Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 64
Lượt truy cập: 1026957
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG TRONG VÀI DẠNG CỦA BỆNH UNG THƯ BẠCH CẦU.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

UNG THƯ. Bệnh ung thư bạch cầu (leucémie) đã được mô tả vào giữa thế kỷ XIX. Tên phát xuất từ chữ Hy Lap leucos, “ trắng ” và haima, “ máu ” , bởi vì căn bệnh mang lại nơi máu của các bệnh nhân một vẻ trắng như sữa. Người ta tập hợp dưới thuật ngữ leucémie, cũng được gọi là “ ung thư máu ”, một tập hợp những bệnh ảnh hưởng lên sự sản xuất những bạch cầu trong tủy xương, có thể có một ảnh hưởng quan trọng lên sự chế tạo của những hồng cầu và tiểu cầu (cần thiết cho sự đông máu). Những tế bào gốc của các bạch cầu trong quá trình biến hóa của chúng bị phong bế ở một giai đoạn trung gian và những tế bào lympho chưa truởng thành này khi đó tăng sinh, phong bế sự sản xuất của những tế bào máu khác trong tủy xương. Từ đó, các nguy cơ thiếu máu, xuất huyết và nhiễm trùng.

DỊCH TỄ HỌC. Một ung thư bạch cầu có thể phát ra vào bất cứ lứa tuổi nào. Trong số khoảng 7.000 trường hợp mới được phát hiện mỗi năm, tiến triển lâm sàng có thể rất khác nhau, bởi vì có rất nhiều dạng bệnh ung thư bạch cầu. Mỗi trường hợp hầu như khác nhau, tùy theo loại bạch cầu bị bệnh, sức khỏe của bệnh nhân và có lẽ những yếu tố di truyền.

ĐIỀU TRỊ.Vài bệnh ung thư bạch cầu không cần điều trị. Trái lại, những bệnh bạch cầu khác đòi hỏi điều trị thuốc quan trọng. Đối với những dạng đề kháng với các dược phẩm, có thể cần đến ghép tủy xương. Nhưng những dạng đề kháng này càng ngày càng ít hơn đối với những cơn cấp tính của các dạng mãn tính, bởi vì một cocktail mới ba loại thuốc trong những năm qua đã cho phép chế ngự tốt hơn nhiều những dạng ung thư bạch cầu này.


Những phối hợp mới của các loại thuốc trong nhiều trường hợp cho phép chế ngự tốt hơn căn bệnh.

Các bệnh ung thư bạch cầu (leucémie) tương ứng với sự tăng sinh ung thư trong tủy xương (là nơi những tế bào máu được chế tạo) của những tế bào là nguồn gốc của các bạch cầu. Các ung thư bạch cầu là tương đối hiếm, vì lẽ ta chỉ đếm được khoảng 7.000 trường hợp mới mỗi năm. Tùy theo dòng các bạch cầu bị ảnh hưởng, ta có những loại bệnh bạch cầu khác nhau. Và tùy theo cách tiến triển, ta nói đó là bệnh bạch cầu cấp tính hay mãn tính. Trong số tất cả các bệnh bạch cầu, chính bệnh bạch cầu dạng lympho mãn tính (leucémie lymphoide chronique), được gọi như vậy bởi vì bệnh ung thư này ảnh hưởng lên dòng sinh ra những tế bào lympho, là bệnh ung thư bạch cầu thường xảy ra nhất nơi người lớn. Người ta không biết nguyên nhân chính xác gây nên sự xuất hiện của những ung thư này (đôi khi một nguồn gốc virus ?), nhưng sự kiện những người Caucase (da trắng) đặc biệt bị bệnh (ngoại lệ nơi những người châu Á) và sự hiện hữu của những dạng hiếm hoi xảy ra trong gia đình gợi ý sự hiện diện của những gène nhạy cảm (gène de susceptibilité) đối với căn bệnh này. Mặt khác, những công trình nghiên cứu đang được tiến hành nhằm cố gắng nhận diện những gène này.

“ Bệnh bạch cầu dạng lympho mãn tính này là bệnh đã hưởng nhiều nhất những tiến bộ trong những năm qua. Điều này càng quan trọng khi căn bệnh ảnh hưởng một cách ưu tiên những lão niên và do sự lão hóa của dân số, ta có thể dự kiến tần số mắc bệnh này gia tăng ”, GS Véronique Leblond, trưởng khoa huyết học, thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) đã giải thích như vậy.

NHỮNG PROTOCOLE MỚI.

Ngay trong bệnh ung thư bạch cầu dạng lympho mãn tính, không phải tất cả những người bệnh đều cùng chung số phận. Vài bệnh nhân có một bệnh ung thư bạch cầu ổn định, không triệu chứng, mà các thầy thuốc chỉ việc theo dõi suốt đời, không điều trị. Những bệnh nhân khác, một ngày nào đó, sẽ thấy căn bệnh tiến triển, khi đó cần được điều trị và theo dõi bởi một thầy thuốc chuyên khoa huyết học. Và một phần ba các bệnh nhân sẽ có tức thời một dạng bệnh hung hãn hơn, với một ảnh hưởng lên những dòng khác trong máu : tỷ lệ hồng cầu (thiếu máu) và tiểu cầu bị hạ một cách quan trọng, sự hiện diện của các hạch.. Nếu trong những năm 1980, những bệnh nhân này vốn có một hy vọng sống rất suy giảm, thì từ nay thấy tiên lượng của họ được biến đổi, đặc biệt là nhờ sự xuất hiện của những protocole mới.

Đó là sự kết hợp của ba loại thuốc, từ đó có tên RFC : R là Rituximab (Mabthéra, một kháng thể đơn dòng mới đặc hiệu đối với các tế bào lympho này), F là Fludarabine (Fludara) và C là Cyclophosphamide (Endoxan, một thuốc cũ, nhưng sự phối hợp với hai thuốc kia chỉ mới đây). Thế mà sự phối hợp này dẫn đến một đáp ứng quan trọng đến độ trong nhiều tháng theo sau điều trị này, nơi một nửa các bệnh nhân không còn có thể tìm thấy sự hiện diện của những tế bào ung thư bạch cầu (cellules leucémiques), mặc đầu với những phương pháp phát hiện rất nhạy cảm. “ Ngoài ra, lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu vừa cho thấy rằng sự phối hợp này cho phép làm gia tăng thời gian sống còn toàn bộ của các bệnh nhân, đây là một tin rất tốt lành. Từ nay, thời gian sống sót trung bình là trên 10 năm : nếu biết rằng những bệnh nhân của chúng ta có một lứa tuổi trung bình 72 tuổi vào lúc chẩn đoán bệnh, thì kết quả này quả thật là đáng phấn khởi ”, GS Leblond đã nhấn mạnh như vậy.

Chỉ có điều : sự phối hợp này, vì không phải là không gây độc tính, nên không phải khi nào bệnh nhân cũng chịu được tốt. Nhưng đối với những bệnh nhân không thể nhận một điều trị như thế, có những loại thuốc thay thế khác. Một trong những loại thuốc này hiện đang được xét đơn để được đưa ra thị trường : đó là Bendamustine. Trái với tất cả những loại thuốc khác, là kết quả của những công trình nghiên cứu trình độ cao và mới xuất hiện gần đây, Bendamustine vốn đã được phát minh bởi một thầy thuốc hóa học Đông Đức vào năm 1963. Nhưng bởi vì bức tường Bá Linh phân chia nước Đức vào thời kỳ đó, nên những kết quả tốt của nó vẫn nằm trong vòng bí mật và điều trị này hầu như bị rơi vào quên lãng, cho đến khi những thầy thuốc người Đức khác mới đây lưu tâm đến. Sau hết, những loại thuốc khác đang được phát triển, nhưng còn phải chờ đợi từ nay đến một hay 5 năm nữa. Đó là những điều trị đặc hiệu chống lại những phân tử sinh tử đối với những tế bào ung thư của bệnh ung thư bạch cầu dạng lympho mãn tính. Nhờ đó, giết chết những tế bào ung thư này mà không hủy diệt những tế bào lành mạnh..

Mặc dầu những tiến bộ đạt được là quan trọng trong lãnh vực bệnh ung thư bạch cầu dạng lympho mãn tính, nhưng còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết : một điều trị duy trì có cần thiết không. Nếu có, ở nhịp độ nào và với liều lượng bao nhiêu ? Có nên điều trị những người không có một triệu chứng nào gây trở ngại vào lúc chẩn đoán, nhưng có những chất chỉ dấu tiên lượng xấu, khiến e ngại một sự tiến triển khả dĩ của căn bệnh trong những năm tháng tiếp theo sau đó ? Những câu trả lời được chờ đợi trong một tương lai mà chúng ta mong có càng sớm càng tốt...
(LE FIGARO 4/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 147 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 7/11/2009 )

9/ BỆNH BẠCH CẦU TỦY CẤP TÍNH (LEUCEMIE MYELOIDE AIGUE) : NHỮNG VI GHÉP (MINIGREFFES) ĐẦU TIÊN.

G.S Noel Milpied, thầy thuốc chuyên khoa huyết học, CHU de Bordeaux, chủ tịch Hiệp hội ghép tủy xương của Pháp, nêu lên những ưu điểm của một phương pháp ít xâm nhập hơn đối với vài loại ung thư máu.

Hỏi : Những đặc điểm của bệnh bạch cầu (leucémie) này là gì ?
GS Noel Milpied : Đó là một ung thư máu, gây bệnh 3 người trên 100.000 người, thường là sau 50 tuổi. Một tế bào non của tủy xương (chế tạo các tế bào máu : hồng cầu và bạch cầu và các tiểu cầu), trở nên bất bình thường, tăng sinh vô giới hạn nhưng không bao giờ đạt được trình độ chín mùi của nó.

Hậu quả : không còn có đủ hồng cầu và bạch cầu nữa, điều này gây nên thiếu máu và sự xuất hiện của các nhiễm trùng. Mặt khác, sự khan hiếm của các tiểu cầu máu (plaquettes sanguines) làm dễ sự xuất huyết.

Hỏi : Đến nay, điều trị bệnh này như thế nào ?
GS Noel Milpied : Điều trị nhằm cho một hóa học liệu pháp (chimiothérapie) nặng nề với nhập viện từ 4 đến 6 tuần. Điều trị nhằm phá hủy một cách tạm thời tủy xương, rồi ta chờ cho các tế bào bình thường tái sinh lại. Sau đó để loại trừ các tế bào ung thư còn lại, ta có thể bắt đầu lại một hóa học liệu pháp hay thực hiện ghép tủy xương. Với nhiều buổi hóa học liệu pháp, ta thu được tỷ lệ sống còn từ 60 đến 70% , và nơi những người được ghép, tỷ lệ này là 50 đến 60%.

Hỏi : Khi nào ta cho một hóa học liệu pháp mới thay vì một ghép tủy xương ?
GS Noel Milpied : Nếu kết quả thu được với hóa học liệu pháp đầu tiên là rất thỏa mãn và nếu không có bất thường di truyền bất thuận lợi trong các tế bào bị bệnh bạch cầu (cellules leucémiques), ta đề nghị những buổi hóa học liệu pháp củng cố. Nhưng nếu những kết quả đầu tiên sau hóa học liệu pháp gây thất vọng hay nếu có những bất thường di truyền, ta sẽ đề nghị ghép tủy xương.

Hỏi : Những bất tiên của kỹ thuật ghép tủy xương cổ điển ?
GS Noel Milpied : Ta rất sợ các nguy cơ độc tính liên kết với điều trị mạnh chuẩn bị trước khi ghép. Phương cách nhằm tiêm những tế bào của một người cho (donneur) vào bệnh nhân. Nhưng, để cho cơ quan của người nhận (receveur) có thể chấp nhận chúng, thì các tế bào ung thư phải được tiêu hủy tối đa, điều này cần đến một liệu pháp rất nặng nề với những liều lượng mạnh các loại thuốc có tác dụng phụ có hại. Hóa học liệu pháp tăng cường này mạnh đến độ ta chỉ thực hiện nơi những bệnh nhân dưới 45 tuổi. Sự chuẩn bị để ghép được thực hiện trong phòng vô trùng. Sau đó, bệnh nhân nhận những tế bào của người cho (ghép) bằng truyền tĩnh mạch.

Hỏi : Làm sao nảy ra ý tưởng tạo một kỹ thuật ghép ít độc hơn ?
GS Noel Milpied : Trong những công trình đầu tiên về bệnh bạch cầu cấp tính này, người ta đã tin tưởng rằng tác động duy nhất của các tế bào được ghép (greffon) là tái tạo những tế bào máu. Nhưng mới đây, người ta đã khám phá rằng các tế bào miễn dịch của greffon, một khi được đưa vào trong bệnh nhân, có khả năng nhận biết và phá hủy các tế bào ung thư. Người ta suy diễn rằng tiến hành một điều trị chuẩn bị mạnh mẽ như thế để thu được một kết quả tốt, có thể hữu ích hơn. Sự chuẩn bị mới trước khi ghép gồm có một hoá học liệu pháp ít độc tính hơn nhiều, được cho với những liều lượng nhỏ, rất có thể chịu được, điều này cho phép ghép những bệnh nhân ít trẻ hơn, tình trạng sức khỏe kém hơn.

Hỏi : Sau sự chuẩn bị mới trước khi ghép này, những kết quả là gì ?
GS Noel Milpied : Trước đây, với phương cách cổ điển, các bệnh nhân bị bất sản tủy xương (aplasie médullaire) hoàn toàn, bị mệt mỏi ghê gớm, bị đau đớn do sự phá hủy của các niêm mạc, và họ được nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch. Tình trạng của những bệnh nhân này khiến họ dễ bị các biến chứng gan và phổi. Với kỹ thuật mới, ta không còn quan sát thấy nữa sự hủy hoại của các niêm mạc, các bệnh nhân cảm thấy ít đau đớn hơn nhiều và có thể tự ăn uống bình thường. Có khi ta không phát hiện thấy bất sản tủy xương, bởi vì các tế bào máu tái sinh nhanh chóng. Trên hàng trăm những bệnh nhân trên 50 tuổi và có sức khỏe kém, ta đã quan sát thấy, với 4 hay 5 năm nhìn lại, cùng các kết quả thu được nơi những bệnh nhân trẻ tuổi hơn được ghép với kỹ thuật cổ điển.
(PARIS-MATCH 24/9- 30/9/2009)


2/ THUỐC ĐÃ CÁCH MẠNG HÓA BỆNH UNG THƯ BẠCH CẦU DẠNG LYMPHO MÃN TÍNH (LEUCEMIE LYMPHOIDE CHRONIQUE).

Trong bệnh ung thư bạch cầu dạng lympho mãn tính (leucémie lymphoide chronique) chính dòng (lignée) làm phát sinh những tế bào được gọi là đa nhân (polynucléaire) (đóng một vai trò trong sự hủy diệt các vi trùng) được tăng sinh lên. Ngày xưa, điều này, trong 100% các trường hợp, làm dễ sự xuất hiện của bệnh ung thư bạch cầu cấp tính (leucémie aigue) đề kháng lại với mọi điều trị. Vì vậy tiên lượng u tối, với một tỷ lệ sống còn trung bình chỉ 3 năm. Nhưng nhờ Gilvec, một loại thuốc ngăn cản tác dụng của một enzyme, tyrosine kinase, kiểm soát sự phát triển của vài tế bào ung thư, sự tăng sinh và chết của chúng, nên sau cùng, gần 98% các trường hợp ung thư bạch cầu dạng lympho mãn tính này được kiểm soát và sự biến hóa đáng sợ thành bệnh ung thư bạch cầu cấp tính hầu như không còn xảy ra nữa. Và dầu cho giới tính và tuổi tác của bệnh nhân như thế nào đi nữa !

“ Đối với những bệnh nhân đáp ứng tốt với loại thuốc này, ta sẽ không còn có thể phát hiện nữa tế bào ung thư trong máu. Và đối với 2% những bệnh nhân đề kháng, hai loại thuốc mới hiện đang là đối tượng của những thử nghiệm lâm sàng. Kết quả may mắn của những tiến bộ mới xảy ra này : ngày nay, 90% các bệnh nhân vẫn luôn luôn còn sống 10 năm sau khi được chẩn đoán. Một score không có thể tưởng tượng được trong những năm 1990 ”, GS Philippe Casassus, thầy thuốc huyết học thuộc CHU Avicenne (Bobigny,93) đã nhấn mạnh như vậy.

Điều trị bởi thứ thuốc này (Gilvec) không những đã giữ trọn lời hứa về tính hiệu quả mà còn đơn giản hóa rất nhiều việc điều trị : thật vậy, thuốc được uống một viên mỗi ngày và độ dung nạp của nó khá tốt, phần lớn các bệnh nhân có thể đi làm việc trở lại. So với ghép tủy xương, cần phải nhập viện trong nhiều tuần và phải được cách ly trong phòng vô trùng, thì đó là điều không thể so sánh được. Thật vậy, ghép tủy xương ít được thực hiện hơn nhiều, ngoại trừ những bệnh nhân đề kháng với Gilvec và những dẫn xuất của nó.

VẤN ĐỀ THAI NGHÉN.

Mặc dầu Gilvec đã cho phép giải quyết nhiều vấn đề, tuy nhiên vẫn còn một vài đề cần phải được giải quyết. Đó là, các thầy thuốc huyết học không biết khi nào và làm sao dừng lại thuốc để tránh tái phát. Nếu biết rằng điều trị phí tổn 2.500 euro mỗi tháng và rằng hiện nay thuốc phải được cho suốt đời, do đó vấn đề đáng được đặt ra. Ngoài ra, những thử nghiệm cũng đang được bắt đầu để xem có thể ngừng Gilvec trong vài tháng trong trường hợp đáp ứng hoàn toàn, để rồi bắt đầu trở lại một ít lâu sau đó.

Loại câu hỏi khác đến nay vẫn chưa có câu trả lời : câu hỏi về những phụ nữ được điều trị, có dự định muốn có thai. “ Ngày xưa vấn đề này không được đặt ra, khi tỷ lệ sống còn của các bệnh nhân là quá ngắn ngủi. Vậy, thật là nghịch lý, đó là một tin rất tốt lành nếu những các thầy thuốc huyết học ngày nay đối đầu với vấn đề này. Nhưng, hiện nay, chúng ta còn thiếu thời gian nhìn lại để biết là có phải đề nghị với họ một sự tạm dừng điều trị hay tạm thời thay thế Glivec bằng một thứ thuốc khác cũ hơn nhưng những tác dụng được biết rõhơn ”, GS Casassus đã giải thích như vậy.
(LE FIGARO 4/10/2010)

3/ CHA ĐẺ CỦA EM BÉ-ỐNG NGHIỆM ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG NOBEL.

Người Anh Robert Edward nhận giải Nobel y học vì đã “ phát minh ” sự thụ tinh trong ống nghiệm (fécondation in vitro).

Chính vào năm 1963, ở Cambridge, mà nhà sinh học trẻ tuổi Robert Edwards đã bắt đầu nghiên cứu về những kỹ thuật cho phép thực hiện một sự thụ tinh trong ống nghiệm (fécondation en éprouvette), bằng cách tiến hành những thí nghiệm trẻn động vật và những nghiên cứu in vitro. Mục tiêu của ông là tìm ra một chiến lược nhằm giúp vài cặp vợ chồng vô sinh có một đứa con. Mặc dầu bị chống đối kịch liệt ở Anh, ông làm việc cật lực và cuối cùng giành được một sự thành công bán phần (un demi-succès) vào năm 1976, vì toan tính này bị kết thúc bởi một thai ngoài tử cung. Nhưng ông vẫn kiên trì và trở lại các ống nghiệm của mình, cùng với thầy thuốc phụ khoa Patrick Steptoe, hôm nay đã qua đời.

Cuối cùng, vào năm 1978, Louise Brown, kết quả của sự thụ thai trong ống nghiệm đầu tiên trên thế giới, sau 15 năm nghiên cứu được tiến hành với một quyết tâm không lay chuyển và với cái giá của vài lúc phải nản lòng thối chí. “ Không bao giờ tôi sẽ quên được cái ngày khi tôi đã nhìn vào kính hiển vi và tôi đã thấy cái gì đó lạ kỳ trong các canh cấy. Tôi đã nhìn vào kính hiển vi và tôi đã thấy một phôi bào (blastocyste) người đang nhìn tôi. Tôi đã nghĩ : ta đã đến đích rồi ! ” ông đã kể lại như thế.

Hôm qua, tất cả các chuyên gia đều nhất trí chào mừng việc trao giải thưởng Nobel y học 2010 cho nhà nghiên cứu người Anh, hôm nay đã 85 tuổi, cha đẻ của thụ tinh trong ống nghiệm (fécondation in vitro), mà những công trình của ông đã cho phép sinh ra hơn 4 triệu trẻ em. Thật là nghịch lý, từ khám phá này đã sinh ra một loạt các nghiên cứu hiện đại, vượt ra khỏi lãnh vực sinh đẻ (procréation) vốn đã mênh mông, để kéo dài hướng về những tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires), những tế bào gốc thân thể (cellules souches somatiques), liệu pháp tế bào (thérapie cellulare), với trên đường nhắm, sự điều trị chống lại bệnh Alzheimer, Parkinson...

“ Sự thụ tinh trong ống nghiệm cũng đã là điểm khởi đầu của một bộ môn mới, sự sinh đẻ được hỗ trợ bằng y khoa (PMA : procréation médicalement assistée), được làm phong phú thêm, vào năm 1986, bởi sự làm đông lạnh các noãn bào (congélation d’ovocytes), sự tiêm các tinh trùng vào trong tế bào chất (injection intracytoplasmique de spermatozoides), vào năm 1992, bởi chẩn đoán trước khi làm tổ (diagnostic préimplantatoire), sự đông lạnh các noãn bào, GS René Frydman, “ cha đẻ ” của Amandine, em bé-ống nghiêm đầu tiên của Pháp, sinh năm 1982, đã xác nhận như vậy. Đó là một phần thưởng xứng đáng, cho một người đã không sợ vi phạm pháp luật, đã là một nhà nghiên cứu chân chính, một nhà khám phá thật sự.”

Đối với GS Pierre Jouannet, chuyên gia về sinh học sinh sản (biologie de la reproduction), giải thưởng này cũng là một tin rất tốt lành. “ Nếu Edwards đã có thể hiệu chính sự thụ thai trong ống nghiệm, đó là bởi vì ông đã làm việc trên phôi thai. Những công trình này ngày nay không thể thực hiện ở Pháp, là nơi loại nghiên cứu này bị cấm chỉ ”, ông đã xác nhận như vậy.

Ở Hoa Kỳ, trong những năm 1960, cùng những nghiên cứu như thế về thụ thai trong ống nghiệm đã không bao giờ thành tựu vì những lý do “đạo đức”. “ Đó là một nhà nghiên cứu tuyệt vời xứng đáng với vinh dự này, GS François Olivennes, thầy thuốc phụ khoa (Paris) đã nói thêm như vậy. Phải công nhận rằng phép màu của thụ thai trong ống nghiệm trước hết đến từ các nhà sinh học, họ đã hiểu được chức năng của các noãn bào, đã học cách cấy các phôi thai và đã có thể rình chờ cái lúc phải chuyển chúng vào trong tử cung của người mẹ.”

Louise Brown, chính bà đã có một đứa con do sự thụ thai tự nhiên, đã nói là “ với tư cách cá nhân vui sướng chào mừng ngày hôm nay ” Robert Edwards. Sinh tại Manchester vào năm 1925, GS Edwards là bố của 5 đứa con gái và 11 cháu nội ngoại. Ở Cambridge, ông đã thành lập, cùng với GS Steptoe, trung tâm thế giới thụ thai trong ống nghiệm đầu tiên, Bourn Hall Clinic, nơi đây hơn 10.000 em bé-ống nghiệm được sinh ra cho đến nay. GS Edwards đã giải thích rằng, cái động cơ chính yếu của ông, là giúp đỡ những cặp vợ chồng có những vấn đề sinh sản có con. “ Điều quan trọng nhất trong cuộc đời là có thể có con. Không gì quý báu hơn một đứa con ”, ông đã xác nhận như vậy.

NGUYÊN TẮC THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM

Một phương thức gồm 4 giai đoạn

  • Trích lấy các noãn bào (ovocyte).
  • Trích lấy tinh trùng.
  • Trong ống nghiệm, sự thụ tinh của các noãn (ovule) bởi các tinh trùng để có được các phôi thai (embryon).
  • Ghép cấy trở lại (réimplantation) một hay nhiều phôi thai vào trong tử cung của người phụ nữ.


(LE FIGARO 5/10/2010)

4/ LOUISE JOY BROWN, 32 TUỔI, ĐỨA BÉ ỐNG NGHIỆM ĐẦU TIÊN.

Ngày 25 tháng bảy năm 1978, Louise Joy Brown, nặng 2,61 kg, chào đời tại Oldham District và General Hospital, trong miền bắc nuớc Anh. Đứa bé-ống nghiệm đầu tiên trên thế giới phát xuất từ một noãn duy nhất, có được từ chu kỳ tự nhiên của bà mẹ cô bé.

Trong 9 năm, Lesley Brown đã cố gắng có con nhưng không thành. Các thầy thuốc đã tuyên bố là cô vô sinh. Không còn cách nào khác, cô đã hướng về Patrick Steptoe, trưởng khoa phụ sản của cái bệnh viện nằm gần Manchester. Vị thầy thuốc chuyên khoa ngoại sản này khi đó cùng kíp với nhà sinh học Robert Edwards và một thầy thuốc phụ khoa khác, John Webster. Lesley Brown được báo trước : những cơ may thành công của phẫu thuật là thấp.

Sau mổ lấy thai được thực hiện bởi Patrick Steptoe, John Webster thực hiện cuộc sinh đẻ. “ Dạ dày tôi thắt chặt lại bởi vì nếu đứa bé không bình thường, thế là hết các công trình nghiên cứu về sự thụ tinh trong ống nghiệm. Nhưng ngay tức thời, chúng tôi đã nhận thức rằng mọi chuyện đã diễn biến tốt ”, ông ta đã nhớ lại như vậy. Ông công nhận đã đánh giá thấp ảnh hưởng khoa học cũng như thông tin về biến cố.

“ Ở trường, tôi không được một đối xử đặc biệt nào. Không bao giờ có ai đã chế giễu tôi. Các bạn đồng lớp tôi đôi khi hỏi tôi làm sao tôi có thể chứa được trong một ống nghiệm, rồi họ đã nhận thức rằng tôi không khác gì họ và đã ngừng những câu hỏi làm tôi khó chịu ”, Louise Brown đã tuyên bố như vậy ; cô ta đã luôn luôn tỏ ra kín đáo gần như muốn ẩn lánh. Bố mẹ cô đã cho cô hay về tình trạng của cô lúc cô 4 tuổi, trước lúc đi học. Nhưng cô đã chỉ nhận thức vào lúc 10 tuổi rằng cô là đứa bé đầu tiên được sinh bằng thụ thai trong ống nghiệm (FIV).

BÌNH THƯỜNG

Vào năm 1982, Louise có em gái, Nathalie, cũng được sinh bằng thụ thai nhân tạo. Cả hai cô gái được nuôi nấng dạy dỗ ở Manchester rồi ở Bristol. Cô gái trưởng trở thành nhân viên bưu điện rồi nhân viên của một công ty vận tải. Vào năm 2004, cô cưới một nhân viên của một hộp đêm. Vào ngày 20 tháng 12 năm 2006, Louise Mullinder sinh đẻ bằng đường tự nhiên ở Cameron.

Louise Brown đã xuất hiện lần đầu tiên trước công chúng nhân kỹ niệm sinh nhật lần thứ 25 của cô và đọc một bài diễn văn ngắn tại Bourne Hall, bệnh viện thụ tinh nhân tạo, được thành lập bởi Patrick Steptoe (chết vào năm 1988) và Robert Edwards : “ Tôi cố sống một cuộc sống hoàn toàn bình thường. Cô vẫn rất gắn bó với Robert Edwards, khách mời danh dự nhân ngày đám cưới của cô. Trong một thông cáo chung với mẹ, cô đã gọi là “ tuyệt vời ” việc tặng giải thưởng Nobel cho “ người cha đỡ đầu “ của cô.
(LE MONDE 6/10/2010)

5/ TA ÍT GIÀ NHANH HƠN KHI TA VẪN HOẠT ĐỘNG.

Stéphane Adam là nhà nghiên cứu neuropsychologie thuộc đại học Liège (Bỉ).

Hỏi : Ông đã nghiên cứu mối liên hệ giữa tình trạng về hưu và sự lão hóa nhận thức (viellissement cognitif). Điểm khởi đầu của ông là gì ?
Stéphane Adam : Trong những năm qua, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sự lão hóa nhận thức (viellissement cognitif) là rất thay đổi đối với mỗi cá thể. Có những yếu tố di truyền, nhưng không chỉ có thế : lối sống cũng đóng một vai trò quan trọng. Thí dụ, một người già càng tích cực hoạt động trong cuộc đời mình, thì khả năng nhận thức (cognition) càng tốt hơn. Hoạt động nghề nghiệp, đời sống xã hội và những trò tiêu khiển, theo dòng năm tháng, tạo nên một “ dự trữ não bộ ” (réserve cérébrale), có thể bù lại một phần sự biến đổi tự nhiên của não và ngay cả làm giảm bớt những tác dụng của vài bệnh lý như bệnh Alzheimer. Đi từ điều chứng thực này, chúng tôi đã muốn biết một sự về hưu muộn có ảnh hưởng lên quá trình lão hóa nhận thức hay không.

Hỏi : Ông đã tiến hành như thế nào ?
Stéphane Adam : Chúng tôi đã khai thác các dữ kiện của điều tra “ share ” về sự lão hóa, sức khỏe và sự về hưu, được tiến hành nơi 33.000 người 50 tuổi và hơn trong 14 nước châu Âu. Những người tham gia phải trả lời các câu hỏi khác nhau về tình hình nghề nghiệp, lối sống hay những trò tiêu khiển của họ, trong quá khứ và hiện nay. Họ cũng phải chịu những trắc nghiệm về trí nhớ và sự tập trung, hai năng lực bị suy thoái với tuổi tác. Chúng tôi đã thực hiện một thông tin thống kê về các kết quả, đồng thời chúng tôi lưu tâm đến những chính sách về hưu được áp dụng trong các nước khác nhau.

Hỏi : Những kết luận của ông như thế nào ?
Stéphane Adam : Nhìn toàn bộ, những người vẫn hoạt động càng lâu, thì năng lực nhận thức (cognition) của họ càng tốt hơn. Thí dụ, một người 60 tuổi vẫn giữ một hoạt động nghề nghiệp, làm chậm lại sự lão hóa 1,3 năm, so với một người cùng lứa tuổi nhưng không hoạt động từ 0 đến 4 năm. Trong những nước, mà người ta về hưu lúc 65 tuổi, như Thụy Điển và Thụy Sĩ, dân chúng có những hiệu năng tốt hơn khi làm trắc nghiệm về trí nhớ và khả năng tập trung, hơn là ở Pháp, là nơi tuổi về hưu được ấn định ở 60 tuổi.

Hỏi : Vậy phải đẩy lùi lại tuổi về hưu ?
Stéphane Adam : Không phải đơn giản như thế. Cần phải uyển chuyển kết quả này, rất là chung chung. Một phân tích tinh tế hơn gợi ý rằng sự việc giữ một việc làm chỉ có một hiệu quả dương tính đối với những nghề nghiệp trí tuệ (métier intellectuel), và không phải đối với những nghề nghiệp chân tay (métier manuel), là những nghề nghiệp mà những năng lực nhận thức (faculté cognitive) ít được đòi hỏi hơn. Ngoài ra, vài điều kiện làm việc, như sự căng thẳng (stress), hay giờ giấc làm việc bị chênh lệch (horaires décalés), có những hậu quả âm tính lên khả năng nhận thức (cognition). Sau cùng, hoạt động nghề nghiệp không phải là yếu tố duy nhất : sự thực hiện một hoạt động vật lý hay sự việc có những thú vui giải trí và một mạng xã hội phong phú cũng làm chậm lại sự lão hóa. Vậy việc gia tăng tuổi về hưu đối với toàn thể dân chúng, trong một viễn cảnh y tế cộng đồng, sẽ không có ý nghĩa. Tuy nhiên, những người mong muốn tiếp tục theo đuổi hoạt động của mình có thể thực hiện nó. Như thế chúng sẽ duy trì năng lực nhận thức (capacité cognitive) của họ và làm trì hoãn những hậu quả của tuổi tác hay vài bệnh lý não bộ lên khả năng nhận thức của họ.
(LA RECHERCHE 10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 133 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 4/7/2009 )

6/ BỆNH ALZHEIMER: LÀM VIỆC LÂU HƠN SẼ LÀM CHẬM BỆNH LẠI.

G.S Françoise Forette, nữ giám đốc Fondation nationale de gérontologie, bình luận công trình nghiên cứu mới đây, chứng tỏ rằng những người kéo dài hoạt động nghề nghiệp, có một thương tổn xảy ra muộn hơn so với những người về hưu non.

Hỏi: Ở Pháp, hiện nay có bao nhiêu người bị bệnh Alzheimer ?
G.S Françoise Forette: Theo những nghiên cứu dịch tễ học, như công trình nghiên cứu “ Paquid ”, thì hiện có khoảng 850.000 người bị bệnh Alzheimer hay bị những bệnh tương tự. Nhưng chỉ một nửa trong số những bệnh nhân này là đã có thể được hưởng một chẩn đoán sớm và, trong số những bệnh nhân này, khoảng 17% nhận một điều trị thích hợp.

Hỏi: Có cha hoặcbị bệnh có làm dễ mắc phải bệnh này hơn hay không ?
G.S Françoise Forette: Có hai loại bệnh Alzheimer. 1. Những bệnh Alzheimer gia đình (duới 5%), có nguồn gốc di truyền. 2. Những bệnh Alzheimer xảy ra lẻ tẻ. Sự việc trong gia đình có cha hoặc mẹ bị bệnh Alzheimer làm gia tăng nguy cơ, nhưng sau 85 tuổi, nguy cơ này trở nên y hệt với nguy cơ của dân chúng nói chung.

Hỏi: Ngày này người ta có thể có được một chẩn đoán đáng tin cậy hay không ?
G.S Françoise Forette: Trong những năm vừa qua đã có những tiến bộ đáng kể. Thí dụ, trong các thăm khám “ trí nhớ ”, các trắc nghiệm tâm lý-thần kinh (tests neuropsychologiques) (được thực hiện bởi các neuropsychologue) đã được cải thiện nhiều. Trong quang tuyến thần kinh (neurodiagnostic), các xét nghiệm chụp hình ảnh bằng IRM hay scanner (được liên kết với một logiciel tính toán các thể tích), cho phép thấy được những cấu trúc đặc trưng của bệnh Alzheimer ; như thế ta có thể theo dõi rất tốt tiến triển của một quá trình teo dần dần của thùy trán hay của hạnh nhân (amygdale) của não bộ.

Hỏi: Các nhà khoa học của King’s College de Londres vừa thực hiện một công trình nghiên cứu chứng minh một mối liên hệ chắc chắn giữa việc về hưu muộn và sự xuất hiện các triệu chứng được lùi lại. Làm sao giải thích mối tương quan này ?
G.S Françoise Forette: Rất nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ một mối liên hệ giữa các kích thích trí tuệ trong suốt cuộc đời, làm gia tăng các dự trữ nhận thức (réserves cognitives) và thời điểm xuất hiện của một bệnh não thoái hóa (maladie cérébrale dégénérative). Các năng lực trí tuệ (capacités intellectuelles) được tích lũy cho phép não bộ hoạt động bình thường mặc dầu bị thương tổn. Rất đáng lưu ý là công trình nghiên cứu vừa qua của Anh đã nghiên cứu xem, nơi những người bị bệnh Alzheimer hay những bệnh tương tự khác, có một mối tương quan giữa tuổi về hưu và sự xuất hiện của những triệu chứng đầu tiên hay không. Những kết quả (có được trên một nhóm 382 bệnh nhân nam) đã chứng minh rằng làm việc lâu hơn (trên 60 tuổi) làm lùi lại sự xuất hiện của những dấu hiệu của bệnh ; rằng hoạt động trí tuệ, do kích thích sự vận hành chức năng của các nối kết của những tế bào thần kinh (connexions neuronales), cho phép làm gia tăng khả năng chống lại những sự giảm sút của tuổi tác. Thế mà người ta biết rằng sau khi về hưu, các chức năng nhận thức thường ít được khai thác hơn.

Hỏi: Tất cả các nghề nghiệp không phải đều mang lại sự thỏa mãn, vậy khi nào phải khuyến khích làm việc kéo dài ?
G.S Françoise Forette: Tiếp tục một hoạt động nghề nghiệp chỉ có thể được khuyên nếu như hoạt động này được thực hiện trong những điều kiện tốt, bởi vì stress nơi văn phòng là xấu đối với các neurone ! Chính vì vậy, chúng ta phải nghĩ đến sự cải thiện những điều kiện làm việc của các xí nghiệp. Đối với những kẻ đã phải ngừng làm việc quá sớm, nhất thiết phải giữ một hoạt động tinh thần mạnh hoặc qua vài công việc lúc rỗi rảnh (làm việc vặt trong nhà, làm vườn..)..rất tốt đối với não bộ, hoặc bằng việc dấn thân xã hội trong gia đình mình hay trong các hội từ thiện. Hoạt động vật lý cũng cần thiết: hoạt động này đi đôi với việc bảo tồn những chức năng nhận thức, nhờ làm giảm những nguy cơ tim mạch, rất có hại đối với các neurone.

Hỏi: Người ta có thể hy vọng gì với những người sau 60 tuổi vẫn gìn giữ tốt những hoạt động trí tuệ và vật lý ?
G.S Françoise Forette: Ngày nay người ta biết rằng nếu làm lùi lại 5 năm sự xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của bệnh Alzheimer, người ta sẽ chia hai tần số mắc bệnh Alzheimer, điều này là đáng kể.
(PARIS MATCH 25/6- 1/7/2009)

Thông Tin Y Học Về Bênh Mất Trí Nhớ (ALZHEIMER) - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây


6/ TẠI SAO CON NGƯỜI KHÔNG THỂ LÀM HƠN HAI VIỆC CÙNG MỘT LÚC.

Nhờ chụp hình ảnh, các nhà nghiên cứu Pháp đã chứng minh những hạn chế của não bộ nhưng cũng những hiệu năng lạ thường của nó.

NEUROSCIENCES. Người ta thường nói rằng Napoléon có khả năng làm nhiều chuyện cùng một lúc. Etienne Koechlin (Inserm) không tin một chút nào. Không gây ngạc nhiên, ông vừa công bố, cùng với Sylvain Charron, một công trình nghiên cứu cực kỳ sâu sắc, trong đó ông chứng minh rằng não bộ người không có khả năng làm hơn hai việc cùng một lúc (Sciences, 16/4/2010).

“ Napoléon cho cảm tưởng này bởi vì có lẽ ông ta có một trí nhớ rất tốt. Ông có khả năng đi từ chuyện này qua chuyện khác mà không cần chuyển tiếp ”, nhà nghiên cứu đề xuất như vậy. Mỗi trong hai bán cầu đại não, vì chỉ có thể thực hiện một việc cùng một lúc (đó là một giới hạn không thể vượt qua), do đó não bộ chỉ có khả năng điều hòa tối đa hai hành động xảy ra song hành và kế tiếp nhau.

Hai nhà nghiên cứu dựa trên một thí nghiệm trong phòng thí nghiệm với 30 sinh viên tình nguyện và một máy chụp hình ảnh chức năng (IRM). “Lúc khởi đầu, điều đó có vẻ rất đơn giản nhưng những quan niệm mà người ta sử dụng rất là trừu tượng ”, Etienne Loechlin đã công nhận như vậy. Thật vậy sự chứng minh của họ cần vài giải thích.

Làm hai việc cùng một lúc, điều đó xảy ra với chúng ta mỗi ngày, như vừa nấu ăn vừa trả lời điện thoại, hay vừa lái xe vừa tranh luận với một hành khách. Nhưng chủ yếu đừng lẩn lộn loại hành động này với những động tác tự động như nhìn một cái gì đó hay bước trong một căn phòng. Khái niệm công việc (tache) hay hành động (action), được sử dụng trong nghiên cứu này, là rất đặc biệt. Thí dụ các nhà nghiên cứu neurosciences cho rằng lái xe hay chơi đàn dương cầm, nhìn toàn bộ, là một công việc, trong khi những hoạt động này là phức tạp và đòi hỏi thực hiện nhiều điều cùng một lúc, điều này chỉ có thể sau khi đã tập luyện lâu dài. “ Người ta thực hiện một hành động hay dấn thân vào một công tác khi ta có một mục đích, một mục tiêu, một ý định ”, Etienne Koelin đã nhấn mạnh như vậy.

Chính chỉ trong những năm qua mà những tiến bộ của chụp hình ảnh y khoa chức năng (imagerie médicale fonctionnelle) đã cho phép khám phá ra rằng, việc thực hiện các công tác xảy ra trong phần trán (partie frontale) của não bộ. Khái niệm hai công việc đồng thời (double tache) cũng không phải là mới mẽ, nhưng người ta chưa rõ những cơ chế nào của não bộ giải thích điều đó.

Trắc nghiệm thật đơn giản. Các nhà nghiên cứu đã yêu cầu những người tình nguyện, trong số một loạt các mẫu tự (lettres) nằm lộn xộn, nhận biết vài chuỗi (séquence) rất chính xác. Một sự khen thưởng cho phép thấy rõ vùng phụ trách về động cơ (zone de motivation) trên hình ảnh não (mục đích).

MỘT VÙNG ĐIỀU HÒA (ZONE COORDINATRICE).

Khi một người chỉ thực hiện một trắc nghiệm, các vùng trán của hai bán cầu đại não được hoạt hóa. Vậy vào lúc đó có một sự liên lạc trao đổi giữa hai bán cầu đại não. Nhưng khi người tình nguyện thực hiện hai công việc một cách song hành, Etienne Koechlin và Sylvain Charron đã khám phá rằng mỗi trong hai bán cầu đại não chỉ đảm nhiệm một cách chuyên nhất một trong hai công việc mà thôi, như thế mỗi thùy theo đuổi mục đích riêng của mình.

Trong cùng lúc, trong phần não bộ thuộc phần trán nhất, một vùng được hoạt hóa điều hòa hai hoạt động. Thật vậy, vùng này ghi nhớ hai công việc và cho phép não bộ quản lý chúng một cách kế tiếp nhau. Nhưng dường như não bộ không thể làm nhiều hơn thế. Thật vậy, khi những người tình nguyện chịu một trắc nghiệm thứ ba cùng lúc, họ đã bị rối loạn và nhiều người đã bỏ một trong hai công việc mà họ đã phải theo đuổi.

Phương cách mà não bộ quản lý được nhiều công việc cùng một lần là một vấn đề cổ điển trong neurosciences. “ Thật vậy, có hai bó buộc đối kháng nhau mà vùng trán phải quản lý : tính mềm dẻo (flexibilité) và đồng thời, sự kiên trì (persévérance). Đúng là hôm nay môi trường chúng ta ưu tiên cho tính mềm dẻo, nhưng ta không hề biết não bộ đáp ứng với điều đó như thế nào ” , Etienne Keochlin đã giải thích như vậy.
(LE FIGARO 16/4/2010)

Đọc Thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 178 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 15/6/2010 )

5/ NGƯỜI TA KHÔNG THỂ LÀM 3 VIỆC MỘT LẦN.

Não bộ chỉ có thể theo đuổi hai mục đích cùng một lần, mỗi mục tiêu được đảm nhận bởi một bán cầu đại não phân biệt.

Con người có hai thùy trán rất phát triển so với các loại động vật khác. Những cấu trúc này đảm nhận những chức năng cao cấp như sự hoạch định kế hoạch, ngôn ngữ hay cử động tự ý. Nhờ chúng, chúng ta có thể hành động theo những động cơ riêng của chúng ta và thực hiện nhiều nhiệm vụ một cách đồng thời. Tuy vậy, những khả năng nhận thức (capacité cognitive) của chúng ta không phải là vô giới hạn. Bao nhiêu mục tiêu não bộ có thể theo đuổi cùng lúc ? Não bộ đảm nhận chúng như thế nào ?

Để biết được điều đó, Etienne Koechlin và Sylvain Charron, thuộc Inserm và Trường cao đẳng sư phạm, đã đặt 32 người dưới IRM chức năng. Những người tham dự có trước mặt họ một écran, trên đó các mẫu tự tạo thành chữ tiếng Anh tablet, hiện ra từng mẫu tự một. Sau mỗi loạt hai mẫu tự, những người này phải nói những mẫu tự này có tiếp theo nhau theo cùng thứ tự trong chữ tablet hay không. Khi những người tham dự cho một câu trả lời đúng, họ được thưởng một số tiền. Sau vài thử nghiệm, các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đã yêu cầu họ ngừng bài tập và thực hiện một công việc khác tương tự, cũng được thưởng bởi một số tiền. Khi đó hai tình huống xảy ra : hoặc là họ bỏ hoàn toàn công việc đầu tiên, hoặc là họ đặt công việc này trong tình trạng chờ đợi để rồi tiếp tục một thời gian sau.

Thế mà, theo trường hợp điển hình, các thùy trán đã không phản ứng cùng phương cách. Trong trường hợp đầu, tương ứng với sự theo đuổi một mục đích duy nhất, sự khen thưởng đã được mã hóa một cách đối xứng trong vỏ não trước trán giữa (cortex préfrontal médian). Ngược lại, trong trường hợp thứ hai, vùng này đã đã phân chia công việc : phần bên phải mã hóa sự khen thưởng của công việc đầu tiên, phần bên trái mã hóa sự khen thưởng của công việc thứ hai. Cũng sự phân chia như vậy đã được quan sát trong vùng vận động của vỏ não trước trán, kiểm soát sự thực thi công việc. Vùng trước trán, được biết đóng vai trò trong sự điều hòa của các mục đích, được hoạt hóa từ hai phía suốt trong thời gian thí nghiệm.

Sau đó các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đã thêm vào một công việc thứ ba. Kết quả : các thời gian phản ứng và tỷ lệ các sai lầm đã được nhân lên ba lần. Như vậy, não bộ không thể theo đuổi một cách hiệu quả hơn hai mục tiêu trong cùng một lần.

“ Đó là một công trình rất lý thú và tiền phong, Stanislas Dehaene, giáo sư tâm lý học nhận thức (psychologie cognitive) ở Collège de France đã đánh giá như vậy. Công trình này cho thấy những khả năng của vỏ não trước trán được chia thành hai mạng được phân biệt phần nào, mỗi mạng đảm đương một công việc. Những mạng này nhờ đến những bán cầu não khác nhau, điều này rất đáng ngạc nhiên ”.

Từ đó ta có thể rút ra những hệ quả chung về hệ não bộ phụ trách động cơ hành động ? “ Người ta không biết hiện tượng này có xảy ra với những loại công việc khác hay không, và cũng không biết theo quy tắc nào một công việc được chỉ định cho một bán cầu não, Stanislac Dehaene đã phân tích như vậy. Trong những điều kiện này, sự không có thể thực hiện 3 công việc cùng một lúc là một kết quả đáng lưu ý, nhưng không có gì chứng tỏ rằng điều này là do sự kiện chúng ta chỉ có hai bán cầu não, như các tác giả đã khẳng định như vậy ”.
(LA RECHERCHE 6/2010)


7/ NHỤC DỤC VÀ TIỀN BẠC KHÔNG KÍCH ĐỘNG NÃO BỘ THEO CÙNG MỘT PHƯƠNG CÁCH.

Khám phá này của Pháp cho phép hiểu tốt hơn chứng nghiện cờ bạc (addiction au jeu).

NEUROSCIENCES. Não bộ của chúng ta không lẩn lộn giữa tình dục và tiền bạc. Ít nhất ở một mức độ nào đó. Thật vậy, một nhóm các nhà nghiên cứu, được điều khiển bởi Jean-Claude Dreher, thuộc trung tâm neurosciences cognitives de Lyon (CNRS/ đại học Claude Bernard-Lyon 1) vừa cho thấy rằng những khoái lạc (plaisir) này phần lớn được xử lý trong hai vùng phân biệt của cortex orbitofrontal, một vùng nằm ở trên mắt, trong phần trước và bụng của não bộ. Sự khám phá này, được công bố hôm nay trong The Journal of Neuroscience, hẳn cho phép hiểu rõ hơn vài bệnh lý như chứng nghiện cờ bạc (addiction aux jeux d’argent).

Cho mãi đến nay các neurobiologiste chỉ biết một đường vòng được gọi là “của sự khen thưởng ” (circuit de la récompense) hay của “ kinh nghiệm chủ quan của khoái lạc ” (circuit de l’expérience subjective du plaisir) (thức ăn, dục tính, tiền bạc...). Đó là một mạng các neurone à dopamine nằm ở phần “ bò sát ”(partie reptilienne) của não bộ chúng ta, có liên quan trọng sự phụ thuộc (dépendance) vài chất ma túy như cocaine.

Nhưng tất cả những cảm giác dễ chịu không đều ngang nhau. Nhiều mức phức tạp phân cách những khoái lạc cổ xưa (được gây nên bởi sự thỏa mãn những nhu cầu sinh lý bẩm sinh như ăn, uống, có những quan hệ tính dục...) và những khoái lạc được tinh luyện hơn (như tiền bạc, quyền lực, sự quyến rũ yêu đương, sự quen biết), thuộc loại thụ đắc. Từ đó đưa ra giả thuyết rằng “ những khen thưởng (récompense) sơ cấp hay thứ cấp này, do những đặc điểm riêng của chúng, kích thích một cách song hành những vùng não bộ rất phân biệt ”, CNRS đã nhấn mạnh như vậy trong một thông cáo.

Để kiểm chừng điều đó, các nhà nghiên cứu của Lyon đã đề nghị với 18 thanh niên tình nguyện dưới 25 tuổi, sẵn sàng cho một thí nghiệm độc đáo dưới dạng trò chơi, cho phép, hoặc là thắng tiền bạc, hoặc là xem những hình ảnh khiêu dâm. Đồng thời, những hoạt động não bộ của họ được ghi nhờ một scanner IRM. Kết quả : Jean-Claude Dreher và các cộng sự đã cho thấy rằng, đúng là có một sự phân ly giữa những khen thưởng thứ cấp và sơ cấp trong cortex orbitofrontal. Thật vậy, phần sau của vùng này (xưa cổ hơn trên thang tiến hóa) được hoạt hóa một cách đặc hiệu bởi những hình ảnh khiêu dâm (khoái lạc xưa cổ, plaisirs archaiques), trong khi phần trước (mới xuất hiện gần đây hơn) được hoạt hóa một cách đặc hiệu bởi việc thắng được tiền bạc (plaisir élaboré). “ Các khen thưởng càng trừu tượng và phức tạp, thì hình ảnh thể hiện của chúng càng kích thích những vùng trước, và như vậy là những vùng mới xuất hiện gần đây, của cortex orbitofrontal ”, Jean-Claude Dreher đã tóm tắt như vậy.

Hiện nay nhóm nghiên cứu của ông đang tiến hành một thí nghiệm tương tự lên những người chơi bệnh lý nhằm kiểm chứng xem mạng đặc hiệu đối với tiền bạc có bị kích thích hơn hay bị rối loạn nơi những người này. Trong quá khứ, các nhà khoa học đã cho thấy rằng não bộ của các người đàn ông dễ thụ cảm đối với các trò chơi cờ bạc hơn là đàn bà. “ Điều lý thú là hiểu được điều xảy ra trong não bộ của các bệnh nhân của chúng ta, GS Michel Reynaud, trưởng khoa về các bệnh nghiện (addictologie) thuộc bệnh viện Paul-Brousse de Villejuif (Val-de-Marne) đã giải thích như vậy. Nhiên hậu, sự nhận biết những vùng não bộ có liên quan trong chứng nghiện cờ bạc có thể cho phép chúng ta kiểm chứng tính hiệu quả của các điều trị bằng thuốc hay những tâm lý liệu pháp mà chúng ta hiện đang kê đơn.
(LE FIGARO 29/9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 35 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 17/7/2007 )

9/ SỰ GIA TĂNG NHỮNG CHỨNG NGHIỆN KHÔNG PHẢI DO MA TUÝ

Càng ngày càng có nhiều người nghiện nhà chơi (casino), Net, tình dục...Những trường hợp này cũng là những chứng nghiện ma túy (toxicomanies) bởi vì cũng có cùng những vùng não bộ bị hoạt hóa như trong trường hợp dùng chất ma túy. Điều này làm sáng tỏ dưới một ánh sáng mới những bí ẩn của chứng nghiện ngập.

Chúng ta đang ở trong một nhà chơi bé nhỏ của bờ biển Normandie. Trong phòng chơi có machines à sous, các ông các bà đủ mọi lứa tuổi, đôi mắt dán vào màn ảnh của máy đánh bạc và không ngừng đặt cuộc. Những cử chỉ của họ chính xác, nhanh nhẹn và máy móc. Nhiều người trong số họ ở lại cho đến tối khuya, hững hờ đối với những gì xảy ra chung quanh họ. Trên toàn bộ những người chơi cờ bạc này, ít nhất có 2-6% là nạn nhân của điều mà các nhà tâm thần học gọi là trò chơi bệnh lý (jeu pathologique). Đó là một sự phụ thuộc (dépendance) thuộc một loại rất đặc biệt bởi vì sự phụ thuộc này không bao hàm một chất ma túy nào như alcool, cocaine hoặc những chất gây nghiện khác. Những người này phụ thuộc vào sự khoái lạc thích thú do kỳ vọng thắng cuộc mang lại cho họ. Nhà tâm thần học Marc Valleur, giám đốc bệnh viện Marmottan (Paris) và chuyên gia về vấn đề này, đã giải thích như vậy. Và đúng đó là một sự phụ thuộc theo ý nghĩa là họ dành càng ngày càng nhiều thời gian vào hoạt động này, đến độ họ không còn có thể kiềm chế được nữa. [/color]

Nói một cách khác, những người mê say (accros) này đúng là những người nghiện ma túy (toxicomanes) nhưng không dùng thuốc ma túy (drogue).

Mặc dầu cờ bạc là hình thức phổ biến nhất của hành vi bệnh lý (comportement pathologique) này (liên quan đến 1-3% toàn thể dân chúng), tuy nhiên đây không phải là chứng nghiện không ma túy (addiction sans drogue) duy nhất. Không hẳn là như thế. Thật vậy các nhà tâm thần học đánh giá rằng có những hình thức phụ thuộc Internet (dépendance à internet). Tình trạng một người không còn có thể giới hạn được nữa thời gian dành cho Net được gọi là Cyberdépendance. Có sự phụ thuộc vào công việc (dépendance au travail) và những người không thể không dành gần như toàn bộ thời gian vào hoạt động nghề nghiệp của họ được gọi là workalcoholic. Cũng có sự phụ thuộc vào việc mua sắm thôi thúc (dépendance aux achats compulsifs) khiến cho nạn nhân chi tiêu bất kể và việc tiêu xài không tương xứng với ngân sách mà họ thật sự có.

Người ta cũng biết những người phụ thuộc vào một quan hệ tình ái bệnh lý (une relation amoureuse pathogène), như trong trường hợp một người đàn bà quyến luyến ngoài ý muốn, với một người chồng nghiện rượu và hung bạo. Đừng quên là có sự phụ thuộc vào tình dục (dépendance au sexe), một bệnh lý thật sự trong đó nạn nhân có một nhu cầu thôi thúc (un besoin compulsif) muốn có một hoạt động tình dục hết sức liên tục. Lại có chứng nghiện thể thao (addiction au sport) thúc đẩy người vận động viên jogging thích hoạt động thể dục hơn là cuộc sống gia đình và xã hội của họ. Tất cả chứng nghiện không ma túy này đều có cùng một điểm chung là mất sự kiểm soát của hành vi (perte de controle du comportement).” cũng như đối với những chứng nghiện ma túy cổ điển, loại phụ thuộc này có đặc điểm là mất sự tự do kiêng cữ (perte de la liberté de s’abstenir). Có nghĩa là nạn nhân ý thức về hành vi của mình, công nhận rằng có những vấn đề đang xảy ra với mình, nhưng không thể nào chấm dứt được mặc dầu hết sức cố gắng». Như thể có một thế lực đen tối, mạnh mẽ hơn ý chí, buộc phải theo đuổi mãi mãi với hành vi này.Và chứng nghiện không ma túy này cũng có những hậu quả trên bình diện xã hội như trong trường hợp nghiện rượu và nghiện héroine: mất việc, ly dị, khó khăn về tài chánh.

Mặc dầu không có các thống kê chứng minh rõ ràng, các chuyên gia đều nói rằng loại nghiện này đang càng ngày càng nhiều. Một hiện tượng có liên quan trực tiếp với ngày càng nhiều những tình hình thuận lợi cho những hành vi phụ thuộc như sự tăng thêm các sòng bạc, phát triển internet, kích thích tiêu thụ … đến độ từ một thập niên nay, các cơ sở y tế đã mở những khoa chuyên điều trị loại nghiện này. Trước hết là bệnh viện Marmottan, được thành lập năm 1971 bởi nhà tâm thần học nổi tiếng Claude Olievenstein. Từ năm 2001, bệnh viện này có một khoa dành cho điều trị cyberdépendance. Còn có Bệnh Viện Pasteur ở Nice tiếp nhận những người cờ bạc bệnh lý (joueurs pathologiques).

Làm sao giải thích bệnh lý kỳ lạ này. Kỳ lạ bởi vì chứng nghiện này khác nhiều với chứng nghiện cổ điển: không thể quy cho một chất ma túy nào hết. “Có thể giải thích bằng hóa học của não bộ». Các nhà khoa học đã trả lời như thế. Mặc dầu không có bằng cớ chính thức nhưng vài công trình nghiên cứu đã đi theo chiều hướng này. Đặc biệt là nghiên cứu được tiến hành năm 2001 ở Bệnh Viện Toàn Khoa Massachusetts (Hoa Kỳ) trên những người say mê cờ bạc: nhờ chụp ảnh não bộ, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng sự mong chờ thắng cuộc được thể hiện bởi sự hoạt hóa nhiều vùng não bộ trong đó có noyau accumbens. Thế mà người ta đã biết rằng những vùng này được hoạt hoá lúc dùng chất ma túy. Ngoài ra, vào năm 1998, G.S Montserrat Estorch của bệnh viện Santa Creu (Barcelone) đã chứng tỏ rằng sự việc thực hiện một cuộc chạy bộ làm gia tăng 3 lần nồng độ beta-endorphines trong máu. Endomorphines là những chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng làm giảm đau đớn và mang lại cảm giác khoái lạc. Hoạt tính não bộ này (bao hàm sự phóng thích dopamine trong não bộ) đặc biệt mạnh ở những người nghiện. Chính sự kích thích các circuit này là điều mà những người nghiện mong mỏi tìm kiếm.

Jean-Pol Tassin thuộc Collège de France đánh giá rằng «chứng nghiện không ma túy dựa trên sự hoạt hóa các hệ thống stress, đặc biệt là sự tiết hormone de stress, các corticoides». Sự tiết này tạo nên một sự bất quân bình giữa các đường vòng neurone thần kinh (circuits neuronaux). Chỉ có sự lặp đi lặp lại các hành vi bệnh lý mới có thể tái lập sự quân bình này. Đối với ông sự nghiện ngập có thể được xem như là một đáp ứng với sự trầm cảm. Bởi vì trong vài trường hợp, stress do hoạt hóa những hệ thống bị suy yếu đã đem lại giải pháp: stress gây sự phóng thích corticoides và mang lại một khoái lạc.
(SCIENCE ET VIE 5/2007)


8/ U TUYẾN TIỀN LIỆT : MỘT ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC CHẲNG CẦN PHẪU THUẬT.

GS François Desgrandchamps, trưởng khoa tiết niệu của bệnh viện Saint-Louis, giải thích liệu pháp mới nhất với độc tố của Clostridium botulinum (toxine botulique).

Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của một u tuyến tiền liệt (adénome de là prostate) ?
GS François Desgrandchamps : Đó là một khối u hiền của tuyến sinh dục nam, ôm chặt đáy của bàng quang (mà qua đó nước tiểu chảy qua). Tuyến tiền liệt, tiết tinh dịch (liquide séminal), có nhiệm vụ sinh sản.

Hỏi : Những triệu chứng phải báo động là gì ?
GS François Desgrandchamps : Khi tuyến tiền liệt to lên, nước tiểu khó đi qua và những dấu hiệu đầu tiên xuất hiện : muốn đi tiểu thường xuyên (rất khó nhọc khi phải thức dậy năm hay sáu lần mỗi đêm), nhiều lần són tiểu trong ngày, làm hại đến chất lượng sống. Ở một giai đoạn nghiêm trọng, bàng quang có thể bị phong bế và nước tiểu không còn có thể chảy ra được nữa, tạo nên một hiện tượng bí tiểu đặc biệt đau đớn. Một nguy cơ khác âm ỉ hơn là các quả thận bị ảnh hưởng. Nơi những bệnh nhân rất già và không thể mổ được, ta buộc phải đặt một ống thông tiểu (sonde vésicale).

Hỏi : Có những yếu tố làm dễ không ?
GS François Desgrandchamps : Những yếu tố quan trọng nhất đó là tuổi tác, và nguy cơ tăng trưởng với với thời gian. Nhìn toàn bộ, hơn một nửa những người đàn ông trên 50 tuổi có một u tuyến tiền liệt.

Hỏi : Thường người ta điều trị u hiền này như thế nào ?
GS François Desgrandchamps : Vào lúc bắt đầu của bệnh, người ta kê đơn các thuốc dùng bằng đường miệng. Có nhiều loại : các “ alphabloquant ” làm tuyến giãn ra (effet relaxant), các “ chất ức chế 5-alpha réductase ” làm thu giảm thể tích. Những sản phẩm khác dựa trên các trích chất thực vật (extraits de plante) được khuyên dùng : chúng tác dụng bằng một cơ chế không được xác định rõ.

Hỏi : Những kết quả nào thu được với điều trị bằng thuốc ?
GS François Desgrandchamps : Những điều trị này tỏ ra có hiệu quả trong 80% các trường hợp, nhưng đôi khi với những tác dụng phụ khác nhau tùy theo loại thuốc được sử dụng. Thí dụ : một sự hạ dục tính với các chất ức chế của 5 alpha-réductase, và một sự hạ huyết áp với các alphabloquants. Các công trình nghiên cứu cũng đã nêu lên những rối loạn tiêu hóa với những trích chất thảo mộc nhưng hiếm xảy ra.

Hỏi : Đối với những bệnh nhân đề kháng với thuốc, phải nhờ đến gì ?
GS François Desgrandchamps : Nơi những bệnh nhân này, khi đó cần phải lấy u tuyến đi bằng đường tự nhiên (bằng cắt bỏ nội soi) nếu như tuyến không lớn quá, hoặc bằng giải phẫu mở bàng quang. Hai kỹ thuật này (với 90% thành công), chỉ mang lại một di chứng : một sự phóng tinh ngược dòng (éjaculation rétrograde).

Hỏi : Điều trị mới nhất với độc tố của vi khuẩn Clostridium botulium là gì ?
GS François Desgrandchamps : Độc tố thần kinh (neurotoxine) này, được tiết ra bởi một vi khuẩn “ Clostridium botulium ”, làm liệt tạm thời các cơ. Ngày nay có hơn 50 chỉ định để sử dụng nó, trong đó được biết nhất bởi công chúng là sự sử dụng để làm mất các vết nhăn ở trán (do làm giãn các cơ). Phương pháp mới để điều trị u tuyến nhằm, dưới gây mê tại chỗ, làm liệt các cơ của tuyến tiền liệt để cho tuyến có thể mở ra và cho phép nước tiểu chảy qua một cách bình thường. Động tác thật đơn giản : người thầy thuốc tiêm độc tố qua hậu môn xuyên qua trực tràng để đến các cơ của tuyến tiền liệt.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh tính hiệu quả của phương pháp này ?
GS François Desgrandchamps : Khoảng một chục các công trình nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện trên 250 bệnh nhân, trong đó vài bệnh nhân không mổ được phải mang một ống thông tiểu. Sau hai năm nhìn lại, những kết quả của tất cả những công trình nghiên cứu này đều dẫn đến cùng các kết luận : 4 trường hợp trên 5, người ta đã có thể rút ống sonde tiểu khỏi những bệnh nhân buộc phải mang chúng và tất cả những người khác không cần thuốc chẳng cần can thiệp phẫu thuật, do đó có một chất lượng cuộc sống tốt hơn. Hiệu quả của điều trị trong trường hợp này có thời gian dài đáng ngạc nhiên !

Hỏi : Hiện nay ở đâu ta có thể hưởng được điều trị mới này ?
GS François Desgrandchamps : Một công trình nghiên cứu bắt đầu cuối tháng 10 ở Pháp, được lãnh đạo bởi BS Grégoire Robert, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu thuộc CHU de Bordeaux. 9 trung tâm chuyên khoa tiết niệu sẽ tham gia vào thử nghiệm này trên 226 bệnh nhân, trong đó có trung tâm của chúng tôi ở bệnh viện Saint-Louis. Có lẽ phải chờ đợi khoảng hai năm trước khi có thể sử dụng điều trị này.
(PARIS MATCH 30/9-6/10/2010)

Chú Thích :

  • Các alpha-bloquant có một tác dụng làm giãn (effet relaxant) lên các tế bào cơ trơn nơi cổ bàng quang, nhưng cũng nơi các huyết quản. Trong trường hợp các triệu chứng có mức độ nặng trung bình, một alpha-bloquant thường là lựa chọn đầu tiên. Hiệu quả xuất hiện trong tháng đầu tiên. Hạ huyết áp tư thế đứng (hypotension orthostatique) là một tác dụng phụ quan trọng, nhất là nơi những người già.
    • Alfuzosine
    • Tamsulosine (Omic)
    • Térazosine (Hytrin)


  • Các chất ức chế 5-alpha-réductase có một tác dụng rất giới hạn lên các triệu chứng. Nơi các bệnh nhân với một thể tích tuyến tiền liệt rất gia tăng, các thuốc này có thể hạn chế nguy cơ bí tiểu. Phải đợi 6 tháng trước khi đánh giá hiệu quả của chúng. Lúc ngừng thuốc, thể tích của tuyến tiền liệt gia tăng trở lại.
    • Dutastéride (Avodart)
    • Finastéride (Proscar)


  • Các thuốc có chất cơ bản là trích chất thực vật. Các thuốc này chứa các trích chất của các trái cây Serenoa repens.Vẫn tồn tại những nghi ngờ về tính hiệu quả lên các triệu chứng.
    • Urgenin.
    • Prosta Urgenin
    • Prostaserene



9/ BỆNH ALZHEIMER : UỐNG MỘT ÍT … ĐỂ KHỎI MẤT TRÍ

Ý tưởng thật nghịch lý. Nhưng những công trình nghiên cứu mới đây đã gợi ý một cách nghiêm chỉnh rằng, một sự tiêu thụ có mức độ rượu, và rượu vang, có thể có một vai trò ngăn ngừa chống sự xuất hiện của bệnh Alzheimer. Công trình nghiên cứu này, được thực hiện bởi đại học Wale Forest (Caroline du Nord, Hoa Kỳ) trên 3.000 người 75 tuổi hoặc hơn, cho thấy rằng một hay hai ly mỗi ngày sẽ làm giảm 40% nguy cơ phát triển một rối loạn nhận thức (trouble cognitif). Về các cơ chế, thì đó còn là một bí mật lớn. Trong khi đó cùng nguy cơ được nhân lên hai nơi những người tiêu thụ nặng, hơn 14 ly mỗi tuần.

Một kết quả cần phải uyển chuyển, đối với BS Luc Letenneur, nhà dịch tễ học thuộc Viện y tế công cộng, dịch tễ và phát triển (Bordeaux). “ Những công trình nghiên cứu khác được gọi là quan sát thì lại không hòa hợp. Và các ý kiến thì mâu thuẫn, không những về liều lượng bảo vệ mà còn loại rượu được tiêu thụ.” Điều này có nghĩa là ta không biết phải uống bao nhiêu và uống cái gì. Thế thì trên thực tiễn, phải rút ra những lời khuyến nghị nào ? “ Các lão niên không có chống chỉ định y khoa và không có sự tiêu thụ gây vấn đề, có thể tiếp tục uống một cách chừng mực, nhà khoa học đã trình bày như vậy. Bởi vì điều đó có thể góp phần cho một chế độ ăn uống tốt lành, một khả năng giao thiệp tốt hơn, nói vắn tắt, góp phần làm cho “ già mà mạnh khỏe ” (bien vieillir). Ngược lại, không nên bắt uống người nào đó đã chưa bao giờ uống cả. “ Cồn hay rượu vang không và sẽ không bao giờ là một thứ thuốc phòng ngừa cả.”
(SCIENCES ET AVENIR 9/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bênh Mất Trí Nhớ - Tổng Hợp Thông Tin Y Học từ các bài TSYH Trước Đây

10/ CÓ NÊN SỰ DỤNG MUỐI FLO CHO MỌI LỨA TUỔI ĐỂ NẤU NƯỚNG VÀ TRONG BỮA ĂN ?

BS Patrick Hescot
Membre de l’Association dentaire française


Được đưa vào bởi đạo luật năm 1986, muối iot và flo (sel iodé et fluoré) là phương pháp cộng đồng dành cho tất cả, mà chính quyền ở Pháp đã mong muốn thiết đặt, bên cạnh muối không có flo (sel non fluoré). 25 năm sau khi được đưa vào, dường như cần minh định lại.

Một nha sĩ Hoa Kỳ, vào đầu những năm 1940, trong khi xem xét những vết trên các chiếc răng, đã chứng thực rằng, nơi trẻ em, một hàm lượng flo, 1 mg trong một lít nước, được kèm theo một sự giảm đáng kể số những trường hợp sâu răng. Ngược lại, số những trường hợp sâu răng này tăng lên gấp đôi đối với một hàm lượng dưới 0,3 mg fluorure mỗi lít nước. Lợi ích này được làm nổi bật bởi một công trình nghiên cứu, được thực hiện trên những người lớn, cho thấy tác dụng của flo vẫn được duy trì sau tuổi ấu thơ và không giảm một cách đáng kể với tuổi.

Bắt đầu từ năm 1945, ở Bắc Mỹ và Canada, việc thêm flo vào trong nước uống càng ngày càng thường xuyên, đã cho phép làm giảm 50% số những trường hợp sâu răng.

Trước hết được sử dụng ở Thụy Sĩ vào năm 1955, muối flo (sel fluoré), thường với hàm lượng fluorure 250 mg/kg, là một cách thay thế cho nước uống có flo (eau fluorée). Từ năm 1986, khoảng 15 nước, chủ yếu ở châu Âu và châu Mỹ, cũng theo cách dự phòng đại trà này.

Ở Pháp, sự flo hóa (fluoration) muối đã được cho phép và khuyến khích bởi đạo luật 3 tháng 10 năm 1985, sau khi nghiên cứu, bởi Tổng giám đốc y tế, vecteur tốt nhất nhằm ngăn ngừa đại trà bệnh sâu răng.

Mặc dầu sự tiêu thụ muối flo trước hết đã gia tăng dần dần cho đến năm 1990, là năm tỷ lệ của nó đạt đến 45%, nhưng từ đó việc tiêu thụ này đã không ngừng giảm xuống bắt đầu từ năm 1994 để rồi dậm chân tại chỗ quanh 19% hiện nay, trong khi ở Thụy Sĩ tỷ lệ đạt 85%.

NHỮNG CHIẾN DỊCH “ CHỐNG MUỐI ”

Việc đưa vào muối flo đã không được truyền bá qua chiến dịch thông tin truyền hình, và chính quyền bận rộn hơn với sự xuất hiện thình lình của đại dịch sida. Vì không có chính sách truyền thông này, cộng thêm những chiến dịch “chống muối ”, nên tỷ lệ xâm nhập của muối flo đã giảm từ khi được thiết đặt. Tuy vậy, một nhà nghiên cứu Thụy Sĩ đã cho thấy rằng trong các nước châu Âu, là nơi muối được phân phát đều có flo, ta có thể dự kiến một sự giảm 30% tỷ lệ sâu răng.

Tuy nhiên, tính hiệu quả đúng là thấp trong những nước chỉ có một bộ phận dân chúng sử dụng muối flo. Việc kềm hãm tính hiệu quả này được làm rõ nét hơn bởi sự bất bình đẳng xã hội, các gia đình thuộc tầng lớp xã hội kinh tế cao sử dụng thường hơn muối flo (đồng thời chăm chú đến những phương pháp phòng ngừa khác như đánh răng nhiều lần mỗi ngày với một kem đánh răng flo) hơn những tầng lớp ít được ưu đãi hơn.

Ở Đức, tỷ lệ muối flo trên thị trường chỉ chiếm 60% và người ta ước tính tỷ lệ hiệu quả là 14%. Ở Pháp, trên cơ sở một tỷ lệ sử dụng 30%, tính hiệu quả được đánh giá là 8%.

Ta có thể ước tính rằng tỷ lệ xâm nhập của muối flo trên thị trường phải khoảng 90% để có thể có được một sự giảm đáng kể của bệnh sâu răng. Thí dụ của Jamaique là đáng lưu ý trong chiều hướng là toàn bộ muối được thương mãi hóa đều có flo. Chỉ số sâu răng (indice carieux) vào năm 12 tuổi đã chuyển từ 6,7 năm 1984 xuống 1,1 vào năm 1995, hoặc hạ 80% trong 11 năm (không có những biện pháp nào khác ngoài đánh răng). Từ đó, biện pháp được mở rộng cho khoảng 300 triệu dân của vùng châu Mỹ.

Những công trình nghiên cứu khác nhau cho thấy một sự gia tăng đáng kể nồng độ flo trong nước miếng và mảng răng (plaque dentaire) đến hai giờ sau khi ăn những bữa ăn được chế biến với muối flo, làm gia tăng tác dụng bảo vệ trên các mô răng, dầu cho tuổi tác thế nào. Vậy muối flo, không cần một biến đổi nào về thói quen ăn uống về cung cấp muối, dường như là một phương pháp thực tiễn và phổ biến, nhất là nó làm lợi cho tất cả mọi lứa tuổi do tác dụng tại chỗ được công nhận.
(LE FIGARO 20/9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 110 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 25/1/2009 )

3/ PHÒNG NGỪA SÂU RĂNG: FLUOR KHÔNG CÒN ĐƯỢC CHO MỘT CÁCH CÓ HỆ THỐNG NỮA

ODONTOLOGIE : Cơ quan an ninh những sản phẩm y tế của Pháp Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits de santé) hôm qua đã khuyên đừng cho một cách có hệ thống fluor dưới dạng thuốc giọt hay thuốc viên nơi các trẻ em lúc mới sinh ra đời.

Trong những năm 1970, ở Hoa Kỳ người ta đã phát hiện rằng những trẻ em gần như không bị sâu răng trong những thành phố mà ở đó nồng độ fluor trong nước uống cao. Từ đó, trong các nước giàu có, đã phát triển cả một loạt các sản phẩm (thuốc đánh răng, gels, thuốc súc miệng), có chất cơ bản là fluor, dành cho các trẻ em và người lớn, để ngăn ngừa những thương tổn răng. Khá nhanh sau đó, các thầy thuốc nhi khoa đã khuyên các phụ nữ có thai uống những thuốc viên fluor và cho các trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh ra đời fluor thuốc viên hay thuốc giọt để uống với bình sữa. Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế của Pháp hôm qua đã khuyên đừng cho trẻ sơ sinh uống fluor nữa và đừng cho thuốc bằng đường miệng một cách hệ thống ở những trẻ trên 6 tháng. Suốt trong 20 năm qua, tỷ lệ sâu răng nơi các trẻ em đã thoái lui rõ rệt dưới tác dụng hiệp đồng của vệ sinh răng và sự sử dụng fluor.Tuy nhiên những trẻ xuất phát từ những giới nghèo khổ nhất vẫn đặc biệt có nguy cơ.

Với vài liều lượng, fluor có những tác dụng rất thuận lợi chống lại bệnh sâu răng : fluor có khả năng giới hạn sự làm mất chất khoáng (déminéralisation) và trái lại làm dễ sự tái khoáng hóa (reminéralisation) của răng. Ngoài ra, nó ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây sâu răng. Vấn đề là một quá liều (giữa 10 và 40 mg mỗi ngày) có thể dẫn đến tác dụng ngược lại, nghĩa là một nhiễm độc fluor (fluorose) : men răng trở nên xốp, răng bị nhuộm màu, dễ gãy. Những thương tổn xương cũng có thể xảy ra.

Thế mà, các nguồn fluor đã tăng lên, dĩ nhiên với các viên thuốc được dùng ngay khi sinh ra đời, các kem đánh răng hay các gels. Nhưng nguồn fluor cũng có trong muối ăn thêm fluor (sel de table fluoré), được dùng trong các cantine học đường. Mặt khác, nước máy (eau du robinet) trong vài vùng giàu fluor hơn. Nhưng 85% người Pháp sống trong những commune có nồng độ fluor trong nước máy rất thấp, khoảng 0,3% mg/ngày. Tuy vậy, ở Pháp, người ta cấm không được thêm muối fluor vào trong bánh mì hay những thức ăn kỹ nghệ. Vài nước khoáng đóng chai chứa những nồng độ cao fluor. Sự đa dạng của những nguồn fluor này, nếu không có những chỉ dẫn về các mức độ tiêu thụ được mong muốn, sẽ góp phần làm gia tăng nguy cơ quá liều. Theo tổ chức y tế thế giới, liều lượng tối ưu là 0,05 mg /kg/ngày, liều lượng không được vượt quá là 1mg/ngày. Những dữ kiện mới nhất của Pháp cho rằng 2,27% dân chúng bị nhiễm độc fluor (fluorose) nhẹ và 8,8% có một nhiễm độc “ nghi ngờ ”. Điều này không phải là không đáng kể.

“ ĐÁNH RĂNG HAI LẦN MỖI NGÀY ”

Chính trong bối cảnh này mà Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits de santé) đã xem xét hồ sơ và đưa ra những kết luận đoạn tuyệt với những chiến lược phòng ngừa hiện nay. Từ nay trở đi, không còn vấn đề cho fluor (thuốc giọt hay viên) trong các bình sữa của các nhũ nhi dưới 6 tháng nữa. Đối với những nhũ nhi trên 6 tháng, các chuyên viên khuyên sử dụng, một cách ưu tiên, các dạng fluor dùng tại chỗ, như kem đánh răng, chứa những liều lượng thích ứng theo tuổi. “ Dầu nguy cơ của đứa trẻ là thế nào đi nữa, biện pháp ngăn ngừa sâu răng hiệu quả nhất là đánh răng hai lần mỗi ngày và sử dụng kem đánh răng có thêm fluor (dentifrice fluorée) với nồng độ thích ứng theo tuổi ”, các chuyên viên của Afssaps đã đánh giá như vậy. Nơi những trẻ có nguy cơ cao bị sâu răng, fluor có thể được cho bổ sung lúc ở em bé xuất hiện những chiếc răng đầu tiên, vào khoảng 6 tháng.
(LE FIGARO 27/11/2008)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (11/10/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969