyết. Những biện pháp này phải được duy trì suốt cuộc đời, ngay cả khi căn bệnh tiến triển và cần sử dụng các thuốc chống đái đường (médicaments antidiabétiques). Thật vậy bệnh đái đường là một bệnh tiến triển (une maladie évolutive) và sự leo thang điều trị là cần thiết để kiểm soát nó khi bệnh càng ngày càng trầm trọng.

Những loại thuốc khác, không nhằm trực tiếp bệnh đái đường, cũng được sử dụng để chống lại những yếu tố khác liên kết với hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) như cao huyết áp và tăng lipid-huyết. “ Tiến bộ lớn nhất được thực hiện đối với các bệnh nhân đái đường là sự làm giảm nguy cơ tim mạch, đặc biệt nhờ các statines điều hòa lipide trong máu và các stents cho phép phục hồi chức năng động mạch vành để bảo vệ tim ”, GS Vexiau nhắc lại như vậy.

Sự ngăn ngừa những biến chứng khác vẫn rất thiếu sót, trong khi nó dựa trên những biện pháp theo dõi đơn giản nhưng được thực hiện rất kém.“ Chỉ cần một thăm khám đáy mắt, một sự đo lường albumine trong nước tiểu và một thăm khám kỹ các bàn chân mỗi năm cũng đủ để phát hiện sự xuất hiện của các biến chứng khá sớm để điều trị chúng một cách có hiệu quả ”, GS André Grimaldi, trưởng khoa bệnh đái đường thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Thế mà số các trường hợp cắt cụt chi vẫn không thay đổi (9.200 vào năm 2007), 4% các bệnh nhân đái đường nói đã bị mù một mắt và 25% bệnh nhân được thẩm tách (dialyse) là những bệnh nhân đái đường.

Mục tiêu điều trị, được ấn định bởi luật y tế cộng đồng năm 2004, nhằm cung cấp một chất lượng điều trị tốt cho ít nhất 80% các bệnh nhân đái đường, đã không được thực hiện trọn vẹn vì lẽ trung bình nó chỉ đạt 50%. Điều quan trọng là các bệnh nhân đái đường có thể chủ động trong việc theo dõi nguy cơ bị các biến chứng, họ có thể nói với các thầy thuốc điều trị của họ “ Này bác sĩ, đã một năm rồi nồng độ albumine trong nước tiểu (albuminurie) đã không được đo lường hay các bệnh nhân đái đường không do dự thăm khám ngay khi họ thấy xuất hiện một vết thương trên một bàn chân ”, GS Grimaldi đã chỉ rõ như vậy.

Do đó sự giáo dục điều trị (éducation thérapeutique) các bệnh nhân và sự đi kèm (accompagnement) là những yếu tố thiết yếu của sự điều trị những bệnh nhân mãn tính như thế. Nước Pháp là nước duy nhất đã công nhận lợi ích của công tác giáo dục điều trị. Tuy nhiên chúng ta có thể lấy làm tiếc rằng sự tài trợ cho nó đã không được dự kiến, điều này đặt lại vấn đề thực hiện nó, đặc biệt là ngoài các bệnh viện ”, GS Vexiau đã phát biểu như vậy.
(LE FIGARO 6/9/2010)


2/ EPINARD CHỐNG BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2.

Các chất chống oxy hóa và magnésium có tính chất bảo vệ.

120 g bổ sung mỗi ngày rau xanh (légumes à feuilles vertes), như các loại cải bắp (choux), rau bi na (épinard) hay rau diếp (laitue) làm giảm nguy cơ 14%.

Ăn nhiều hơn rau bi na (épinard) hay những rau xanh khác thuộc loại brocoli và cải bắp (choux) làm giảm nguy cơ bị bệnh đái đường loại 2, đang phổ biến nhất trên thế giới, theo một công trình được công bố trong British Medical Journal (BMJ). Đó là một lãnh vực gây tranh cãi và các tác giả báo trước rằng cần có những công trình nghiên cứu bổ sung trước khi có thể xác nhận những kết quả này.

Nhóm nghiên cứu của Patrice Carter thuộc đại học Leicester (Anh) đã duyệt xét 6 công trình nghiên cứu, phát xuất từ Hoa Kỳ, Trung Hoa và Phần Lan và được thực hiện trên 220.000 người, để thăm dò mối liên hệ giữa sự tiêu thụ trái cây và rau xanh và sự xuất hiện của bệnh đái đường loại 2 (bệnh đái đường mắc phải) nơi những người trưởng thành. Theo phân tích méta này, mỗi ngày ăn một suất rưỡi, hoặc 120 g rau xanh bổ sung, như các loại cải bắp, rau bi na (épinard) hay rau diếp làm giảm 14% nguy cơ bị bệnh đái đường.

Tuy nhiên, nếu ta gia tăng đồng thời sự tiêu thụ trái cây, giàu đường hơn, và sự tiêu thụ rau xanh, thì tác dụng lên nguy cơ phát khởi bệnh đái đường loại 2 không đáng kể, công trình nghiên cứu đã gợi ý như vậy. Nồng độ các chất chống oxy hóa và magnésium của những thực vật này có thể đóng một vai trò có lợi đối với sức khỏe, các tác giả đã đề xuất như vậy. Dạng đái đường thường thấy nhất (90% các trường hợp) đã lan nhanh từ các nước giàu sang các nước đang phát triển, song song với sự tiến triển quy mô thế giới của chứng béo phì, cùng với tình trạng nhàn rỗi không hoạt động và một chế độ ăn uống giàu đường và mỡ.

Hơn 220 triệu người trên thế giới bị bệnh đái đường, căn bệnh đã giết chết hơn 1 triệu người vào năm 2005, theo Tổ chức y tế thế giới.

TÁC DỤNG CỦA CÂY ĐẠI HOÀNG (RHUBARBE).

Mặt khác, theo một công trình nghiên cứu Trung Quốc trên chuột, được công bố bởi the British Journal of Pharmacology, một trích chất tự nhiên của thực vật, émodine, có vẻ đầy hứa hẹn để làm giảm tác động của bệnh đái đường (DT2). Chất này ức chế một enzyme được gọi là “1-beta-HSD1”, có liên hệ trong sự đề kháng đối với insuline, kích thích tố góp phần xử lý đường trong máu để tích trữ nó trong các cơ, mô mỡ và gan. Trong trường hợp dồi dào thức ăn, insuline cũng kích thích sự biến hóa các glucide thành acide béo, để tích trữ chúng trong mô mỡ.

Emodine có thể được trích ra từ các cây như cây đại hoàng trang trí (rhubarbe ornementale : Rheum palmatum) hay cây nghể (renouée) của Nhật Bản (Fallopia japonica hay Polygonum cuspidatum). Các nhà nghiên cứu sẽ phải tìm những chất tổng hợp có những tác dụng tương tự và xem chúng có thể được sử dụng trong điều trị trên người hay không, theo BS De Ying Leng.
(LE SOIR 23/8/2010)

3/ CÁC TAI BIẾN TIM MẠCH NƠI PHỤ NỮ : MỘT MỐI NGUY CƠ TRỞ NÊN QUAN TRỌNG !

GS Philippe Menasché, thầy thuốc ngoại khoa tim thuộc bệnh viện George-Pompidou, thành viên của hội đồng khoa học của Fondation recherche cardio-vasculaire (Institut de France) giải thích những lý do và những biện pháp cần thiết.

Hỏi : Ngày nay, tần số các bệnh tim mạch nơi phụ nữ là gì ?
GS Philippe Menasché. Ở phụ nữ, đó là những bệnh lý xảy ra nhiều hơn là điều mà người ta tưởng. Các phụ nữ có thể bị các bệnh tim mạch cũng giống như ở đàn ông. Cơn đau thắt ngực (angine de poitrine), viêm động mạch các chi dưới, nhồi máu cơ tim, các tai biến mạch máu não, gia tăng rõ rệt từ 5 - 6 năm qua và những con số này không ngừng gia tăng. Theo “ Journal of the American College of Cardiology ”, trong những đất nước công nghiệp hóa của chúng ta, trung bình cứ 3 phụ nữ thì có một chết vì một bệnh của các động mạch vành, trong khi đó cứ 5 phụ nữ thì có một chết vì ung thư !

Hỏi : Những loại phụ nữ nào có nhiều nguy cơ nhất ?
GS Philippe Menasché : Trước hết những phụ nữ đã vượt qua tuổi mãn kinh (với sự giảm mạnh oestrogène của họ, các phụ nữ không còn được bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch nữa) và những phụ nữ (cũng như các người đàn ông) có những yếu tố nguy cơ : cao huyết áp, bệnh đái đường, nghiện thuốc lá, chứng béo phì, các tiền sử gia đình, các bất thường lipide...Nhưng trong thời đại ngày nay, trái với vài định kiến, các phụ nữ không phải trong tuổi mãn kinh cũng không còn được tha miễn nữa !

Hỏi : Làm sao ông có thể giải thích rằng các phụ nữ trẻ không còn được bảo vệ bởi các hormone của họ nữa ?
GS Philippe Menasché : Vì nhiều lý do, do lối sống hiện nay, thường gần với lối sống của các người đàn ông :
  • Chứng nghiện thuốc lá tăng cao : càng ngày càng có nhiều phụ nữ hút thuốc lá bị nhiễm độc càng ngày càng sớm.
  • Những bất thường lipide được làm dễ bởi việc dùng thuốc ngừa thai đã trở thành phổ biến.
  • Chế độ ăn uống rất thường mất quân bình với thặng dư thịt đỏ, mỡ, đồ thịt lợn kỹ nghệ...
  • Người ta quan sát thấy một sự gia tăng quan trọng của bệnh đái đường.
  • Sức ép chung quanh của cuộc sống hiện đại gây nên một stress có tác dụng xấu.

Hỏi : Nơi các phụ nữ, những triệu chứng đầu tiên của một vấn đề động mạch vành là gì ?
GS Philippe Menasché : Nhìn toàn bộ, những triệu chứng đầu tiên giống nhau đối với hai giới. Nhưng đối với nhồi máu cơ tim, nơi phụ nữ có những triệu chứng đôi khi không điển hình có thể làm chậm trễ chẩn đoán, như những rối loạn tiêu hóa, một sự khó chịu riêng rẽ nơi hàm dưới hay cánh tay nhưng không có đau ngực chút nào (trong khi ở người đàn ông, một cơn đau khởi đầu ở ngực thường gặp hơn). Những chẩn đoán thường muộn nơi các phụ nữ cũng có thể là do sự việc là, các phụ nữ nói chung đề kháng với sự đau đớn và tin rằng mình được bảo vệ bởi các hormone, nên thường chờ đợi rồi mới đi khám bệnh.

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những nguy cơ của các tai biến tim mạch này ?
GS Philippe Menasché : Ở phụ nữ và đàn ông những nguy cơ này đều giống nhau. Sau một nhồi máu cơ tim, khả năng bị những rối loạn nhịp tim hay suy tim ; sau một tai biến mạch máu não : bại liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ hay thị giác...Trong cả hai trường hợp, có nguy cơ tử vong.

Hỏi : Đối với các phụ nữ, những lời khuyên phòng ngừa của ông là gì ?
GS Philippe Menasché :
  • Trước hết phải loại bỏ hay kiểm soát các yếu tố làm dễ có thể tiếp cận được (thuốc lá, bệnh béo phì).
  • Nơi các phụ nữ có những yếu tố nguy cơ ngay cả được kiểm soát, như bệnh đái đường hay cao huyết áp, một bilan tim mạch (đo huyết áp đều đặn, điện tầm đồ, định lượng lipide, kiểm soát sát bệnh đái đường, Doppler các động mạch cảnh và chi dưới) nên được thực hiện đều đặn nhiều hay ít tùy theo tầm quan trọng của nguy cơ.
  • Còn về dân chúng nói chung, chúng tôi khuyên bilan này đối với các phụ nữ bắt đầu từ tuổi 40 để thực hiện một “ état des lieux ”, đồng thời thêm vào đó một sự tìm kiếm trong máu các chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) viêm, như PCR (protéine C réactive). Ở lứa tuổi này, đó là xác lập một bilan quy chiếu, phát hiện những bất thường thầm lặng (anomalies muettes) (những thương tổn lính canh : lésions sentinelles) cần được điều trị.

(PARIS MATCH 9/9-15/9/2010)

Đọc Thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 77 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 17/5/2008 )

1/ CÁC BỆNH TIM MẠCH : MỘT VẤN ĐỀ KHÔNG PHẢI CHỈ QUAN HỆ ĐẾN ĐÀN ÔNG

Mặc dầu từ nhiều năm nay người ta biết rằng không phải là như vậy, nhưng bệnh tim mạch vẫn tiếp tục là vấn đề đi đôi với nam giới trong đầu óc của nhiều người. Một ý nghĩ cần phải khẩn trương uốn nắn về mặt y tế công cộng.

Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ nhắc lại rằng các bệnh động mạch vành là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong ở Hoa kỳ nơi các phụ nữ cũng như nơi đàn ông. Thực vậy mỗi năm ở Hoa Kỳ hơn một nửa triệu phụ nữ chết vì các bệnh tim mạch, hai lần nhiều hơn số tử vong do toàn bộ các ung thư. Ung thư vú, mặc dầu thường làm lo lắng các phụ nữ hơn, vì những lý do tâm lý dễ hiểu, tuy vậy giết chết 12 lần ít hơn so với các bệnh tim mạch.

Khoảng 5 phụ nữ thì có một bị một bệnh lý tim mạch nào đó. Và nếu các ông có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cao hơn và dễ là nạn nhân của một nhồi máu cơ tim ở một lứa tuổi ít cao, các phụ nữ tuy vậy vẫn không hề được tránh khỏi về phương diện này. Hàng năm có 9.000 phụ nữ dưới 45 tuổi và 250.000 phụ nữ trên 65 tuổi là nạn nhân của một nhồi máu cơ tim.

Thật ra các phụ nữ trung bình bị nhồi máu cơ tim 6 hoặc 7 năm chậm hơn so với các ông, nhưng sau 65 tuổi sự khác biệt này có khuynh hướng mất đi.

Trên quy mô hành tinh 8,5 triệu phụ nữ chết mỗi năm vì hậu quả của một bệnh tim mạch, trong khi đó 3 triệu người chết vì tai biến mạch máu não. Tai biến mạch máu não là nguyên nhân đầu tiên gây tàn tật trong hầu hết các nước kỹ nghệ hóa.

Vào năm 1996, các bệnh tim mạch nơi các phụ nữ đã mang lại 2.569.333 ngày nhập viện (đối với hơn 33 triệu dân). Trong các nước đang phát triển, một nửa các phụ nữ trên 50 tuổi chết vì bệnh tim hoặc các tai biến mạch máu não.

TIỀN LƯỢNG U TỐI HƠN

Ngoài ra tiên lượng bệnh u tối hơn đối với phái yếu trong một số các trường hợp : 38% các phụ nữ, so với 25% các ông, chết trong năm sau khi xảy ra một nhồi máu cơ tim. Sự bất lợi của các phụ nữ lại càng rõ nét hơn về việc xảy ra tái phát trong vòng sáu năm sau một lần nhồi máu cơ tim đầu tiên (38% so với 18%).

Đối với các tai biến mạch máu não, mối bất lợi cũng ở phía các phụ nữ : khoảng 60% các tử vong hàng năm do tai biến mạch máu não xảy ra nơi các phụ nữ.

Các phụ nữ nhạy cảm với cùng những yếu tố nguy cơ của đàn ông (cao huyết áp, tăng cholestérol huyết, đái đường, nghiện thuốc lá, chế độ ăn uống không thích hợp, gia tăng thể trọng, nhàn rỗi không hoạt động và các tiền sử gia đình), nhưng đối với phụ nữ cần phải thêm vào chứng mãn kinh và sự sử dụng thuốc ngừa thai bằng đường miệng nơi các phụ nữ hút thuốc lá hay cao huyết áp. Ngoài ra, dường như sự gia tăng triglycérides tự bản thân tạo nên một yếu tố nguy cơ ở phụ nữ rõ ràng hơn so với đàn ông.

Cũng cần ghi nhận rằng các phụ nữ thường có bệnh cảnh lâm sàng của bệnh nhồi máu cơ tim ít điển hình hơn so với đàn ông (đau lưng, đau cổ và những định vị khác, hơn là các cơn đau sau xương ức cổ điển). Việc cần thiết làm nhạy cảm dư luận về vấn đề các bệnh tim mạch nơi các phụ nữ đã thúc đẩy Hiệp hội Tim Hoa Kỳ phát động phong trào “Go Red For Women” (http://www.goredforwomen.org). Hiệp hội Tim Hoa Kỳ đặc biệt đã hiệu chính một công cụ đánh giá tương tác on line, “nhằm giúp đỡ các phụ nữ chăm sóc tình trạng sức khỏe tim của họ”. Hoạt động của phong trào lên đến cao điểm với sự thành lập một ngày quốc gia được gọi là “National Wear Red Day”. Các ông và các bà vào ngày đó có thể ủng hộ một cách tượng trưng hoạt động của phong trào bằng cách mang các bộ đồ quần áo màu đỏ.

Có nhiều hoạt động khác nhằm làm nhạy cảm các phụ nữ về mối nguy cơ mà họ thường không hay biết. Trong số nhiều thí dụ khác, cần ghi nhận hoạt động của National Coalition for Women with Heart Disease (http://www.womenheart.org/).
LA SEMAINE MEDICALE (17/4/2008)

2/ BỆNH NHỒI MÁU CƠ TIM : CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ ÍT TỐT HƠN Ở CÁC PHỤ NỮ

Nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde) ở phụ nữ được thể hiện bởi các triệu chứng khác với đàn ông. Ở phụ nữ, căn bệnh này được chẩn đoán và điều trị ít tốt hơn. Bệnh nhồi máu cơ tim từ lâu đã được xem là một bệnh của đàn ông, một tai họa của nam giới. Còn các phụ nữ thì được cho là được bảo vệ nhờ các hormone nữ. Thực tế mà các thầy thuốc đang nghiên cứu lại rõ ràng khác hẳn. Một công trình nghiên cứu trên 25.000 người đã bị nhồi máu cơ tim trong 14 nước, được công bố tuần này trên site Internet của tạp chí Heart, tiết lộ rằng các triệu chứng của nhồi máu cơ tim ở phụ nữ và đàn ông không tương tự nhau.

Vì các thầy thuốc đã học chẩn đoán bệnh nhồi máu cơ tim qua các cơn đau điển hình xảy ra ở nam giới, do đó họ dễ không nhận biết hơn triệu chứng đau của chứng bệnh tim này khi xảy ra ở phụ nữ. Trước tuổi 65, bệnh nhồi máu cơ tim xảy ra ở đàn ông 4 lần nhiều hơn so với phụ nữ. Sau tuổi 65, tình hình đảo ngược lại cho đến khi số trường hợp trở nên quan trọng hơn nơi các phụ nữ, điều này là do tuổi thọ gia tăng ở các phụ nữ. Một công trình nghiên cứu khác cùng chủ đề, được thực hiện ở Pháp với 75.000 trường hợp nhồi máu cơ tim, đã phát hiện năm qua rằng ở phụ nữ việc điều trị ít tích cực hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn.

Nhồi máu cơ tim điển hình được đặc trưng bởi một cơn đau ngực sau xương ức khá đột ngột, thường xảy ra lúc gắng sức, tính chất như bị đè ép bởi một mỏ cặp (étau), lan tỏa về phía tay trái và hàm dưới, kèm theo cảm giác khó chịu, toát mồ hôi, lo âu. Các triệu chứng này có thể dữ dội ít hoặc nhiều hoặc trái lại không điển hình. Nhưng các triệu chứng này luôn luôn thể hiện huyết khối (thrombose) của một động mạch vành phân bố mạch cơ tim. Mục đích của điều trị cấp cứu là lấy đi vật chướng ngại nơi động mạch bị bít tắc, hoặc bằng liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse) (tiêm cấp cứu bằng đường tĩnh mạch một loại thuốc có khả năng làm tan cục máu đông) hoặc bằng cách làm giãn cấp cứu động mạch với sự thiết đặt một stent (một thiết bị y khoa nhỏ hình lò xo) để giữ cho lòng của động mạch được mở ra. Điều trị nhằm giới hạn sự thoái hóa của một phần cơ tim và các di chứng.

Công trình nghiên cứu được công bố trên site của tạp chí Heart, đã khảo sát trên hơn 25.000 trường hợp nhồi máu cơ tim (19.117 đàn ông và 7.638 phụ nữ) lấy từ 14 nước từ năm 1999 đến 2006. Đối với mỗi trường hợp, người ta kiểm kê các triệu chứng, các kết quả của các thăm khám phụ, đặc biệt là tất cả bệnh nhân đều được chụp mạch (angiographie) cho phép thấy được các động mạch bị bít tắc và các điều trị đã được thực hiện.

MỘT TỶ LỆ TÁI PHÁT CAO HƠN

Công trình nghiên cứu so sánh này đã phát hiện nhiều thông tin quan trọng. Một mặt, các triệu chứng xảy ra nơi các phụ nữ khi họ đến bệnh viện là khác với các triệu chứng của đàn ông ; ở phụ nữ, cơn đau ngực hoàn toàn điển hình thường ít thấy hơn, nhưng ngược lại các triệu chứng như nôn và đau trong hàm dưới thường xảy ra hơn. Ngoài ra, về mặt điều trị, ở nữ giới, ngay với sự bít tắc động mạch vành ở mức độ như nhau, lại thường ít được làm angioplastie hơn lúc đến bệnh viện. Hơn nữa, các phụ nữ so với nam giới thường ít được kê toa hơn các thuốc bêtabloquant, các statines hoặc những inhibiteurs de l’enzyme de conversion, các thuốc nhằm tránh tái phát. Sau hết, tỷ lệ tử vong, tái phát hay tai biến mạch máu não sáu tháng sau nhồi máu cơ tim, hơi cao hơn đối với các phụ nữ.

Công trình nghiên cứu quốc tế này xác nhận một phân tích rộng rãi được thực hiện ở Pháp năm vừa qua và được công bố vào tháng hai 2007 trong tạp chí Circulation. Công trình này nhằm vào 70.000 nhập viện vì nhồi máu cơ tim ở Pháp. Sự so sánh giữa đàn ông và phụ nữ ở Pháp đã cho thấy rằng tỷ lệ tử vong là cao hơn đối với phụ nữ và tỷ lệ phụ nữ được làm angioplastie là 10% thấp hơn so với nam giới. Và điều này, ngay cả ở cùng lứa tuổi như nhau. “Bệnh khác nhau nơi phụ nữ và đàn ông, với các cơn đau ít điển hình hơn, thường liên kết với khó thở, G.S Gabriel Steg, đồng tác giả của công trình nghiên cứu (bệnh viện Bichat, Paris), đã giải thích như vậy. Tất cả các công trình này chứng tỏ rằng ở cùng lứa tuổi, các phụ nữ kém được điều trị hơn khi họ bị một nhồi máu cơ tim và rằng từ nay chúng ta phải cảnh giác hơn”.
LE FIGARO (10/5/2008)


4/ TIÊN ĐOÁN TUỔI MÃN KINH.

Một nhóm nghiên cứu của đại học Téhéran, được điều khiển bởi BS Fahimeh Ramezani Tehrani, đã đo nơi 266 phụ nữ tuổi từ 20 đến 49, nồng độ trong máu của một kích thích tố buồng trứng được gọi là “ antimullerienne ” hay HAM. Hormone này cần thiết trong quá trình làm trưởng thành các nang (follicule) thành các noãn bào (ovocyte), có thể thụ tinh được. Các nồng độ của HAM đã được phân tích nơi tất cả những người tham dự, ở những lứa tuổi khác nhau, được thực hiện hai lần, cách nhau 3 năm. Rồi được so sánh với lịch sử sinh đẻ (histoire procréative) của họ và những yếu tố vật lý khác nhau. Với những dữ kiện được thu nhận, các nhà nghiên cứu đã phát triển một mô hình thống kê (un modèle statistique) cho phép tiên đoán sự lão hóa của chức năng buồng trứng và tuổi mãn kinh. Một phụ nữ mà nồng độ HAM bằng hoặc thấp hơn 4 nanogramme/millilitre ở tuổi 20, 3,3 ở tuổi 25, 2,4 ở tuổi 30, sẽ có một thời kỳ mãn kinh sớm trước 45 tuổi. Phụ nữ mà các nồng độ ở tuổi 20 là 4,5, ở tuổi 25, 3,8 và ở tuổi 30, 2,9 nanogramme/millilitre, sẽ có một thời kỳ mãn kinh sau 50 tuổi. Chẳng bao lâu trắc nghiệm này sẽ là một hỗ trợ để hoạch định đời sống sinh đẻ ?
(PARIS MATCH 2/9-8/9/2010)

Đọc Thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 87 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/8/2008 )

10/ ĐỊNH NGÀY THÁNG THỜI KỲ MÃN KINH

Đến tuổi nào một phụ nữ được đảm bảo có thể sinh con ? Tuổi mãn kinh được cho là lúc không còn có con được nữa và trung bình tuổi mãn kinh vào khoảng 50 tuổi nhưng có thể xảy ra... giữa 40 và 60 tuổi. Đối với một nhóm nghiên cứu Hòa Lan, có thể cho ngày tháng chính xác hơn tuổi mãn kinh bằng cách đo nồng độ AMH (hormone antimullerienne) của họ. Hormone này liên kết với lượng, trong các buồng trứng, của các noãn nang (follicules), nguồn gốc của các noãn bào (ovocyte). Nhóm nghiên cứu đã phát triển một phương cách cho phép thực hiện tính toán này, bắt đầu từ nồng độ AMH, mà nhóm nghiên cứu đã đo được nơi 144 phụ nữ.
LA RECHERCHE (7-8/2007)

5/ MỘT ÍT CHOCOLAT CHO TRÁI TIM.

Một công trình nghiên cứu, được thực hiện nơi các phụ nữ Thụy Điển cho thấy rằng, những người ăn đều đặn những lượng nhỏ chocolat ít có nguy cơ bị suy tim hơn.

Những thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy rằng sự tiêu thụ chocolat làm giảm huyết áp tâm thu và tâm trương và các ông trình nghiên cứu quan sát (études observationnelles) đã nhận thấy một sự liên kết nghịch giữa chocolat và các bệnh tim mạch. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ-Thụy Điển đã khảo sát mối liên hệ giữa sự tiêu thụ chocolat có nồng độ cacao mạnh (chocolat đen) và tỷ lệ mắc bệnh bệnh suy tim.

Elizabeth Mostofsky và các đồng nghiệp đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên 31.823 phụ nữ, tuổi từ 48 đến 83, không bị bệnh đái đường cũng như các tiền sử về suy tim hay nhồi máu cơ tim, tham gia vào Swedish Mammography Cohort. Những phụ nữ này được hỏi về tình trạng sức khỏe và lối sống của họ và họ đã điền một bảng câu hỏi về chế độ ăn uống. Cuộc theo dõi được trải dài từ tháng giêng năm 1998 đến tháng 12 năm 2006.

Trong 9 năm, 419 phụ nữ đã được nhập viện vì suy tim hay đã bị chết vì bệnh này. So sánh với những phụ nữ không ăn đều đặn chocolat, những phụ nữ đã tiêu thụ 1-3 suất mỗi tháng có nguy cơ bị suy tim 26% ít hơn và những phụ nữ ăn 1 đến 2 suất mỗi tuần có nguy cơ 32% thấp hơn.

ĐÚNG LIỀU LƯỢNG.

Các tác giả kết luận rằng, trong tập hợp những phụ nữ này, một sự tiêu thụ có mức độ và đều đặn chocolat được liên kết với một tỷ lệ thấp hơn phải nhập viện vì suy tim hay tử vong, nhưng tác dụng bảo vệ này không còn được quan sát thấy nữa khi người ta ăn chocolat mỗi ngày. “ Sự thiếu tác dụng bảo vệ này có lẽ phải được quy cho các calorie bổ sung mang lại bởi chocolat hơn là do các thức ăn có tính chất dinh dưỡng hơn ”, Murray Mittleman (Havard Medical School), một trong các tác giả đã xác nhận như vậy.

Dĩ nhiên cũng phải nhất trí về ý niệm chocolat đen. Ví dụ các nhà nghiên cứu Thụy Điển giải thích rằng ngay cả chocolat trắng cũng giàu cacao hơn cholocat đen bán ở Hoa Kỳ. Thế mà, người ta gán một tác dụng hạ huyết áp cho những nồng độ mạnh cacao và flavonoide.

“ Thông điệp cần ghi nhớ không phải là ăn “ bao nhiêu chocolat mà ta muốn ”, mà là sự tiêu thụ một ít chocolat đen có thể tốt cho sức khỏe, chừng nào ta không phát hiện những tác dụng có hại khác, như sự lên cân hay sự tiêu thụ quá mức calorie ”, Linda Van Horn thuộc Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ đã thêm vào như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 27/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 29/4/2007 )

7/ CHOCOLAT LÀM GIẢM HUYẾT ÁP

Ăn chocolat đen có thể có hiệu quả trong việc hạ huyết áp như các thuốc giảm áp thông thường. Một xem xét lại các công trình nghiên cứu đã nhận thấy như vậy.

Mặt khác, trà có vẻ không có hiệu quả trong tác dụng này. Bài báo nói rằng một chế độ ăn uống giàu trái cây và rau xanh có lợi cho sức khỏe một phần là do thực vật chứa những chất hoá học được gọi là polyphenols giúp kiểm soát huyết áp.

Từ hơn 3000 bài báo, các nhà nghiên cứu đã chọn những công trình nghiên cứu rộng rải nhất và sử dụng các kỹ thuật thống kê để phối hợp các dữ kiện.

4 trong 5 nghiên cứu về chocolate đã nhận thấy huyết áp bị giảm lúc ăn chocolat đen.

Bài báo này được công bố vào số tháng 4 của The Archives of Internal Medicine.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 26/4/2007)

Thời Sự Y Học Số 109 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 17/1/2009 )

5/ RƯỢU VANG, TRÀ VÀ CHOCOLAT ĐỐI VỚI NÃO BỘ ?

Các ông và các bà lớn tuổi, tiêu thụ rượu vang giàu flavonoide, trà và chocolat, có những hiệu năng tốt hơn lúc thực hiện những trắc nghiệm về khả năng nhận thức (tests cognitifs). Đó là điều đã được chứng minh bởi một nhóm nghiên cứu Anh-Na Uy. Nhóm nghiên cứu này đã khảo sát mối liên hệ giữa sự tiêu thụ 3 thức ăn thức uống chứa flavonoides (chocolat, rượu vang và trà) và những hiệu năng nhận thức (performances cognitives). 2.031 người tham dự (70-74 tuổi, 55% là phụ nữ) đã được tuyển mộ và đã chịu những trắc nghiệm về khả năng nhận thức.

Các kết quả cho thấy rằng, so sánh với những người không ăn chocolat, không uống rượu vang hay trà, những người tiêu thụ chúng có những điểm số tốt hơn một cách đáng kể lúc làm những trắc nghiệm nhận thức và có tỷ lệ hiệu năng nhận thức kém thấp hơn.

Những người tiêu thụ ba loại thức ăn nước uống này có những điểm số tốt hơn và nguy cơ có những hiệu năng kém lúc làm trắc nghiệm thấp nhất. Những mối liên kết giữa sự tiêu thụ các thức ăn nước uống này và khả năng nhận thức (cognition) tùy thuộc vào liều lượng (dose-dépendante), với một hiệu quả tối đa đối với những tiêu thụ khoảng 10g chocolat mỗi ngày và khoảng 75-100 ml rượu vang mỗi ngày, nhưng theo đường thẳng đối với trà. Phần lớn những chức năng nhận thức được trắc nghiệm bị ảnh hưởng bởi 3 thức ăn thức uống này. Hiệu quả rõ rệt hơn đối với rượu vang và hơi thấp hơn đối với chocolat.

Do đó, trong tuổi già, một chế độ thức ăn thức uống nhiều flavonoides được liên kết với những hiệu năng tốt hơn đối với vài năng lực nhận thức và điều này tùy thuộc vào liều lượng.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 13/1/2009)

Thời Sự Y Học Số 160 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 8/2/2010 )

3/ TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA CÁC FLAVONOIDE CỦA RƯỢU VANG, TRÀ, CACAO.

Viện hàn lâm dược học quốc gia hôm qua đã thảo luận về những đóng góp có lợi lên tim và não bộ của những chất được chứa trong vài loại thức ăn.

PREVENTION. Rượu vang, trà, chocolat, là chủ yếu, và những thực phẩm khác chứa những chất flavonoides, có những tác dụng chống oxy hóa (antioxydant) và chống viêm, với một hiệu quả bảo vệ lên tim và não bộ. Từ 15 năm nay, các nghiên cứu gia tăng về những chất được chứa trong thực phẩm này. Hôm qua, Viện dược học quốc gia đã dành một trong những buổi họp để bàn về những tác dụng lên sức khỏe của những chất flavonoides đầy hứa hẹn này. Tuy nhiên, trong khi nhiều xí nghiệp dược phẩm đề nghị các viên thuốc mà chất căn bản là flavonoides, thì viện hàn lâm lại đánh giá rằng những dữ kiện hiện nay không cho phép khuyến khích các “ điều khẳng định sức khỏe ” (“ assertions santé ”) của các chất bổ trợ dinh dưỡng (adjuvants alimentaires).

Lịch sử của các flavonoides bắt đầu trong những năm 1990, với sự phát hiện của nghịch lý Pháp (paradoxe français) : các người Pháp, đặc biệt trong vùng Tây Nam, có một tỷ lệ tử vong do tim mạch thấp hơn so với những nơi khác, mặc dầu một sự tiêu thụ cao các chất mỡ bảo hòa (một yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng). Ngoại lệ này được quy cho sự tiêu thụ rượu vang đỏ, đặc biệt cao ở Pháp. Các flavonoides (các hợp chất polyphénol) của rượu đã được nhận diện như là các chất trung gian của tác dụng có lợi này. Và nhiều công cuộc điều tra dịch tễ học đã cố gắng phân tích mối liên hệ giữa chế độ ăn uống giàu flavonoides và các bệnh tim mạch (đột qụy, nhồi máu) hay thoái hóa thần kinh (bệnh Alzheimer, Parkinson).

“ Toàn bộ các thông tin có được như thế cho thấy một khuynh hướng chung tán trợ cho việc liên kết giữa sự tiêu thụ rượu vang đỏ có mức độ (một hay hai ly mỗi ngày), (trên mức này, những tác dụng có hại của rượu làm đảo ngược khuynh hướng), của sự tiêu thụ trà xanh hay trà đen và cacao và tỷ lệ tử vong nguồn gốc tim mạch hay thoái hóa thần kinh, GS Jean-Claude Stoclet, ủy viên của Hội hàn lâm dược học (đại học Strasbourg) đã giải thích như vậy.

Vậy có vẻ hợp lý khi đưa ra giả thuyết, theo đó sự tiêu thụ đều đặn của vài loại trái cây giàu flavonoides hay những chế phẩm phát xuất từ đó, rượu vang đỏ, một vài nước nho vắt, trà xanh và đen (trong một chừng mực ít hơn), cacao, được liên kết với một sự giảm tỷ lệ tử vong… ”

SỰ ỨC CHẾ CỦA MỘT VÀI GENE .

Bằng cớ chính thức chỉ có thể được mang lại, sau những thử nghiệm lâm sàng so sánh một chế độ ăn uống giàu flavonoides với một chế độ ăn uống nghèo flavonoides. Chúng ta hãy ghi nhận rằng hầu hết các công trình nghiên cứu không phát hiện mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu flavonoide và ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu thí nghiệm, trên cấy tế bào hay mô hình động vật, đã phát hiện một tác dụng của các flavonoides lên thành trong của các huyết quản, với một sự gia tăng của các yếu tố giãn mạch và chống tăng sinh (facteurs vasodilatateurs en antiprolifératifs). Những chất này cũng tác dụng bằng sự ức chế của vài loại gène, để dẫn đến một tác dụng kháng viêm.

Người ta tìm thấy ở đâu các flavonoides này ? Nhiều trăm flavonoides khác nhau đã được nhận diện. Mặc dầu có nhiều điều không chắc chắn, nhưng có vẻ như rằng các flavonoides có một tác dụng bảo vệ, thuộc về các lớp của các flavonols (rượu vang đỏ, trà, cacao) và của các chất anthocyanines (các trái cây đỏ, quả anh đào, cassis). “ Khi tính đến các dữ kiện mới đây về các hiệu quả và các cơ chế tác dụng của vài flavonoides, ta có thể dễ bị cám dỗ khi chủ trương ngay từ bây giờ một sự tăng cường flavonoides trong chế độ ăn uống, GS Stoplet đã đánh giá như vậy. Cần phải cưỡng lại sự cám dỗ này : ngoài những điều không chắc chắn về bản chất của các hợp chất hữu ích, về những lượng cần phải cho, không hoàn toàn loại bỏ sự hiện diện của những tác dụng phụ. ” Đối với GS François Chast, chủ tịch của Viện hàn lâm dược khoa, “ trên cơ sở của các dữ kiện hiện nay, một sự tăng cường các cố gắng nghiên cứu có vẻ được biện minh và khẩn cấp ”.
(LE FIGARO 28/1/2010)

Thời Sự Y Học Số 170 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 19/4/2010 )

3/ CHOCOLAT TỐT CHO TIM VÀ CÁC MẠCH MÁU.

Các nhà nghiên cứu người Đức đã cho thấy rằng những lượng nhỏ chocolat được tiêu thụ mỗi ngày làm hạ huyết áp và làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Nhóm nghiên cứu người Đức đã theo dõi trong khoảng 10 năm những thói quen ăn uống của 19.357 người, tuổi từ 25 đến 65 tuổi. Các tác giả đã có thể chứng thực rằn, những người ăn nhiều chocolat nhất (trung bình 7,5 g mỗi ngày) có một huyết áp thấp hơn và một nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não giảm 39%, so với những người chỉ tiêu thụ rất ít (1,7g mỗi ngày). Về mặt nguy cơ tuyệt đối, điều đó có nghĩa là sự việc ăn một miếng vuông nhỏ chocolat khoảng 6g cho phép tránh, nơi 10.000 người, 85 nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não trong một khoảng thời gian 10 năm, BS Brian Buijssen, nhà dịch tễ dinh dưỡng, người điều khiển công trình nghiên cứu này, đã giải thích như vậy.

Nhưng không nên vì thế mà suy diễn ra rằng ta có thể đồng thời tự cho phép mình gia tăng sự tiêu thụ toàn thể calorie và tiêu thụ ít hơn những thức ăn lành mạnh, nhà nghiên cứu cảnh cáo như vậy. “ Những lượng nhỏ chocolat giúp phòng ngừa sự xuất hiện các bệnh tim mạch, nhưng chỉ khi những lượng này thay thế một nguồn thức ăn giàu calorie khác, để trọng lượng có thể vẫn luôn luôn ổn định. ”

Mặc dầu sự tiếp tục của các nghiên cứu là tỏ ra cần thiết, nhưng nhóm nghiên cứu người Đức đã có thể xác nhận rằng tác dụng có lợi của chocolat được liên kết với sự hiện diện của flavonol trong cacao. Những chất này hiện diện chủ yếu trong chocolat đen. “ Các flavonol cải thiện biodisponibilité của monoxyde d’azote trong các huyết quản. Những chất này làm giãn các mạch máu hơn và điều này góp phần mang lại một huyết áp thấp hơn. Monoxyde d’azote cũng cải thiện chức năng của các tiểu cầu, làm cho máu ít dính hơn ”, Brian Buijsse nói tiếp như vậy.

TRÀ CŨNG THẾ.

Một công trình nghiên cứu mới đây của Hòa Lan cũng quan tâm đến những tác dụng có lợi của các flavonol. Peter Hollman của đại học Wageningen đã phân tích mối liên hệ giữa sự sử dụng các loại flavonoides khác nhau và sự xuất hiện của các tai biến mạch máu não. Trong một phân tích méta, ông đã xét đến hơn 100.000 người phát xuất từ 6 công trình nghiên cứu đã được công bố. Các flavonoides đặc hiệu như các flavonol, dường như có một tác dụng lên nguy cơ tai biến mạch máu não. “ Nếu người ta tiêu thụ một lượng flavonol tương ứng với lượng được tìm thấy trong 3 tách trà, người ta có thể làm giảm 20% nguy cơ

bị một tai biến mạch máu não ”, nhà nghiên cứu Hòa Lan đã bình luận như vậy.

Chúng ta hãy nhớ rằng các flavonols cũng hiện diện trong rau xanh và các trái cây.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 13/4/2010)

Thời Sự Y Học Số 175 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 23/5/2010 )

8/ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CHOCOLAT ĐEN.

Nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý sự hiện hữu của một tác dụng có lợi của chocolat đen.

Một trong những công trình nghiên cứu này, được tiến hành ở Zutphen, ở Hòa Lan, trên 470 bệnh nhân (từ 65 đến 84 tuổi) kéo dài 15 năm, đã cho thấy rằng huyết áp tối đa và tối thiểu đối với những người tiêu thụ 10 g chocolat đen mỗi ngày được hạ xuống lần lượt 3,7 và 2,1 mmHg, so với những người không tiêu thụ. Mới đây hơn, một thử nghiệm quy mô lớn, được tiến hành bởi hai nhà dịch tễ học thuộc Institut germanique de nutrition (Brian Buijsse et Heiner Boeing), cho thấy rằng ăn chocolat đều đặn với lượng thấp tương ứng với một sự giảm của tỷ lệ tử vong tim-mạch. Hơn 19.000 người sống trong vùng Potsdam ở Đức (không có tiền sử tuần hoàn) đã được theo dõi trong 8 năm. Kết luận : nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột qụy giảm 39% nơi những người tiêu thụ 6 g chocolat mỗi ngày. Các flavonoides, các chất kháng oxy hóa mạnh được chứa trong cacao, mà nồng độ mạnh hơn trong chocolat đen, là nguồn gốc của những lợi ích này.
(PARIS MATCH 22/4-28/4/2010)


6/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY : NGUY CƠ Ù TAI.

Tỷ lệ bị ù tai (acouphènes) trong các nước công nghiệp hóa đã gia tăng. Ngày nay tỷ lệ này là 10 đến 15%. Theo một công trình nghiên cứu của Áo, nguy cơ xuất hiện những rối loạn này tăng gấp đôi nơi những người sử dụng một điện thoại cầm tay từ ít nhất 4 năm qua. Theo các tác giả, ốc tai (cochlée) nơi chứa các neurone của thính giác, hấp thụ một lượng đáng kể và có hại của năng lượng phát ra từ máy điện thoại di động.
(PARIS MATCH 2/9-8/9/2010)

7/ GIẢI PHẪU LÀM GIẢM NGUY CƠ BỊ UNG THƯ VÚ NGUỒN GỐC DI TRUYỀN.

Nơi các phụ nữ mang các yêu tố di truyền tố bẩm (gène de prédisposition) phát triển ung thư vú, sự cắt bỏ vú đã làm giảm rõ rệt nguy cơ.

PREVENTION. Đó là một vấn đề đã được bàn cãi rất lâu khi các gène ung thư (BRCA1 và BRCA2) đã được khám phá vào đầu những năm 1990 : biện pháp phòng ngừa nào có thể đề nghị cho những phụ nữ này, có từ 50 đến 80% nguy cơ phát triển ung thư vú do một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique), mà ngày nay ta có thể loan báo cho họ ? Có phải cho họ các thuốc kháng oetrogène, mặc dầu không phải là không có nguy cơ ? Tiến hành cắt bỏ các vú hay các buồng trứng, điều này là một chấn thương rõ rệt ? Chỉ cần theo dõi họ một cách nghiêm túc hơn bằng thăm khám X quang ? Trong khi những phương thức này được trắc nghiệm trong nhiều nước Tây Phương, một cuộc điều tra quy mô lớn, được công bố tuần này trong tạp chí Hoa Kỳ The Jama, vừa cho thấy rằng việc cắt bỏ phòng ngừa vú và các buồng trứng làm giảm nguy cơ ung thư và tử vong nơi những phụ nữ mang một hay hai gène tố bẩm căn bệnh này (BRCA1 và BRCA2). Nhắc lại : gène BRCA1 được liên kết với một gia tăng 70% nguy cơ bị ung thư vú và một gia tăng 40% nguy cơ bị ung thư buồng trứng trước 70 tuổi. BRCA2 làm gia tăng những nguy cơ này lần lượt 50% và 20%.

“ Các phụ nữ, vốn đã thừa hưởng các biến dị của các gène BRCA1 hay BRCA2, có một nguy cơ rõ rệt cao hơn phát triển một ung thư vú và buồng trứng trong suốt cuộc đời của họ ”, các nhà nghiên cứu của trung tâm lâm sàng dịch tễ học và thống kê của Đại học y khoa Pennsylvanie (Hoa Kỳ) đã viết như vậy. Để đánh giá tác dụng phòng ngừa ngoại khoa (triệt để nhất), các nhà nghiên cứu đã xem xét 2.482 phụ nữ có những biến dị di truyền này trong 22 trung tâm nghiên cứu lâm sàng ở Hoa Kỳ và ở Châu Âu, từ năm 1974 đến 2008. Tất cả đã được theo dõi cho đến năm 2009. Một bộ phận trong số các phụ nữ này đã chịu một cắt bỏ (mastectomie) cả hai vú, những phụ nữ khác bị cắt bỏ buồng trứng cả hai bên, sau hết những phụ nữ khác theo một thăm khám phát hiện được tăng cường.

Các nhà nghiên cứu đã có thể cho thấy rằng không có phụ nữ nào trong số 247 phụ nữ đã được cắt bỏ vú để phòng ngừa (mastectomie préventive) đã bị ung thư vú trong suốt 3 năm theo dõi y khoa, trong khi đó có 98 trường hợp ung thư vú trong số 1.372 phụ nữ đã không được một sự cắt bỏ như thế (hoặc 7%). Ngoài ra, những người tham dự được lấy đi các buồng trứng (với sự bảo toàn tử cung) đã thấy nguy cơ bị ung thư buồng trứng sụt giảm rõ rệt trong 6 năm quan sát, cũng như nguy cơ bị ung thư vú. So sánh với một nhóm phụ nữ đã không bị phẫu thuật cắt bỏ vú và buồng trứng, những phụ nữ được cắt bỏ có tỷ lệ tử vong hạ 10%. Đó là công trình nghiên cứu đầu tiên chứng tỏ rằng những can thiệp ngoại khoa phòng ngừa này kéo dài đời sống của các phụ nữ có những tố bẩm di truyền phát triển ung thư vú, BS Virginia Kaklamani, giám đốc nghiên cứu về ung thư thuộc đại học Northwestern (Chicago), đồng tác giả của nghiên cứu này, đã nhấn mạnh như vậy. Những kết quả này chứng minh tầm quan trọng của những trắc nghiệm di truyền khi có những tien sử gia đình về ung thư vú và buồng trứng xảy ra sớm.” Đối với GS Dominique Stoppa-Lyonnet (Viện Curie và Đại Học Paris Descartes) cũng như các BS Suzette Delaloge và Olivier Caron (Viện Gustave Roussy, Villejuif), rất quan tâm đến những kết quả này, vấn đề còn lại là phải chứng minh rằng, việc cắt bỏ vú trong trường hợp tổ bẩm di truyền, nếu nó hủy bỏ nguy cơ mắc phải ung thư vú với một thời gian nhìn lại 3 năm, thì về lâu về dài nó đúng là liên kết với một sự giảm tỷ lệ tử vong. Mặc dầu điều đó có vẻ rất là có khả năng, nhưng chỉ có sự theo dõi lâu dài mới sẽ cho phép xác nhận điều đó. “ Các thầy thuốc đa khoa, các thầy thuốc sản phụ khoa và các phụ nữ phải ý thức hơn về sự hiện diện của các trắc nghiệm di truyền (test génétique) này, BS Kaklamani đã nhấn mạnh như vậy. Những trắc nghiệm này không phải được thực hiện nơi các thầy thuốc chuyên khoa ung thư khi đã quá muộn màng. ”
(LE FIGARO 2/9/2010)


8/ UNG THƯ VÚ : LÀM SAO BIẾT TA CÓ BỊ MỘT TỐ BẨM DI TRUYỀN HAY KHÔNG ?

Sự khám phá vào năm 1994 và 1995 những gène tố bẩm gây ung thư vú và buồng trứng, BRCA1 và BRCA2 đã mở đường cho những chiến lược phòng ngừa đối với những phụ nữ đã thừa hưởng những gène này. Nhưng tuy vậy, hai gène này chỉ là nguyên nhân trong 5% những ung thư vú và 10% những ung thư buồng trứng. Ngày nay, công tác phát hiện hai gène này được đề nghị cho vài phụ nữ đã bị bệnh ung thư vú và có những đặc điểm cho phép gợi ý một nguy cơ di truyền. Và nếu là trường hợp như vậy, sự nhận diện biến dị khi đó cũng được đề nghị, chủ yếu, đối với những người thân, chị em hay con gái.

“ Sự phát hiện di truyền phải được đề nghị cho các phụ nữ dưới 36 tuổi bị ung thư vú và cho những phụ nữ bị ung thư buồng trứng trước 70 tuổi, theo những lời khuyến nghị mới nhất của Viện ung thư quốc gia, giáo sư Dominique Stoppa-Lyonnet (Viện Curie) đã giải thích như vậy. Trắc nghiệm cũng được chỉ định tùy theo vài đặc điểm của khối u. Và ngay cả trong vài tình huống gia đình, khi một phụ nữ dưới 40 tuổi có một ung thư vú, và khi một trong các chị em cũng có cùng căn bệnh. Hoặc thí dụ khi một bệnh nhân bị một ung thư vú, trong khi một người có quan hệ bà con thuộc thế hệ thứ nhất bị một ung thư buồng trứng. Chính sự xem xét những trường hợp được phân bố trong gia đình là quan trọng.”

Trắc nghiệm được thực hiện nơi người là phức tạp : phải nhận diện chính xác biến dị là nguyên nhân gây bệnh (1000 biến dị đã được mô tả) trên một hay hai gène BRCA1 hay BRCA2. Những kết quả đôi khi cần nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng.

GIẢI PHÁP TRIỆT ĐỂ.

Một khi sự biến dị gia đình đã được nhận diện, những trắc nghiệm cho những người có quan hệ bà con đơn giản hơn nhiều, và chỉ cần vài tuần, thậm chí vài ngày. “ Bất cứ ai có một người bà con mang một biến dị trên gène BRCA1 hay BRCA2, đều có thể hưởng một trắc nghiệm di truyền nếu như muốn, và với điều kiện một người bà con trung gian không được xác nhận là không mang biến dị, Dominique Stoppa-Lynonnet đã nói thêm như vậy. Vào năm 2008, 5.200 phát hiện được thực hiện ở Pháp trên những bệnh nhân bị ung thư vú hay buồng trứng, trong đó 12,7% dương tính, hoặc 600 người mang một gène biến dị. Cùng năm, gần 2.000 người có quan hệ bà còn được trắc nghiệm : 40% mang biến dị di truyền.

Ở Pháp, người ta làm gì khi khám phá một biến dị nơi một người mạnh khỏe ? “ Trước hết chúng tôi giải thích vấn đề, đồng thời không quên tầm quan trọng chấn động tâm lý, BS Caron và Delaloge (Viện Gustave - Roussy) đã giải thích như vậy. Chúng tôi đề nghị phẫu thuật cắt bỏ vú dự phòng (mastectomie prophylactique), nhưng ít phụ nữ chấp nhận điều đó. Và cắt bỏ các buồng trứng đối với những phụ nữ trên 40 tuổi và đã toại nguyện ước muốn có thai.Và dĩ nhiên, một sự theo dõi sát vú và các buồng trứng.” Giải phẫu, giải pháp triệt căn và có vẻ có hiệu quả, không phải là không có các biến chứng.
(LE FIGARO 2/9/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ VÚ (Breast Cancer) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

9/ UỐNG MỘT ÍT RƯỢU LÀ TỐT ĐỂ LÀM GIẢM NGUY CƠ BỊ VIÊM ĐA KHỚP.

Uống rượu với lượng vừa phải được liên kết với một sự giảm đáng kể của nguy cơ phát triển một loạt các bệnh thấp khớp (maladies rhumatismales).

Uống rượu với lượng vừa phải được xác nhận là làm giảm nguy cơ phát triển một viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide), chứng hư khớp (arthrose), bệnh viêm khớp phản ứng (arthrite réactionnelle), viêm khớp vẩy nến (arthrite psoriasique) và đặc biệt là bệnh viêm cứng khớp đốt sống (spondylarthrite ankylosante), theo một công trình nghiên cứu Hòa Lan, được thực hiện trên 997 bệnh nhân bị những bệnh thấp khớp viêm (rhumatisme inflammatoire) khác nhau và 6.874 người chứng. Tác dụng đặc biệt có tính cách bảo vệ nơi những bệnh nhân bị viêm đa khớp dạng thấp với sự hiện diện của các kháng thể chống protéines citrullinées (ACPA : anticorps anti-protéines citrullinées).

Các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng mức độ viêm toàn thể càng gia tăng khi lượng rượu được tiêu thụ càng giảm, nhưng người ta không quan sát thấy một cách thật sự mối liên hệ giữa liều lượng-đáp ứng (relation dose-réponse). Đối với các tác giả của công trình nghiên cứu, ta có thể đề xuất hai cách giải thích rất khác nhau trước điều chứng thực này : hoặc là các bệnh nhân vốn bị bệnh nặng hơn nên tiêu thụ ít rượu hơn trong khung cảnh sự biến đổi lối sống của họ do chính căn bệnh, hoặc sự hiện diện của rượu trong cơ thể có một tác dụng bảo vệ chống lại sự viêm toàn thể.

Thật vậy người ta đã làm một chứng thực như thế đối với viêm đa khớp dạng thấp, nhưng công trình nghiên cứu cho thấy rằng tác dụng bảo vệ này của rượu cũng đóng một vai trò trong một loạt những bệnh viêm khớp khác, BS Anekoos Leonoor Huidekoper (đại học Leiden, Hoà lan) đã nhấn mạnh sự cần thiết một công trình nghiên cứu đi xa hơn trong lãnh vực các đường viêm (voie de l’inflammation) để hiểu một cách chính xác rượu có thể đóng vai trò bảo vệ của nó ở mức nào.

GS Paul Emery (Đại Học Leeds), chủ tịch của EULAR, thêm vào loại chứng chứng thực này lời cảnh cáo bắt buộc, khi nhấn mạnh rằng, điều quan trọng là tiêu thụ rượu với lượng vừa phải, vì lẽ một số vấn đề không những y khoa mà cả xã hội liên kết với việc uống rượu quá mức. Do đó, những lời khuyến nghị sử dụng rượu phải được đặt lại trong bối cảnh rộng lớn hơn này.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 3/9/2010)

10/ RƯỢU VÀ RỐI LOẠN NHỊP TIM.

Sự tiêu thụ nhanh một lượng tương đối cao rượu có thể gây nên một loạn nhịp nhanh (tachyarythmie). Mặc dầu một sự cố như thế nói chung có một tiên lượng thuận lợi, nhưng bệnh nhân cần nên xem đó là một tín hiệu báo động.

Người ta biết từ lâu rằng sự lạm dụng mãn tính rượu có thể là nguồn gốc của một bệnh cơ tim (cardiomyopathie) gây giãn sau một số năm nào đó, một bệnh cơ tim tự bản thân gây nên các loạn nhịp nhĩ hay thất (arythmie auriculaire ou ventriculaire). Cách nay khoảng hai mươi năm, các nhà nghiên cứu cũng đã khám phá rằng một sự hấp thụ ồ ạt rượu có thể gây nên những rối loạn nhịp nơi những người không hề bị bệnh tim trước đó.

17 LY MỖI NGÀY !

Vào năm 1978, thầy thuốc chuyên về tim Hoa Kỳ Philip Ettinger đã mô tả 32 đợt rối loạn nhịp nơi 24 bệnh nhân uống đều đặn những lượng lớn rượu. Mặt khác, đó trường hợp ngay trước đợt loạn nhịp của họ. Công trình nghiên cứu này làm xuất hiện thuật ngữ holiday heart syndrome. Trên nguyên tắc, những người Mỹ hiểu chữ holiday là những ngày hội hè cuối năm. Tuy nhiên, thuật ngữ binge drinking, tương ứng với sự uống vào một lượng lớn rượu trong một thời gian ngắn, là một hiện tượng phát triển rộng rãi và trước hết liên quan đến những kỳ nghỉ hè, và nhất là những người trẻ tuổi. Năm nay, Viện khoa học y tế công cộng flamand (Bỉ) đã xác lập rằng cứ 8 thanh niên từ 15 đến 24 tuổi thì có một nhiễm độc alcool ít nhất một lần mỗi tuần. Còn Viện chống cồn Hòa Lan (Nederlands Instituut voor Alcoholbeleid) xác nhận rằng những thanh niên, trải qua những kỳ nghỉ học xa cha mẹ, uống trung bình 17 ly rượu mỗi ngày, so với 7 ly đối với các con gái. Nhiều cơ chế khác nhau giải thích tác dụng gây rối loạn của rượu lên nhịp tim. Ta có thể chia những cơ chế này thành những tác dụng trực tiếp và gián tiếp. Rượu làm giảm lượng sodium xuyên qua tế bào và khiến pH nội bào bị hạ xuống. Về các cơ chế gián tiếp, đó là sự phóng thích gia tăng adrénaline và noradrénaline, và một sự gia tăng các nồng độ trong máu của axít béo tự do cũng như sự sản xuất acétaldéhyde, chất chuyển hóa chính của éthanol.

TUỲ THEO TRƯỜNG HỢP.

Phải nghĩ đến holiday heart syndrome đứng trước một loạn nhịp nhanh nơi một người không có tiền sử về tim. Rối loạn thường gặp nhất là rung nhĩ (fibrillation auriculaire), thường biến mất một cách ngẫu nhiên trong 24 giờ. Cần ghi nhận rằng vài người bị rung nhĩ với một sự tiêu thụ rượu hoàn toàn có mức độ, đối với một người uống trung bình. Nói chung, bệnh nhân ghi nhận hồi hộp khiến phải đi khám bệnh. Trong trường hợp đáp ứng tâm thất nhanh (réponse ventriculaire rapide), ta có thể thấy xuất hiện một ngất xỉu, khó thở lúc gắng sức hay cơn đau thắt ngực. Hỏi bệnh sẽ tìm kiếm, chừng nào có thể được, những tiền sử về những đợt hôn mê rượu (coma éthylique) và một sự lạm dụng caféine.

Ngoại trừ tính không đều của nhịp tim và một tình trạng say rượu, thăm khám vật lý thường không có gì đặc biệt. Tuy nhiên nên kiểm tra kali-huyết, trong khi điện tâm đồ cho phép loại trừ những vấn đề khả dĩ khác, như một thiếu máu cục bộ (ischémie) hay một nghẽn mạch phổi (embolie pulmonaire). Có thể cần tìm kiếm những chẩn đoán bổ sung khác. Thật vậy phải ghi nhớ rằng bệnh nhân có thể bị một rung nhĩ ngay cả khi không uống rượu. Sau cùng, chúng ta hãy ghi nhận rằng những đợt binge drinking đều đặn có thể dẫn đến bệnh cơ tim (cardiomyopathie) hay những vấn đề thuộc về gan.

MỘT SỰ PHỤC HỒI NHANH CHÓNG VÀ VÀI BIỆN PHÁP CẦN LÀM.

Một monitoring điện tâm đồ có thể đủ. Người ta có thể cho một chất betabloquant để làm chậm lại một đáp ứng tâm thất quá nhanh. Sau khi rối loạn nhịp biến mất, các bệnh nhân trẻ không bị bệnh tim mạch không còn cần phải điều trị gì thêm nữa. Tuy nhiên, nên tránh mọi gắng sức quan trọng trong vài ngày sau đợt thiếu máu cục bộ liên kết với rượu, bởi vì rối loạn nhịp có thể tái phát dưới ảnh hưởng của sự phóng thích catécholamine. Cũng vậy, caféine sẽ cần tránh trong thời kỳ này, và từ nay rượu sẽ bị chống chỉ định nơi những người này.
(LE GENERALISTE 2/9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 106 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 19/12/2008 )

2/ NOEL VÀ NĂM MỚI LÀ MỘT THỜI KỲ CAO ĐIỂM CỦA CÁC TAI BIẾN TIM MẠCH

Vào năm 1999, một nhóm các thầy thuốc chuyên khoa tim của vùng phụ cận Los Angeles đã nghiên cứu tính chất biến thiên theo mùa của tỷ lệ tử vong tim mạch. Trong một thời kỳ 12 năm, các thầy thuốc khoa tim đã quan sát thấy một sự gia tăng các trường hợp vào mùa đông, được biết rõ là thường có hại đối với những người bị bệnh tim. Những nhiệt độ thấp gây nên sự gia tăng của sức cản mạch máu, của huyết áp, của nguy cơ co thắt động mạch vành và của tính đông máu. Tuy vậy, các tác giả đã nghi nhận rằng tiết trời mùa đông tương đối dịu trong vùng Los Angeles. Một phân tích tinh tế hơn các con số đã tiết lộ rằng đường cong tử vong đã bắt đầu lên cao vào khoảng Thankgiving, đạt một cao điểm vào Năm Mới, trước khi đi xuống trở lại, trong khi nhiệt độ tối thiểu vẫn gần như không thay đổi trong tháng 12 và tháng giêng.

TỐI ĐA VÀO LỄ NOEL

Vào năm 2005, một công trình nghiên cứu thứ hai đã mang lại những giải thích. Ở đây, tỷ lệ tử vong tim mạch đã được quan sát trong suốt thời kỳ 1973-2001, bằng cách sử dụng những dữ kiện từ toàn bộ lãnh thổ của Hoa Kỳ. Các tác giả cũng đã quan sát thấy một sự gia tăng tỷ lệ tử vong tim mạch trong thời kỳ cuối năm, nhất là vào những năm cuối cùng của thời kỳ được nghiên cứu. Mặt khác, một đỉnh cao đã được quan sát một cách rất chính xác trong suốt những ngày lễ Noel và năm mới. Tỷ lệ tử vong cao nhất vào lúc réveillon de Noel, hơi thấp hơn ngày 25 tháng 12, và thấp hơn nữa vào ngày đầu năm mới.

CUỘC CHÈ CHÉN VÀ SỰ CĂNG THẲNG CỦA NHỮNG NGÀY LỄ

Những cách giải thích khả dĩ không thiếu gì. Dĩ nhiên người ta nghĩ đến ăn uống quá độ. Những bữa ăn nhiều mỡ hơn có một tác dụng không thuận lợi lên chức năng nội mô (fonction endothéliale), trong khi muối làm gia tăng gánh của hệ mạch máu. Rượu có thể gây nên nhưng rối loạn nhịp tim, như rung nhĩ (fibrillation auriculaire), điều này có thể đưa đến những thương tổn cấp tính nơi một cơ tim vốn bị thiếu máu cục bộ (myocarde ischémié). Mặt khác, người ta cũng quan sát một khuynh hướng ít nhờ đến săn sóc y tế hơn trong những ngày lễ : nhiều người không muốn làm hỏng bầu không khí vui nhộn hay chỉ vì di chuyển đổi chỗ nơi khác. Ngoài ra các bác sĩ điều trị ít túc trực hơn và do đó việc đến phòng cấp cứu được thực hiện thường hơn.Thế mà, những thầy thuốc của các phòng cấp cứu này ít biết rõ hơn những bệnh nhân đến thăm khám. Một cơ chế khác cũng có thể góp phần, là vào những ngày tết, lửa củi được đốt thường hơn trong các lò sưởi : một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng những chất làm gây ô nhiễm không khí bao quanh có thể gây nên sự gia tăng huyết áp và số lần tai biến tim. Sau cùng, cũng phải xét đến sự kiện là Noel và Năm mới có thể là những nguồn gốc của căng thẳng tâm thần (stress psychique) : một vài người phải lo tổ chức lễ lạc, gấp vội và đương đầu với những công tác bổ sung và trong vài trường hợp buộc phải gặp những người trong gia đình mà họ muốn lẩn tránh. Tết là như vậy đó …
(LE GENERALISTE 18/12/2008)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (13/9/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969