Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 66
Lượt truy cập: 1008382
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI ĐỐI VỚI BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

LỊCH SỬ. Chữ “ tâm thần phân liệt ” (schizophrénie) phát xuất từ chữ Hy lạp schizo để chỉ “sự phân chia ”(fractionnement) và phrèn để chỉ “ tâm thần ” (esprit), vậy nó có nghĩa là một sự “ cắt đứt của tâm thần ” (une coupure de l’esprit), một bệnh loạn tâm thần gây nên một sự mất tiếp xúc với thực tại (une perte de contact avec la réalité). Vậy đó thật sự không phải là một nhân cách hai mặt (une double personnalité). Chính thầy thuốc tâm thần Eugen Bleuler, vào năm 1911, lần đầu tiên đã dùng thuật ngữ bệnh tâm thần phân liệt chung quanh năm triệu chứng chính : rối loạn về sự liên kết các ý tưởng (trouble de l’association des idées), rối loạn về tính cảm xúc (trouble de l’affectivité), sự mất tiếp xúc với thực tại, sự thu mình lại có tính cách tự kỷ (repli autistique) và hội chứng phân ly (syndrome dissocitaif).

SỰ XUẤT HIỆN. Gây bệnh cho khoảng 1% dân số, bệnh tâm thần phân liệt có thể có nhiều dạng và mức độ trầm trọng khác nhau. Nhưng trong nhiều trường hợp, được điều trị đúng đắn, bệnh không ngăn cản một hoạt động bình thường. Bệnh thường xuất hiện giữa 15 và 25 tuổi. Đàn ông và phụ nữ có thể bị bệnh. Mặc dầu những nguyên nhân di truyền dường như được xét đến, nhưng người ta không biết một cách chính xác nguồn gốc của nó. Đó là rối loạn tâm thần phổ biến nhất ở Pháp.

CHẨN ĐOÁN. Chẩn đoán trong những dạng khởi đầu không phải là dễ. Một người trẻ tuổi, đang sống gần như bình thường, sẽ trở nên không cởi mở, chịu những thôi thúc không suy xét (impulsions irraisonnées). Điều đó có vẻ như là một “ con khủng hoảng của thời kỳ niên thiếu ” (crise d’adolescence). Rồi trong một số trường hợp, xuất hiện những cơn mê sảng (bouffée délirante).Tinh thần không còn nắm bắt thực tại được nữa. Trong khi vài người chỉ lên một cơn duy nhất, thì những người khác lại đi vào trong một xoắn ốc của các cơn mê sảng, được cách quãng bởi một sự trở lại trạng thái bình thường.

ĐIỀU TRỊ. Các thuốc, chủ yếu là những thuốc an thần kinh (neuroleptiques) có thể được sử dụng. Nhưng một sự theo dõi tâm lý trị liệu cũng cần thiết. Cũng có những liệu pháp nhận thức và làm tái hội nhập xã hội (thérapie cognitive et de réinsertion sociale), làm dễ sự giảm bớt tình trạng phế tật.


Căn bệnh mãn tính này phá hủy cấu trúc tư duy và sự nhận thức bản thể và tha nhân.

CERVEAU. Với một tần số mắc bệnh được ước tính 1% dân số, dầu thuộc nước nào, ở Pháp bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) gây bệnh cho khoảng 500.000 người. Những nguyên nhân của chứng loạn tâm thần mãn tính này vẫn không được hiểu rõ. Một công trình nghiên cứu của Canada, được công bố vào cuối tháng tám gợi ý rằng, nơi những người bị bệnh tâm thần phân liệt, một tỷ lệ cao hơn bị những biến dị mới, không phải thừa hưởng từ bố mẹ, có thể đóng một vai trò. Nhưng tính mẫn cảm di truyền (susceptibilité génétique) không phải là tất cả. “ Ngày nay, cái được thua chính yếu là hiểu, làm sao tránh cho những người có những yếu tố dễ bị thương tổn (facteur de vulnérabilité) đối với bệnh, khỏi bị tiến triển thành một bệnh cảnh tâm thần phân liệt thật sự, với tất cả phế tật liên kết, GS Marie Odile Krebs, thầy thuốc tâm thần thuộc trung tâm bệnh viện Saint-Anne (Paris) và giám đốc nghiên cứu của Inserm (U894), người đã tham dự vào công trình nghiên cứu, đã nhấn mạnh như vậy. Vậy trước hết phải hiểu bệnh tâm thần phân liệt theo các quỹ đạo tiến triển (trajectoire évolutive) của nó, những quỹ đạo đa dạng, cũng như sự biểu hiện của bệnh này.

Bệnh tâm thần phân liệt phát khởi chủ yếu nơi những người trẻ tuổi từ 15 đến 25 tuổi. Sự chẩn đoán bệnh, khó khăn, dựa trên sự hiện diện dài lâu và đồng thời của những triệu chứng dương tính (symptômes positifs) (mê sảng, ảo giác, thường là thính giác), những triệu chứng âm tính (symptômes négatifs) (khó tương tác với những người khác, giảm biểu hiện tình cảm, thiếu sáng kiến) và những rối loạn tổ chức của hành vi (trouble de désorganisation du comportement), có thể được thể hiện bởi những phản ứng kỳ lạ, không thích ứng, và chứng tỏ một sự biến đổi của những quá trình tư duy do những rối loạn của các chức năng nhận thức (trí nhớ, sự chú ý, sự hoạch định các hành động) mà vai trò dường như càng ngày càng quan trọng. Sự điều trị cơn loạn tâm thần đầu tiên luôn luôn phải được thực hiện nhanh chóng nhất, bởi vì thời gian tiến triển không điều trị chi phối kết cục của căn bệnh. Bệnh tâm thần phân liệt, với cường độ biến thiên, được thể hiện, khi thì theo cách mê sảng (mode délirant) nơi một bệnh nhân, khi thì theo cách rút mình lại (mode de retrait) và rối loạn tổ chức (désorganisation) nơi một bệnh nhân khác. Những thể mê sảng (formes délirantes), nói chung bắt đầu sau 20 đến 25 tuổi, những thể rối loạn tổ chức và thiếu hụt (formes désorganisées et déficitaires) thường xảy ra sớm hơn. Những trường hợp tâm thần phân liệt rất sớm, trước 12 tuổi, hay chậm, sau 35 tuổi, đều ngoại lệ.

30% CÁC BỆNH NHÂN ĐÁP ỨNG TỒI VỚI ĐIỀU TRỊ.

Tính đa dạng và sự không có nguyên nhân duy nhất được xác định rõ ràng khiến người ta tự hỏi không biết đó có đúng là một căn bệnh duy nhất. Mặc dầu vai trò di truyền là chắc chắn, nhưng ngay cả với cha và mẹ đều bị bệnh tâm thần phân liệt, xác suất đứa bé cũng bị bệnh này không vượt quá 50%. Sau khi đã loại bỏ một sự truyền bệnh đơn thuần trong gia đình, trong vài năm nhiều biến dị (DISC1, neurexine, dysbindine, neuréguline) đã được nhận diện nơi các người bệnh, GS Krebs đã giải thích như vậy. Từ đó giả thuyết cho rằng bệnh tâm thần phân liệt có thể là do một sự tích tụ của những biến dị nhỏ. Nhưng những công trình nghiên cứu, vào năm 2009, về toàn bộ các génome của hàng ngàn bệnh nhân đã không cho phép xác nhận các gène-ứng viên này cũng không cho phép nhận diện những gène khác để hỗ trợ cho giả thuyết này, có lẽ là do tính không đồng nhất của các bệnh nhân. Ngày nay, người ta nghi ngờ hơn sự can dự của một số nhỏ các gène quan trọng mang lại cho căn bệnh một tính dễ thương tổn (vulnérabilité), có thể được thực hiện vào những giây phút chủ yếu của sự phát triển, nhất là dưới tác dụng của những yếu tố môi trường, và làm rối loạn nó.” Như là trong thời kỳ tiền và chu sinh, tính bất tương hợp rhésus, bệnh cúm, bệnh rubéole, các biến chứng sản khoa, các nạn đói, trọng lượng thấp lúc sinh, những stress xảy ra sớm, làm gia tăng một ít nguy cơ thống kê bị bệnh tâm thần phân liệt. Ở tuổi thiếu niên, sự trưởng thành hormone và tâm lý, sự đòi hỏi gia tăng về những hiệu năng cũng tạo nên một tình trạng bấp bênh, trong đó một sự quân bình vốn mong manh có thể trở nên bất ổn định. Việc sử dụng cannabis, làm gia tăng rõ rệt nguy cơ thống kê mắc bệnh tâm thần phân liệt, là một yếu tố thúc đẫy nơi những bệnh nhân mong manh mà ta chưa xác định được. Tính nhạy cảm đối với stress, trong thời kỳ này, cũng có thể là một yếu tố làm mất ổn định.

Việc điều trị đã tiến bộ nhiều. “ Sau các thuốc an thần kinh (neuroleptiques) trong những năm 1950, rồi halopéridol trong những năm 1980, những điều trị đầu tiên có hiệu quả lên triệu chứng kích động (agitation) và mê sảng (délire), sự xuất hiện vào khoảng năm 1990 những thuốc chống loạn tâm thần (antipsychotique) thuộc thế hệ thứ hai (clozapine, rispéridone, olanzapine và aripripazole) cũng hiệu quả như những thuốc đầu tiên, nhưng với ít tác dụng phụ thần kinh hơn, đã làm thay đổi cuộc sống hàng ngày của các bệnh nhân, mặc dầu những thuốc mới này có những tác dụng không mong muốn khác, GS Pierre Michel Llorca, thầy thuốc tâm thần thuộc CHU de Clermont-Ferrand đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng 30% các bệnh nhân đáp ứng kém với điều trị, mà ta không biết tại sao.

Sự điều trị bằng thuốc lâu dài, liên kết với những liệu pháp khác nhau gia đình, nhận thức, hành vi (thérapies familiales, cognitives, comportementales), chi phối tiến triển của bệnh. Cũng vậy, đối với việc hội nhập (réinsertion) của những bệnh nhân này, thường còn khó khăn, mặc dầu , nhờ các điều trị, cũng có những bệnh nhân tâm thần là các nhà phẫu thuật hay những nhân viên không phi hành (contrôleur du ciel). Trong lúc chờ đợi một ngày mai, khi đó ta biết không những điều trị mà còn ngăn ngừa chứng bệnh này.
(LE FIGARO 13/9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 111 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/2/2009 )

10/ NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC

Những thể nhẹ trong hai bệnh này là thường xảy ra.

Vào cuối thế kỷ XIX, khi nhà tâm thần học người Đức Krepelin lần đầu tiên đã nhận diện bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) và bệnh loạn tâm thần hưng- trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), ông đã nhanh chóng tự hỏi không biết đó thật sự là hai bệnh lý riêng biệt hay không. Thật vậy, những bệnh này có một số những triệu chứng chung. Mặt khác, mỗi bệnh đã được mô tả trong một dạng điển hình, nhưng những thể nhẹ tương đối thường xảy ra hiện diện trong hai trường hợp.

Bệnh tâm thần phân liệt, được mô tả một cách nhầm lẫn như là một sự tách đôi nhân cách (dédoublement de la personalité), có liên quan đến khoảng 0,8% dân số. Những triệu chứng đầu tiên xuất hiện giữa 15 và 25 tuổi. Lúc khởi đầu, bệnh đôi khi bị lẩn lộn với một cơn tuổi thiếu niên (une crise d’adolescence), điều này làm cho chẩn đoán bị chậm lại. Bệnh được đặc trưng bởi những triệu chứng thay đổi đối với mỗi bệnh nhân, với những rối loạn được gọi là “dương tính” như ảo giác (hallucination), các cơn mê sảng (bouffées délirantes) và những triệu chứng được gọi là “âm tính” như thu rút mình lại (repli sur soi), nín thinh (mutisme). Sự uống rượu và dùng chất ma túy bị cấm chỉ vì hai lý do. Sự tiêu thụ này làm hại hiệu quả của điều trị và làm dễ những tái phát. Điều trị bằng thuốc cho phép làm giới hạn các triệu chứng. Sự hỗ trợ tâm lý (soutien psychologique), cũng như những quy tắc vệ sinh đời sống cải thiện chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân

Bệnh loạn tâm thần hưng trầm cảm hay bệnh lưỡng cực, theo đúng nghĩa, gây bệnh cho 1% dân số. Nếu người ta tính đến những thể nhẹ, tỷ lệ này đạt đến 4%. Dạng điển hình được đặc trưng bởi những rối loạn tính khí, với một sự kế tiếp nhau nơi cùng bệnh nhân, những cơn hưng phấn (kích động quá mức hay sự hứng khởi khí chất), và những cơn trầm cảm. Trong thời kỳ hưng phấn, bệnh nhân có thể vui vẻ, nói nhiều, cựa quậy không yên, tư duy bị rối loạn. Mặt khác, đó là một trong những lý do bệnh nhân thường không muốn được săn sóc điều trị. Những trị liệu, các thuốc điều hòa khí chất hay thuốc an thần, có tác dụng làm dịu sự kích động, trong khi những bệnh nhân ở giai đoạn hưng phấn cho rằng cuộc đời của họ vui hơn trước khi được điều trị. Giữa các cơn, bệnh nhân có thể có một cuộc sống bình thường và điều này kéo dài trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Với một điều trị cân đối, nói chung các bệnh nhân có một hoạt động nghề nghiệp và gia đình bình thường.
(LE FIGARO 16/1/2009)


2/ MỘT NGƯỜI BỆNH BỊ THIẾU MÁU ĐƯỢC CHỮA LÀNH BỞI LIỆU PHÁP GENE.

Lần đầu tiên, ở Pháp, một bệnh nhân đã được điều trị một bệnh di truyền thường xảy ra, bêta-thalassémie, bằng chuyển gène (transfert d’un gène).

HEMATOLOGIE. Việc công bố hôm qua trường hợp chữa lành một người đàn ông bị một bệnh di truyền nghiêm trọng của máu, bệnh thalassémie, là một biến cố quan trọng. Đây là lần đầu tiên người ta khuất phục được, bằng liệu pháp gène (thérapie génique), một bệnh bẩm sinh có liên quan đến hàng triệu người. Mỗi năm, trên thế giới, gần 200.000 trẻ em sinh ra với căn bệnh này. 3 năm sau điều trị, bệnh nhân, đang sống ở Pháp và hôm nay được 21 tuổi, không còn cần phải được truyền máu nữa. Những kết quả này, được công bố hôm nay trong tạp chí Anh Nature, là kết quả của một sự cộng tác giữa nhiều nhóm nghiên cứu Pháp (CEA, Assistance Publique, các đại học Paris-Sud, Paris-Descartes và Paris-Diderot), các đại học Hoa Kỳ của Pennsylvanie.

“ Bệnh nhân trẻ người Pháp, gốc Việt Nam và Thái Lan, mà người ta đã cho gène điều chỉnh (gène correcteur) vào năm 18 tuổi, có một thể bệnh được gọi là “ betaE/betaO ”, thường gặp ở vùng Đông Nam Á, GS Marina Cavazzana Calvo (bệnh viện Necker, Paris) đã giải thích như vậy. Bất thường di truyền này chịu trách nhiệm một sự biến dạng các hồng cầu, khiến chúng bị phá hủy sớm, gây nên thiếu máu và những rối loạn khác do một sự quá tải sắt trong cơ thể, hậu quả của những đợt truyền máu liên tiếp.

Nhóm nghiên cứu của GS Philippe Leboulch (CEA) đã thực hiện, cách nay gần 10 năm, sự điều chỉnh đầu tiên bằng liệu pháp gène một trường hợp thiếu máu do di truyền nơi chuột. Sẽ còn nhiều năm dài trước khi có thể hiệu chính một protocole trên người. Theo sơ đồ, trước hết phải hiệu chính một lentivirus chứa gène được điều chỉnh (géne corrigé) và hoàn toàn vô hại đối với người. Trước hết, người bệnh được rút lấy một mẫu tủy xương (un prélèvement de moelle osseuse) rồi các tế bào gốc được trích ra, GS Cavazzana-Calvo đã giải thích như vậy. Những tế bào gốc này được cấy với lentivirus được biến đổi để cho một gène mới (gène được điều chỉnh, gène corrigé), được đưa vào bên trong các tế bào gốc.” Sau hết, người bệnh nhận một hóa học liệu pháp để tiêu hủy chính tủy xương bị bệnh của mình. Và 48 giờ sau, những tế bào gốc bị biến đổi được tiêm trở lại cho bệnh nhân bằng đường tĩnh mạch. “ Bệnh nhân đã ở bệnh viện khoảng 1 tháng, GS Eliane Gluckman, nhà tiền phong về ghép tủy xương (bệnh viện Saint-Louis,Paris) đã chỉ rõ như vậy. Sau 11 tháng, bệnh nhân này đã không cần phải truyền máu nữa, GS Marina Cavazzana-Calvo, đã ghi nhận như vậy. Đó là một bước tiến lớn nhưng sẽ phải được xác nhận với những bệnh nhân khác.”

Những bệnh huyết cầu tố (hémoglobinopathie), như bêta-thalassémie và drépanocytose là những bệnh di truyền thường xảy ra nhất. Những căn bệnh này là do những khuyết tật của gène điều khiển sự sản xuất béta-globine, thành phần chủ yếu của hémoglobine, mà chức năng là vận chuyển oxy đến các hồng cầu. Trong những thể nặng, các bệnh nhân thiếu máu sống sót nhờ được truyền máu và nhờ một điều trị nhằm loại bỏ sự thặng dự sắt, tích luỹ do truyền máu liên tiếp.

Các thầy thuốc tỏ ra thân trọng. Họ đã nhận giấy phép theo đuổi thử nghiệm nhưng họ đã chờ đợi để có đủ một thời gian nhìn lại trước khi công bố những kết quả đầu tiên.
(LE FIGARO 16/9/2010)

3/ THIẾU VITAMINE D VÀ BỆNH PARKINSON.

Nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đã báo cáo những nồng độ thấp vitamine D nơi những bệnh nhân Parkinson. Một công trình nghiên cứu của Phần Lan, đã theo dõi trong 30 năm hơn 3.000 người thuộc hai giới tính, tất cả lúc khởi đầu không bị bệnh Parkinson, vừa cho thấy rằng nguy cơ xuất hiện bệnh là thường xảy ra hơn nơi những người mà những nồng độ của vitamine D thấp (dưới 25 nanomoles/ lít). Nguy cơ này được giảm 65% nơi những người mà những nồng độ vitamine D cao hơn (ít nhất 50 nanomoles/ lít).
(PARIS MATCH 9/9-15/9/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Parkinson - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

4/ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG CÓ THỂ CHỮA LÀNH HOÀN TOÀN ?

GS Marie-Germaine Bousser
Neurologue
Membre correspondant de l’Académie nationale de médecine.


Chứng thiên đầu thông (migraine), ảnh hưởng lên 8 triệu người Pháp, trong đó hơn 2/3 là các phụ nữ, không phải là bất cứ loại đau đầu nào, mà là một căn bệnh nói riêng (mặc dầu không thể phát hiện thương tổn não bộ), được đặc trưng bởi sự xuất hiện các cơn đau đầu thường làm bất hoạt, có thể kéo dài vài giờ đến hai, ba ngày, với những dấu hiệu rất đặc biệt.

Bệnh thiên đầu thống được đặc trưng bởi sự hiện diện của một triệu chứng đau đầu nghiêm trọng, một bên, đập theo nhịp của trái tim và bởi sự liên kết thường có với nôn ; một sự không chịu đựng được tiếng ồn, ánh sáng hay mùi ; hiếm hơn là mửa và đôi khi những rối loạn thị giác, cảm giác hay ngôn ngữ có thể đi trước sự xuất hiện của đau đầu khoảng 30 phút.

Không có và có lẽ sẽ không bao giờ có điều trị chữa lành bệnh thiên đầu thống, mặc dầu đôi khi sự dứt các cơn một cách ngẫu nhiên có thể cho ảo tưởng là được chữa lành và khi đó muốn quy một cách sai lầm sự lành bệnh này cho một điều trị hay một biến cố nào đó. Chữa lành khỏi bệnh thiên đầu thống có nghĩa là có thể rút đi khỏi não bộ của những người bệnh cái tính tăng kích thích đặc biệt, được xác định bởi di truyền, làm cho bệnh nhân tăng nhạy cảm với nhiều yếu tố môi trường, kích thích tố, thức ăn, tâm lý, cảm giác, khí hậu... có khả năng làm dễ sự khởi động của các cơn.

Thật là nghịch lý, gần một nửa những người bị thiên đầu thống không bao giờ đi khám bệnh vì chứng bệnh này. Họ chấp nhận nó như là một định mệnh, tự điều trị lấy với hiệu quả ít hay nhiều hay một cách nguy hiểm, và đôi khi cố gắng một cách tuyệt vọng nhằm hủy bỏ yếu tố này hay yếu tố kia làm khởi động các cơn, được diễn dịch nhầm như là nguyên nhân của chứng thiên đầu thống của họ. Cái nguy cơ chính yếu, khi người ta cố tự xoay xở một mình, là một sự lạm dụng thuốc, một sự quen thuốc và sau cùng, một sự trầm trọng các cơn đau đầu, cuối cùng xảy ra hàng ngày.

ĐIỀU TRỊ CƠN VÀ ĐIỀU TRỊ DUY TRÌ.

Thế mà, có nhiều điều cần phải làm, bởi vì, trái với điều mà những người bị bệnh thiên đầu thống nghĩ, cho rằng y khoa ít hay không có hiệu quả, hiếm có người cưỡng lại những phương thức điều trị, dùng thuốc hay không, mà chúng ta có hiện nay. Những phương thức điều trị này, một mặt, cho phép làm giảm thời gian và mức độ nghiêm trọng của các cơn nhờ những điều trị được gọi là “ cơn ” (traitement de crises), theo định nghĩa, được áp dụng cho những người bị bệnh thiên đầu thống vì lẽ những người bị bệnh này đều lên các cơn ; mặt khác, để làm giảm tần số các cơn nhờ những điều trị được gọi là “ duy trì ” (traitement de fond), chỉ được chỉ định nơi những bệnh nhân thiên đầu thống mà các cơn thường xảy ra và trong những thời kỳ mà các cơn thường xảy ra, như thế điều trị duy trì được thích ứng với tiến triển thất thường và không thể tiên đoán được của bệnh thiên đầu thống.

Sự xuất hiện của các triptans trong những năm 1990 đã cách mạng hóa việc điều trị cơn, nhưng điều trị cơn và điều trị duy trì không thể chỉ được quy vào một sơ đồ điều trị chuẩn có thể áp dụng cho tất cả những bệnh nhân bị bệnh thiên đầu thống, và chính sự cộng tác chặt chẽ thầy thuốc-bệnh nhân sẽ cho phép, thường bằng những phương thức kế tiếp nhau, tìm thấy nơi mỗi bệnh nhân thiên đầu thống, trong kho vũ khí quan trọng các điều trị hiện có, những điều trị thích hợp đối với họ nhất.

Chỉ có mối liên hệ hai mặt và dài lâu này của bệnh nhân và thầy thuốc mới cho phép, nếu không chữa lành bệnh, thì cũng cải thiện một cách đáng kể chất lượng sống thường rất là xấu của người bệnh thiên đầu thống. Tuy nhiên, nền y khoa này, được căn cứ trên đối thoại và đồng cảm (empathie) chứ không phải trên những thăm dò bổ sung, phải được nhận biết tốt hơn trong hệ thống điều trị của chúng ta.
(LE FIGARO 30/8/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Thiên Đầu Thống (Migraine) - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

5/ SỰ TÁI SINH GIÁC MẠC BẰNG NHỮNG TẾ BÀO GỐC.

Nhóm nghiên cứu của GS Graziella Pellegrini, thuộc viện San Raffaele de Milan, đã ghép nơi khoảng 100 bệnh nhân, nạn nhân của một bỏng giác mạc do chất hóa học hay do các tia X, các tế bào gốc (cellules souches), trong hầu hết các trường hợp, đã có thể tái tạo một giác mạc mới. Điều này đã cho phép các nạn nhân tìm lại được thị giác của con mắt bị thương tổn. Sau hơn 10 năm theo dõi, thành công đã là hoàn toàn nơi 82 người bệnh, một phần nơi 14 người khác, với sự biến mất các triệu chứng (rát bỏng, sợ ánh sáng) nhưng với một giác mạc không hoàn toàn trong suốt. Một thất bại đã được nêu lên trong 1 trường hợp. Phương pháp nhằm lấy các tế bào gốc trong mắt lành, trong một vùng được gọi là “ vòng rìa ” (limbe), rồi cấy những tế bào gốc này trước khi ghép chúng trong mắt bị bệnh. Vòng rìa (limbe) chứa một số nhỏ các tế bào gốc có khả năng sinh sản những tế bào giác mạc trong suốt. Những tế bào gốc thiết yếu nhất được gọi là “ holoclones ”. Nếu những tế bào này chiếm ít nhất 3% canh cấy tế bào, thành công được đảm bảo nơi 80% các bệnh nhân. Dưới 3%, tỷ lệ thành công chỉ là 11%. Kết quả sau ghép các tế bào vòng rìa (cellules limbiques) sẽ được đánh giá sau một năm.
(PARIS MATCH 9/9-15/9/2010)

6/ CHẤN THƯƠNG SỌ NẶNG : NHỮNG DI CHỨNG ĐÔI KHI “ KHÔNG CÓ THỂ THẤY ĐƯỢC ”

Trong trường hợp chấn thương sọ nặng (traumatisme crânien grave), các sợi trục (axone : phần kéo dài của các tế bào thần kinh, cần thiết cho sự lưu thông tốt của các thông tin trong não bộ) có thể bị cắt hay bị kéo dài ra. Ngoài ra, các mạch máu có thể bị vỡ, gây nên những xuất huyết, đôi khi có thể là nguồn gốc của sự đè ép làm gia tăng thương tổn não và nguy cơ bị hôn mê. “ Sự phục hồi chức năng sẽ tùy thuộc vào sự sửa chữa của mô não bị tổn hại (sự hóa sẹo của các neurone,…) và các cơ chế về tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale), vài vùng của não bộ đảm trách các chức năng dành cho các vùng hay neurone bị phá hủy bởi chấn thương ”, GS Pérennou đã giải thích như vậy.

Vậy một trong những mục tiêu của phục hồi chức năng là làm dễ tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale). Tuy nhiên toàn thể não bộ không được bị thương tổn, vì các thương tổn phân tán có tiên lượng ít tốt hơn một thương tổn đơn độc. Và người bị chấn thương sọ nặng (traumatisé crânien grave) phải được điều trị một cách tối ưu, đường vòng lý tưởng là đơn vị hồi sức thần kinh (unité neuro-réanimation), rồi đơn vị điều trị phục hồi sau hồi sức (unité de soins de réadaptation postréanimation) và sau cùng, một khoa vật lý trị liệu và phục hồi chuyên khoa (un service de médecine physique et de réadaptation spécialisé)

Cần thời gian để có một ý tưởng chính xác về các di chứng mà người bị chấn thương sẽ giữ. Cường độ của va chạm ban đầu, thời gian hôn mê (ít hơn hay nhiều hơn 14 ngày), bản chất của các thương tổn não bộ và thời gian mất trí nhớ sau chấn thương (amnésie posttraumatique) cho ý nghĩ đầu tiên về các di chứng bị gặp phải, nhưng chưa có gì là chắc chắn. Chỉ một khi trong điều trị phục hồi sau hồi sức (SRPR : soins de réadaptation postréanimation), tùy theo tốc độ phục hồi của bệnh nhân trong nhưng tuần lễ đầu tiên, mà tiên lượng có thể được xác định : “ bệnh nhân càng tiến bộ nhanh thì các cơ may phục hồi càng tốt hơn, mặc dầu theo kinh nghiệm người ta biết rằng những cải thiện còn khả dĩ một hoặc hai năm sau chấn thương ”, GS Pérennou đã xác nhận như vậy.

Sau cùng, các di chứng có thể rất là thay đổi tùy theo tuổi tác của bệnh nhân, tính dẻo của não bộ và những vùng não bộ bị thương tổn. Vài người sẽ có những thương tổn của vận động, những người khác bị mất giác quan hoặc mất cân bằng, những cử động không tự ý, những rối loạn điều hòa và diễn đạt. Những di chứng này thường gặp và thuộc vào cái mà người ta gọi là “ phế tật có thể nhìn thấy ” (handicap visible). Nhiều rối loạn có thể xuất hiện nhiều năm sau chấn thương sọ ban đầu : đó là trường hợp động kinh sau chấn thương (épilepsie posttraumatique). Năm đầu sau tai nạn, nguy cơ này được nhân lên 7 lần. Sau đó nguy cơ giảm, nhưng vẫn tồn tại trong 10 năm.

Những rối loạn khác âm ĩ hơn, bởi vì không nhìn thấy được, nhưng thường gặp hơn. Thuộc vào những trường hợp này là những rối loạn về sự chú ý và trí nhớ, cũng như những thay đổi quan trọng trên bình diện hành vi : tính gây gỗ (agressivité), tính cáu kỉnh (irritabilité), các rối loạn về khí chất. Những rối loạn này càng gây trở ngại nhất là khi người bị chấn thương dường như đã phục hồi tốt, trong khi đó trên thực tế người bệnh không còn hoàn toàn như trước : điều này cản trở sự tái hội nhập xã hội của bệnh nhân nếu bệnh nhân và những người thân không được chuẩn bị. “ Cũng chính vì thế mà sự đi kèm những người bị chấn thương sọ nặng không được dừng lại ở cửa bệnh viện, và về phía này , các hiệp hội không quản ngại các cố gắng ”, GS Payen và Pérennou đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 30/8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 62 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 4/2/2008 )

4/ NHỮNG THƯƠNG TỔN KHÔNG THẤY ĐƯỢC DO SỨC NỔ CỦA BOM ĐẠN LÊN NÃO BỘ

Suốt trong trận chiến vùng Balkan năm 1990, Ibolja Cernak, BS chuyên khoa thần kinh thuộc bệnh viện quân sự Belgrade, đã phải đối diện với một bí ẩn: Bà thấy các quân nhân bị các rối loạn về trí nhớ, bị chóng mặt, bị những vấn đề về diễn đạt, nhưng lại không mang dấu vết của một vết thương nào. Một trong các người lính này, tuổi 19, đã đến một cửa hàng gia vị rồi bật khóc nức nở, vì không biết làm thế nào để tìm đường trở về lại nhà. Khi bà mẹ của anh ta dẫn anh ta đến bệnh viện vài ngày sau đó, Ibolja Cernak đã khám phá một điểm chung cho tất cả các trường hợp thuộc loại này: Cậu thanh niên này, cũng như những người khác đều đã sống sót sau một trận nổ có cường độ mạnh trong lúc giao tranh. Và điều lạ lùng là hầu hết không ai bị thương ở đầu cả.

Tuy vậy, khi bà thực hiện chụp hình ảnh bằng tomographie hoặc bằng IRM, bà đã thấy được những dấu hiệu của các thương tổn.Trong vài trường hợp, các não thất (ventricules) của não bộ trở nên lớn ra hoặc có dấu vết của một xuất huyết nhẹ. Trong các tài liệu y học được tham khảo, Cernak đã không tìm thấy được một bài viết nào về chủ đề này cả. Người ta chỉ nói rõ rằng các làn sóng va chạm (ondes de choc) của một vụ nổ có thể gây tổn hại lên các cơ quan rỗng chứa đầy không khí như phổi và ruột, chứ không phải là não bộ.

Nếu bà là thầy thuốc của Đệ Nhất Thế Chiến, Cernak đã tâm sự như vậy, thì có lẽ bà sẽ nhận biết loại chấn thương này nơi hàng ngàn binh lính bị cái điều mà hồi đó đã gọi là shellshock hay choc d’obus (sốc do đạn súng cối). Các bác sĩ và các sĩ quan lúc đó đã xem hiện tượng này như là một hiện tượng tâm lý tạm thời, theo họ, chỉ có tác động lên các binh sĩ có trạng thái tâm thần vốn yếu ớt hơn. Nhưng thực tế được khám phá bởi nữ bác sĩ chuyên khoa thần kinh này lại khác hẳn : những hiện tượng tâm lý này dường như là do những biến đổi vật lý dài lâu trong não bộ.

Để chứng tỏ điều đó, năm 1999 bà đã tiến hành một công trình nghiên cứu nơi 1.300 binh lính bị thương ở phần thấp của cơ thể, nhưng không phải ở đầu. Một nửa trong số các binh sĩ này đã bị thương vào lúc xảy ra một trận nổ (une explosion), còn những người khác thì bị thương do đạn bắn (un projectile). Trong số những người thuộc nhóm đầu, nhiều người bị mất ngủ, chóng mặt và mất trí nhớ. Cũng trong nhóm này, 36% trong số các nạn nhân đã cho thấy một điện não đồ (électroencéphalogramme) không bình thuờng trong 3 ngày theo sau chấn thương, so với 12% trong nhóm thứ hai. Một năm sau, điện não đồ không bình thường vẫn còn nơi 30% trong số các nạn nhân thuộc nhóm thứ nhất, so với chỉ 4% thuộc nhóm thứ hai.

Cùng với những nhóm nghiên cứu khác ở Belgrade, ở Trung Quốc và Thụy Điển, Cernak đã thực hiện những nghiên cứu trên động vật: các công trình nghiên cứu này xác nhận rằng các làn sóng nổ (onde de déflagration) có thể gây thương tổn lên các tế bào thần kinh. Các công trình này vẫn không được chú ý đến cho mãi đến năm 2006, là lúc hàng trăm binh lính Hoa Kỳ và Anh Quốc đã trở về từ Irak với những triệu chứng tương tự như những triệu chứng của các bệnh nhân của bà Cernak. Các bẫy mìn được đặt trên các đường lộ đã trở nên thường xuyên hơn và các bác sĩ quân y đã nghĩ rằng những triệu chứng này là do một chấn thương nhẹ của não bộ. Cernak, từ nay làm việc ở Johns Hopkins University ở tiểu bang Maryland, đã thấy rằng những quan sát của bà từ nay đã được công nhận .

Theo bà, các làn sóng va chạm (ondes de choc) sau trận nổ được lan truyền xuyên qua các mạch máu của lồng ngực lên não bộ và đã để lại ở đấy những dấu vết thương tổn thần kinh; các thương tổn này cần đến thời gian dài lâu mới xuất hiện.Trong trường hợp này, việc đội mũ sắt sẽ chẳng có ích lợi gì nhiều. Các công trình nghiên cứu trên chuột được cho tiếp xúc với các sóng va chạm, đã gợi cho bà kịch bản này: mặc dầu được bảo vệ bởi các lá thép, các làn sóng va chạm vẫn gây những biến đổi của mô não bên trong. “Bà Cernak đã là một người tiền phong trong lãnh vực này, John Povlishock thuộc Virginia Commonwealth University ở Richmond đã đánh giá như vậy. Chủ đề này có một ý nghĩa rất to lớn về kinh tế, quân sự và xã hội, nhưng mãi đến hôm nay vẫn rất ít được nghiên cứu đến”.

CHIẾC HỘP PANDORE

Từ đó, vấn đề tìm biết các làn sóng nổ ảnh hưởng như thế nào lên não bộ dần dần trở thành ưu tiên trong quân y. Mùa hè năm qua, Quốc Hội Hoa Kỳ đã cấp 150 triệu dollars cho Bộ Quốc Phòng, dành cho năm đầu nghiên cứu về chủ đề này. Một chương trình để tìm hiểu chấn thương gây nên bởi các làn sóng va chạm, nhiệt và bức xạ điện từ phát sinh do các trận nổ, đã được khởi động bởi Defense Advanced Research Projects Agency. Một cơ quan nghiên cứu khác, chuyên môn trong các chấn thương nhẹ của não bộ, DVBIC, đã nhận một tài trợ 14 triệu dollars mỗi năm. Theo cơ quan này, 10 đến 20% các binh sĩ phục vụ ở Irak và ở Afganistan đã bị các chấn thương thuộc loại này, dưới dạng này hoặc dạng khác. Bảng thống kê vừa qua cho thấy rằng gần 25.000 trong số các binh sĩ này đã là nạn nhân của những chấn thương thuộc loại này. Đã có chỉ thị cho tất cả các bệnh viện dành cho các cựu chiến binh là phải tìm kiếm một cách có hệ thống các chấn thương nhẹ của não bộ nơi những người đến bệnh viện khám.

Sự việc do tiếp xúc một trận nổ mà có thể gây nên những tổn hại dài lâu nơi não bộ đã mở chiếc hộp Pandore, đặc biệt là đối với các cựu chiến binh lớn tuổi hơn. Bởi vì điều này hàm ý rằng một vài người có thể bị các thương tổn thần kinh đã không được chẩn đoán hoặc đã bị lẫn lộn với một hợp chứng căng thẳng sau chấn thương (syndrome de stress posttraumatique). Thật vậy, từ khi chính phủ bắt đầu đưa ra các thông tin về loại chấn thương này, các cựu chiến binh tìm kiếm một điều trị cho những vấn đề tâm thần mà vài người đã có từ nhiều thập niên qua. “Có thể các chấn thương gây nên do các trận nổ sẽ tiếp nối “chất độc màu da cam” hoặc “hợp chứng chiến tranh vùng vịnh”, David Trudeau, một bác sĩ chuyên khoa tâm thần phụ trách các cựu chiến binh, đã chỉ rõ như vậy.

Cernak đã nhận được nhiều thư và điện thoại của các cựu chiến binh cám ơn bà về công trình mà bà đã thực hiện. “Các binh lính là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương nhất trên thế giới, và giúp đỡ họ là một nghĩa vụ đạo đức”, bà Cerna đã phát biểu như thế.
(LE FIGARO 28/1/2008)


7/ CHOLESTEROL : LỢI ÍCH ĐƯỢC BÁO TRƯỚC CỦA MỘT STATINE.

Điều thiết yếu :

  • Không nên chờ đợi đã bị một tai biến tim mạch rồi mới hưởng một thuốc làm giảm cholestérol.
  • Rosuvastatine (Crestor) làm giảm 43% nguy cơ trong hai năm.


Dịch bệnh tim mạch (épidémie cardiovasculaire), bởi vì nó vẫn hoàn toàn thầm lặng rất dài lâu, là một thách thức đối với y khoa. “ Trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi hiểu tốt hơn rằng mảng xơ mỡ (plaque d’athérome) bắt đầu được tạo thành ngay lúc ta còn rất trẻ. Nhưng tiến triển này có thể vẫn hoàn toàn không thấy được trong nhiều chục năm. Khi dấu hiệu đầu tiên xuất hiện, đôi khi đã quá muộn màng bởi vì đó là nhồi máu cơ tim hay một cục máu đông gây nên một tai biến mạch máu não ”, GS Ernst Rietzschel, thuộc Đại học Gand (Bỉ), đã giải thích như thế.

Chữ dịch bệnh (épidémie) phải chăng làm cho các bạn choáng ? Nhưng làm sao gọi cách nào khác, một tập hợp các bệnh mà các nguyên nhân đều thông thường và giết chết 54% các phụ nữ châu Âu (và 42% những trường hợp chết sớm, trước tuổi 75) và 43% các người đàn ông, ngay trước cả ung thư, các tai nạn và những nguyên nhân tử vong khác ? Chỉ riêng ở châu Âu, cứ mỗi phút có 8 người chết vì nguyên nhân tim mạch. Đó là một gánh nặng to lớn đối với xã hội. Chính những người thường hoạt động lại ra đi một cách đột ngột. Nhưng cũng có phí tổn to lớn trong việc điều trị bệnh nhân, ở Bỉ hơn 4 tỉ, và gần 200 tỉ trên bình diện châu Âu.

TRÁNH SỰ VỠ CỦA MẢNG XƠ MỠ.

Tuy vậy, sự nghiên cứu và y khoa tìm ra được các giải pháp : như là, từ những năm 70, tỷ lệ tử vong đã sụt giảm một nửa. Nhờ những biện pháp cải thiện chế độ ăn uống, ngừng thuốc lá và những biến đổi lối sống khác, nhưng cũng nhờ tác dụng thuốc lên cholestérol. Thật vậy 3/4 những người đàn ông từ 51 đến 55 tuổi bị, ở những mức độ khác nhau, chứng xơ mỡ động mạch (athérosclérose), tiến triển bên trong của các động mạch do sự tích tụ dần dần lipide, glucide phức hợp, máu và những sản phẩm máu, các mô mỡ, những lắng đọng vôi và những chất khoáng khác. Thiết diện của các động mạch do đó bị thu hẹp lại từ bên trong, nhưng nhất là, một mảng xơ mỡ được tạo thành chứa những chất phế thải này. Mảng xơ mỡ này, mà thành càng ngày càng trở nên mảnh khảnh, có thể vỡ đột ngột. Các chất bên trong mảng đột ngột được phóng thích vào trong tuần hoàn máu, có thể gây nên một cục máu đông, và chính cục máu đông này có thể gây nên một nhồi máu cơ tim, một tai biến mạch máu não hoặc...không gì cả.

Khi những bệnh nhân, đã bị một tai biến mạch máu, được xử trí kịp thời và đã sống sót, ta chống lại sự trầm trọng hóa của mảng xơ mỡ, nhất là nhờ các thuốc của lớp các statines. Nhưng người ta ngày càng mở rộng sự sử dụng của những loại thuốc statine này trước khi xảy ra tai biến mạch máu, để tai biến xảy ra muộn hơn và kể cả không xảy ra bao giờ. Đó là trường hợp với rosuvastatine (Crestor), một loại thuốc vừa chứng tỏ tính hiệu quả của nó lên một profil ít thông thường của các bệnh nhân : những bệnh nhân có một nồng độ LDL (cholestérol xấu) bình thường nhưng lại có một profil nguy cơ tim mạch cao (tuổi, giới tính, tính di truyền, cao huyết áp, bệnh đái đường, chứng nghiện thuốc lá, chứng béo phì) làm cho những bệnh nhân này có một nguy cơ 5% bị tai biến chết người trong 10 năm. Do đó đã thúc đẫy cơ quan dược phẩm châu Âu mở rộng sự sử dụng của rosuvastatine đối với loại bệnh nhân đặc biệt này.
(LE SOIR 7/9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 106 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 19/12/2008 )

9/ CÁC BỆNH TIM MẠCH : HƯỚNG VỀ MỘT SỰ PHÒNG NGỪA RỘNG LỚN HƠN ?

G.S Michel Desmos, trưởng khoa tim, bệnh viện Georges-Pompidou, Paris, giải thích những kết quả thu được với rosuvastatine (Crestor) nơi những người có tố bẩm bị những vấn đề động mạch và tim.

Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những bệnh tim mạch thường xảy ra nhất là những bệnh nào ?
G.S Michel Desnos :: Đó là những bệnh tim mạch liên kết với chứng xơ mỡ động mạch (athérosclérose), bệnh lý trong đó các mảng xơ mỡ (athérome : chất mỡ ứ đọng) làm hẹp lỗ của các động mạch và (với sự tạo thành một cục máu đông) cuối cùng làm nghẽn nó. Các động mạch của tim khi bị bít gây nên một nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde) hay một cơn đau thắt ngực (angine de poitrine), các động mạch ở cổ và đầu khi bị bít, gây nên một tai biến mạch máu não và các động mạch của các chi khi bị bịt gây nên một viêm động mạch (artérite). Các bệnh tim mạch là nguyên nhân đầu tiên hay thứ hai gây tử vong trong những nước phát triển.

Hỏi : Những người nào có bẩm chất bị bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ là gì ?
G.S M.D : Một vài gia đình đặc biệt có bẩm chất : khi đó người ta nói là những yếu tố di truyền. Những yếu tố nguy cơ cổ điển khác là cao huyết áp, tăng cholestérol-máu, bệnh đái đường, chứng nghiện thuốc lá và những yếu tố không thể biến đổi khác như tuổi tác và giới tính. (Trước 50 tuổi, đàn ông dễ bị hơn phụ nữ, khi đó được bảo vệ bởi những oestrogènes). Ngoài những yếu tố thường được xét đến này, để quyết định hay không tính hữu ích của một biện pháp phòng ngừa, còn có những chỉ dấu nguy cơ tim mạch khác và đặc biệt là một nồng độ cao trong máu của protéine C-réactive, CRP, một chỉ dấu sinh học của sự viêm.

Hỏi : Trong trường hợp nào thì một điều trị phòng ngừa được thực hiện ?
G.S M.D : Sự hiện diện của chỉ một trong những yếu tố nguy cơ này không nhất thiết dẫn đến một sự phòng ngừa. Những lời khuyến nghị chính thức hiện nay khuyên tiến hành một liệu pháp phòng ngừa (để hạ nồng độ cholestérol xấu LDL, chịu trách nhiệm sự tạo thành các mảng xơ mỡ) trong những trường hợp rất chính xác, liên kết với sự đánh giá nguy cơ toàn bộ (risque global). Nguy cơ toàn bộ này được tính toán bằng cách cộng lại các yếu tố nguy cơ cổ điển mà tôi vừa nêu trên. Một điều trị kháng cholestérol (traitement anticholestérol) chỉ được chỉ định khi nguy cơ toàn bộ này cao. Những bệnh nhân có nguy cơ thấp không phải nhận một loại thuốc kháng cholestérol nào cả.

Hỏi : Những điều trị thường dùng để ngăn ngừa những bệnh tim mạch là những điều trị nào ?
G.S M.D : Có những dược phẩm đã xưa của họ fibrates, nhưng từ một thập niên nay, người ta sử dụng nhất là một thuốc kháng cholestérol thuộc họ statines, có hoạt tính hơn. Nhờ những điều trị phòng ngừa có hiệu quả này, nồng độ cholestérol xấu (LDL) trong máu hạ xuống trung bình 20 đến 30%. Tần số các bệnh tim mạch nghiêm trọng đã giảm đi rất nhiều.

Hỏi : Tại sao người ta tiến hành một công trình nghiên cứu lên các bệnh nhân mà các tiêu chuẩn của nguy cơ toàn bộ không biện minh cho một điều trị phòng ngừa ?
G.S M.D : Bởi vì, trong những năm qua, người ta đã nhận thấy rằng một nửa các bệnh nhân bị một tai biến tim, có một nồng độ cholestérol xấu (LDL) tương đối thấp. Do đó người ta muốn biết xem những người được xem là có nguy cơ thấp này có thể được hưởng một điều trị bằng statines hay không. Một công trình nghiên cứu quốc tế đã được bắt đầu để trắc nghiệm tính hiệu quả của rosuvastatine (Crestor), nơi những bệnh nhân có một nồng độ LDL thấp nhưng có một protéine C-réactive cao. Vậy mục đích của công trình nghiên cứu là kiểm tra xem người ta có thể bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch nơi một bộ phận dân chúng rộng rãi hơn nhiều.

Hỏi : Người ta đã thu được những kết quả nào ?
G.S M.D : Công trình nghiên cứu quốc tế (trong 26 nước), được thực hiện trên 18.000 đàn ông và phụ nữ với lứa tuổi tuổi trung bình 66. Các bệnh nhân được chia thành hai nhóm : một nhóm đã nhận 20mg rosuvastatine (Crestor) mỗi ngày (bằng đường miệng) và nhóm kia một placebo. Kết quả : điều trị đã tỏ ra có hiệu quả đến độ công trình nghiên cứu, được dự kiến lúc đầu là 4 năm đã được dừng lại sau 21 tháng để tất cả những người tham dự có thể hưởng mà không phải chờ đợi tác dụng phòng ngừa của rosuvastatine. Trong nhóm được điều trị, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não và tử vong do bệnh tim mạch giảm khoảng 47% so với nhóm placebo ! Và người ta đã không thấy những tác dụng phụ trong nhóm được điều trị bằng statines cao hơn nhóm placebo. Kết luận của công trình nghiên cứu: nơi những người được xếp loại là có nguy cơ thấp và có một chỉ dấu sinh học viêm cao (CRP), một điều trị với rosuvastatine ngăn ngừa sự xuất hiện của một bệnh tim mạch.

Hỏi : Sau những kết quả này, từ nay người ta có sẽ điều trị kháng cholestérol phòng ngừa (traitement préventif anticholestérol) nơi những người có nguy cơ thấp nhưng với CRP cao hay không ?
G.S M.D : Mặc dầu những dữ kiện này là quan trọng, nhưng cũng như mọi công trình nghiên cứu, nghiên cứu này cũng có những hạn chế của nó. Thí dụ, công trình này chỉ kéo dài 21 tháng, điều này tương ứng với một thời gian khá ngắn ngủi. Trước khi thay đổi những khuyến nghị chính thức, sẽ phải chờ đợi những kết quả của những nghiên cứu khác được tiến hành lâu hơn trong nhiều loại dân chúng và so sánh giữa chúng, những hiệu quả của những statines khác nhau.
(PARIS MATCH 4/12-10/12/2008)



8/ VITAMINE B CÓ THỂ LÀM GIẢM SỰ TEO NÃO.

Những liều lượng cao vitamine B có thể làm giảm 30 đến 50% sự teo não (atrophie cérébrale) nơi những người bị sa sút nhận thức (déclin cognitif) mức độ trung bình, như thế làm chậm lại tiến triển về phía bệnh Alzheimer, theo một công trình nghiên cứu của Anh, được công bố trên internet PLOS one.

Teo não xảy ra một cách tự nhiên khi tuổi tác gia tăng, nhưng quá trình teo này được đẫy nhanh trong trường hợp sa sút nhận thức mức độ trung bình, một tình trạng được đánh dấu bởi sự mất trí nhớ nghiêm trọng ảnh hưởng lên cuộc sống hàng ngày và có thể là một dấu hiệu báo trước của bệnh Alzheimer nơi những người già.

Một nhóm nghiên cứu của đại học Oxford đã khảo sát tác dụng của một nhóm vitamine B lên trên 168 người trên 70 tuổi, được chẩn đoán là bị sa sút nhận thức mức độ trung bình. Trong hai năm, một nửa trong số những bệnh nhân này đã nhận những liều lượng cao acide folique, B6 và B12. Nửa kia đã nhận một placebo. Trung bình, nhịp độ tiến triển cua teo não được chậm lại 30% trong nhóm dùng các vitamine B, và đối với vài bệnh nhân tỷ lệ này lên đến 53%. Vài vitamine B (acide folique, B6 và B12) kiểm soát nồng độ homocystéine (acide aminé) trong máu. Những nồng độ cao homocystéine được liên kết với một sự teo não gia tăng và bệnh Alzheimer.

Trong trạng thái tự nhiên, vitamine B hiện diện trong nhiều thức ăn (thịt, trứng, cá, rau xanh). Trên thế giới, 37 triệu người bị chứng sa sút trí tuệ (démence), phần lớn các trường hợp là do Alzheimer, theo OMS.
(LE SOIR 10/9/2010)

9/ ĐIỀU TRỊ RĂNG : NHỮNG TIẾN BỘ CỦA LASER.

BS Patrick Hescot, Tổng thư ký của Hiệp hội nha sĩ Pháp, chuyên viên của OMS, giải thích những lợi ích của kỹ thuật mới nhất của “con dao mổ sáng ” (bistouri lumineux).

Hỏi : Chức năng của laser trong điều trị răng là gì ?
BS Patrick Hescot : Có nhiều loại laser (những tia tập trung một lượng lớn năng lượng) với những độ dài sóng khác nhau. Chúng có thể được sử dụng từ phát hiện sâu răng sớm cho đến điều trị những sâu răng này, cũng như trong ngoại khoa các bệnh lợi răng. Một loại đầu tiên có thể được sử dụng để thay thế turbine (cái khoan răng cổ điển) đối với các mô cứng : men răng, ngà răng, xương. Một loại khác, được gọi là “ laser diode ”, có làn sóng ngắn, được dùng đối với các mô mềm : các lợi răng, niêm mạc. Hai loại laser này cực kỳ chính xác : 0,2 nanomètre.

Hỏi : Những chỉ định thông thường nhất để dùng một laser ?
BS Patrick Hescot : Laser cho phép điều trị rất tinh tế các sâu răng bằng cách sử dụng một spray khí và nước để tránh sự làm nóng : mảnh nhỏ nhất của chất răng bị lây nhiễm đều được loại bỏ bằng tán vụn và thủy tinh hóa (vitrification) ngà răng (dentine). Độ chính xác của dụng cụ mới này, rất cao hơn độ chính xác của turbine, cũng cho những kết quả rất tốt trong điều trị các cổ răng bị hở (collet dénudé) (giữa lợi răng và răng), trở nên đặc biệt nhạy cảm với lạnh và nóng. Loại tia laser này cũng có thể được sử dụng để thực hiện vài kỹ thuật dán (technique de collage) cũng như cho mọi can thiệp của microdentisterie.

Hỏi : Trong những trường hợp nào ta dùng laser diode ?
BS Patrick Hescot : Với tia laser sóng ngắn, ta xẻ như một dao mổ ,ví dụ để điều trị ngoại khoa vài bệnh viêm cận răng (parodontite), điều trị chứng lở mồm (aphthe) hay những thương tổn miệng khác…Sự kiện không có sự hiện diện của máu, đặc biệt đối với các can thiệp bằng laser (do cầm máu tức thời) cho phép các thầy thuốc nha khoa hành động với độ nhìn tốt hơn.

Hỏi : Những lợi ích khác của những laser này ?
BS Patrick Hescot :
  • Sự hủy bỏ các chấn động và tiếng ồn (của turbine) mang lại một sự thoải mái tốt hơn cho các bệnh nhân.
  • Sự vắng mặt các xuất huyết làm giảm rất nhiều các phản ứng viêm.
  • Mức độ chính xác cực kỳ của tia laser mang lại một sự an toàn lớn hơn, đồng thời bảo vệ các mô lành chung quanh.
  • Vào cuối mỗi buổi điều trị, gương mặt của bệnh nhân thường ít bị tê cóng, bởi vì, trong nhiều trường hợp, sự gây mê không còn cần thiết nữa.
  • Sự lành sẹo diễn biến nhanh hơn. 6. Laser cho phép khử trùng các kênh chân răng (canal radiculaire) lúc diệt tủy (dévitalisation) và cũng có thể được sử dụng để khử trùng các bọc cận răng (poches parodontales).

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ những hiệu năng của các tia laser này ?
BS Patrick Hescot : Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện ở Nhật Bản, Châu Âu (Pháp, Thụy Sĩ) và ở Hoa Kỳ trên hàng trăm bệnh nhân. Các kết quả, tất cả đã chứng minh cùng những ưu điểm, đã được công bố trong những tạp chí khoa học, trong đó có “ Le Journal clinique de parodontologie ”, “ British Dental Journal ”… Những kết luận này sẽ được trình bày vào hội nghị châu Âu sắp đến của ADF vào tháng 11 ở Paris.

Hỏi : Việc sử dụng các tia laser này có mang lại những nguy cơ không ?
BS Patrick Hescot : Mối nguy hiểm duy nhất là thương tổn mắt. Vậy người nha sĩ và bệnh nhân phải mang những thiết bị bảo vệ nhãn cầu trong lúc điều trị bằng laser. Các loại gương đặc biệt đã được chế tạo, đảm bảo một mức độ an toàn tuyệt đối.

Hỏi : Các tia laser này đã được sử dụng trong các phòng nha sĩ ?
BS Patrick Hescot : Hiện nay, ở Pháp, 2-3% trong số 40.000 nha sĩ sử dụng một cách đều đặn phương pháp mới này (đặc biệt là phương pháp laser diode). Ở Châu Âu, phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở Ý và Đức. Nhưng vì phí tổn của máy sẽ càng ngày càng giảm, nên việc sử dụng laser sẽ được mở rộng dần dần. Chắc chắn rằng đó là một kỹ thuật tương lai.
(PARIS MATCH 2/9-8/9/2010)

10/ LIỆU PHÁP MỚI CHỐNG CÁC BỆNH UNG THƯ MÁU.

Đó là một hy vọng đối với những bệnh nhân bị các ung thư máu như bệnh bạch cầu (leucémie) hay lymphone và đối với những bệnh này các điều trị cổ điển tỏ ra không hiệu quả. Một liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire), được làm hiệu năng hơn bởi một phương thức mới, vừa được trình bày bởi một nhóm nghiên cứu Pháp trong một bài báo của Science Translational Medicine.

Liệu pháp thông thường dựa trên một ghép tủy xương (greffe de moelle osseuse), được lấy nơi một người cho (donneur) lành mạnh, với tiêm bổ sung các tế bào lympho phát xuất từ người cho để tăng cường tác dụng của mẫu ghép. Các nhà nghiên cứu Pháp đã có ý nghĩ làm tối ưu việc tiêm này bằng cách loại bỏ vài trong số những tế bào lympho, được gọi là T điều hòa (T régulateur), mà ta biết rằng chúng kềm hãm hoạt tính chống ung thư của những tế bào lympho “ tốt ” khác. Hủy diệt chúng góp phần làm cho các tế bào “ giết ” những tế bào ung thư trở nên hung dữ hơn.

Được trắc nghiệm trên 17 bệnh nhân, kỹ thuật đã cho phép 1/3 trong số các bệnh nhân cuối cùng đáp ứng với các điều trị, trong khi trước đây những bệnh nhân này ở trong một tình huống ngõ cụt điều trị. Theo nhóm nghiên cứu Pháp, phương pháp này có thể được khảo sát trong những loại ung thư khác.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/9/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969