Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 9
Lượt truy cập: 1028436
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ BỆNH CROHN : KHI RUỘT BỊ VIÊM TẤY

NHỮNG ĐIỂM MỐC

PHẢN ỨNG VIÊM. Trong số những bệnh viêm mãn tính của hệ tiêu hóa, bệnh Crohn vẫn là bệnh bí ẩn nhất. Và mặc dầu chúng ta có một kho các loại thuốc và các biện pháp dinh dưỡng để chế ngự các cơn viêm, nhưng ta vẫn không thể chữa lành hoàn toàn căn bệnh này.

DỊCH TỄ HỌC. Căn bệnh này đã được mô tả lần đầu tiên vào năm 1932 bởi một thầy thuốc ngoại khoa Hoa Kỳ, BS Burrill B.Crohn. Vậy bệnh này dường như chỉ mới xuất hiện gần đây. Trước hết được tìm thấy ở Hoa Kỳ và Scandinavie, bây giờ bệnh đã lan tràn lên tất cả các lục địa. Tỷ lệ mắc bệnh dường như gia tăng từ những năm 1950. Ở Pháp, cứ 1.000 người thì có một bị mắc bệnh này. Những người ở lứa tuổi 20-35 bị liên hệ nhất, nhưng bệnh có thể xuất hiện sớm hơn hay chậm hơn.

TIẾN TRIỂN. Bệnh tiến triển thành từng cơn trầm trọng ít hay nhiều, được cách quãng bởi những thời kỳ thuyên giảm. Bệnh gây đau bụng và ỉa chảy. Nó có thể gây nên suy dinh dưỡng và chậm tăng trưởng nơi các trẻ em và thiếu niên.

NGUỒN GỐC. Mặc dầu một thành phần di truyền được nghi ngờ là nguồn gốc của bệnh, nhưng dường như nó không phải là nguyên nhân chính yếu. Hướng của một bệnh tự miễn dịch (maladie autoimmune) ngày nay được đặt ưu tiên, nhưng những yếu tố môi trường liên kết với những lối sống hiện đai có lẽ cũng có liên quan.

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG. Không có một chế độ ăn uống đặc biệt nào đã cho thấy tính hiệu quả nhằm kéo dài những thời kỳ thuyên giảm. Nhưng cần thích ứng chế đó ăn uống (đặc biệt tránh những sản phẩm sữa) vào lúc xảy ra các cơn và đừng dùng bất cứ loại thuốc nào.


Viêm mãn tính của ống tiêu hóa, căn bệnh này đang thắng thế, nhưng chủ yếu vẫn còn không được hiểu rõ.

GASTRO-ENTEROLOGIE. Xuất hiện các nay vài thập niên, bệnh Crohn bao vây hết nước này đến kia, nhưng người ta vẫn luôn luôn nói ít về bệnh này. Tuy vậy, bệnh Crohn gây bệnh, chỉ riêng ở nước Pháp, cho gần 100.000 người. Căn bệnh viêm mãn tính này có thể ảnh hưởng bất cứ bộ phận nào của ống tiêu hóa, từ miệng đến hậu môn. Cùng với bệnh viêm đại-trực tràng xuất huyết (rectocolite hémorragique), hơi ít thường xảy ra hơn và giới hạn ở đoạn ruột cuối, bệnh Crohn tạo thành cái mà người ta gọi là những Mici (les maladies inflammatoires chroniques de l’intestin). Một ngày thông tin toàn quốc dành cho các căn bệnh này vào ngày 9 tháng 10 sắp đến, nhờ Association François Aupetit, quy tụ các bệnh nhân và gia đình.

Được mô tả lần đầu tiên vào năm 1932 bởi người Mỹ Burrill Crohn, đó là một căn bệnh gây ngạc nhiên, xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, đến từ đâu không ai biết, ít lâu sau viêm đại-trực tràng xuất huyết, bệnh này khi đó cũng chưa ai biết đến. Trước hết được nhận diện ở Scandinave và ở Hoa Kỳ, sau Đệ nhị thế chiến bệnh Crohn lan tràn trong toàn Tây Âu, và ngày nay ảnh hưởng lên Đông Âu, châu Phi, Nam Mỹ và châu Á. Bệnh Crohn chủ yếu gây bệnh các người trưởng thành trẻ tuổi, giữa 20 và 35 tuổi, nhưng có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào. Và trong 10 đến 15% các trường hợp phát ra nơi trẻ em hay thiếu niên, sự phát triển sớm này là một yếu tố nghiêm trọng.

“ Căn bệnh viêm này gây nên những vết loét (ulcérations) của niêm mạc tiêu hóa, có thể được giới hạn ở hồi tràng (iléon), phần cuối của ruột non thường bị ảnh hưởng, hay ảnh hưởng lên toàn bộ ruột, GS Jean-Frédéric Colombel, thầy thuốc chuyên khoa dạ dày-ruột, CHU de Lille, đã giải thích như vậy. Là căn bệnh mãn tính, bệnh Crohn tiến triển bởi các cơn, được cách quảng bởi những giai đoạn thuyên giảm. Mỗi cơn làm gia tăng những tổn hại gây nên ở ruột, làm mất tính mềm mại, các khả năng chức năng của nó, đến độ đôi khi cần phải can thiệp ngoại khoa. Nhưng sự trầm trọng này không phải là không thể tránh được và 40% các trường hợp vẫn khá hiền tính. Tuy nhiên chúng tôi thích điều trị một cách tích cực hơn ngay khi được chẩn đoán để tránh sự xuất hiện những tổn hại không hồi phục được. ”

Những triệu chứng của bệnh khá đa dạng : “ Chúng có thể được biểu hiện bởi đau bụng, tiêu chảy, một sự biến đổi tình trạng tổng quát, mệt nhọc, mất cân…đôi khi kèm theo những triệu chứng viêm của da, của mắt hay các khớp. Các triệu chứng viêm khớp có thể đứng cả hàng đầu. Trong 10 đến 20% các truong hợp, sự xuất hiện áp xe hay rò trong vùng quanh hậu môn mở đầu căn bệnh. Nơi trẻ em, một sự chậm tăng trưởng là một dấu hiệu rất gợi ý.” Chẩn đoán được xác nhận bởi nội soi-sinh thiết (endoscopie-biopsie), các thương tổn được xác nhận bởi scanner hay IRM.

Khi một người bị thương tổn, nguy cơ được nhân lên 10 đến 40 lần đối với anh chị em. “ Người ta tìm thấy 8 đến 10% những thể gia đình. Do đó căn bệnh có tính chất di truyền khá mạnh, nhưng sự tăng nguy cơ (sur-risque) vẫn khiêm tốn bởi vì tỷ lệ mắc bệnh chỉ là 1 trên 1000 ”, GS Jean-Pierre Hugot, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa nhi đồng của CHU Robert-Debré (Paris) và giám đốc nghiên cứu Inserm (U843) đã giải thích như vậy. Chúng ta chịu ơn ông về sự khám phá, vào năm 2001, gène mẫn cảm (gène de susceptibilité) đầu tiên, và chính yếu, đối với bệnh Crohn, NOD2. “ Từ đó, hàng chục gène khác đã được khám phá. Mỗi gène có một tác dụng rất yếu, nhân nguy cơ lên 1,1 đến 1,3 lần. Gène mạnh nhất là NOD2, chỉ nhân nguy cơ này lên 2 đến 4 lần. Vậy việc nhận diện chúng không có lợi ích trên thực hành ”. Nhiều lắm, di truyền học chỉ chịu trách nhiệm 10 đến 20% trong căn bệnh này, ở đây sự tương tác của các gène và môi trường dường như quyết định. Dĩ nhiên người ta nghĩ đến chế độ ăn uống như là tiến triển quan trọng của những thập niên qua, nhưng không có một mối liên hệ nào đã được xác lập. Yếu tố làm dễ duy nhất và chắc chắn của bệnh Crohn vẫn là thuốc lá.

Là loạn năng của hệ miễn dịch ruột, bệnh Crohn thể hiện một sự phóng thích cao một cách bất thường của những phần tử viêm, như TNF, làm biến đổi hàng rào niêm mạc. Đó không phải là một bệnh tự miễn dịch, mà là một sự mất điều hòa (dysrégulation) của đáp ứng miễn dịch. Đáp ứng lại cái gì ? Các giả thuyết gợi ý một sự mất cân bằng có liên quan đến khuẩn chí ruột (flore intestinale).

Điều trị nhằm làm giảm phản ứng viêm gia tăng này. “ Trong điều trị tấn công, các corticoides cho những kết quả tốt, nhưng không được cho hơn một tháng, cũng như không được dùng trong điều trị duy trì, GS Laurent Peyrin-Biroulet, thầy thuốc chuyên dạ dày-ruột thuộc CHU de Nancy đã nhấn mạnh như vậy. Một chất làm suy giảm miễn dịch như azathioprime hay méthotrexate tiếp sức, và trong những trường hợp nặng, một điều trị sinh học (traitement biologique) bởi kháng thể anti-TNF, infliximab, mà một nghiên cứu mới đây của Pháp đã cho thấy lợi ích để làm kéo dài những đợt thuyên giảm. ” Những mục tiêu sinh học khác được thăm dò trong những năm qua vẫn chưa giữ lời ước hẹn, nhưng cuộc truy đuổi vẫn còn rộng mở.
(LE FIGARO 20/9/2010)

Đọc Thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH CROHN (CROHN'S DISEASE) - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

2/ BỆNH CROHN : NHỮNG GIẢ THUYẾT CHUNG QUANH MỘT CĂN BỆNH.

Bệnh Crohn là đối tượng của những công trình nghiên cứu tích cực để cố gắng làm sáng tỏ những bí ẩn của nó. Từ nay ta chắc chắn rằng sự miễn dịch bẩm sinh (immunité innée), cho phép cơ thể nhận biết sự hiện diện của các vi khuẩn trong môi trường và làm khởi phát phản ứng viêm phòng vệ, có liên quan trong bệnh này. Trong bệnh Crohn, phản ứng viêm gia tăng là do những rối loạn của tính miễn dịch bẩm sinh, mà sự cân bằng tinh tế giữa sự phòng ngự và sự dung nạp đối với những vi khuẩn ruột ở bề mặt của niêm mạc tùy thuộc vào nó.

Trong số các gène mẫn cảm với bệnh, NOD2 can thiệp trong sự miễn dịch bẩm sinh. “ Gène NOD2 biến dị hơi bị thiếu hụt, do đó sự sản xuất défensine bị sụt giảm. Défensine là một chất kháng khuẩn, được tiết ra bởi vài tế bào ruột. Nhưng đó chỉ là một giả thuyết ”, GS Jean-Pierre Hugot đã giải thích như vậy.

Gène nhạy cảm khác, gène của thụ thể của interleukine IL23. Kỳ lạ là chính dạng bình thường, hiện diện trong 97% dân số, được liên kết với căn bệnh, lại phải tùy thuộc vào hoạt động tốt của thụ thể này ”, ông xác nhận như vậy. Cũng như những gène khác được nhận diện trong bệnh Crohn, gène này can thiệp trên một đường hoạt hóa các tế bào lympho được gọi là Th17, chung cho những bệnh viêm khác nhau như bệnh vẩy nến (psoriasis) hay bệnh viêm đa khớp dạng thấp, điều này làm tăng sự nghi ngờ về mối liên hệ bà con giữa những bệnh này.

NHỮNG TÁC DỤNG TAI ÁC CỦA CÁC KHÁNG SINH ?.

“ Bệnh Crohn được liên kết với một phản ứng bất thường của hệ miễn dịch ruột đối với vài thành phần của khuẩn chí ruột. Chúng tôi đã khám phá những vi khuẩn chưa từng được biết đến, có tiềm năng gây viêm rất mạnh trong ruột của những người bệnh, trong khi những vi khuẩn thông thường khác lại bị giảm, Jean Frédéric Colombel đã xác nhận như vậy. Do đó ngày nay ta gọi là“ dysbiose ”, một sự bất quân bình của microbiote, khuẩn chí ruột (flore intestinale) với sự gia tăng vài vi khuẩn hướng viêm (bactéries pro-inflammatoires) và giảm những vi khuẩn khác, có tính chất bảo vệ (bactéries protectrices). ”

Vấn đề còn lại là phải xác định xem sự biến đổi của microbiote này là nguyên nhân hay thứ phát căn bệnh. “ Phải theo dõi trong nhiều năm nhiều cá thể có nguy cơ, những người bà con thuộc thế hệ thứ nhất với những người bệnh và xem xét song hành khuẩn chí ruột của họ và sự xuất hiện của căn bệnh nơi vài người. Chúng tôi sẽ phát động công trình nghiên cứu này ở Pháp, với hy vọng rằng những nước khác sẽ theo gót chúng tôi.”
(LE FIGARO 20/9/2010)

Đọc Thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH CROHN (CROHN'S DISEASE) - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

3/ VITAMINE D CŨNG HIỆU QUẢ DỄ LÀM GIẢM NGUY CƠ BỊ UNG THƯ VÚ.

Theo những công trình của một nhóm nghiên cứu Pháp, những nồng độ cao của vitamine D trong máu được liên kết với một sự giảm nguy cơ bị ung thư vú, trong khi những nồng độ calcium trong máu dường như không có liên hệ.

Vitamine D (25-hydroxyvitamine D,25 OH)D) vẫn luôn luôn rất được ưa chuộng trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu. Theo vài dữ kiện dịch tễ học, những nồng độ cao của vitamine D trong huyết thanh được liên kết với một sự giảm nguy cơ ung thư vú, nhưng ít công trình nghiên cứu trước đây đã phân tích mối liên hệ này theo tình trạng mãn kinh hay những yếu tố được biết ảnh hưởng lên nồng độ vitamine D, như chế độ ăn uống và những nồng độ calcium, parathormone và oestradiol trong huyết thanh.

“ Văn liệu y học phân biệt hai loại công trình nghiên cứu, Françoise Clavel-Chapelon (Inserm-Université Paris-Sud), tác giả chính của công trình đã xác nhận như vậy : những công trình nghiên cứu chỉ nói về mối liên hệ giữa nguy cơ ung thư vú và các cung cấp vitamine D và calcium gốc thực vật hay dưới dạng chất bổ sung (complément), và những công trình nghiên cứu khảo sát mối liên hệ này nhờ những nồng độ trong huyết tương của viatamine D và calcium.

Ở đây, nhóm nghiên cứu Pháp đã khảo sát những dữ kiện của một công trình nghiên cứu được tiến hành trên một tập thể gồm 98.995 phụ nữ, tuổi từ 40 đến 65 vào lúc đưa vào công trình nghiên cứu năm 1990. Những người tình nguyện này, sinh giữa năm 1925 và 1950, đã cung cấp những thông tin về lối sống của họ (chế độ ăn uống, điều trị hormone…) hay tiến triển về tình trạng sức khỏe của họ bằng cách điền những bằng câu hỏi mỗi 2 năm từ năm 1990. Các nhà nghiên cứu cũng có những dữ kiện sinh học, thu được trên 25.000 người tình nguyện, từ một mẫu nghiệm máu được tích trữ để định nồng độ sau này.

Kết quả cho thấy rất ít phụ nữ có một nồng độ vitamine thích đáng trong máu, thật vậy, 75% không đạt trị số đích (valeur cible) 30ng/ml.

Mặt khác, các kết quả cho thấy một sự giảm đáng kể 25% nguy cơ bị ung thư vú nơi những phụ nữ có những nồng độ vitamine D cao nhất trong huyết thanh (hoặc <27 ng/ml), so với những nồng độ thấp nhất (< 19,8 ng/ml). Họ cũng quan sát thấy nguy cơ cũng giảm nơi các phụ nữ tiền mãn kinh.

Ngược lại, không có một mối liên kết nào đã được chứng tỏ giữa nồng độ calcium trong huyết tương và nguy cơ ung thư vú.

“ Các tư liệu về chủ đề này rất tản mạn, các tác giả đã bình luận như vậy. Những thử nghiệm lâm sàng với những liều lượng vitamine D khác nhau là cần thiết để xác nhận lợi ích của vitamine D trên ung thư vú. Nhưng, trong lúc chờ đợi, y tế cộng đồng phải khuyến khích sự duy trì những nồng độ thích đáng của vitamine D, nhất là nơi những người có nồng độ thấp ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 21/9/2010)

Đọc Thêm : Thông Tin Y Học Về Vitamin D - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

4/ INSULINE : TIÊM 3 LẦN MỖI TUẦN.

Trong khi một bộ phận quan trọng trong số 17.000 chuyên gia hội họp từ hôm thứ ba tại Hội nghị châu Âu nghiên cứu bệnh đái đường, cật lực tìm cách để có thể, một ngày nào đó, chận đứng được bệnh đái đường, thì những chuyên gia khác phát triển những công cụ để cho phép những người bị bệnh đái đường hiện nay có được tuổi thọ kéo dài và chất lượng sống được cải thiện. Một cách sơ đồ, bệnh đái đường là một sự giảm khả năng của cơ thể xử lý đường của thức ăn, hoặc bẩm sinh (loại 1), hoặc mắc phải (loại 2, thường xảy ra nhất). Khi các loại thuốc mà ta dùng dưới dạng viên không đủ để giúp cơ thể điều hòa đường huyết, các bệnh nhân phải tự tiêm cho mình insuline mà tụy tạng không còn sản xuất đủ nữa. Và chính ở đó mà mọi sự trở nên phức tạp cho cuộc sống hàng ngày : quá nhiều insuline, hạ đường huyết (hypoglycémie), khó ở, thậm chí bất tỉnh. Quá ít, đó là tăng đường huyết (hyperglycémie), thế mà đường quá dư thừa lại hết sức có hại, nhất là đối với hệ thống tim mạch.

Cách nay nhiều chục năm, các insulinre tổng hợp, không phải trích ra từ các tụy tạng động vật, đã được phát triển. Nhưng vẫn còn có thể tiến triển. Dường như đó là trường hợp với degludec, một insuline mới mà cấu tạo phân tử mang lại cho nó thời gian tác dụng dài nhất chưa bao giờ thấy. Lợi ích ? Thay vì chích một lần mỗi ngày, bệnh nhân đái đường có thể chích mỗi 2 ngày, thậm chí chỉ 3 lần mỗi tuần. Để kiểm chứng điều đó, những thử nghiệm đã được tiến hành trên toàn thế giới, nhưng đặc biệt là ở Bỉ, bởi GS Chantal Mathieu, giám đốc phòng thí nghiệm y khoa và nội tiết học thực nghiệm thuộc KULeuven. “ Thành thật mà nói, điều này làm cho tôi phải suy nghĩ. Đối với một bệnh nhân đái đường, đâu là lợi ích tiết kiệm 4 mũi tiêm mỗi tuần, bằng cách chuyển từ 7 mũi còn 3 mũi ? Đó là những bệnh nhân đã quen với những bó buộc nặng nề, như theo dõi nghiêm chỉnh chế độ ăn uống hay hoạt động vật lý. Nhưng chích một lần mỗi ngày, hoặc hơn nữa, đó là rất nặng nề về mặt xã hội. Họ đã thuyết phục tôi như vậy. ”

KHÔNG LÀM GIẢM ĐƯỜNG HUYẾT.

Công cuộc nghiên cứu, rất phức tạp, có thể được tóm lược như thế này : có bất tiện hay không khi chuyển từ glargine hiện nay (insuline hiện nay trên thị trường với thời gian tác dụng dài nhất) qua degludec ? “ Chúng tôi đã trắc nghiệm những vấn đề thiết yếu : sự giảm của hémoglobine glyquée, chỉ dấu chính của điều trị của đường, sự giảm này có mạnh như vậy hay không ? Sự giảm này, được quan sát trên 9 điểm quan sát trong ngày (sau bữa ăn, trước khi đi ngủ), nó cũng hiệu quả trong thời gian ? Mỗi lần như thế, insuline mới, mà thời gian bán phân hủy trên 24 giờ và thiết lập nhanh chóng một loại bình nguyên insuline (plateau d’insuline), cũng tác dụng tốt như glargine. Mối lo sợ lớn nhất là sự xuất hiện những đợt giảm đường huyết, vì lẽ bệnh nhân, thay vì tiêm insuline mỗi ngày, lại chích cho mình vào chiều thứ sáu và rồi đợi chiều thứ hai để nhận một mũi tiêm mới. Tin vui, đó là không có nhiều hạ đường huyết hơn, điều này chứng tỏ rằng thuốc insuline mới này hoạt động và có thể có, sau những công trình nghiên cứu mới, một sự sử dụng rộng rãi nơi những bệnh nhân đái đường điều trị với insuline, đồng thời mang lại sự thoải mái cho họ mà vẫn được an toàn.
(LE SOIR 22/9/2010)

Đọc Thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Đái Đường (Diabetes) - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

5/ TA CÀNG UỐNG, THỂ TÍCH NÃO CÀNG NHỎ.

Ethanol, cái phân tử nhỏ tan trong nước và một phần trộn lẫn trong mỡ này, len lỏi vào trong tất cả các tế bào. Sau khi được hấp thụ, trong vài phút, éthanol được phân bố đến tất cả các cơ quan, trong đó có não bộ, gây nên những tác dụng khác nhau tùy theo lượng được uống vào. Như thế, nếu nhịp tim và huyết áp gia tăng sau ly đầu tiên, thì chúng lại sụt giảm với những liều lượng mạnh hơn. Cũng vậy, nếu người uống lúc đầu cảm thấy một sự sảng khoái (désihibition), thì sau đó anh ta cảm thấy những rối loạn vận động và nhận thức. Tác dụng an thần được khuếch đại, có thể dẫn đến hôn mê rượu (coma éthylique), thậm chí tử vong. Ngày nay, người ta biết rằng rượu có một tác dụng kép lên các neurone. Các tế bào thần kinh này được điều hòa bởi các chất dẫn truyền thần kinh kích thích (excitateur) (glutamate) hay ức chế (inhibiteur) (GABA). Rượu ức chế nhiều hơn các thụ thể GABA và làm giảm hoạt tính của các thụ thế đối với glutamate. Kết quả : một sự ức chế não bộ và hành vi. Chụp hình ảnh xác nhận tác dụng có hại này. Một công trình nghiên cứu của Phòng thí nghiệm chụp hình ảnh thần kinh (Laboratoire de neuro-imagerie) của Bethesda (Mariland, Hoa Kỳ), được thực hiện trên 20 người tình nguyện vào năm 2006, chứng minh rằng sự hấp thụ những liều lượng vừa phải rượu làm giảm chuyển hóa glucose trong não bộ, đặc biệt là trong vùng vỏ não truớc trán (cortex préfrontal) (nơi của những chức năng nhận thức cao cấp). Đáng lo ngại hơn, Wellesley College (Massachusetts, Hoa Kỳ), vào năm 2008, phát hiện, trên 1839 người, một mối liên hệ thẳng giữa việc tiêu thụ rượu và thể tích toàn bộ của não : người ta càng uống nhiều rượu thì thể tích não càng giảm sút. Vào năm 2007, những nhà nghiên cứu của CEA và của Inserm đã chứng thực, trên 31 người phụ thuộc rượu (alcoolodépendant) một sự giảm chất xám trong nhiều vùng não bộ và cho đến 20% ít hơn trong những vùng trán, cũng như một thương tổn của chất trắng (các sợi thần kinh). Tuổi lúc tiếp xúc lần đầu với rượu có tính chất quyết định. “ Chúng tôi đã cho thấy rằng một con chuột uống rượu trong thời kỳ niên thiếu có một khuynh hướng gia tăng bị nhiễm độc ở tuổi trưởng thành ”, Mickael Maassila, giám đốc nghiên cứu của Inserm (Amiens) đã giải thích như vậy.

Một tai họa : “ Não bộ ở thời kỳ niên thiếu đang trong quá trình thành thục, với sự tỉa cành phân nhánh các nối kết thần kinh và sự xuất hiện những neurone mới. Rượu cản lại hai cơ chế này và khiến các neurone bị chết 2,5 lần nhiều hơn nơi người trưởng thành ”, ông nói thêm như vậy. Vào năm 2000, American Journal of Psychiatry tiết lộ rằng, hồi hải mã (hippocampe) (vùng não bộ có can dự trong trí nhớ và học tập) càng bị thu giảm thể tích khi sự uống rượu xảy ra càng sớm. Vào năm này, Viện Scripps (Californie) xác nhận : nơi các động vật linh trưởng nhỏ tuổi uống rượu, số những tế bào hải mã và sự tăng sinh của chúng sụt giảm một nửa so với những động vật không uống. Các công trình nghiên cứu nơi chuột cho thấy rằng vỏ não vùng trán (cortex frontal) cũng rất bị ảnh hưởng. Nhóm nghiên cứu của Mickael Naassila vừa phát động một công trình nghiên cứu, cộng tác với Anh, để kiểm tra tác dụng này. Các sinh viên năm thứ nhất sẽ chịu những trắc nghiệm thần kinh-tâm lý và chụp hình ảnh não bộ hôm nay và trong 3 năm nữa, để quan sát xem nhưng đồ đệ của binge drinking (được định nghĩa ít nhất 5 ly rượu uống nhanh) có bị mất các năng lực của họ hay không.
(SCIENCE ET AVENIR 9/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Rượu - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

6/ NHỮNG ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA CHỐNG CHỨNG NGHIỆN RƯỢU.

Tính hiệu quả của các thứ thuốc nhằm làm dễ sự cai rượu thay đổi tùy theo profil di truyền và lâm sàng của bệnh nhân.

ADDICTION. Những loại thuốc mới, nhưng chủ yếu những điều trị nhắm đích hơn, tùy theo profil di truyền hay lâm sàng của các bệnh nhân. Cũng như những lãnh vực khác của y khoa, và nhất là ung thư, sự nghiên cứu điều trị trong alcoologie đã di vào một kỷ nguyên mới, theo các chuyên gia hội họp từ 13 đến 16 tháng 9 ở Paris, ở hội nghị quốc tế của Isbra (International Society for Biomedical Research on Alcoholism)

Sư phụ thuộc rượu (dépendance à l’alcool) là chứng nghiện (addiction) phổ biến nhất trên thế giới, và là chứng nghiện gây tàn phá nhất về mặt sức khỏe vật lý và tâm thần. Ở Pháp, sự tiêu phụ rượu đang giảm xuống, nhưng vẫn quan trọng. Số những người uống quá mức được đánh giá là 5 triệu, số những người phụ thuộc rượu (alcoolodépendants) là 2 triệu.

“ Chúng tôi biết xác định càng ngày càng rõ hơn các loại lâm sàng của phụ thuộc rượu, và liên kết chúng với những đặc điểm di truyền, để thích ứng các điều trị ”, GS Michel Raynaud, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần (Paris) và là người tổ chức hội nghị, đã loan báo như vậy. Hiện nay, chỉ có vài loại thuốc được phép lưu hành trên thị trường. Acamprosate (Aotal) và naltrexone (Revia), kềm chế sự thèm uống, là một hỗ trợ để điều trị sự cai uống. Disulfirame (Espéral) tác dụng bằng cách gây nên những rối loạn khó chịu (phừng mặt, nôn mửa...) trong trường hợp uống đồng thời với rượu. Những kết quả của chúng là không phủ nhận được nhưng nhìn toàn bộ vẫn còn khiêm tốn. “ Trung bình, sau một năm, naltrexone và acamprosate giúp cho 30% những người nghiện rượu, điều này muốn nói 70% trường hợp thất bại. Nhưng từ nay chúng ta biết rằng tỷ lệ những người đáp ứng là cao hơn nhiều trong vài nhóm, GS Karl Mann (nhà chuyên khoa về nghiện ở Đức) đã giải thích như vậy. Tỷ lệ đáp ứng đối với naltrexone lên đến 50% nơi những bệnh nhân mang một gène đặc biệt. Một đặc điểm di truyền khác ảnh hưởng lên đáp ứng đối với acamprosate.

Hiện nay, phương pháp di truyền-dược lý (pharmaco-génétique) này chỉ ở trong giai đoạn nghiên cứu, GS Michel Lejoyeux, thầy thuốc tâm thần (Paris) và chủ tịch của Hiệp hội về rượu học (alcoologie) Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Tương tự đối với những thăm khám hình ảnh, và đặc biệt là IRM, một phương pháp cũng đầy hứa hẹn để tiên đoán tính hiệu quả của một thứ thuốc hay một nguy cơ tái phát.

Nhưng sự đáp ứng với điều trị cũng có thể đánh giá đơn giản hơn, theo những tiêu chuẩn lâm sàng. GS Mann đã hiệu chính một bảng câu hỏi gồm khoảng 15 đề mục cho những bệnh nhân bị tái phát. Những bệnh nhân uống rượu trở lại trong một bối cảnh hội hè đáp ứng với naltrexone tốt hơn những người uống lại trong một khung cảnh trầm uất, nhà chuyên gia người Đức đã giải thích như vậy.

Đồng thời, những loại thuốc mới đang được nghiên cứu. Trong số những thuốc mới nhất, nalmefene, đối tượng một thử nghiệm lâm sàng ở Pháp. “ Loại thuốc này tác dụng lên các thụ thể opioide như naltrexone. Nhưng ở đây mục tiêu lại khác, đó không phải là sự cai nghiện mà là trở lại một sự tiêu thụ được kiểm soát (une consommation contrôlée) ”, GS Lejoyeux đã xác nhận như vậy. Những kết quả quyết định được dự kiến năm 2011. Đối với bệnh nhân cũng như đối với các nhà nghiên cứu rượu học, khái niệm “ sự tiêu thụ được kiểm soát này mới xuất hiện gần đây. Cho mãi đến ngày hôm nay, sự cai rượu (abstinence) là mục tiêu duy nhất. “ Sự tiêu thụ được kiểm soát là một hướng nghiên cứu rất lý thú, nhưng vẫn phải thận trọng đối với thực hành hàng ngày ”, GS Lejoyeux còn xác nhận như vậy.

Những loại thuốc cũ hơn, nhưng được kê đơn trong những căn bệnh khác, như baclofène (myorelaxant) hay topiramate (thuốc chống động kinh) cũng đang được đánh giá. Nhưng dầu hiệu quả của chúng như thế nào đi nữa, thuốc men không phải là tất cả. Điều trị thuốc, đó là 30% của điều trị, những thầy thuốc chuyên khoa tâm thần đánh giá như vậy. Sự đi kèm xã hội (accompagnement social) và tâm lý liệu pháp vẫn là yếu tố thiết yếu.
(LE FIGARO 15/9/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Rượu - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

7/ ĐIỂM SỐ APGAR.

Virginie Apgar sinh tại New Jersey năm 1909. Vào đại học vì ham thích động vật học và nghệ thuật, bà phải làm việc để có thể theo học và được giao phó bắt mèo cho phòng thí nghiệm sinh lý ! Quyết tâm trở thành thầy thuốc, bà lấy được văn bằng ở Đại Học Columbia vào năm 24 tuổi. Trong 3 năm, bà là nội trú ngoại khoa dưới sự chỉ đạo của Alan Whipple, thuộc hôpital presbytérien de Colombie. Xét vì kiếm được khách hàng là khó đối với một phụ nữ, nên ông đã hướng Apgar theo ngành gây mê, nhất là nhiệm sở lại đang còn trống. Là phụ nữ thứ hai giành được tước hiệu này, bà tự đào tạo trong hai năm nơi các người có quyền thế ở Nữu Ước. Bầu không khí căng thẳng bởi vì các thầy thuốc ngoại khoa thuê các y tá gây mê và lập hóa đơn gây mê cho các bệnh nhân.

Với chiến tranh, tầm quan trọng của khoa gây mê tăng lên và năm 1949, bà trở thành người giáo sư nữ đầu tiên của Đại học Columbia. Ít bị chiếm đoạt hơn bởi công việc, bà quan tâm đến gây mê sản khoa và vào năm 1952, đã đề nghị những điểm đánh giá (points d’évaluation) nổi tiếng của bà về sức sống của trẻ sơ sinh. Bà rất vui thú khi năm 1960, tên bà (APGAR) được dùng làm số điểm (score d’Apgar) để đánh giá tình trạng sức khỏe của em bé vào lúc sinh ra đời : A (apperance, sắc da mặt), P (Pulse, mạch), G (Grimace, nhăn mặt), A (Activity, hoạt động), R (Respiration, hô hấp). Không hề là người khắc khổ, Apgar mê say câu cá hồi (saumon) vùng Ecosse và thám hiểm hàng rào san hô. Vốn là nhạc sĩ từ tuổi ấu thơ, nghề nghiệp không ngăn cản bà chơi vĩ cầm và violoncelle trong các giàn nhạc và ngay cả tạo cho mình những nhạc cụ riêng, được hỗ trợ bởi một bệnh nhân tín đồ đạo Luther, mà bà đã gặp vào năm 1956. Ban đêm, bà làm việc trong căn phòng bé nhỏ của bà ở trong rừng. Bà học lái máy bay, thích baseball và golf và sưu tập các con tem với hy vọng một ngày nào đó hình của bà sẽ ở trên đó. Đó là điều đã trở thành hiện thực vào năm 1994, 20 năm sau khi bà qua đời. Một năm sau (1995) bà đã theo gót vào Panthéon(nơi an nghĩ của những người nổi tiếng) là National Women’s Hall of Fame ở Nữu Ước.
(LE GENERALISTE 16/9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 84 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 09/07/2008 )

1/ VIRGINIA APGAR (1909-1974)

Trên toàn thế giới, trong các hồ sơ của các trẻ sơ sinh được sinh trong môi trường bệnh viện đều có những kết quả của số điểm Apgar (score d’Apgar) nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe của chúng ngay sau khi sinh. Căn cứ trên các tham số lâm sàng dễ quan sát : tần số tim, hơi thở, trương lực, mức độ phản ứng đối với kích thích và màu sắc, điểm số này cho phép tiên đoán khả năng sống sót của trẻ sơ sinh và sự phát triển thần kinh của nó.

Tên của số điểm này là tên của một phụ nữ : Thật vậy, B.S Virginia Apgar là người đã hiệu chính phương pháp đánh giá này, nhờ thế tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh trong môi trường bệnh viện đã giảm xuống.

MỘT TUỔI TRẺ GIỮA ÂM NHẠC VÀ KHOA HỌC.

Virginia chào đời ngày 7 tháng 6 năm 1909 ở Westfield trong tiểu bang New Jersey, Hoa kỳ. Cô là con thứ của gia đình có 3 người con. Cha cô, nhân viên hãng bảo hiểm, là nhà phát minh và nhà thiên văn tài tử trong những giờ nhàn rỗi. Bố mẹ Virginia rất say mê âm nhạc và ngay từ tuổi bé thơ, Virginia đã học chơi violon, hoạt động mà cô sẽ tiếp tục trong suốt cuộc đời. Ở Mont Holyoke College, nơi cô theo học cao học, cô là thành viên của dàn nhạc nhà trường và cô đã tỏ ra đặc biệt có năng khiếu không những với violon mà còn với violoncelle nữa. Và trong những năm 1950, cô đã lập nên một quartet nhạc thính phòng với các bạn của cô. Thiên chức y khoa của cô được nảy sinh do một tổng thể các tình huống. Một mặt cha cô dành những giờ nhàn rỗi vào các hoạt động khoa học nhưng mặt khác, việc chọn lựa nghề nghiệp y khoa cũng bị ảnh hưởng bởi cái chết của hai người anh và em trai của cô. Thật vậy, người anh trưởng bị chết vì bệnh lao và người em trai kia bị chết vì một bệnh nhi đồng mãn tính.

Chính cô đã tự tài trợ cho việc học cao học của mình, nhờ nhiều việc làm bán thời gian. Cô cũng chơi nhiều môn thể thao và rất thích làm vườn. Điều duy nhất mà cô đã không bao giờ học đó là nấu nướng, nếu như chúng ta tin vào lời của nhiều người trong số các bạn của cô.

TỪ NGOẠI KHOA ĐẾN GÂY MÊ :

Mặc dầu rất nhiều hoạt động, Virginia đã đậu một cách xuất sắc cao học và năm 1929, cô bắt đầu theo học ở Columbia University’s College of Physicians and Surgeons. Ở trường y này, các phụ nữ không nhiều lắm : 9 trên 90 sinh viên ghi danh. Năm 1933 cô làm nội trú ngoại khoa (interne en chirurgie) ở Prebyterian Hospital. Trên nguyên tắc, cô sẽ ở lại đó 2 năm, nhưng sau năm đầu tiên, ông thầy lâm sàng của cô, Allen Whipple, gợi ý với cô nên hướng theo ngành gây mê, một môn cho đến mãi lúc đó được giao phó cho các nữ y tá. Whipple đã hiểu rằng sự thành công của một phẫu thuật tùy thuộc không chỉ vào tài khéo léo của phẫu thuật viên, mà còn tùy thuộc vào việc duy trì tình trạng ổn định của các tham số sinh lý của bệnh nhân, đồng thời duy trì bệnh nhân trong tình trạng mất tri giác và không nhạy cảm với đau đớn. Ở đây có một vùng nghiên cứu rộng lớn để thăm dò và cả một lãnh vực để phát triển.

Virginia chấp nhận và sau một hành trình mang cô từ Presbyterian Hospital đến đại học Wisconsin, rồi đến New York Bellevue Hospital, cô trở lại Presbyterian Hospital năm 1938, với tư cách là trưởng khoa gây mê của Bộ môn ngoại. Cô là người phụ nữ đầu tiên điều khiển một khoa phòng trong bệnh viện này. Cô có nhiệm vụ tuyển mộ và đào tạo các sinh viên gây mê, điều hành công tác của các thầy thuốc gây mê và lãnh đạo công trình nghiên cứu. Dưới sự lãnh đạo của cô, khoa này sau cùng được giao phó cho một bác sĩ chứ không phải cho một y tá nữa. Khi khoa gây mê của cô trở thành một bộ môn riêng biệt, BS Apgar dự kiến sẽ trở nên chủ nhiệm bộ môn gây mê mới thành lập... nhưng chức vụ này sau đó đã được giao phó cho một đồng nghiệp nam. Tuy nhiên Virginia được bổ nhiệm làm giáo sư khoa gây mê, được trả lương toàn thời gian và là người phụ nữ đầu tiên được chức vụ này ở Columbia University .

APGAR : MỘT TÊN HỌ ĐÃ ĐƯỢC ĐỊNH SẴN

Trong khi giữ chức giáo sư khoa gây mê, BS Apgar dần dần ý thức những khiếm khuyết của ngành gây mê sản khoa. Suốt trong những năm 30, số trường hợp sinh đẻ trong môi trường bệnh viện đã gia tăng đến độ trở nên quan trọng hơn số các sinh đẻ tại gia. Tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em ở Hoa Kỳ khi đó cao hơn nhiều tỷ lệ tử vong trong nhiều nước ở châu Âu và 24 giờ đầu sau khi sinh chịu một tỷ lệ tử vong rất cao. Do đó Virginia tập trung vào vấn đề này và đi đến kết luận rằng trong hầu hết các trường hợp, người ta có thể cứu các trẻ sơ sinh này nếu chịu bỏ công thăm khám chúng ngay sau khi sinh. Điều chứng thực này đối với chúng ta có vẻ hiển nhiên, nhưng không phải là như vậy vào thời đó : mọi sự chú ý của đội sản khoa trong thời kỳ hậu sản được tập trung vào bà mẹ còn các trẻ sơ sinh thì được phó mặc cho các trợ lý hồi sức thiếu kinh nghiệm. Điều chứng thực khác là sự thiếu các dữ kiện khoa học về trẻ sơ sinh : cái gì là bình thường hoặc không bình thường nơi một em bé quá nhỏ và cần phải can thiệp khi nào và thế nào? Các chỉ tiêu được sử dụng khi đó dựa vào phần lớn tính chủ quan của những người can thiệp mà sự đào tạo của họ lại được hướng vào việc sử dụng các thuốc kích thích hơn là vào những nguyên tắc cơ bản như sự duy trì thông suốt các đường hô hấp của trẻ sơ sinh hay cho oxy. Một trong những hành động đầu tiên của BS Apgar là buộc tất cả các trợ lý gây mê phải đi thực tập sản khoa.

Một hôm, trong lúc ăn trưa, một trợ lý đã hỏi bà các tiêu chuẩn của một đánh giá chuẩn mực và nhanh chóng của tình trạng của trẻ sơ sinh. Số điểm (score d’ Apgar) nổi tiếng mang tên bà đã phát sinh từ câu trả lời của Virginia (tần số tim, hơi thở, trương lực, đáp ứng với kích thích và sắc da). Thật vậy đó là các tham số được theo dõi bởi các chuyên gia gây mê trong các cuộc phẫu thuật.Trong năm sau, bà hiệu chính số điểm Apgar như là công cụ không những để xác định sự cần thiết phải hồi sức mà còn như là nền tảng để bàn cải và so sánh các kết quả của những thủ thuật sản khoa. Vào tháng 9 năm 1952, ở hội nghị khoa gây mê thứ 27, Virginia trình bày các kết quả của một công trình nghiên cứu đầu tiên về đánh giá này, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng thực hiện sự đánh giá bằng số điểm Apgar trong phút đầu tiên sau khi sinh và sự đánh giá này cần phải được thực hiện bởi một người can thiệp không phải là thầy thuốc sản khoa, luôn luôn có khuynh hướng đánh giá quá cao số điểm của “ những trẻ sơ sinh của ông ta ”. Những nghiên cứu của bà trong những năm sau nhằm đặt mối liên hệ giữa những kết quả của số điểm Apgar với những hiệu quả của chuyển dạ, sinh đẻ và gây mê nơi người mẹ. Virginia Apgar cũng làm sáng tỏ nhiều khía cạnh không được biết đến của chuyển hóa phôi thai-mẹ (métabolisme foeto-maternel).

Trong những năm 60, nhiều bệnh viện sử dụng số điểm này. Năm 1961, một sinh viên của đại học Colorado ở Denver đã dùng các chữ đầu của BS Apgar để làm phương tiện ghi nhớ những điều được quan sát : A (Appearance : nước da mặt), P (Pulse : mạch), G (Grimace : phản xạ đối với kích thích), A (Activity : trương lực cơ) R (respiration : hô hấp).

Vào năm 1959, Virginia giành được Master về y tế cộng đồng của Đại Học John Hopkins. Từ đó, bà dành nhiều thời gian cho công tác phòng ngừa các vấn đề bẩm sinh qua công tác giáo dục quần chúng và vào việc gây quỹ để nghiên cứu. Bà cũng lãnh đạo bộ môn các bệnh bẩm sinh (département de maladies congénitales).

Vào năm 1973, một năm trước khi mất, bà được tặng huy chương vàng y khoa của Đại Học Columbia. Vinh dự này được thêm vào các giải thưởng và các tuyên dương mà bà đã giành được trong suốt cuộc đời phục vụ cho công tác.

Năm 1994, một con tem mang hình bà được phát hành để tôn vinh người đàn bà mà chúng ta có thể nói rằng mỗi trẻ em trên thế giới khi chào đời đều được quan sát trước hết bởi cái nhìn của Virginia Apgar.
: LA SEMAINE MEDICALE (5/6/2008)


8/ VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ : SAU CÙNG NIỀM HY VỌNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ.

GS José-Alain Sahel, giám đốc Viện thị giác, giải thích những công trình về liệu pháp gène (thérapie génique) đã cho phép mang lại thị giác cho những con chuột bị mù vì chứng bệnh viêm võng mạc sắc tố này.

Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) ?
GS José-Alain Sahel : Đó là một bệnh gène (maladie génétique) nghiêm trọng, được truyền do di truyền, gây nên mất chức năng của các tế bào cảm nhận : những tế bào gậy (batônnet), cho phép nhìn vào ban đêm, và những tế bào hình nón (cône) để thấy ánh sáng ban ngày. Bệnh viêm võng mạc này (30.000 đến 40.000 người bị bệnh ở Pháp) có thể xuất hiện ngay lúc sinh ra đời, trong thời niên thiếu hay ở tuổi trưởng thành. Trong hầu hết các trường hợp, bất hạnh thay, bệnh này có nguy cơ dẫn đến một khiếm khuyết thị giác nghiêm trọng.

Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên khiến phải đi thăm khám là gì ?
GS José-Alain Sahel : Người bệnh bắt đầu có những khó khăn khi nhìn vào ban đêm rồi cảm giác thị trường (champ visuel) bị thu hẹp lại : “ thị giác đường hầm ” (vision en tunnel). Chẩn đoán, cần nhiều kinh nghiệm, được xác lập trong lúc thăm khám đáy mắt với một ophtalmoscope, cho phép quan sát rất rõ những sắc tố và sự teo lại của mô võng mạc. Chẩn đoán đầu tiên này sau đó được xác nhận bởi hai xét nghiệm bổ sung khác. Từ nhiều năm nay chúng ta đạt được một tiến bộ quan trọng : sự tìm kiếm trong máu, bằng những trắc nghiệm di truyền (tests génétiques), các gène có khả năng là nguồn gốc của căn bệnh.

Hỏi : Những ưu điểm của một chẩn đoán sớm là gì ?
GS José-Alain Sahel : 1. Theo một lối sống phù hợp với những vấn đề thị giác (đừng lái xe ban đêm nữa, dùng kính đặc biệt để bảo vệ chống lại ánh nắng mặt trời) ; 2. Dùng vitamine A và các oméga 3 để làm chậm lại tiến triển của bệnh. 3. Điều trị giai đoạn khởi đầu của một phù võng mạc, rất thường xảy ra trong bệnh lý này. 4. Nơi những bệnh nhân rất thường bị đục thủy tinh thể này , ta có thể mổ chứng bệnh này sớm.

Hỏi : Cho đến nay, chúng ta điều trị những bệnh nhân này như thế nào ?
GS José-Alain Sahel : Tiến bộ thật sự duy nhất trong những điều trị chỉ liên quan đến một dạng hiếm của viêm võng mạc sắc tố nơi trẻ em (1% các bệnh nhân). Đó là một liệu pháp gène, nhằm đưa trở lại một gène bình thường (được tổng hợp trong phòng thí nghiệm) vào trong những tế bào của võng mạc. Sau hai năm nhìn lại, các kết quả là thỏa mãn.

Hỏi : Tác dụng của điều trị mới bằng liệu pháp gène là gì ?
GS José-Alain Sahel : Sự thành công này là kết quả của một sự cộng tác của những nhóm nghiên cứu của chúng tôi thuộc Hôpital des Quinze-Vinghts, của Fondation Rothschild, của Viện thị giác (BS Serge Picaud), của GS Roska của Viện FMI de Bâle. Vào một giai đoạn nào đó của bệnh, mặc dầu những tế bào gậy (batonnet) bị chết, nhưng những tế bào nón (cône) vẫn nằm yên ngủ (dormant) : có nghĩa là vẫn còn sống nhưng không hoạt động. Từ đó nảy ra ý nghĩ làm tái hoạt động những tế bào nón bằng cách đưa vào đó (nhờ một vecteur, một virus được làm bất hoạt) một protéine nhạy cảm với ánh sáng, protéine này hiện diện trong vài vi khuẩn. Phản ứng lại với ánh sáng, những protéine này làm phát khởi một tín hiệu điện, tương tự với đáp ứng bình thường của các tế bào nón của một mắt lành. Những tế bào nón này, vì vẫn bảo tồn những nối kết của chúng trong võng mạc, nên ta tái lập được chuỗi tiếp nối bình thường của những đáp ứng thị giác.

Hỏi : Những kết quả nào đã chứng minh những công trình nghiên cứu này.
GS José-Alain Sahel : Với kỹ thuật liệu pháp di truyền này, chúng tôi đã điều trị nhiều trăm con chuột bị mù và những võng mạc người của những người cho bị chết, được giữ trong canh cấy. Các kết quả : các con chuột đã nhìn thấy trở lại và những võng mạc người được điều trị đã cho phép ghi được những dòng điện đáp ứng với ánh sáng. Vậy ta có thể tái hoạt hóa những tế bào tiếp nhận ánh sáng này nơi người, nếu vẫn còn tồn tại những tế bào nón yên ngủ.

Hỏi : Khi nào những thử nghiệm đầu tiên sẽ xảy ra trên người ?
GS José-Alain Sahel : Trước hết chúng tôi sẽ trắc nghiệm phương pháp mới này trên võng mạc của những động vật linh trưởng. Công trình nghiên cứu này sẽ kéo dài một năm. Nếu những kết quả xác nhận những kết quả của những thử nghiệm của chúng tôi trước đây, chúng tôi sẽ chuyển qua người trong hai hoặc ba năm nữa.
(PARIS MATCH 16/9-22/9/2010)

Đọc Thêm : Thông Tin Y Học Về VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ (RETINITE PIGMENTAIRE) - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

9/ SÂU RĂNG CÓ THỂ CÓ NGUỒN GỐC DI TRUYỀN.

Những mối liên hệ giữa sâu răng và di truyền là một chủ đề nghiên cứu từ những năm 50 và nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng những mối liên hệ này là quan trọng hơn điều mà ta tưởng lúc ban đầu. Một đề tài dường như được xác nhận bởi một nhóm nghiên cứu của đại học nha khoa Malmo, trong miền nam Thụy Điển.

Theo các nhà nghiên cứu, sự xuất hiện sâu răng nơi mỗi người có thể có liên quan với profil các kháng nguyên của những bạch cầu người (HLA : human leukocyte antigen).

“ Những công trình nghiên cứu trước đây đã chỉ rõ rằng có một mối liên hệ giữa một profil HLA nào đó và tỷ lệ các vi khuẩn (Streptococcus mutans), có khả năng dẫn đến sự phát triển sâu răng. Những vi khuẩn này được tìm thấy trong nước miếng, Marie-Louise Wallengren-Lundin, phó giám đốc nghiên cứu của ban caryologie thuộc đại học Thụy Điển đã giải thích như vậy. Nếu mối liên hệ này được xác minh, nguy cơ xảy ra sâu răng sẽ có thể được phát hiện bằng một trắc nghiệm nước miếng đơn giản nơi các em bé.

Hiện nay nhà nghiên cứu cùng với các đồng nghiệp của mình đang tiến hành một công trình nghiên cứu trên một ngàn trẻ em ở Thụy Điển. Nhóm nghiên cứu này đã cho thấy rằng 527 trẻ trong số 909 trẻ em, đã được theo dõi từ năm 3 tuổi, có một profil di truyền có nguy cơ. Từ nay bà so sánh những kết quả của mình với các tỷ lệ sâu răng nơi những trẻ nhỏ này, đồng thời cũng xem xét vai trò của nước miếng trong sự xuất hiện các sâu răng.

Công trình nghiên cứu Thụy Điển sẽ theo dõi những trẻ em này cho đến tuổi 15, nhưng những kết quả sơ khởi đã có thể được trình bày vào mùa thu này.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 10/9/2010)

10/ UNG THƯ BUỒNG TRỨNG : ĐỂ PHÁT HIỆN SỚM.

Ung thư buồng trứng vẫn ít thường xảy ra (4% các ung thư phụ nữ) nhưng tiên lượng xấu, chủ yếu bởi vì sự phát hiện nó xảy ra chậm. Một công trình nghiên cứu của Anh, được điều khiển bởi GS Deborah Sharp (đại học Bristol) vừa cho thấy rằng chỉ cần những thăm khám lâm sàng cũng đủ cho phép, trong 85% các trường hợp, xác lập chẩn đoán gần một năm sớm hơn, điều này có thể biến đổi hoàn toàn tiên lượng của bệnh.Trong 3 quận của nước Anh, 97.500 phụ nữ lành mạnh vào lúc khởi đầu công trình nghiên cứu đã được theo dõi trong vòng 7 năm, bởi 39 thầy thuốc toàn khoa, với ít nhất 5 lần kiểm tra cho mỗi bệnh nhân theo dòng thời gian. Tổng cộng, 212 ung thư buồng trứng nơi những phụ nữ trên 40 tuổi đã được liệt kê. Trong số những triệu chứng khác nhau được phân tích và so sánh, 7 dấu hiệu được cho là thích hợp : một sự căng chướng bụng, những cơn đau bụng, đi tiểu nhiều lần, ăn mất ngon, chảy máu trực tràng. Mặc dầu sự căng chướng bụng là dấu hiệu tiên đoán nhất về nguy cơ, xác suất dấu hiệu này liên kết với một ung thư buồng trứng dẫu sao vẫn ít xảy ra.
(PARIS MATCH 16/9-22/9/2010)

Đọc Thêm : Thông Tin Y Học Về UNG THƯ BUỒNG TRỨNG (OVARIAN CANCER) - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (27/9/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969