Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 87
Lượt truy cập: 1008403
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT KHÚC XƯƠNG CHỮA LÀNH BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

ĐIỂM CHỦ YẾU

  • Một hormone, được phóng thích một cách tự nhiên bởi tất cả các xương người, không những có thể ngăn cản bệnh loãng xương (ostéoporose) được gây nên bởi bệnh đái đường, mà còn làm giảm căn bệnh này.
  • Ostéocalcine là một chất dễ sản xuất và bền vững, điều này khiến nó trở thành một loại thuốc lý tưởng. Có lẽ dưới dạng thuốc viên.
  • Làm thoái triển bệnh đái đường bằng cách chỉ cần uống một viên thuốc ostéocalcine, một hormone tự nhiên : giấc mơ của tất cả các bệnh nhân đái đường có lẽ đang ở trong tầm tay.


NHỮNG ĐIỂM MỐC

NHỮNG ĐIỂM DƯƠNG

  • Ostéocalcine là một kích thích tố tự nhiên, như insuline vậy. Thoạt đầu, nó được dung nạp tốt bởi cơ thể. Do ít phức tạp (chỉ 49 acide aminé), nên việc chế tạo ostéocalcine sẽ được dễ dàng. Kích thích tố này rất đề kháng với thời gian, với nhiệt và với lạnh, điều này sẽ làm nó trở thành một loại thuốc dễ sử dụng.
  • Ostéocalcine, trái với insuline, có một tác dụng bắt chước hiện tượng điều hòa glucose xảy ra tự nhiên, vì lẽ kích thích tố này không những hoạt hóa các tế bào bêta của tụy tạng, mà còn làm gia tăng tính nhạy cảm của các mô đối với insuline. Thế mà, một trong những vấn đề quan trọng của vài bệnh nhân đái đường, nhất là những bệnh nhân béo phì, đó là họ cần phải tự chích hàng trăm đơn vị insuline nhân tạo mỗi ngày, vì lẽ cơ thể của họ đã trở nên đề kháng mạnh đối với hormone này. Trái lại, ostéocalcine dường như góp phần làm cân bằng trở lại những chức năng tự nhiên, mà không cần phải “ leo thang liều lượng ”.
  • Nhiều công trình nghiên cứu liên kết một nồng độ ostéocalcine thấp với tập hợp những rối loạn chuyển hóa : như chứng béo phì và cao huyết áp. Điều này làm gia tăng khả năng có thể giải quyết một loạt các vấn đề liên quan nếu kích thích tố này được thêm vào trở lại.
  • Ostéocalcine có thể hữu ích cho những bệnh nhân đái đường loại 1(đái đường bẩm sinh) cũng như những bệnh nhân đái đường loại 2 (đái đường mắc phải, chủ yếu do lối sống).


NHỮNG ĐIỂM ÂM

  • Còn cần phải kiểm chứng là ostéocalcine được dung nạp tốt và không độc với những liều lượng hữu ích để làm thoái triển bệnh đái đường. Người ta cũng không biết là có thể chế tạo nó dưới dạng thuốc viên hay không hoặc không biết các bệnh nhân có sẽ phải cần tiêm thuốc, như người ta đã thực hiện đối với chuột. Ta đã biết rằng việc lựa chọn giữa một dạng chích (đau đớn, nguy cơ nhiễm trùng) hay dạng uống có thể tạo nên sự thành công hay thất bại của một loại thuốc. Một công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng các bệnh nhân đái đường sử dụng gần hơn một nửa insuline được kê đơn, mặc dầu họ chịu thêm nguy cơ cao huyết áp.
  • Hoạt tính của ostéocalcine bị ngăn trở, “ được làm quân bình ” bởi adiponectine. Khi sự cân bằng này được đảm bảo, không phải lo âu. Nhưng khi sự mất cân bằng xuất hiện, adiponectine làm tan các tế bào xương để phóng thích ostéocalcine tự do. Ở trạng thái mãn tính, điều đó có thể khiến xương dễ vỡ, được thể hiện bởi những đường gãy vi thể (microfracture), đôi khi không thể phát hiện bằng X quang. Phải đảm bảo rằng adiponectine không có phản ứng gây thiệt hại khi cho ostéocalcine ngoại tại.
  • Tại sao không ức chế hẳn hoạt tính của adiponectine, điều này sẽ “ phóng thích ” ostéocalcine tự nhiên ? “ Chúng ta hiện không có chất ức chế tốt. Và nhất là, chúng ta có nguy cơ gây nên một bệnh loãng xương quy mô lớn. Ngay cả để chữa lành bệnh đái đường, điều đó đối với chúng ta dường như là một cái giá quá cao ”, giáo sư Patricia Ducy đã trả lời như vậy.


Chữa lành bệnh đái đường bằng cách sử dụng một kích thích tố được tiết ra một cách tự nhiên bởi con người ? Có lẽ đó là điều mà người ta sẽ làm trong một tương lai rất gần, trên cơ sở những công trình nghiên cứu mới, được trình bày mới đây tại Hội nghị Châu Âu về nghiên cứu bệnh đái đường.

Lịch sử của cuộc khám phá này không phải là thông thường : từ 50 năm nay, người ta biết rằng bệnh đái đường gây nên chứng loãng xương (ostéoporose) và rằng phải cảnh giác chống lại tác dụng thứ phát này, lại còn làm suy thoái thêm chất lượng sống của những người bị bệnh đái đường, bằng cách làm cho họ bị nhiều hơn những gãy xương gây phế tật, mà sự chữa lành dài lâu và khó khăn. Chính trong lúc tìm kiếm những phương tiện để chận đứng tình trạng loãng xương do sự thặng dư đường trong máu, mà các nhà nghiên cứu của một phòng thí nghiệm của Đại học Columbia đã khám phá, không những nguồn gốc của sự thoái biến này, mà còn tìm ra một hướng rất đầy hứa hẹn để ngăn cản nó. Nhưng điều gây ngạc nhiên nhất, đó là, việc chận đứng sự làm dễ vỡ xương cũng có thể khiến.. chữa lành hẳn bệnh đái đường.

Những nhà nghiên cứu này, được chỉ đạo bởi GS Patricia Ducy, trong lúc quan sát rằng chứng béo phì bảo vệ chống lại bệnh loãng xương, đã đưa ra giả thuyết cho rằng, cùng các kích thích tố đã đồng thời tác dụng đối với chuyển hóa của glucose (bị rối loạn nơi những bệnh nhân bị đái đường) và đối với chuyển hóa của “ remodeling ” của xương, một hiện tượng bao gồm đồng thời sự tiêu hủy và tạo xương, quá trình được thực hiện mỗi giây phút trong cơ thể của chúng ta. Tác nhân của hiện tượng remodeling này, đó là ostéocalcine, một hormone hiện diện tự nhiên trong chất xương và khi được phóng thích trong tuần hoàn máu, gởi các tín hiệu cho tụy tạng, cơ quan quan trọng có nhiệm vụ điều hoà đường huyết. “ Chúng tôi đã khám phá ra rằng kích thích tố này (ostéocalcine) làm gia tăng sự tăng sinh của các tế bào bêta, những tế bào của tụy tạng sản xuất insuline. Vậy nó làm gia tăng sự sản xuất tự nhiên của insuline và gây nên một sự giảm sản xuất glucagon (phóng thích năng lượng từ gan để tái lập đường huyết cân bằng). Ostéocalcine cũng làm giảm sự đề kháng đối với insuline của các mô khác của cơ thể, điều này làm giảm lượng insuline cần thiết để có được một sự quân bình. Tuy nhiên, tất cả ostéocalcine của cơ thể không phải đều hoạt động, tác dụng của nó bị giới hạn bởi một hormone khác, adiponectine ”, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy.

Khi hệ thống cân bằng, sự tiêu hủy xương để phóng thích ostéocalcine được bù bởi sự tái tạo tự nhiên của xương. Nhưng khi bệnh đái đường phát ra, những nồng độ gia tăng insuline “ đốt thành than ” xương dưới nhu cầu quá mức và gây nên chứng loãng xương. Do đó các nhà nghiên cứu đã thực hiện những thử nghiệm trên chuột được làm béo phì một cách nhân tạo bởi thứ ăn rất béo và nhiều đường bằng cách tiêm cho chúng ostéocalcine. “ Trong khi những con chuột được nuôi ăn quá mức đã trở nên rất béo phì, những con chuột đã nhận ostéocalcine vẫn giữ đường nét thân hình. Chúng đã xử lý đúng đắn đường bằng cách sản xuất nhiều insuline hơn, nhưng cũng bằng cách làm gia tăng tính nhạy cảm của chúng đối với insuline. ”

“ TRẮC NGHIỆM TRƯỚC HẾT TRÊN CÁC ĐỘNG VẬT LINH TRƯỞNG ”

Ta có thể tiêm ostéocalcine cho những bệnh nhân, để xem chứng loãng xương của họ có giảm hay không, thậm chí để xem căn bệnh đái đường của họ có thoái biến hay không ? “ Chúng ta chưa ở giai đoạn đó. Các con chuột, sau 16 tuần, vẫn mạnh khỏe. Nhưng thành công này không thể áp dụng ngay nơi người. Sẽ phải qua những công trình nghiên cứu dài lâu hơn, có lẽ nơi những động vật linh trưởng không phải người, trước khi dám thử trên người. Nhưng chúng tôi đã chứng tỏ rằng hormone này, nhất là trong điều kiện có độ axít, dường như tuyệt hảo trong việc giúp điều hòa đường huyết, như thể nó đi ngược lại con đường thoái biến gây nên bởi sự xác lập dần dần của bệnh đái đường. Đó như thể là đi ngược lại dòng thời gian của căn bệnh. Những thử nghiệm tương lai ngoài tầm tay một phòng thí nghiệm nghiên cứu cơ bản như phòng thí nghiệm của tôi. Nhưng nhiều hãng dược phẩm đã tỏ ra quan tâm.”
(LE SOIR 24/9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 41 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 09/9/2007 )

6/ MỘT ÍT ĐƯỜNG VÀ NHIỀU XƯƠNG

Bộ xương của chúng ta bản thân là một hệ nội tiết. Thật vậy, theo một nhóm nghiên cứu của trung tâm y khoa của đại học Columbia (Nữu Ước) thì xương của chúng ta có khả năng điều hòa lượng đường trong máu qua sự tiết một hormone gọi là ostéocalcine. Chất này kích thích tiết insuline và làm gia tăng tính nhạy cảm của các tế bào đối với hormone này để tiêu thụ đường trong máu. Đây là lần đầu tiên một phân tử có hai chức năng này được khám phá.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2001)

Thời Sự Y Học Số 45 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/10/2007 )

3/ XƯƠNG CHỨA ĐỰNG MỘT PHƯƠNG THUỐC CHỐNG BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG

Ostéocalcine có hiệu quả hơn insulin ! Hormone được tổng hợp bởi xương này là một phát hiện mới lạ trong việc chống lại bệnh đái đường. Khám phá này là quan trọng. Bộ xương của chúng ta có lẽ chứa một trong những phương thuốc của tương lai chống lại bệnh đái đường và các bệnh chuyển hóa khác ! Thật vậy, theo các nghiên cứu còn sơ khởi, ostéocalcine (hormone được tổng hợp bởi vài loại tế bào xương) có thể là một thuốc hiệu quả hơn insuline để chống lại bệnh đái đường. Mãi đến tận ngày nay, ostéocalcine được biết đến trong vai trò remodelage xương. Ostéocalcine cũng có can dự trong chuyển hóa năng lượng. Hormone này tăng cường sự sản xuất insuline bằng cách thúc đẩy sự tăng sinh các tế bào tiết. Nhưng ostéocalcine chủ yếu làm gia tăng tính nhạy cảm của các tế bào đối với insuline, do đó cho phép chúng thu nhận tốt hơn glucose. Một khám phá hợp thời để chống lại sự đề kháng đối với insuline xuất hiện nơi một vài bệnh nhân được điều trị. Chính trong lúc nghiên cứu trên chuột (sự sản xuất ostéocalcine được bội hoạt hóa) mà nhóm nghiên cứu của GS Karsenty (đại học Columbia) đã thực hiện khám phá này.Theo nhà nghiên cứu, ostéocalcine, vì dễ tổng hợp và không gây một tác dụng phụ nào, nên sẽ là một ứng viên lý tưởng để điều trị bệnh đái đường, nếu như các kết quả này được xác nhận trên người.
Và theo giáo sư thì điều này rất là có khả năng. Ngoài ra thí nghiệm này sẽ giải thích mối liên hệ giữa việc mất khối lượng xương (masse osseuse) và sự xuất hiện «cái bụng to» lúc lớn tuổi (
SCIENCE ET VIE 10/2007)


2/ CÁC VIÊN OMEGA 3 CÓ BẢO VỆ NHỮNG BỆNH TIM MẠCH ?

Professeur Nicolas Dancin
Cardiologue
HEGP, Paris
Membre de la Société française de cardiologie


Các oméga 3 là những chất mỡ tạo nên các axít béo đa bảo hòa (acide gras polysaturé), mà ta tìm thấy trong thức ăn, đặc biệt là trong cá (nhất là cá mỡ) và trong vài loại thực vật, như quả hồ đào (noix), cây lanh (lin) hay cây cải dầu (colza). Khác với nhiều thành phần dinh dưỡng, các oméga 3 (chủ yếu là dầu cá) đã là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu điều trị.
Thật vậy, chính do những quan sát dịch tễ học, chứng thực một tỷ lệ tử vong tim-mạch thấp trong các nuớc hay vùng, trong đó dân chúng tiêu thụ nhiều cá, mà một sự quan tâm đặc biệt đã hướng về những tính chất bảo vệ của các oméga 3.

NHIỀU CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU.

Tiếp theo sau những quan sát đầu tiên này, một công trình nghiên cứu Ý, Gissi-prevenzione, đã thực hiện trên khoảng 1.000 bệnh nhân sau một cơn đau tim, đã đánh giá những hiệu quả của việc sử dụng hàng ngày những viên thuốc oméga 3 ; sau một thời gian theo dõi 3 năm rưỡi, người ta quan sát thấy một sự giảm 30% nguy cơ tử vong, nguy cơ tái phát nhồi máu hay tai biến mạch máu não và một sự giảm 14% tỷ lệ tử vong nơi những bệnh nhân đã nhận oméga 3 1g/ngày. Ngoài ra, tác dụng thuận lợi này chủ yếu đuợc liên kết với một sự giảm nguy cơ chết đột ngột do tim, khiến nghĩ rằng các oméga 3 có thể cải thiện sự ổn định của các vòng điện của tim.

Tuy nhiên, công trình nghiên cứu đã không mang lại sự thuyết phục, phần lớn bởi vì đó là một công trình nghiên cứu “ mở ”, nghĩa là một công trình nghiên cứu trong đó những người tham dự được điều trị bởi oméga 3 biết rằng họ nhận một điều trị nhằm cải thiện tỷ lệ sống còn, như thế có thể gây nên một“ hiệu quả placebo ” (thật vậy người ta biết rằng sự việc kê đơn một loại thuốc, kể cả hoàn toàn không có hoạt tính, mà ta gọi là “ placebo ”, làm giảm nguy cơ bị các biến chứng). Ngoài ra công trình nghiên cứu là cũ (cách nay hơn 15 năm) và các bệnh nhân không được điều trị như chúng ta làm hôm nay.

Từ khi công trình nghiên cứu Gissi-prevenzione, nhiều thử nghiệm khác đã tìm cách kiểm tra các kết luận ban đầu, đặc biệt để cố gắng kiểm tra khả năng của một tác dụng chống lại chết đột ngột. Vài công trình nghiên cứu đã đánh giá những bệnh nhân có nguy cơ cao bị những loạn nhịp tim nặng (những loạn nhịp nguyên nhân của các chết đột ngột) và nơi những người này, một máy khử rung có khả năng ghi tất cả những loạn nhịp nghiêm trọng đã được thiết đặt ; các công trình nghiên cứu đã không có thể tìm thấy sự khác nhau giữa những bệnh nhân sử dụng oméga 3 và những bệnh nhân nhận một thuốc placebo. Vào năm 2008, một công trình đã quy tụ toàn bộ những nghiên cứu được thực hiện với oméga 3 và đã ghi nhận một tác dụng lên nguy cơ tử vong nguồn gốc tim mạch, nhưng không có tác dụng lên nguy cơ chết đột ngột cũng như lên tỷ lệ tử vong toàn thể. Nói một cách khác, các oméga 3 cho phép làm giảm nguy cơ chết vì tim, nhưng không làm chậm lại ngày tháng tử vong !

Từ phân tích này, hai công trình nghiên cứu đã được trình bày. Một công trình nghiên cứu được thực hiện nơi những bệnh nhân bị suy tim, Gissi-HF, đã ghi nhận một sự giám không đáng kể tỷ lệ tử vong ( -6%) sau 4 năm, nhưng không có tác dụng đáng kể lên nguy cơ tử vong. Một nghiên cứu khác, thử nghiệm Oméga, đã đánh giá tác dụng của một điều trị bằng các oméga 3 nơi những bệnh nhân đã bị một nhồi máu cơ tim và nhận những điều trị hiện được chủ trương trong tình huống này ; điều trị bởi oméga 3 đã được so sánh với một điều trị bằng dầu olive, được trình bày dưới dạng thuốc viên có bề ngoài giống hệt để tránh tác dụng placebo : sau một năm, người ta không nhận thấy một lợi ích nào của oméga 3 so với điều trị cổ điển.

Như thế, hiện nay, tình hình không phải luôn luôn hoàn toàn rõ ràng : nếu các viên thuốc oméga 3 nguồn gốc động vật (các dầu cá) có một hiệu quả, hiệu quả này có lẽ rất hạn chế và người ta không thể nói là do cơ chế chính xác nào ; trong bối cảnh này, vậy ta trông chờ với nhiều nôn nóng những kết quả của một thử nghiệm lớn của Pháp, được tiến hành bởi BS Galan và BS Hercberg, công trình nghiên cứu SUL-FOL-OM3, đã đánh giá trong một thời kỳ hơn 4 năm hiệu quả của oméga 3 (600mg mỗi ngày) nơi những bệnh nhân đã bị một lần nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não.

Nhưng dầu sao, sự việc có một chế độ ăn uống giàu oméga 3, nguồn gốc đông vật và thực vật, được liên kết với một nguy cơ tai biến tim mạch ít hơn, vẫn luôn luôn đúng : chất lượng của chế độ ăn uống có lẽ quan trọng hơn sự việc dùng các viên thuốc bổ sung.
(LE FIGARO 25/5/2010)

3/ UNG THƯ CÓ THỂ ĐƯỢC PHÁT HIỆN TRONG HƠI THỞ MÀ TA THỞ RA.

Phát hiện sự hiện diện của một khối u ung thư trong không khí thở ra sẽ trở nên có thể nhờ một cái mũi nhân tạo (nez artificiel). Các nhà nghiên cứu của Haifa (Israel) đã hiệu chính một biopuce, được cấu tạo bởi các nanoélectrode bằng vàng, được bọc bởi những phân tử hữu cơ. Nguyên tắc : các tế bào ung thư phát ra những hợp chất hữu cơ bay hơi (COV : composés organiques volatiles), được tìm thấy trong máu, rồi trong không khí được thở ra sau khi đã được trao đổi ở phổi. Là chữ ký sinh hóa thật sự của khối u, các phân tử này gây nên những biến đổi tạm thời của điện trở của các nanocapteur. Công trình nghiên cứu sơ khởi, được thực hiện trên một trăm người tình nguyện tỏ ra đầy hứa hẹn. Những tín hiệu được phát ra bởi các biopuce cho phép phân biệt những người lành mạnh và những bệnh nhân được chẩn đoán (nhưng chưa được điều trị) đối với một ung thư phổi, vú, đại tràng hay tuyến tiền liệt. Một hiệu năng mà chỉ có các con chó mới có khả năng thực hiện cho đến nay. Ngoài ra, so sánh với các phân tích sinh hóa cổ điển, sự góp phần của các nanotechnologie là đáng kể. Nhạy cảm hơn, chọn lọc hơn, đơn giản hơn, phương pháp không xâm nhập này cần được tối ưu hóa và được xác nhận trên một số lượng lớn hơn.
(SCIENNCE ET VIE 10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 189 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 30/8/2010 )

5/ MỘT TRẮC NGHIỆM HƠI THỞ ĐỂ PHÁT HIỆN CÁC UNG THƯ.

Chiếc mũi điện tử cho phép phân biệt nhiều loại ung thư, nhưng còn phải được chuẩn nhận.

CANCER. Phát hiện một ung thư phổi, vú, đại tràng hay kể cả tuyến tiền liệt trong vài phút chỉ bằng một phân tích hơi thở. Đường hướng nghiên cứu quyến rũ này, được thăm dò từ nhiều năm nay bởi nhóm nghiên cứu của Hossam Haick (Viện công nghiệp học israel, Haifa), bắt đầu được trắc nghiệm trên lâm sàng. Và những kết quả rất là đáng phấn khởi, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện nơi 177 người tình nguyện, vừa được công bố trong British Journal of Cancerology.

Nguyên tắc của “ chiếc mũi điện tử ” này, được sinh ra đời trong những năm 1970, là tìm kiếm trong không khí thở ra những phân tử nhỏ, các những hợp chất hữu cơ bay hơi (COV : composés organiques volatiles), mà nồng độ cao hơn trong trường hợp ung thư. Thật vậy, các tế bào ung thư bị những biến đổi hóa học nơi bề mặt của chúng, do đó có thể được tìm thấy trong máu, nước tiểu hay cả khí thở ra. Để phát hiện chúng, các nhà nghiên cứu israel nhờ đến một công nghệp học cực kỳ nhạy cảm và được thu nhỏ (une tecnologie ultrasensible et miniaturisée) với những nanocapteur, mà chất cơ bản là những hạt vàng (particules d’or). Trong công trình nghiên cứu này, họ đã đưa vào 177 người tình nguyện mà một nửa vừa có một chẩn đoán ung thư (phổi, vú, tuyến tiền liệt hay đại tràng) và đã chưa được điều trị. Những người khác đã không có bệnh gì đặc biệt.

Nhờ chiếc “ mũi điện tử ”, các nhà nghiên cứu đã có thể phân biệt hơi thở của những người chứng với các hơi thở của những bệnh nhân bị ung thư, và trong số những bệnh nhân bị các bướu ung thư này, họ phân biệt được các loại ung thư khác nhau. Đối với mỗi vị trí ung thư, mũi điện tử đã nhận diện 4 đến 6 hợp chất hữu cơ bay hơi đặc biệt. Nhưng hiệu năng của các chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) này hơi ít tốt hơn đối với các ung thư của tuyến tiền liệt, các tác giả israel đã ghi nhận như vậy.

Như thế trong tương lai, các tác giả này hy vọng “ phát triển một công cụ ít tốn kém, dễ sử dụng, có thể mang theo và không xâm nhập ”, ưu thế hơn những phương pháp phát hiện hay chẩn đoán sớm các ung thư hiện nay.“ Đó là một việc làm hay, được tiến hành bởi một nhóm nghiên cứu nghiêm túc, với một khái niệm tài tình. Nhưng còn phải chuẩn nhận nó bằng những nghiên cứu được thực hiện trên nhiều ngàn người, GS Dominique Bellet, người phụ trách phòng thí nghiệm ung thư sinh học (oncobiologie) thuộc bệnh viện René Huguenin của Viện Curie, đã đánh giá như vậy. Thế mà người chuyên gia này nhấn mạnh rằng mặc dầu việc nghiên cứu các chất chỉ dấu sinh học của các ung thư rất phát đạt, nhưng chỉ có 1% cuối cùng được chuẩn nhận mà thôi.

Jean-Louis Viovy, nhà sinh vật lý (biophysicien) ở Viện Curie, cũng vẫn tỏ ra thận trọng. “ Các nhà nghiên cứu đã so sánh những người lành mạnh với những người bị bệnh ung thư, nhưng cũng phải cần kiểm tra rằng những trắc nghiệm này không dương tính đối với những bệnh không phải ung thư ”, ông đã nêu lên như vậy. Câu trả lời sẽ có trong những năm sắp đến.
(LE FIGARO 13/8/2010)


4/ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG : ASPIRINE CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ ?

Vào năm 2007, những kết quả của những công trình nghiên cứu của Anh và Mỹ, được thực hiện trên hàng ngàn bệnh nhân, đã xác nhận rằng aspirine có thể có một tác dụng bảo vệ chống ung thư đại tràng. Aspirine ức chế một enzyme tai hại, cyclo-oxygénase 2 : men này đóng một vai trò quan trọng trong quá trình viêm và biến hóa của một polype hiền tính thành ung thư. Trung bình sự giảm nguy cơ là 33% nơi những người dùng 325 mg aspirine hai lần mỗi tuần trong ít nhất 5 năm ; 40% nơi những người dùng 300 mg mỗi ngày trong 5 năm và 70% khi sự tiêu thụ vượt quá 5 năm. Mặc dầu với những kết quả này, vẫn còn thiếu sự xác định liều lượng tối thiểu có thể mang lại một tác dụng bảo vệ, bởi vì 300 mg mỗi ngày là một liều lượng cao. Một công trình nghiên cứu của Anh mới đây (Drs Faraht Din et Malcolm Dunlop) đã so sánh 2.279 người bị ung thư đại tràng với 2900 người chứng lành mạnh, và đã có thể xác định rằng một tác dụng bảo vệ (với giảm 22% nguy cơ) xuất hiện ngay năm đầu tiên, bắt đầu từ 75mg aspirine, 4 lần mỗi tuần.
(PARIS MATCH 7/10-13/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 35 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 17/7/2007 )

8/ ASPIRINE VÀ PHÒNG NGỪA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Uống aspirine 300mg mỗi ngày suốt trong 5 năm sẽ bảo vệ chống lại sự phát sinh ung thư đại tràng 10 năm sau đó. Đó là kết quả của công trình nghiên cứu được điều hành bởi John A. Baron thuộc Dartmouth Medical School (Hoa Kỳ). Mặc dầu việc sử dụng aspirine mỗi ngày dường như là một cách tốt đề phòng ngừa một trong những khối u ác tình thường xảy ra nhất, tuy nhiên các nhà ung thư học không khuyên uống aspirine vì mục đích này cho tất cả mọi người: việc uống aspirine lâu dài có thể gây nên xuất huyết dạ dày và ruột. Chỉ những người có nguy cơ cao bị ung thư đại tràng mới phải uống mà thôi
(SCIENCE ET VIE 7/2007)


5/ UNG THƯ : NHỮNG ĐIỀU TRỊ NHẰM ĐÍCH CHỐNG LẠI CÁC TÁI PHÁT.

GS David Khayat, trưởng khoa ung thư, Hôpital de la Pitié-Salpêtrière, giải thích những bước tiến trong các điều trị nhắm đích nhằm chống lại những tái phát ung thư.

Hỏi : Người ta gọi một điều trị nhắm đích (traitement ciblé) nghĩa là gì ?
GS David Khayat : Đó là những thứ thuốc thông minh (médicaments intelligents). Thay vì giết một cách mù quáng tất cả các tế bào ung thư hay lành mạnh, như hóa học liệu pháp đã làm, những dược phẩm này chỉ tấn công những tế bào ung thư. Nhưng để đạt được kết quả như thế, đã cần phải những nghiên cứu lâu dài để hiểu bằng những cơ chế nào một tế bào ác tính có thể tăng sinh, di chuyển, chế ngự những tế bào khác..


Hỏi : Tác dụng của những “ phi đạn ” (missiles) chỉ nhắm những tế bào ác tính này là gì ?
GS David Khayat : Nhờ các công trình nghiên cứu to lớn của các nhà nghiên cứu, người ta đã có thể nhận diện mỗi giai đoạn của những quá trình ung thư khác nhau. Và người ta đã chế tạo những sản phẩm có khả năng phong bế những cơ chế có hại này. Mỗi một sản phẩm nhằm vào một giai đoạn của quá trình ung thư, như thế làm ngừng sự tiến triển của nó. Người ta không ngừng khám phá những đích mới và người ta nhận thấy rằng chúng khác nhau đối với mỗi ung thư và có lẽ ngay cả đối với mỗi loại bệnh nhân. Do đó, chẳng bao lâu nữa ta có những điều trị “ à la carte ”. Ngày nay, lúc làm sinh thiết, những phân tích cơ thể bệnh lý cho phép kiểm tra xem ung thư có mục tiêu mà ta mong muốn tấn công hay không.

Hỏi : Nhân Diễn đàn sắp đến của Unesco về sự phòng ngừa các ung thư và những tái phát của chúng, ông sẽ công bố những kết quả của các điều trị này ?
GS David Khayat : Những điều trị này hiện nay được sử dụng để tránh những tái phát của các ung thư vú, của một ung thư tiêu hóa nào đó và của những u hắc tố có nguy cơ cao (mélanome à haut risque). Về những ung thư vú, hai loại thuốc được chỉ định tùy theo dạng đặc hiệu của ung thư (được xác định lúc làm sinh thiết). Đối với những ung thư phụ thuộc kích thích tố (hormono-dépendant) (mà các tế bào có một thụ thể đối với œstrogène và progestérone), ta kê đơn cho bệnh nhân, trong khoảng 5 năm, một thuốc kháng kích thích tố (produit anti-hormonal) có khả năng phong bế thụ thể này. Kết quả : một sự giảm 50% nguy cơ tái phát. Đối với một dạng ung thư vú khác, trong đó những tế bào ung thư có trên bề mặt của chúng một thụ thể, HER2, người ta đã chế tạo một phi đạn được điều khiển (missible guidé) thật sự, trastuzumab (Herceptin), tiêu diệt các tế bào ác tính. Với điều trị này, có thời gian điều trị 1 năm, ta thu được một sự giảm nguy cơ tái phát 40%.

Hỏi : Để không bị tái phát sau một u hắc tố có nguy cơ cao, phương pháp mới nhất là gì ?
GS David Khayat : Điều trị phòng ngừa, trên cơ sở interféron, được chỉ định trong một thời gian 1 năm. Mục đích là làm chậm lại sự tăng sinh của những tế bào còn sót lại và kích thích hệ miễn dịch.

Hỏi : Về khối u tiêu hóa, Gist, chiến lược phòng ngừa là gì ?
GS David Khayat : Để tránh một tái phát, ta cũng được hưởng một điều trị nhắm đích cực kỳ hiệu quả, imatinib (Glivec), làm giảm khoảng 30% những nguy cơ tái phát.

Hỏi : Đối với những ung thư khác nào ta hy vọng ngăn ngừa những nguy cơ tái phát ?
GS David Khayat : May mắn thay, đối với rất nhiều khối u ! Nhiều thuốc đang được thử nghiệm đối với các ung thư phổi. Những kết quả nghiên cứu đầu tiên rất là đáng phấn khởi. Những loại thuốc khác hiện đang được đánh giá đối với ung thư đại tràng. Chúng ta cũng có nhiều hy vọng với ergotinib (Tarceva) đối với ung thư tụy tạng. Những điều trị phòng ngừa cũng đang được nghiên cứu đối với ung thư thận, với, một mặt, những điều trị nhắm đích nhằm phong bế sự tạo thành các huyết quản nuôi dưỡng của các tế bào ung thư và, mặt khác, các vaccin nhắm đích (vaccins ciblés) nhằm gây nên một phản ứng miễn dịch mạnh mẽ.

Hỏi : Những điều trị này có những tác dụng phụ không ?
GS David Khayat : Những điều trị này nói chung được dung nạp tốt hơn các hóa học liệu pháp. Nhưng chúng có thể gây nên những tác dụng phụ đặc biệt.
(PARIS MATCH 7/10-13/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 104 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 4/12/2008 )

7/ NHỮNG UNG THƯ GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN TRỞ THÀNH BỆNH MÃN TÍNH

G.S David Khayat giải thích những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới làm ngừng tiến triển của nhiều loại ung thư. Ông cũng là tác giả của “ Mots sur les maux du cancer ”

Hỏi : Ngày nay, tỷ lệ lành bệnh của những ung thư thường xảy ra nhất là những tỷ lệ nào ?
G.S David Khayat : Về ung thư vú, hơn 80% các phụ nữ được điều trị hiện nay sẽ lành bệnh. Chúng ta sẽ có một tỷ lệ lành bệnh khá gần đối với các ung thư tiền liệt tuyến (75%) và đối với các ung thư của trực tràng (70%). Với những trị liệu hiện nay, cũng có một tỷ lệ lành bệnh rất cao nơi những người bị vài ung thư hạch và tinh hoàn. Các ung thư của trẻ em cũng được hưởng rất nhiều những tiến bộ điều trị.

Hỏi : Cách tác dụng của những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới nhất là gì ?
G.S David Khayat: Các tiên lượng của vài loại ung thư đã có được một sự cải thiện rõ rệt nhờ các vũ khí mới nhắm đích! Thay vì dội bom toàn bộ các tế bào của cơ thể với các thuốc hóa học trị liệu, người ta tìm cách chỉ tấn công vào những cơ chế phân tử mà các tế bào ung thư sử dụng để trở thành đáng sợ. Với những điều trị mới này, người ta nhắm một cách đặc hiệu những phân tử là nguồn gốc của những cơ chế tai hại này, nhằm phong bế hay giết chết những tế bào ung thư, đồng thời gìn giữ các tế bào lành mạnh.

Hỏi : Những loại ung thư nào đã được hưởng những liệu pháp mới này ?
G.S D.K : Các ung thư vú với hai loại thuốc hoàn toàn đổi mới. Loại thuốc thứ nhất, trastuzamab, nhắm một cách đặc hiệu vào những tế bào ung thư của một nhóm các ung thư vú (12%) mang một chất đặc hiệu, HER2. Với điều trị bằng thuốc này, tỷ lệ khỏi bệnh tăng lên hơn 40% ! Loại thuốc thứ hai, bevacizumab, nhằm vào các huyết quản nuôi dưỡng khối u, như thế tước đi nguồn năng lượng cần thiết cho sự tăng trưởng của nó. Được sử dụng trong các giai đoạn di căn ung thư vú, thuốc này làm gia tăng 40% hiệu quả của các hóa học trị liệu cổ điển. Các ung thư đại tràng di căn cũng được cải thiện với điều trị bởi bevacizumab : kết hợp với một hóa học trị liệu, thuốc làm gia tăng khoảng 30% các tỷ lệ thuyên giảm bệnh. Một loại thuốc mới khác, cetuximab, được cho để điều trị vài loại ung thư đại tràng, thành công phong bế một cách rất đặc hiệu các thụ thể (récepteurs) nằm trên những tế bào ung thư cho phép chúng tăng trưởng và tăng sinh. Trong trường hợp này, sự kết hợp thuốc với hóa học trị liệu làm gia tăng, trong cùng tỷ lệ, những hy vọng thuyên giảm lâu dài.

Hỏi : Người ta cũng có thể điều trị nhắm đích vài loại ung thư phổi chứ ?
G.S D.K : Đối với ung thư phổi không phải loại các tế bào nhỏ (à petites cellules), đã có một tiến bộ rất lớn với sự xuất hiện của một điều trị nhắm đích, erlotinib, được cho không phải bằng đường tĩnh mạch nữa mà bằng đường miệng. Thuốc này nhắm vào một thụ thể đặc hiệu hiện diện trên phần lớn các khối u. Thuốc này có ưu điểm là có hiệu quả khi dùng đơn độc, không phối hợp với hóa học trị liệu. Tất cả những điều trị nhắm đích này không gây nên rụng tóc hay nôn mửa. Nhưng chúng có thể gây nên những tác dụng phụ khác, như nổi mụn, hạ huyết áp...

Hỏi : Những tiến bộ khác là gì ?
G.S D.K : Theo ý kiến của tôi, tiến bộ lớn nhất được quan sát là sự kiện, khi một bệnh nhân bị tái phát với sự xuất hiện một di căn, ngày nay chúng ta có những phương tiện để chữa lành nó trong một số trường hợp không phải là ít ỏi. Điều đó là một cuộc cách mạng thật sự ! Không những là cách mạng y khoa, mà còn là cách mạng trong quan niệm của bệnh này. Những kết quả dương tính không những chỉ do các điều trị nhắm đích, mà còn do những hóa học trị liệu pháp mới, những điều trị kháng hormone mới, một vài biphosphonates, như acide zolédronique. Cũng phải nói về phẫu thuật ngoại khoa, ngày nay cho phép lấy đi một và thậm chí nhiều di căn. Tiến bộ quan trọng khác : vaccin chống papillomavirus, tác nhân nhiễm khuẩn gây ung thư cổ tử cung.
(PARIS MATCH 20-26/11/2008)

Thời Sự Y Học Số 148 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 14/11/2009 )

7/ UNG THƯ VÚ : TIÊN LƯỢNG TỐT HƠN VỚI ĐIỀU TRỊ NHẮM ĐÍCH.
BS Véronique Diéras, thầy thuốc chuyên khoa ung thư thuộc Viện Curie, giải thích những tiến bộ quan trọng, được thực hiện trong các ung thư vú, được trình bày tại Hội Nghị Asco, Hoa Kỳ.

Hỏi : Bà có thể nhắc lại tần số của các ung thư vú ở Pháp ?
Véronique Diéras : Người ta đã thống kê được 51.000 trường hợp vào năm 2008. Trung bình cứ 8 phụ nữ đang có hoặc sẽ có một ung thư vú. Nhưng hiện nay người ta quan sát thấy hơn 70% được chữa lành.

Hỏi : Các loại khác nhau của ung thư vú là gi ?
Véronique Diéras : Người ta xếp chúng thành 3 loại.
  • Những ung thư phụ thuộc kích thích tố (hormono-dépendants), trong đó những tế bào ung thư có những thụ thể (récepteur) đối với œstrogène và progestérone, những hormone làm dễ sự tăng sinh những tế bào ác tính (khoảng 70% các ung thư).

  • Các ung thư “ HER dương tính ” (20% các khối u), hung hãn hơn nhiều, có trên bề mặt của những tế bào một thụ thể HER2. Chỉ một mình nó, HER2 gây nên sự tăng sinh của những tế bào ung thư và làm dễ sự phân tán của chúng để tạo nên các di căn.

  • Các ung thư “ cả ba âm tính ” (triple négatif), không có một thụ thể nào và còn hung hãn hơn các loại trước.

Hỏi : Ngoài ngoại khoa, bức xạ liệu pháp, hóa học liệu pháp, những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) ngày nay được sử dụng là gì ?
Véronique Diéras : Đối với những ung thư phụ thuộc kích thích tố (cancers hormono-dépendants), các thuốc kháng kích thích tố (antihormonaux) là chìa khóa của điều trị. Mục đích là chống lại một cách đặc hiệu các tác dụng của các hormone trong tế bào ung thư.
  • Đầu đàng của những thứ thuốc này nơi những phụ nữ trẻ hay mãn kinh là tamoxifène (Nolvadex). Dược chất này cạnh tranh với các oestrogène nơi thụ thể và phong bế tác dụng của nó.

  • Các chất ức chế men aromatase chỉ duy nhất được sử dụng nơi các phụ nữ mãn kinh. Aromatase là một enzyme chịu trách nhiệm sự sản xuất oestrogène nơi các mô mỡ và vú.

  • Một thuốc khác mới hơn, luôn luôn dành cho các phụ nữ mãn kinh : fulvestrant (chích mông) gây nên sự thoái hóa của các thụ thể đối với œstrogène.

Hỏi : Những kết quả của những điều trị nhắm đích này ?
Véronique Diéras : Trong đại đa số các trường hợp, những điều trị này là có hiệu quả. Tamoxifène có lẽ là thuốc đã cứu nhiêu mạng người nhất trong 30 năm vừa qua ! Nhưng nơi những bệnh nhân này người ta quan sát thấy một sự đề kháng với kích thích tố liệu pháp (hormonothérapie). Lúc đó ta có hai giải pháp : hoặc là ta biến đổi điều trị, hoặc là ta dự kiến một hóa học liệu pháp. Các kết quả thay đổi tùy theo những đặc điểm sinh học của khối u và những đặc điểm chung của mỗi bệnh nhân.

Hỏi : Bà có thể giải thích các đặc điểm di truyền nghĩa là thế nào ?
Véronique Diéras : Một thứ thuốc nhắm đích (médicament ciblé), một khi được đưa vào trong cơ thể, sẽ chịu những biến hóa, thay đổi tùy theo các chuyển hóa, trước khi đạt đến mục đích của nó. Vì tất cả chúng ta khác nhau về mặt di truyền, cùng một thứ thuốc sẽ không có cùng hiệu quả nơi tất cả các bệnh nhân. Trong tương lai, lý tưởng sẽ là kê toa một điều trị chống ung thư không chỉ tùy theo khối u mà còn tùy theo các gène nữa.

Hỏi : Đối với những ung thư phụ thuộc hormone, những tiến bộ đạt được là gì ?
Véronique Diéras : Những nghiên cứu quốc tế hiện nay đang đươc tiến hành trên những phụ nữ bị những tái phát dưới hormone liệu pháp, để phát triển những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới, với những thứ thuốc sẽ tăng cường tính hiệu quả của các thuốc chống hormone hiện nay hay để ngăn ngừa các đề kháng. Ở Viện Curie, chúng tôi đã có những kết quả đáng phấn khởi, sẽ được xác nhận trong một tương lai gần.

Hỏi : Đối với các loại ung thư “ HER2 dương tính ”, những tiến bộ đi đến đâu rồi ?
Véronique Diéras : Người ta đã chứng kiến một cuộc cách mạng thật sự với sự xuất hiện của herceptine, một kháng thể được tiêm bằng đường tĩnh mạch, làm phong tỏa hoạt tính của thụ thể HER2. Được liên kết với hóa học liệu pháp, phép điều trị này đã cho phép làm giảm 35% nguy cơ tái phát và, trong tình huống ung thư, biến đổi ung thư thành bệnh mãn tính. Nhưng lại còn những đề kháng. Một loại thuốc mới đây tác dụng lên một chỗ khác của thụ thể, lapatinib, cho phép, trong trường hợp tái phát, kềm hãm sự tăng sinh của những tế bào ung thư. Một phương pháp mới dường như rất hứa hẹn : phương pháp này nhằm chế tạo trong phòng thí nghiệm cùng thứ thuốc liên kết herceptine với một thuốc của hóa học liệu pháp. Với kỹ thuật này, thuốc có độc tính chỉ được phóng thích trong lòng tế bào khối u và không còn trong những tế bào lành mạnh nữa : không còn rụng tóc nữa và ít những tác dụng phụ hơn nhiều.

Hỏi : Về những ung thư “ ba âm tính ” (cancers triple négatif), tiến bộ đạt được là gì ?
Véronique Diéras : Chống lại những khối u này, hiện nay chỉ có hóa học liệu pháp. Người ta liên kết hóa học liệu pháp với một điều trị chống sinh mạch máu (traitement angiogénique), được tiêm tĩnh mạch, nhằm vào các huyết quản nuôi dưỡng khối u. Với phương thức này, tiếc thay người ta đã ghi nhận một số lớn các tái phát, do đó hiệu chính một điều trị mới. Trong mỗi tế bào có enzyme Parp mà vai trò là sửa chữa các thương tổn của ADN. Thế mà, chính enzyme này có thể chống lại tác dụng của một hóa học liệu pháp và làm thất bại nó. Thuốc mới là một chất ức chế Parp, do đó nhằm trung hòa enzyme này. Các kết quả đã tỏ ra rất dương tính với các thuốc mới (cho bằng đường tĩnh mạch) liên kết với một hóa học liệu pháp. Chúng đã tăng gấp ba các tỷ lệ đáp ứng và thời gia đáp ứng so với hóa học liệu pháp được dùng đơn độc. Để có thể thực hiện những điều trị này, mức độ chính xác của sinh thiết là cốt yếu.
(PARIS MATCH 22/10-28/10/2009)

Thời Sự Y Học Số 155 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 4/1/2010 )

6/ UNG THƯ : NHỮNG LIỆU PHÁP NHẮM ĐÍCH (THERAPIE CIBLEE)

Vào năm 2010, theo OMS, ung thư sẽ trở thành nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trên thế giới, phế truất các bệnh tim mạch. Nhưng năm 2010 cũng sẽ là năm đánh trả, bước vào trong kỷ nguyên của các điều trị “ cá thể hóa ”(“ sur mesure ”), có hiệu quả hơn, bởi vì được thích ứng với mỗi loại ung thư, thậm chí đối với mỗi loại khối u. Và nếu xét theo số các thuốc mới thuộc loại này, đang chờ đợi để được thương mại hóa, thì một điều chắc chắn là : cuộc cách mạng của ung thư học ( “ khoa học của các khối u ung thư ”) này đang tiến bước. Giữa tháng ba năm 2008 và cuối năm 2010, Cơ quan các dược phẩm châu Âu (EMEA) đã tiên đoán sự xuất hiện 50 loại thuốc chống ung thư mới trên thị trường. Một con số khổng lồ, sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm đến. Ở Pháp, trong năm 2010, ít nhất 8 loại thuốc chống ung thư chưa từng có trước đây, được chấp thuận năm 2009, sẽ đến làm phong phú kho vũ khí của các thầy thuốc.

860 LOẠI THUỐC ĐANG ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM.

Trong số các loại thuốc này, évérolimus, được chỉ định trong ung thư thận giai đoạn tiến triển, catumaxomab, được chỉ định đối với vài ung thư tiêu hóa, hay gefitinib, đối với vài ung phổi. Đây là những điều trị tấn công vào các cơ chế riêng của các tế bào ung thư, trái với hóa học liệu pháp cổ điển, “ dội bom ” không phân biệt các tế bào ung thư và các tế bào lành mạnh. Nói một cách chính xác hơn, các thuốc này phong bế các phân tử hay các gène bất thường chịu trách nhiệm tính hung dữ hay là nguyên nhân của sự tăng sinh vô tổ chức của một khối u. Thế mà những bất thường này có nhiều và đa dạng. Công cuộc nghiên cứu càng tiến triển thì điều chứng thực sau đây là điều không thể tranh cãi : có bao nhiêu các khối u ung thư khác nhau thì có bấy nhiêu bệnh nhân, vì mỗi khối u bao hàm sự phối hợp độc nhất của các bất thường của nó. Do đó có nhiều điều trị, mục đích là vô hiệu hóa càng nhiều các bất thường càng tốt để điều trị một tối đa các ung thư.

Tuy nhiên, ý tưởng về các liệu pháp nhắm đích không phải là mới. “ Thủ lĩnh ” của chúng là một loại thuốc được sử dụng từ hơn 30 năm nay, tamoxifène (Nolvadex), tác dụng lên các khối u ung thư của vú, mà sự tăng trưởng được kích thích bởi các hormone (oestrogène). Liệu pháp nhắm đích nổi tiếng khác : herceptine (trastuzumab), năm 2001 đã cách mạng hóa sự điều trị của ung thư vú. Herceptine phong bế phân tử HER2, hiện diện trên bề mặt của 1/3 các ung thư vú và đóng một vai trò trong sự tăng sinh của ung thư. Từ đó, hiệu năng của các dụng cụ di truyền (outil génétique) đã cho phép đẩy nhanh sự nghiên cứu. Ngày nay người ta biết rằng gần 400 gène, nếu chúng bị biến dị, có thể gây nên sự ung thư hóa của một tế bào. Bấy nhiêu mục tiêu đối với các điều trị mới. Tổng cộng, hơn 860 thuốc chống ung thư đang là đối tượng của những thử nghiệm lâm sàng. Hoặc hơn gấp đôi các thuốc đã được phát triển để chống lại các bệnh tim hay thần kinh. Hiệu quả hơn và ít độc tính hơn hóa học liệu pháp cổ điển, chúng tấn công vào gót chân Achille của các khối u ung thư. Một loại thuốc mới, các “ chất ức chế PARP ”, vừa chứng tỏ tính hiệu quả lên các ung thư vú “ ba âm tính ” (triples négatifs) (không có thụ thể nào trong số 3 thụ thể được nhắm đích bởi các điều trị hiện nay). Chiến thuật của chúng ? Ngăn cản các tế bào ung thư sửa chữa các thương tổn của ADN, gây nên bởi hóa học liệu pháp và do đó sống sót sau liệu pháp này. Các thuốc “ inhibiteurs de PARP ” đầy hứa hẹn, đến độ các cuộc thương thuyết với EMEA để thương mãi hóa chúng đã bắt đầu, mặc dầu các thử nghiệm lâm sàng còn đang được tiến hành.

PHÂN TÍCH CHI TIẾT KHỐI U.

Nhưng do tính đặc hiệu của chúng, những liệu pháp này có một khuyết điểm quan trọng. Mỗi liệu pháp chỉ có hiệu quả đối với vài bệnh nhân. “ Công cuộc nghiên cứu càng tiến triển, người ta càng chia các ung thư thường xảy ra thành những nhóm ung thư hiếm ”, Gilles Vassal, chuyên gia ung thư của Viện Gustave-Roussy, Villejuif, đã giải thích như vậy. “ Thí dụ, chỉ có 30% các ung thư vú biểu hiện HER2 và có thể hưởng điều trị với herceptine. Thế mà, trong số 30% này, chỉ một nửa có thể đáp ứng với điều trị, bởi vì vài gène mang lại một sự đề kháng. ” Do đó phải phân tích khối u một cách chi tiết. Bệnh viện toàn khoa Massachusetts là bệnh viện đầu tiên thực hiện công tác này một cách hệ thống. Từ nay đến giữa năm 2010, các thầy thuốc sẽ thiết lập“ thẻ căn cước ” di truyền của các khối u của tất cả các bệnh nhân, trước khi đề nghị với họ một điều trị. Nhưng sự xuất hiện ồ ạt của các loại thuốc này không ngăn cản các chuyên gia ung thư giữ đầu óc thực tế, nhất là những điều trị nhắm đích này có thể 100 lần đắt hơn một hóa học liệu pháp cổ điển.
(SCIENCE ET VIE 1/2010)


6/ ALZHEIMER : TRẮC NGHIỆM CHỤP HÌNH ẢNH MỚI.

Sự khám mô học não bộ sau khi chết, nhằm nhận diện những mảng amyloide, được xem là đặc trưng của bệnh này, mang lại gần như chắc chắn chẩn đoán bệnh Alzheimer. Nếu một thăm khám cho phép thấy sớm những mảng amyloide này, trong khi người bệnh chỉ bị những rối loạn nhận thức giai đoạn đầu, thì việc điều trị sẽ được dễ dàng hơn. Các phòng thí nghiệm Bayer Schering Pharma AG đã hiệu chính Florbetalen, một nguyên tử đánh dấu (traceur radioactif), gắn vào protéine bêta-amyloide, thành phần chính của các mảng lão hóa (plaques séniles). Một công trình nghiên cứu, được tiến hành trong 18 trung tâm (Úc, Hoa Kỳ, Đức và Thụy Sĩ) nơi 150 người trên 55 tuổi, đã so sánh những người có thể bị bệnh Alzheimer thể nhẹ đến trung bình với những người lành mạnh. Những liều lượng rất nhỏ của nguyên tử đánh dấu được tiêm vào bằng đường tĩnh mạch đã cho phép thu được những hình ảnh có chất lượng, phân biệt một cách rõ ràng những não bộ lành mạnh với những não bộ có các mảng amyloide. Tính đặc hiệu của trắc nghiệm này là 90%, tính nhạy cảm là 80%, như thế là cao nhưng không tuyệt đối 100%. Do đó những phương tiện để phát hiện hiện nay vẫn cần thiết.
(PARIS MATCH 14/10-20/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 182 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/7/2010 )

4/ BỆNH ALZHEIMER CÓ THỂ ĐƯỢC PHÁT HIỆN SỚM.

Một chất cản quang mới “ làm sáng lên ” các mảng amyloide chịu trách nhiệm căn bệnh Alzheimer.

Jozef (tên mượn) vừa được tiêm chất cản quang (produit de contraste) trước khi được đưa vào trong đường hầm bằng kim loại (tunnel métallique) của máy scanner (hay tomodensitomètre) của Hôpital de La Charité, bệnh viện lớn nhất và nổi tiếng nhất của Berlin. Chất cản quang này không phải là thông thường mà có tính chất cách mạng : đó là Florbetaben, một stilbène có đặc điểm hiếm hoi là, do ái tính, gắn vào peptide bêta-amyloide hiện diện trọng não bộ. Khi scanner cho thấy những “ lát ” hình ảnh số (images numériques) kế tiếp nhau, Florbetaben càng được làm sáng lên khi lượng amyloide hiện diện càng nhiều.

Thế mà các mảng bêta-amyloide, đó là dấu hiệu gần như không tranh cãi được của sự phát triển của bệnh Alzheimer. Có thể nói chính amyloide nhiên hậu phát triển một sức cản đối với những trao đổi điện giữa các neurone. Vào lúc khởi đầu của bệnh, não bộ lẩn tránh chướng ngại này. Nhưng với thời gian, không còn có những con đường vòng nào khác nữa. Trí nhớ, khí chất, nhưng cũng những chức năng vận động của người bệnh bị ảnh hưởng. Não bộ không còn có thể đảm nhận vai trò đài kiểm soát (tour de contrôle), gây nên những thương tổn nghiêm trọng nơi vài cơ quan, dẫn đến những bệnh lý nghiêm trọng, rồi tử vong.

Trước khi được sự chấp thuận của giới hữu trách dược phẩm, nếu giai đoạn thử nghiệm cuối cùng của Florbetaben xác nhận những kết quả tốt của giai đoạn 2, thì Florbetaben có thể là một công cụ thiết yếu, để không chỉ đánh giá tình trạng của bệnh nhân đã phát triển những triệu chứng của bệnh, thậm chí tác dụng của những thứ thuốc (tương lai) lên tiến triển của nó. Nhưng chủ yếu là để phát hiện sớm sự xuất hiện của bệnh nơi những bệnh nhân chưa có các triệu chứng.

Trên màn ảnh, đó là câu lời : mặc dầu Jozef chỉ có những rối loạn nhẹ của trí nhớ, nhưng scanner nói một cách rõ ràng là các mảng amyloide (có thể thấy rõ bằng màu vàng fluo nhờ chất Florbetaben), đã đọng trong não bộ của anh ta hay không. “ Người ta cho rằng giai đoạn tiền lâm sàng, trong đó amyloide ứ đọng mà các triệu chứng rõ ràng không được biểu hiện, kéo dài 10 đến 15 năm, trước khi một giai đoạn lâm sàng trong đó chức năng nhận thức (fonction cognitive) giảm sút mạnh mẽ. Chính trong những năm đó mà khám phá của chúng tôi sẽ cho phép mang lại những điều trị tương lai ”, BS Thomas Dyrks, giám đốc nghiên cứu chụp hình ảnh của Trung tâm thần kinh trung ương của Bayer Schering Pharma đã giải thích như vậy.

Sự hiện diện hay vắng mặt của amyloide cũng sẽ cho phép phân biệt bệnh Alzheimer với những loại sa sút trí tuệ khác : 1/3 những loại sa sút trí tuệ này (Parkinson, bệnh sa sút trí tuệ Lewy, bệnh sa sút trí tuệ trán-thái dương) không có liên hệ gì với bệnh Alzheimer và đòi hỏi những thái độ xử trí điều trị khác. Ngoài những nổi thống khổ của các bệnh nhân và các gia đình, bệnh Alzheimer còn là mot gánh nặng tài chánh : 25 triệu bệnh nhân (đến năm 2023, con số được dự kiến là 50 triệu) dẫn đến một chi phí 200 tỉ euro, trong đó chỉ ¼ dành cho những săn sóc thuần y tế, phần còn lại là do sự mất tính độc lập (perte d’autonomie) mà bệnh gây nên. Một thử thách thật sự đối với tương lai !
(LE SOIR 8/7/2010)


7/ TRÊN HƯỚNG CỦA MỘT VACCIN CHỐNG LẠI UNG THƯ NÃO.

Mặc dầu thời gian sống đã được kéo dài vài tháng, nhưng những kết quả vẫn cần được xác nhận trên một số lượng bệnh nhân quan trọng hơn.

ONCOLOGIE. Đó là một hướng mới đáng phấn khởi để điều trị các khối u não có tiên lượng đáng sợ, các glioblastome. Một vaccin điều trị, được trắc nghiệm liên kết với một điều trị cổ điển nơi khoảng 20 bệnh nhân, đã cho phép kéo dài thêm thời gian sống sót khoảng 70%. Những kết quả sơ khởi này, thu được bởi nhóm nghiên cứu của John Sampson thuộc đại học Duke (Hoa Kỳ) vừa được công bố trong một tạp chí quy chiếu, Journal of Clinical Oncology. Tuy nhiên các chuyên gia người Pháp vẫn còn thận trọng.

Được nghiên cứu từ nhiều năm trong ung thư học (đặc biệt là đối với các u hắc tố ác tính, các ung thư của thận), các thuốc chủng điều trị (vaccin thérapeutique) nhằm kích thích các phòng vệ miễn dịch của bệnh nhân để chúng tiêu diệt một cách đặc hiệu các tế bào khối u. Phương pháp quyến rũ này đã sinh ra nhiều công trình nghiên cứu trên khắp thế giới, nhưng vẫn còn ít công trình đạt được kết quả. Một vaccin điều trị đầu tiên đã được cho phép ở Hoa kỳ vào tháng tư đối với các ung thư của tuyến tiền liệt.

TỔN PHÍ CAO.

Mặc dầu là những u não thường xảy ra nhất nơi người lớn, các glioblastome vẫn hiếm hoi : khoảng 10.000 trường hợp mới mỗi năm được chẩn đoán ở Hoa Kỳ (2.500 ở Pháp). Điều trị cổ điển liên kết ngoại khoa, phóng xạ liệu pháp và hóa học liệu pháp, nhưng các kết quả vẫn còn tồi.

Để cải thiện tiên lượng, nhiều hướng khác được thăm dò, như liệu pháp gène (thérapie génique). It nhất 3 đến 4 thử nghiệm miễn dịch liệu pháp (tiêm chủng điều trị : vaccination thérapeutique) đang được tiến hành. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chọn nhắm đích EGFR vIII (epidermal growth factor receptor), mội biến thể di truyền hiện diện trên bề mặt các tế bào ung thư nơi 1/3 các bệnh nhân bị glioblastome. Chất chỉ dấu này cũng được tìm thấy trong những ung thư khác (như các ung thư vú và phổi) nhưng không hiện diện trong những mô lành mạnh.

Trong công trình nghiên cứu này, ngoài điều trị cổ điển, vaccin đã được trắc nghiệm nơi 18 bệnh nhân trong đó khối u biểu hiện chất chỉ dấu EGFR vIII. Các mũi tiêm dưới da, mỗi 15 ngày rồi mỗi tháng, đã được tiếp tục theo đuổi lâu chừng nào chúng có vẻ hiệu quả. Sau 26 tháng, một nửa các bệnh nhân vẫn còn sống, một thời gian sống sót gần như gấp đôi so với thời gian sống sót của một nhóm 17 bệnh nhân chỉ nhận độc nhất điều trị cổ điển.

Chiến dịch tiêm chủng, đã được dung nạp tốt, cũng đã cho phép gia tăng vài tháng thời kỳ không tái phát. “ Nơi phần lớn các bệnh nhân tái phát, khối u không biểu hiện EGFR vIII nữa ”, các tác giả đã xác nhận như vậy. “ Vậy một vaccin điều trị cho phép loại bỏ những tế bào ung thư biểu hiện kháng nguyên bị nhắm đến và điều đó thật là đáng phấn khởi ”, B David Klatzmann, nhà miễn dịch học thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière đã bình luận như vậy. Tuy vậy những chuyên gia khác nhấn mạnh những nhược điểm của công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, trước hết là số lượng nhỏ của các bệnh nhân. “ Vaccin này quả là gây nên một đáp ứng miễn dịch, nhưng thường đó là một sự chế tạo các kháng thể. Một hiệu quả lên tính miễn dịch tế bào chỉ được nêu lên nơi ba bệnh nhân, mặc dầu đó là điều quan trọng nhất đối với một vaccin chống ung thư ”, BS Vassili Soumelis, nhà miễn dịch học thuộc Viện Curie nói thêm như vậy. “Phương pháp học của công trình này rất là mỏng manh, BS Frédéric Dhermain, thuộc Viện Gustave Roussy (Villejuif) đã xác nhận như vậy. Điều đã thay đổi một cách không chối cải được thực hành của chúng tôi, đó là sự xuất hiện cách nay vài năm temodal (témozolomide). Hóa học liệu pháp này đã làm tăng gấp đôi tỷ lệ sống sót của các bệnh nhân của chúng tôi sau 2 năm. Nhưng những kết quả đã được xác lập trên hơn 700 bệnh nhân ; trong khi công trình nghiên cứu ấy chỉ có dưới 20 bệnh nhân ”.

Tuy nhiên, như biên tập viên của Journal of Clinical Oncology nhấn mạnh, việc xác nhận những kết quả này trong một thử nghiệm rộng lớn có thể bị trở ngại do phí tổn cao (khoảng 100.000 euro đối với mỗi bệnh nhân) của những điều trị này.
(LE FIGARO 6/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 39 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 25/8/2007 )

4/ THUỐC CHỦNG CHỐNG UNG THƯ NÃO

Được hiệu chính bởi một phòng bào chế Hoa Kỳ NWBT (Northwest Biotherapeutics), thuốc chủng đầu tiên nhằm điều trị chồng một bệnh ung thư não, DCVaxBrain, sẽ được thương mãi hóa ở Thụy Sĩ trong khi những thử nghiệm lâm sàng sẽ được theo đuổi đến cuối năm 2008. Dường như NWBT đã lợi dụng một khe hở pháp lý về quy chế ở Thụy Sĩ để thương mãi hóa thuốc chủng này. NWBT đã đệ trình hồ sơ xin chuẩn y ở Hoa Kỳ và châu Âu. Nét độc đáo là thuốc chủng điều trị glioblastome (một ung thư có tiên lượng xấu) được cá thế hoá. Thuốc chủng sử dụng đồng thời các kháng nguyên từ khối u của bệnh nhân và những tế bào miễn dịch riêng, các tế bào sợi nhánh (cellules dendrtitiques). Theo những kết quả đầu tiên, thời gian sống sót trung bình của bệnh nhân tăng lên gấp đôi, từ 14 tháng lên 33 tháng.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2007)


8/ TUYẾN BARTHOLIN.

Caspar Bartholin, sinh năm 1655, là người nhỏ nhất của một gia đình nổi tiếng Đan mạch. Ông nội, Caspar được gọi là “ trưởng ” (1585-1677), đã nổi tiếng như là nhà thần học và cơ thể học và ông bố, Thomas Bartholin (1616-1680), nhà vật lý, nhà tự nhiên học và cơ thể học, đã để lại bài mô tả đầu tiên về sự dẫn lưu bạch huyết trong ống ngực. Caspar Bartholin bắt đầu học y khoa năm 1671, và ngay lúc mới 19 tuổi, đã được bổ nhiệm làm giáo sư triết học bởi Nhà vua của Đan mạch, Chrétien IV. Tuy nhiên ông đi châu Âu đào tạo trong 3 năm, nhất là ở Paris, nơi đây ông làm việc với nhà cơ thể học Joseph Duverney. Chính cùng với nhà cơ thể học này mà ông đã khám phá các tuyến Bartholin...nơi bò cái. Trở lại Copenhague, ông bắt đầu hành nghề và giảng dạy vật lý và cơ thể học. Vào năm 23 tuổi, ông được công nhận bác sĩ y khoa bởi chính ông bố của ông. Phần lớn các công trình nghiên cứu của ông nhằm cải biên những nghiên cứu của những tác giả khác, nhưng ông cũng công bố những khám phá độc đáo : u nang (kyste), các tuyến (glandes), ống (canal) và áp xe, tất cả đều mang tên Bartholin. Ông cũng quan tâm đến chính trị và tổ chức tư pháp và trở nên thẩm phán của tòa án tối cao vào năm 35 tuổi. Ông đạt đến chức vụ chưởng lý (procureur général) vào năm 64 tuổi và bộ trưởng tài chánh 5 năm sau đó. Cũng như bố và ông nội, ông được ban nhiều vinh dự. Cũng như các con, ông được phong tước vào năm 1731. Caspar Bartholin đã bị buộc tội là đã hành động vì lợi ích cá nhân nhiều hơn cho đại học hay y khoa. Phải nói rằng 37 năm sau khi rút lui khỏi chức giáo sư, ông vẫn còn lãnh lương của các trưởng bộ môn vật lý và y khoa kiêm luôn lương của khoa trưởng phân khoa ! Tuy nhiên, 10 năm trước khi ông qua đời, không phải miếng mồi lương bổng của ông, mà chính một trận cháy lớn, đã tàn phá các tòa nhà và các bộ sưu tập của đại học, đã có tác dụng tai hại nhất làm suy yếu phân khoa đại học. Ông mất vào năm 83 tuổi, ở cái tuổi đáng kính vào thời kỳ đó.
(LE GENERALISTE 14/10/2010)

Ghi chú :

Tuyến Bartholin (Glande de Bartholin) : mỗi tuyến Bartholin nằm ở mỗi bên của lỗ âm đạo. Các tuyến Bartholin được chứa trong cơ co thắt của âm hộ ; ống ngoại tiết (canal excréteur) đổ ra giữa các môi nhỏ và màng trinh. Các tuyến này gia tăng nhanh thể tích sau tuổi dậy thì và thoái triển vào thời kỳ mãn kinh.

Vai trò của các tuyến Bartholin nhằm tiết thường trực, nhưng còn nhiều hơn vào lúc giao hợp, một chất dịch chảy thành dây (liquide filant) và không màu, góp phần bôi trơn âm đạo .

Các tuyến Bartholin có thể là nơi của một quá trình viêm có thể dẫn đến nhiễm trùng (bartholinite). Sự cắt bỏ các tuyến Bartholin, đôi khi cần thiết trong trường hợp những nhiễm trùng tái phát, không ngăn cản sự tiết dịch bôi trơn từ các tuyến âm đạo khác, dưới tác dụng của các œstrogène.

9/ BỆNH BÉO PHÌ : UỐNG MỘT ÍT...ĐỂ GẦY MỘT ÍT.

Ta tha hồ nói điều đó trong tất cả các régime : cồn (alcool), bao gồm rượu vang (vin), làm béo phì, vì lẽ các calo mà nó chứa. Thật vậy, mỗi gam chứa 7 kcal, so với 4 đối với glucide và protéine, 9 đối với các lipide. Điều này có nghĩa là 1 ly rượu vang 100 ml, hoặc 10 g cồn, tương ứng với 70 kcal, một ly rượu khai vị (apéritif) 25 ml tương ứng với 60 kcal và một lon bia 250 ml tương đương với 100 kcal. Nhưng, tại sao những người tiêu thụ quá mức lại không bị béo phì ? Một công trình nghiên cứu mới đây đã chứng minh rằng vòng thân (tour de taille) của những người nghiện rượu không quan trọng hơn vòng thân của những người kiêng khem. Những người nghiện rượu có một chỉ số khối lượng thân thể (IMC : indice de masse corporelle) ngay cả dưới mức trung bình. Trả lời : các calo phát xuất từ rượu đều “ trống rỗng ”. Bởi vì rượu được chuyển hóa trong một hệ thống đặc biệt, được gọi là hệ thống oxy hóa éthanol của ty lạp thể (Meos : système mitochondrial d’oxydation de l’éthanol), hệ thống này tiêu thụ rượu dưới dạng nhiệt lượng hơn là tích trữ nó.

Vậy chính không phải chứng béo phì đe dọa những người nghiện rượu, mà đúng hơn là sự suy dinh dưỡng, như xảy ra nơi 15 đến 30% những người phụ thuộc rượu (alcool-dépendant) ! Những tình trạng thiếu sắt, folate và vitamine được quan sát trong nhóm những người này, vì những lý do kinh tế xã hội, thường kém dinh dưỡng. Tuy nhiên, tùy theo tính chất của rượu được uống, những calo thật sự cũng có thể được hấp thụ vào. Đó đặc biệt là trường hợp của các rượu khai vị như porto hay muscat, có nhiều đường, hay bia, chứa mạch nha (malt). Những cung cấp năng lượng thật sự như thế được tích trữ. Nhưng cũng đừng quên tất các những calo phát xuất...từ đậu phụng (cacahuètes) của rượu khai vị ! Bởi vì rượu kích thích ăn ngon. Ngược lại, một công trình nghiên cứu khác mới đây đã cho thấy rằng, nơi những phụ nữ trên 39 tuổi, những người uống từ 15 đến 30 g mỗi ngày (một ly rưởi đến 3 ly mỗi ngày), nguy cơ tăng thể trọng hạ 30% so với những người kiêng khem. Nhưng chú ý điều đó chỉ được quan sát trong 10 năm và biến mất sau 50 tuổi !
(SCIENCES ET AVENIR 9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 105 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/12/2008 )

5/ MỘT CHẤT CHỐNG BÉO PHÌ ĐẦY HỨA HẸN XUẤT PHÁT TỪ RƯỢU VANG

Pháp đã khám phá một chất tổng hợp có tác dụng giống với vài thành phần của rượu vang và cho phép chuột giữ một trong lượng không thay đổi mặc dầu co một chế độ ăn uống tăng calo (un régime hypercalorique).

Những nhà nghiên cứu người Pháp đã nhận diện một chất được mệnh danh hiện nay là SRT 1720, cho phép các chú chuột tiếp tục một chế độ ăn uống giàu mỡ, nhưng không béo phì, không trở nên bị bệnh đái đường, đồng thời cải thiện hiệu năng cơ. Các kết quả của những công trình này, được công bố hôm qua trong tạp chí Hoa Kỳ Cell Metabolism, hết sức làm lưu ý công nghiệp dược phẩm, bởi vì có ít nhất ba hãng dược phẩm đang phát triển một thứ thuốc phát xuất từ những nghiên cứu này.

Tất cả bắt đầu cách nay vài năm, khi các thầy thuốc người Pháp khám phá ra rằng một trong những polyphénols được chứa trong vỏ của trái chanh đen, resvératrol, bảo vệ chuột chống lại bệnh đái đường và chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu khi đó cho thấy rằng phân tử resvératrol tác dụng lên cả hai bệnh lý này bằng cách làm hoạt hóa một protéine của cơ thể được gọi là Sirt 1. Sirtris, một hãng Hoa Kỳ có cơ sở ở Boston, quyết định đầu tư vào khái niệm này và hiện nay đang trắc nghiệm một thứ thuốc có chất cơ bản là resvératrol để chống lại bệnh đái đường mỡ (diabète gras), cũng được gọi là bệnh đái đường loại 2. Các nhà nghiên cứu người Pháp của Viện di truyền và sinh học phân tử và tế bào, nguồn gốc của những khám phá đầu tiên này, sau đó bắt đầu tìm kiếm những phân tử tổng hợp cho phép hoạt hóa chất protéine Sirt 1, chất có ảnh hưởng một cách quan trọng lên thể trọng và nguy cơ bị bệnh đái đường. Sau cùng, họ nhận diện một hợp chất tổng hợp tương tự với resvératrol trên bình diện hóa học, SRT 1720 và quyết định trắc nghiệm chất này trên hàng chục con chuột được cho những chế độ ăn uống khác nhau.

MỘT HIỆU QUẢ KÉO DÀI.

Những kết quả của công trình nghiên cứu được công bố trong Cell Metabolism thật đặc biệt đáng quan tâm. Những chú chuột được điều trị với SRT 1720 và chịu một chế độ ăn uống rất giàu mỡ đã không lên một gam trọng lượng nào và không phát triển khối lượng mỡ (masse grasse), trái với những con chuột được nuôi cùng cách thức nhưng không được điều trị với loại thuốc này. Ngoài ra không có chú chuột nào được điều trị với SRT 1720 bị bệnh đái đường cả, trong khi những con chuột khác có một sự đề kháng với insuline sau chế độ ăn uống quá nhiều mỡ. Rõ ràng là thuốc SRT 1720 bảo vệ chống lại chứng béo phì và bệnh đái đường loại 2. Thời gian tác dụng lên chuyển hóa kéo dài : tác dụng xuất hiện ngay tuần lễ thứ tư và tiếp tục trong suốt thời gian quan sát các chú chuột hoặc 15 tuần

“Những con chuột được điều trị bởi thuốc SRT 1720 đã giữ một trọng lượng không thay đổi mặc dầu chế độ ăn uống nhiều mỡ, trong khi những chú chuột khác đã tăng 2/3 trọng lượng của chúng. Thuốc này kích thích sự sử dụng mỡ, một cách tương tự như điều mà chúng ta quan sát trong trường hợp hạn chế calo, mặc dầu thức ăn giàu mỡ mang lại sự thặng dư năng lượn” , BS Jérome Feige (Viên di truyền và sinh học phân tử Illkirch) đã giải thích như vậy.

Nhiều hãng dược phẩm đã khởi đầu những thứ nghiệm để trắc nghiệm SRT 1720 chống lại chứng béo phì, bệnh đái đường. Một vài hãng cho là hợp lý đánh giá tác động của nó lên những bệnh khác liên quan với tuổi tác, và nhất là trong bệnh Alzheimer. Công việc vẫn gay go. Đến mãi ngày nay, các thuốc chống béo phì đã không có cơ may, vì lẽ chúng hầu như bị rút ra khỏi thị trường sau vài năm, do những tác dụng phụ của chúng.
(LE FIGARO 6/11/2008)


10/ CÓ MỘT THẦY THUỐC TRONG MÁY BAY KHÔNG ?

“ Is there a doctor on board ? ” Lời kêu gọi này chẳng bao lâu nữa sẽ không còn vang lên trong tai của các du khách hàng không. Trong trường hợp một hành khách cảm thấy khó ở, phi hành đoàn sẽ tự xoay xở lấy để giải quyết tinh trạng cấp cứu y khoa xuất hiện đột ngột và đưa ra ... những quyết định tốt !

Sau hết, “ một mình ”, đó là một cách nói. Với hệ thống Tempus mới, được sử dụng từ ít lâu nay trong những phi cơ đường dài của vài công ty hàng không, nhân viên phi hành không còn thật sự đơn độc nữa để phán đoán mức độ nghiêm trọng của vấn đề sức khỏe giáng đột ngột vào một hành khách. “ Nhân viên phi hành có một hệ thống viễn y (système de télémédecine), đồng phát triển bởi ESA (agence spatiale européenne), Pierluigi Mancini, người phụ trách programme des applications intégrées đã chỉ rõ như vậy. Hệ thống này cho phép nhân viên phi hành tiếp xúc trực tiếp với một thầy thuốc chuyên khoa cấp cứu ở dưới đất và thông báo cho ngươi thầy thuốc này một loạt các tham số cho phép thiết lập chẩn đoán từ xa.”

Hệ thống, được hiệu chính trong 3 năm qua bởi một xí nghiệp tư, cho phép đo huyết áp của hành khách, đo nhịp tim, nhiệt độ của bệnh nhân, thực hiện một điện tâm đồ, xác định nồng độ đường trong máu.

BỆNH NHÂN TRÊN MÀN ẢNH

Những động tác kỹ thuật khác nhau này được phân tích từng chi tiết trên màn ảnh của hệ thống được mang trên tàu. Những kết quả được thông báo trực tiếp cho một thầy thuốc dưới đất, và vị thầy thuốc này cũng có thể “ thấy ” bệnh nhân trên màn ảnh và can thiệp, thí dụ để yêu cầu bắt đầu lại một trắc nghiệm.

Sau rốt, vị thầy thuốc dưới đất cho một ý kiến “ sáng suốt ” về tình trạng sức khỏe của hành khách. Nhờ thế, sau đó cho phép phi hành đoàn và đặc biệt là viên chỉ huy máy bay quyết định hướng máy bay về phi trường gần nhất hay trái lại vẫn tiếp tục chuyến bay.

Về lãnh vực hàng không, việc nhờ đến viễn y (télémédecine) dường như bắt buộc sau vài công ty (trong đó Ethiad vừa trang bị cho những máy bay đường dài)
Càng ngày càng có nhiều người sử dụng máy bay. Mặt khác, những chuyến bay cũng trở nên càng ngày càng dài lâu và các máy bay càng ngày càng to lớn. Về phương diện thống kê, điều đó làm gia tăng số những vấn đề về y tế có thể xay ra giữa trời và đất...
(LE SOIR 28/9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 117 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/3/2009 )

5/ VIỄN Y CẤP CỨU (TELEMEDECINE D’URGENCE) TRÊN NHỮNG MÁY BAY ĐƯỜNG DÀI

Santé : Hai tỷ hành khách mỗi năm đương đầu với tình trạng thiếu oxy, các bức xạ vũ trụ, chứng viêm tĩnh mạch và nghìn bệnh tật khác.

Cách nay 25 năm, trên một chuyến bay bình thường Paris-Chicago của hãng American Airlines, thình lình người ta yêu cầu một thầy thuốc thăm khám cho một cô nữ sinh trung học 15 tuổi với những triệu chứng kỳ lạ, trong đó cánh tay trái bị yếu đi. Lo ngại một khả năng (và hiếm) đột qụy do vỡ một phình động mạch, người thầy thuốc trẻ người Pháp đã yêu cầu viên chỉ huy chuyển hướng bay về Montréal. Thời gian : 50 phút. Thông báo được thực hiện, và tức thời một đồng nghiệp người Mỹ 60 tuổi, nhảy bật lên từ ghế ngồi, nhào đến, khám sơ sài bệnh nhân và yêu cầu viên phi công tiếp tục lộ trình đến Chicago. Điều này tức thời được thực hiện.

Ngày nay, hàng không thương mãi vận chuyển 2 tỷ hành khách mỗi năm và rất thường nhờ đến các hệ thống điều phối y khoa dưới đất để làm trọng tài, quyết định và giúp đỡ trong những quyết định y khoa, đôi khi đổi hướng máy bay. Air France có một hợp đồng với Samu de Paris từ năm 1972. Delta làm việc với những thầy thuốc cấp cứu của Pittsburg, KLM và Lufthansa có những thầy thuốc riêng của họ, và International SOS, cố vấn (qua trung gian MedAire) 90 công ty hàng không, hoặc 30% giao thương.

Trên các máy bay của Air France, mỗi năm, nhân viên phi hành được đào tạo về môn cứu thương, có một máy khử rung tim (défibrillateur cardiaque), một oxymètre de pouls (để do độ bảo hòa oxy của máu), một hộp dụng cụ y khoa cấp cứu đầy đủ thuốc (với adrénaline, corticoides, thuốc chống đau có tác dụng mạnh, những dung dịch tiêm truyền) và 9 trên 10 chuyến bay có thể trông mong vào sự hiện diện của một thầy thuốc hành khách !

Ít nhất một công ty, Lufthansa, đã thí nghiệm sự truyền xa bằng vệ tinh (télétransmission satellitaire) của một điện tâm đồ, được thực hiện trên một bệnh nhân đang bay ! “ Từ nay đến 4-5 năm nữa, hệ thống này sẽ được phổ biến cho mọi công ty hàng không ”, BS Jannières của Samu Paris đã giải thích như vậy. Trong trường hợp đau ngực cấp tính gợi chẩn đoán nhồi máu cơ tim, đó sẽ là một trợ giúp lớn cho quyết định.

MỘT ĐỔI HƯỚNG BAY TRÊN MỘT TRIỆU HÀNH KHÁCH

Chúng ta đã biết những nguy cơ trên một máy bay đường dài ở độ cao 10.000 m; trước hết là áp lực không khí ở đó thấp hơn so với ở mặt đất (áp lực tương ứng với một độ cao trung bình 2.000m). Những người tình nguyện lành mạnh đã “bay” en caisson trong 20 giờ ở độ cao 2.500m và đã bị tất cả những triệu chứng của căn bệnh cấp tính của miền núi (mal aigu des montagnes). Áp suất oxy động mạch, trong một cabine của máy bay đường dài, giảm từ 95 xuống đến 60 mmHg : nhiều hành khách bị bệnh tim “giới hạn”, những người suy hô hấp, những người thiếu máu, khi đó có nguy cơ bị thiếu oxy tương đối.

Một công trình nghiên cứu, được công bố năm 2007, đã cho thấy rằng 18% những hành khách bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (viêm phế quản nặng, khí phế thủng), ít nhất có nguy cơ bị một suy hô hấp (détresse respiratoire) trong một chuyến bay. Đối với những hành khách yếu ớt này, Aerospace Medical Association khuyến nghị rằng trước khi bay, họ phải chịu một loại trắc nghiệm “thiếu oxy dưới đất” (test d’hypoxie au sol) để phát hiện những kẻ có nguy cơ mất bù lúc bay. Đối với những người này, British Thoracic Society khuyến nghị cho bổ sung oxy trong lúc bay : hoặc công ty thương mãi để cho hành khách sử dụng một trong các chai oxy được đưa lên máy bay ; hoặc công ty chấp nhận cho các hành khách này được mang theo lên máy bay bình oxy riêng của họ.

Cũng có sự tiếp xúc với các bức xạ vũ trụ (rayonnements cosmiques) : Autorité européenne de l’aviation đòi hỏi rằng các máy bay, bay ở độ cao trên 15.000 m, phải đo lường bức xạ này để cho phép phi công giảm độ cao. Quản trị liên bang hàng không Hoa Kỳ đưa ra những thông báo, báo động về những bức xạ mặt trời có nguy cơ làm cho những chuyến bay thương mại phải chịu tiếp xúc với những cường độ mạnh.

Đối với những hành khách nữ mang thai, thực hiện các chuyến bay là điều không nên làm. Thật vậy, đối với mỗi thai nghén, giới hạn tiếp xúc với các bức xạ mặt trời là 1 millisivert (mSv), hay một chuyến bay kéo dài 15 giờ không ngừng lại khiến một thai nhi phải chịu một tiếp xúc 1 mSv. Đối với các nữ tiếp viên hàng không (hôtesses de l’air) mang thai, họ chỉ đuợc thực hiện những chuyến bay ngắn, ở độ cao thấp, và các công ty phải hoạch định những chuyến bay này để không vượt quá giới hạn mức độ tiếp xúc với các bức xạ vũ trụ.

Có bao nhiêu sự cố xảy ra trên máy bay? Những con số đuợc đưa ra không ăn khớp đối với mỗi công ty, người ta nói 0,03-0,07 sự cố đối với 1.000 hành khách. Cứ mỗi triệu hành khách sẽ có một chuyến bay phải đổi hướng vì sự cố. Samu de Paris vào năm 2004 đã nhận 171 gọi cấp cứu từ các máy bay của Air France và 17 trường hợp phải chuyển hướng bay. Vào năm 2006, Samu đã nhận 200 gọi cấp cứu, đưa đến 17 trường hợp đổi hướng bay.
(LE FIGARO 20/2/2009)

Thời Sự Y Học Số 119 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 31/3/2009 )

7/ VỚI NGÀY CÀNG NHIỀU NHỮNG CHUYẾN BAY ĐƯỜNG DÀI, TỶ LỆ MẮC CÁC BỆNH LÝ NGÀY CÀNG BAY CAO

Hiện nay, số hành khách hàng không đạt gần 2 tỉ mỗi năm. Các nguy cơ huyết khối nghẽn tĩnh mạch (thromboembolie veineuse) trong các chuyến bay đường dài, sự tiếp xúc với các bức xạ vũ trụ, những tác dụng do lệch giờ giấc và những thiếu sót về chất lượng khí trong các cabine, kết hợp lại để làm gia tăng những vấn đề sức khỏe liên kết với những chuyến không hành. Từ nay, vấn đề năng lực vật lý để thực hiện một chuyến không hành được đặt ra một cách gay gắt, đứng trước số lượng rất quan trọng các cá nhân, các khách du lịch hay những hành khách đi công tác ; Các hành khách ngày càng ý thức những vấn đề liên quan với các chuyến bay. Các thăm dò cho thấy rằng 95% các cá nhân vốn có những vấn đề sức khỏe, thích được nhận nhiều lời khuyên về y tế trước khi bay.

ĐỘ CAO TỪ 1524 ĐẾN 2438 m

Đâu là những vấn đề sức khỏe liên kết với những chuyến bay thương mãi? Danielle Silverman và Mark Gendreau (Hoa Kỳ) đã điểm lại các tư liệu y học trong The Lancet.

- Áp suất bên trong cabine : sự điều áp (pressurisation) tương ứng với một độ cao 1524 đến 2438m, điều này khả dĩ gây nên những triệu chứng của bệnh ở độ cao (mal de l’altitude) ngay sau 3 giờ bay. Một điều áp ở cao độ 2.438 m làm giảm Pa02 từ 95 mmHg xuống còn 60, với một sự giảm 3-4% độ bảo hòa của oxyhémoglobine; các hành khách bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPCO) có thể bị một suy hô hấp nhẹ trong một chuyến bay.

Sau một phẫu thuật quan trọng, nên khuyên bệnh nhân phải đợi 2 tuần trước khi bay vì lẽ khi áp suất bị giảm, sẽ có sự nỡ của chất khí (expansion des gaz) bên trong cơ thể.

- Chúng ta không nghĩ đầy đủ đến sự kiện là một tình trạng thiếu oxy hơi giảm áp (une hypoxie légèrement hypobare) làm gia tăng độ keo (viscosité) của máu và rằng sự mất nước cũng làm gia trọng độ keo này. Sự phòng ngừa huyết khối (thromboprophylaxie) dựa trên những lời khuyên bỏ rượu, bỏ caféine, tránh sự bất động, với chỉ định dùng HBPM (héparine trọng lượng phân tử thấp) đối với những hành khách có nguy cơ ở mức độ vừa phải và đã không sử dụng thuốc kháng đông một cách thường quy. Việc sử dụng bas de contention thường hữu ích.

NHỮNG BỨC XẠ MẶT TRỜI

- sự tiếp xúc với các tia vũ trụ, nghĩa là những tia xuất phát từ hệ mặt trời, được liên kết với các hạt nhỏ (particules) của sưởi ấm mặt trời. Nhiều ung thư đã được liên kết với các tia vũ trụ (vú, da, u hắc tố) và những lời khuyến nghị đã được đưa ra nhằm giới hạn việc tiếp xúc của các nhân viên phi hành.

Những nghiên cứu về vấn đề này mãi đến nay không cho phép xác định mối nguy cơ. Tuy nhiên, Cơ quan quản trị hàng không Hoa Kỳ khuyến nghị rằng các phụ nữ có thai (nhân viên phi hành hay hành khách) nên tìm kiếm trên Internet những thông tin phát xuất từ hệ báo động về những bức xạ mặt trời trước khi bay để không vượt quá giới hạn 1mSv (millisievert).

- Sự chênh lệch giờ giấc (décalage horaire hay jet lag), được liên kết với sự bất đồng bộ của các đồng hồ sinh học. Những loại thuốc khác nhau đã được đề nghị, nhưng mélatonine vẫn là điều trị chuẩn. Một phân tích méta 10 công trình nghiên cứu (Cochrane) đã kết luận rằng uống 0,5 đến 5mg vào lúc ngủ trước khi đến, có hiệu quả làm giảm những cảm giác gây ra do sự thay đổi múi giờ.

- Các bệnh nhiễm trùng : việc gò bó trong những khoảng không gian giới hạn, trong những khoảng thời gian kéo dài, làm dễ sự phát tán của những tác nhân nhiễm khuẩn. Từ năm 1946, những trận dịch đã được liên kết với các hành khách hàng không như bệnh đầu mùa, bệnh lao, bệnh cúm, bệnh sởi, SRAS, các viêm ruột do siêu vi trùng.

Bây giờ các công ty hàng không sử dụng những máy lọc có hiệu quả cao để đổi mới hơn 50% không khí của cabine. Nguy cơ bị truyền bệnh trên máy bay được giới hạn vào những người ngồi gần một bệnh nhân, khoảng cách dưới hai hàng ghế. Người ta thiếu các dữ kiện về quy mô của các sự cố y khoa xảy ra trong các máy bay. Nhưng hầu hết đều không đáng kể và liên hệ đến những người trên 70 tuổi.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 3/3/2009)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (18/10/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969