Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 22
Lượt truy cập: 1028449
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ ĐIỀU TRA VỀ BỆNH CHARCOT

NHỮNG ĐIỂM MỐC

CHARCOT. Đó là thầy thuốc Jean-Martin Charcot (1825-1893), nhà lâm sàng và thần kinh học người Pháp, là nhà sáng lập, cùng với Guillaume Duchenne, môn thần kinh học hiện đại, người báo trước của môn tâm lý bệnh lý (psychopathologie), người đầu tiên đã mô tả nguyên nhân của bệnh xơ cứng bên teo cơ (sclérose latérale amyotrophique, amyotrophic lateral slerosis). Tên tuổi của ông vẫn gắn với bệnh lý này. Ông cũng được biết như là thủ lãnh của Ecole de la Salpêtrière do những công trình của ông về thôi miên và bệnh hystérie. Ở Hoa Kỳ, người ta cũng đặt tên cho bệnh xơ cứng bên teo cơ là maladie de Lou Gehring, tên của một cầu thủ base-ball nổi tiếng, chết vì căn bệnh này năm 1941.

DỊCH TỄ HỌC. Với 4 trường hợp mới mỗi ngày, bệnh xơ cứng bên teo cơ gây bệnh cho khoảng 5.500 người ở Pháp, hoặc 2,5 trường hợp đối với 100.000 dân. Tỷ lệ mắc bệnh 3 lần nhiều hơn giữa 45 và 75 tuổi. Căn bệnh, ảnh hưởng lên những người trưởng thành thuộc hai giới tính hầu như ngang nhau, gồm 5 đến 10% những thể gia đình.

TIẾN TRIỂN. Bệnh Charcot được đặc trưng bởi sự xuất hiện dần dần một bại liệt, trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, được kèm theo bởi một sự teo cơ (amyotrophie), nghĩa là một sự mất phân bố thần kinh của nhưng cơ vân của xương. Tốc độ tiến triển của bệnh, cũng như sự định vị của những vùng bị thương tổn, vẫn không thể tiên đoán được. Những chức năng não bộ không bị ảnh hưởng và không có thương tổn cảm giác. Không có xét nghiệm sinh học đơn giản phát hiện bệnh bệnh xơ cứng bên teo cơ.

NGUỒN GỐC. Trong đại đa số các trường hợp, người ta không biết nguồn gốc chính xác của bệnh xơ cứng bên teo cơ. Càng ngày người ta càng nghĩ rằng căn bệnh do nhiều yếu tố. Vậy đó là một hội chứng quy tụ nhiều dạng bệnh. Do đó các thầy thuốc và các nhà nghiên cứu gặp phải những khó khăn trong việc hiệu chính các loại thuốc có hiệu quả. Những loại thuốc duy nhất được sử dụng hiện nay không thể chữa lành bệnh nhưng chúng có thể làm ổn định nó.


Các nghiên cứu về bệnh xơ cứng bên teo cơ đang tiến triển. Bệnh Charcot là một bệnh gây nên một sự bại liệt dần dần các cơ và những rối loạn vận động.

NEUROLOGIE. “ Càng ngày càng có nhiều lý lẽ khiến ta nghĩ rằng bệnh xơ cứng bên teo cơ có lẽ không phải là một bệnh duy nhất, mà đúng hơn là một hợp chứng, một tập hợp các triệu chứng. Điều đó có thể giải thích tính chất không thuần nhất của nó và tại sao chúng ta vấp phải những thất bại trong việc tìm kiếm những điều trị mới.” GS Vincent Meininger, người phụ trách ở CHU Pitié-Salpêtrière trung tâm quy chiếu Il-de-France đối với bệnh thần kinh này, hy vọng nhiều công trình nghiên cứu ngang (étude transversale) sẽ được phát động vào tháng giêng sắp đến : sự nghiên cứu và theo dõi một ngàn bệnh nhân hẳn sẽ cho phép xem sự cực kỳ đa dạng của bệnh này trên thực tế có che khuất những nhóm phụ khác nhau, điều này sẽ có những hậu quả đáng kể lên sự định hướng các nghiên cứu tương lai.

Đôi khi được gọi là bệnh Charcot, tên của thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, người đã mô tả căn bệnh này cách nay hơn 100 năm, bệnh xơ cứng bên teo cơ là một bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neurodégénérative) nghiêm trọng. Bệnh được đặc trung bởi một sự bại liệt dần dần của các cơ và bởi những rối loạn vận động do một thương tổn của những tế bào vận động trung ương và ngoại biên, từ não bộ đến tủy sống, rồi đến cơ, điều khiển những cử động tự ý.

Với 4 trường hợp mới mỗi ngày, bệnh xơ cứng bên teo cơ gây bệnh cho khoảng 5.500 người ở Pháp, hoặc 2,5 trường hợp đối với 100.000 dân, ba lần cao hơn giữa 45 và 70 tuổi. Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh rất đa dạng và không đặc hiệu. Trong 1/3 các trường hợp bệnh xơ cứng bên teo cơ, được gọi là hành não (SLA bulbaire), thương tổn trước hết liên quan đến các neuron vận động chi phối thần kinh mặt và hầu, và gây nên những khó khăn diễn đạt, nuốt, một giọng mũi…Trong những thể tủy sống (forme spinale), đại đa số, các neurone vận động chi phối các chi hay thân mình bị ảnh hưởng đầu tiên. Điều này có thể được thể hiện bởi một sự khó thực hiện vài động tác của bàn tay, một rối loạn bước, v…v. Những chức năng trí tuệ ngược lại không bao giờ bị rối loạn.

Không có một trắc nghiệm sinh học hay y khoa nào có thể cho phép chẩn đoán. “ Chẩn đoán dựa trên sự hiện diện của những dấu hiệu khả dĩ với căn bệnh, tính chất tiến triển của nó, và trên những xét nghiệm bổ sung cho phép chủ yếu loại bỏ những nguyên nhân khác, BS Philippe Corcia, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh và là người phụ trách của centre régional SLA de Tours đã giải thích như vậy. Những tiến triển của bệnh là hoàn toàn không thể tiên đoán được, dầu đó là định vị của các thương tổn hay tốc độ tiến triển của nó. ” Tốc độ tiến triển này có thể được đếm bằng nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên như trường hợp của nhà vật lý người Anh Stephen Hawking, dẫu sao cũng đã có thể theo đuổi sự nghiệp của mình. “ Nhưng chúng tôi đã không có một tham số nào cho phép tiên đoán tiến triển đối với một bệnh nhân nào đó ”, GS Meininger đã nhấn mạnh như vậy.

NGUỒN GỐC NHIỀU YẾU TỐ.

Mặc dầu không có một điều trị nào chữa lành căn bệnh xơ cứng bên teo cơ, một loại thuốc bảo vệ thần kinh, riluzole, làm chậm lại những tiến triển của bệnh. Được cho một cách hệ thống, thuốc này càng có hiệu quả khi nó được cho càng sớm. Do đó tính chất nhanh chóng của chẩn đoán là quan trọng. “ Từ khi thành lập các trung tâm quy chiếu cho bệnh xơ cứng bên teo cơ, thời hạn giữa lúc xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên và lúc chẩn đoán đã chuyển từ 18 tháng xuống còn 6 đến 7 tháng, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đã xác nhận như vậy. Thương tổn của các chức năng hô hấp hay tiêu hóa là một yếu tố tiên lượng xấu, do đó tầm quan trọng của một điều trị sớm nhiều chuyên khoa để hạn chế hậu quả của chúng. “ Nhưng vài bệnh nhân chuyển đến cho chúng tôi còn muộn màn, điều này tạo nên một sự đánh mất cơ may ”, GS Philippe Courarier, người phụ trách của centre SLA régional de Limoges đã nhấn mạnh như vậy.

Nguồn gốc nhiều yếu tố của bệnh xơ cứng bên teo cơ không còn được nghi ngờ bao nhiêu nữa. Bệnh dường như có liên hệ đến những yếu tố môi trường và những yếu tố nguy cơ di truyền, nhưng những nguyên nhân của căn bệnh và các cơ chế phần lớn vẫn không được biết đến. Căn bệnh, ảnh hưởng lên những người trưởng thành thuộc hai giới tính, gồm 5% đến 10% những thể gia đình, trong đó 20% có một biến dị của gène SOD1, liên kết với sự đáp ứng đối với stress oxy hóa. Những biến dị mới trên các gène TDP43 hay FUS đã được khám phá mới đây. Hướng của một độc tính của glutamate, một chất dẫn truyền thần kinh, vẫn còn bỏ ngõ. Những rối loạn khác cũng hiện diện, như sự tích tụ của các protéine bất thường trong neurone vận động. “ Quá trình thoái hóa ảnh hưởng không chỉ neurone vận động, mà còn những tế bào phụ của nó, các astrocyte và microglie, có lẽ cũng như cơ, và toàn thể những rối loạn này cần thiết cho sự phát khởi của căn bệnh. Có lẽ cũng y hệt như những tương tác giữa các neurone vận động và những tế bào viêm, GS Meininger đã xác nhận như vậy.

Xét vì tính chất đáng sợ của bệnh xơ cứng bên teo cơ, việc làm sáng tỏ những cơ chế này để tận dụng nó trong điều trị vẫn là một ưu tiên.
(LE FIGARO 18/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 68 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 14/3/2008 )

4/ BỆNH XƠ CỨNG BÊN TEO CƠ : MỘT BỆNH CỦA CÁC VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO?

Bệnh xơ cứng bên teo cơ (sclérose latérale amyotrophique, amyotrophic lateral sclerosis) là một bệnh đặc trưng bởi một sự teo cơ tiến triển. Được mô tả lầu đầu tiên bởi Charcot (do đó còn được gọi là bệnh Charcot), bệnh khởi đầu bởi những thương tổn thoái hóa của các neurone vận động của sừng trước tủy sống và của các nhân vận động của các dây thần kinh sọ cuối. Trong văn liệu anglo-saxon, bệnh này còn được gọi dưới tên bệnh Lou Gehrig, tên của một cầu thủ base-ball nổi tiếng của Hoa Kỳ. Lou Gehrig chết do hậu quả của bệnh xơ cứng bên teo cơ lúc mới 38 tuổi. Nhiều nhân vật tên tuổi cũng mắc phải bệnh này : diễn viên người Anh David Niven, nhà soạn nhạc người Nga Dimitri Chostakovitch, Mao Trạch Đông, cũng như nhà thiên văn học Stephen Hawking. Stephen Hawking giữ ghế giáo sư của Isaac Newton tại đại học Cambridge. Ông đã sống với bệnh xơ cứng bên teo cơ từ hơn 40 năm nay (đây là một điều rất ngoại lệ) và vẫn tiếp tục nghiên cứu vũ trụ luận (cosmologie) và vật lý lượng tử (physique quantique) mặc dầu bị tật nguyền. Một logiciel (ngày nay được thương mãi hóa dưới tên “clicker” dành cho các người tàn tật) cho phép ông trao đổi, nhờ một bộ phận tổng hợp âm thanh (synthétiseur vocal) được nối với một ordinateur và được kiểm soát bởi một cái ngắt điện (ông vẫn còn có thể cử động hai ngón tay của bàn tay phải).

Một vài điều tra dường như cho thấy rằng, bệnh này thường xảy ra hơn nơi những người có một hoạt động vật lý cật lực, như các nhà nông hay những nhà đại thể thao. Một điều tra được tiến hành sau những cáo buộc dopage trong bóng đá Ý đã phát hiện một tý lệ tử vong sớm, cao một cách bất thường nơi các cựu cầu thủ. Khoảng 40 người trong số họ là nạn nhân của bệnh xơ cứng bên teo cơ này.

Bệnh xơ cứng bên teo cơ có lẽ không hiếm như người ta tưởng. Thật vậy bệnh này liên quan đến 8.000 người ở Pháp. Ở đây tỷ lệ mắc bệnh dường như gia tăng (800 trường hợp mới mỗi năm).Theo các thống kê Canada, bệnh xơ cứng bên teo cơ hàng năm gây nhiều nạn nhân hơn là các nạn nhân của các bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques), loạn dưỡng cơ (dystrophie musculaire) và xơ hóa nang (fibrose kystique) cộng lại.

Bệnh xơ cứng bên teo cơ nói chung xuất hiện trong lứa tuổi từ 40 đến 70 và gây bệnh ở đàn ông 2 lần nhiều hơn so với đàn bà.

Mãi đến hôm nay không có một phép điều trị nào chữa lành được bệnh này.Tiến triển diễn ra từ từ và tử vong xảy ra trung bình 2-3 năm sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên.
(LE GENERALISTE 6/3/2008)


2/ SỰ KHÁM PHÁ MỘT CHẤT CHỈ DẤU VẠN ỨNG CỦA UNG THƯ.

Một phân tử, được tìm thấy ngay ở giai đoạn sớm trong 1 loại ung thư thường gặp, mở ra những triễn vọng mới.

ONCOLOGIE. Từ nhiều thập niên qua, các nhà nghiên cứu tìm kiếm một phân tử duy nhất dễ phát hiện (thí dụ từ một xét nghiệm máu), chỉ rõ sự hiện hữu của một ung thư ở giai đoạn sớm để có thể thực hiện một điều trị nhanh chóng, mà ta biết rằng nó gần như luôn luôn cải thiện tiên lượng của bệnh này. Nhưng tuần này, trong tạp chí có uy tín của Hoa Kỳ The New England Journal of Medicine, một nhóm các nhà nghiên cứu của Inserm, được điều khiển bởi Nicolae Ghinea (Đơn vị 955) cộng tác với nhóm của Aurelian Radu, thuộc trường y Mont Sinai, Nữu ước, báo cáo những kết quả rất đáng lưu ý về vấn đề này.

Từ 1300 bệnh nhân bị 11 loại ung thư khác nhau ở những giai đoạn tiến triển khác nhau, các nhà khoa học này đã có thể cho thấy rằng tất cả đều mang một dấu sinh học chung (marque biologique). Các khối u của tất cả những bệnh nhân này đều có một protéine trên thực tế là thụ thể đối với FSH, một hormone nguồn gốc não thùy. Không bị ung thư, protéine này chỉ có độc nhất ở những cơ quan sinh sản (noãn sào, tinh hoàn).

Trong các công trình của họ, các nhà nghiên cứu của Inserm đã phát hiện sự hiện diện của những thụ thể đối với FSH trên các thành trong của các mạch máu nuôi dưỡng khối u. Ngược lại, chúng hoàn toàn không bao giờ xuất hiện trong các mô lành mạnh, ngoại trừ các cơ quan sinh sản.

Hướng khám phá này rất đáng lưu ý vì hai lẽ : nó có thể tạo nên một chất chỉ dấu vạn ứng (un marqueur universel) của ung thư về lâu về dài và hữu ích để phát hiện hay chẩn đoán. Nó cũng có thể là cơ sở của những hướng điều trị mới : hệ mạch máu là cần thiết cho sự tăng trưởng của các khối u và sự duy trì chúng trong cơ thể. Một phân tử được điều khiển chống lại những thụ thể này có thể phong bế sự tăng trưởng của khối u, như những nghiên cứu được tiến hành với những loại thuốc được gọi là “ angiogénique ” (chống lại sự tăng sinh của huyết quản) đã chứng tỏ điều đó.

PHÁT HIỆN BẰNG HÌNH ẢNH.

Nicolae Ghinea và các cộng sự viên của Inserm đã khảo sát các mẫu sinh thiết được lấy nơi 1.136 bệnh nhân bị ung thư sau một phẫu thuật. Sự hiện diện của thụ thể đối với FSH đã được phát hiện trong những khối u đi từ một giai đoạn rất sớm đến những giai đoạn muộn hơn đối với 1 loại ung thư (tiền liệt tuyến, vú, đại tràng, tụy tạng, bàng quang, thận, phổi, gan, dạ dày, tinh hoàn và buồng trứng). Những kết quả thu được chứng minh sự hiện diện của thụ thể trong toàn bộ các mẫu nghiệm, dầu cho loại và giai đoạn của khối u ung thư như thế nào. Trái lại, thụ thể này hoàn toàn vắng mặt trong toàn bộ các mô bình thường khác của cơ thể, kể cả mô bình thường của cơ quan mang khối u.

“ Hiện nay, chúng tôi đang nghiên cứu khả năng tìm ra dấu vết của chất chỉ dấu này trong máu, Nicolae Ghinea đã giải thích như vậy. Nhưng chúng tôi đã xác định được vị trí thụ thể này nơi những tế bào bao phủ thành của các huyết quản. Điều này tạo nên một mục tiêu đáng lưu ý đối với những tác nhân chẩn đoán và những thuốc điều trị được tiêm vào mạch máu.” Những thí nghiệm nhằm phát hiện bằng chụp hình ảnh để thấy khối u bằng cách làm thấy được thụ thể đối với FSH, đã được thực hiện một cách thành công bởi các nhà nghiên cứu trên chuột. Mặt khác, có khả năng rằng thụ thể này có thể trở nên một các đích chung đối với những thuốc chống ung thư hay đối với những tác nhân có tác dụng phá hủy hay phong bế những huyết quản của các khối u và điều đó dầu cho loại ung thư cần phá hủy thuộc loại nào. Hiện nay, đó là một công trình cơ bản rất đáng lưu ý, thật sự mở ra những triễn vọng mới. Đây là lần đầu tiên người ta nhận diện được một phân tử chung cho tất cả các loại ung thư.

Rất mới đây nhất, các nhà nghiên cứu Israel đã phát hiện những hợp chất hữu cơ bay hơi, khi thu được ở khí thở ra, chứa các chất chỉ dấu ung thư trong trường hợp bị bệnh. Phạm vi nghiên cứu này hiện nay đang phát triển một cách lũy tiến.
(LE FIGARO 21/10/2010)

3/ BƯỚC NGĂN NGỪA SUY TÀN TRÍ TUỆ ?

Theo một công trình nghiên cứu quan sát (étude observationnelle), các lão niên bước thường xuyên có ít nguy cơ hơn bị suy tàn nhận thức (déclin cognitif) những năm sau này bởi vì họ duy trì một thể tích chất xám nào đó.

Người ta nghĩ rằng hoạt động vật lý sẽ dành dụm thể tích chất xám (volume de matière grise) về sau trong cuộc đời, nhưng người ta thiếu những dữ kiện dọc về loại liên kết này. BS Kirk Erickson của khoa tâm lý học của Đại học Pittsburgh (Hoa Kỳ) và các đồng nghiệp muốn biết hoạt động vật lý có được liên kết với một thể tích lớn hơn của chất xám sau 9 năm hay không, nếu ta có thể xác định một ngưỡng thời gian bước (un seuil de durée de marche), cần thiết cho sự dành dụm nó, và nếu một thể tích chất xám lớn hơn liên kết với hoạt động vật lý được thể hiện bởi một sự giảm nguy cơ bị rối loạn nhận thức (trouble cognitif), 13 năm sau khi đánh giá hoạt động vật lý.

Nơi gần 300 người trưởng thành hơn 65 tuổi (tuổi trung bình 78) tham gia vào công trình Cardiovascular Health Cognition Study, các nhà nghiên cứu đã định lượng hoạt động vật lý theo số km bước được trong tuần. Các scan đã được thực hiện 9 năm sau khi đánh giá hoạt động vật lý nơi những người trưởng thành có năng lực nhận thức bình thường.

Một hoạt động vật lý quan trọng hơn được liên kết, 9 năm sau, với những thể tích lớn hơn của các vùng trán, chẩm, entorhinale và hải mã (hippocampe). Những người bước ít nhất 9,7 đến 14,5 km (6-9 dặm) mỗi tuần có những thể tích chất xám lớn hơn khi thực hiện IRM, so với những người bước ít hơn. Những người có những thể tích chất xám quan trọng hơn có ít những rối loạn nhận thức hơn 4 năm sau khi làm IRM, so với những người cho thấy ít chất xám hơn. Thật vậy, bước 10 đến 15 km/tuần là cần thiết để phát hiện một sự gia tăng chất xám, nhưng sự việc bước nhiều hơn nữa dường như không bảo vệ thể tích này. Một sự gia tăng chất xám do hoạt động vật lý được thể hiện bởi một sự giảm hai lần nguy cơ sa sút trí tuệ.

Đối với các tác giả, những kết quả của họ “ là thích hợp với những dữ kiện, theo đó hoạt động vật lý hiếu khí (activité aérobie) gây nên một loạt các phản ứng tiếp nối tế bào (cascades cellulaires), nhiên hậu có thể làm gia tăng thể tích của chất xám. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của chúng tôi không chứng minh một mối liên hệ nhân quả giữa sự bước và một sức khỏe nhận thức (santé cognitive) tốt hơn ”, họ đã cảnh giác như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/10/2010)

4/ TRẮC NGHIỆM MỚI PHÁT HIỆN SỚM XƠ GAN.

Ung thư gan là ung thư phổ biến vào hàng thứ sáu trên trái đất. Mỗi năm khoảng 600.000 trường hợp mới đuợc chẩn đoán trên thế giới. “ Thế mà loại ung thư này thường rất gây tử vong, GS Nico Callewaert, thuộc Đại học Gand và VIB (Vlaams Institute voor Biotechnologie) (Bỉ) đã chỉ rõ như vậy. Đặc biệt là bởi vì trong phần lớn các trường hợp, chẩn đoán được đặt ra khi bệnh đã tiến triển nhiều và khi ung thư đã lan tràn khắp nơi.”

Một trong những yếu tố nguy cơ xuất hiện chính của một ung thư như thế là bệnh xơ gan (cirrhose hépatique).

“ Nếu chúng ta có thể phát hiện xơ gan một cách đáng tin cậy vào một giai đoạn sớm, chúng ta sẽ có thể theo dõi những bệnh nhân này một cách tích cực hơn nhiều nhằm phát hiện sự tạo thành của một khối u gan ”, nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy.

Giấc mơ của ông ngày nay đã trở thành hiện thực. Nico Callewaert và nhóm nghiên cứu của ông đã hiệu chính một xét nghiệm máu phân tử (test sanguin moléculaire) tương đối đơn giản, có khả năng phát hiện những người có nguy cơ. Còn hơn thế nữa, xét nghiệm này có thể trở thành một sản phẩm thương mãi, có thể được sử dụng rộng rãi.

“ GlycoHepatoTest đo những thay đổi về cấu trúc của các chất đường hiện diện trên các protéine trong máu ”, ông đã chỉ rõ như vậy. Phần lớn những protéine trong máu này được chế tạo bởi những tế bào gan. Mà, những tế bào xơ gan sản xuất những loại đường có một cấu trúc khác với cấu trúc của các loại đường được chế tạo bởi những tế bào gan lành mạnh.

“ Bằng cách đo những biến đổi này bằng một kỹ thuật khả dĩ được thực hiện một cách hệ thống trong mọi phòng xét nghiệm y khoa, xét nghiệm mới của chúng tôi giúp xác lập chẩn đoán xơ gan và, như thế, nhận diện nhóm những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất phát triển một ung thư ”, ông đã kết luận như vậy.
(LE SOIR 29/9/2010)

Đọc thêm : :

Quote

Thời Sự Y Học Số 39 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 25/8/2007 )

3/ XÉT NGHIỆM MỚI ĐỂ PHÁT HIỆN UNG THƯ GAN

Ung thư gan rất khó phát hiện và rất thường xảy ra ở dân châu Á và châu Phi và cũng là nguyên nhân quan trọng gây tử vong trong các nước Phương Tâỵ. Ở Bỉ hàng năm có hơn 350 trường hợp ung thư gan mới xảy ra và 60 đến 80% những bệnh nhân bị ung thư gan có tiền sử xơ gan.

Mãi đến tận ngày nay chỉ có xét nghiệm AFP (alpha-foetoprotéine) để chẩn đoán ung thư gan.Xét nghiệm này thiếu tính đặc hiệu và thường cho những kết quả dương tính giả. Một nhóm nghiên cứu của Institut flamand de biotechnologie (VIB) ở Gand, cộng tác với các đồng nghiệp người Hoa, đã phát triển một xét nghiệm mới cho phép chẩn đoán ung thư này ở giai đoạn sớm hơn .

Để làm được điều này họ đã phân tích máu của bệnh nhân người Hoa bi xơ gan sau khi bị nhiễm trùng bởi virus de l’hépatite B và đã khám phá rằng lượng của 2 loại đường hiện diện trên các protéines trong máu biến thiên theo giai đoạn của bệnh. Ngoài ra, các trị số này tương ứng với kích thước của khối u. Chính mối tương quan này là cơ sở của xét nghiệm mới được hiệu chính.Trong 70% trường hợp, chẩn đoán đã có thể được xác lập, điều này cũng có hiệu quả như chỉ dấu khối u (marqueur tumoral) hiện đang được sử dụng trong lâm sàng. Sự kết hợp giữa test AFP với xét nghiệm mới này làm gia tăng nhiều mức độ chính xác trong chẩn đoán ung thư gan.Thật vậy, trên một nửa bệnh nhân bị xơ gan, test AFP không cho kết quả có giá trị. Xét nghiệm mới đã cho phép phát hiện ung thư gan trong những trường hợp này. Xét nghiệm cho phép lập lại nhiều lần nơi những bệnh nhân xơ gan, nhờ vậy có thể chẩn đoán ung thư gan ở một giai đoạn càng sớm càng tốt.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 17/8/2007)

Thời Sự Y Học Số 172 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 03/5/2010 )

8/ TIẾN VỀ MỘT SỰ PHÁT HIỆN SỚM CỦA BỆNH XƠ GAN.

Trong trường hợp ngộ độc rượu mãn tính (alcoolisation chronique), gan trước hết trải qua một giai đoạn gan mỡ (stéatose), rồi trở thành nơi của một quá trình viêm nhiễm mãn tính (hépatite chronique), rồi xơ hóa (fibrose). Tình trạng xơ hóa vẫn có thể đảo ngược được, với điều kiện từ bỏ rượu. Nếu không, sẽ xuất hiện một xơ gan (cirrhose du foie), là biểu hiện một yếu tố nguy cơ của ung thư gan. Do đó lợi ích của một phát hiện sớm…

“ Mọi người Pháp có nguy cơ xơ hóa gan phải được đề nghị phát hiện. Đặc biệt có liên quan là những người tiêu thụ quá nhiều rượu (khoảng 8% các người Pháp), nhưng cũng những người trưởng thành tăng thể trọng (15%) và, dĩ nhiên những nạn nhân của một nhiễm trùng mãn tính bởi một virus của viêm gan B hay C (1,5%), GS Stanislas Pol, trưởng khoa gan của bệnh viện Cochin (Paris) đã giải thích như vậy.

Tin vui, đó là để phát hiện một xơ hóa gan, không còn cần phải thực hiện một sinh thiết nữa. Có hai thăm khám không xâm nhập : xét nghiệm máu đo những chất chỉ dấu khác nhau và Fibroscan tính tốc độ di chuyển của một làn sóng từ da đến gan (làn sóng đi càng nhanh khi gan càng bị xơ).

“ Khi một sự xơ hóa được khám phá, sự kiểm soát lâu dài của tất cả các yếu tố nguy cơ (rượu, tăng thể trọng, virus) đã chứng tỏ kết quả : bệnh khi đó có thể đảo ngược 100%. Sự trở lại bình thường này đã khó đạt được vào giai đoạn xơ gan, nhưng chúng tôi hy vọng có khả năng tạo lại dáng (remodeler) hoàn toàn gan trong 5 đến 10 năm đến ”, GS Pol nói tiếp như vậy.

Đối với 250.000 người Pháp có một xơ gan, cần phải phát hiện sớm ung thư. Mọi người có một xơ gan được biết phải được hưởng một siêu âm gan một cách hệ thống mỗi 6 tháng. Biện pháp duy nhất này đã cho phép gia tăng hơn 20% số các khối u được nhận diện ở một giai đoạn có thể mổ được. Đó cũng là số người mà ta sẽ chữa lành bệnh ung thư của họ.

Bên cạnh phẫu thuật cổ điển (cắt bỏ khối u), cắt bỏ bằng nhiệt (thermo-ablation) bùng nổ. Phương pháp này nhằm cắm một chiếc kim vào trong khối u, dưới sự kiểm soát của siêu âm, và đốt bằng những micro-ondes. Một kỹ thuật mới, chimio-embolisation artérielle hépatique, nhằm bít các huyết quản nuôi dưỡng khối u, cho phép phá hủy nó hơn 95%. Hiện nay phương pháp này đặc biệt dành cho những bệnh nhân chờ đợi một ghép gan hay như điều trị chữa tạm (traitement palliatif).

“ Người ta chữa lành khối u nhưng không chữa lành xơ gan. Vậy, những nguy cơ tái phát khởi khối u là luôn luôn có thể. Đó là lý đó tại sao, khi có thể thực hiện được, ghép gan vẫn là giải pháp làm thỏa mãn nhất ”, GS Stanislas Pol đã kết luận như vậy. Mỗi năm, 125 trường hợp ghép gan được thực hiện nơi những bệnh nhân bị xơ gan do rượu, nhưng đã vĩnh viễn từ bỏ rượu.
(LE FIGARO 22/3/2010)

Thời Sự Y Học Số 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/6/2009 )

8/ XƠ GAN : NGỪNG UỐNG KHÔNG BAO GIỜ LÀ QUÁ MUỘN.

Ngạn ngữ của các chuyên gia về xơ gan do rượu : ngừng uống không bao giờ là quá muộn. Nhưng điều này không có nghĩa là sự từ bỏ uống rượn có thể không ngừng được trì hoãn.

Chính như vậy mà BS Nick Sheron của Đại học Southhampton (Vương Quốc Anh), đã tóm tắt công trình nghiên cứu dài hạn, mà những kết luận được đăng tải trong tờ báo khoa học Addiction. Một nghiên cứu lâm sàng trên các sinh thiết của 100 bệnh nhân, được thực hiện giữa tháng giêng 1995 và tháng 12/ 2000, và các kết quả đã được so sánh với các thống kê tử vong, thu được bởi một trung tâm quốc gia chuyên môn.

Từ đó rút ra kết luận là, nếu một bệnh nhân ngừng uống ngay sau khi được chẩn đoán xơ gan nghiêm trọng do rượu, thì khả năng sống sót lâu dài, cao hơn nhiều sau một tháng, so với cơ may sống sót của một người bệnh với xơ gan ít trầm trọng hơn, nhưng vẫn tiếp tục uống rượu. Nói chính xác hơn : tỷ lệ sống còn sau 7 năm là 72% đối với người ngừng rượu so với 44% đối với người tiếp tục uống. Lý do khiến BS Sheron nêu ra nhận xét : “ Ở mức cơ bản nhất, việc điều trị một bệnh nhân nghiện rượu là nhằm duy trì anh ta sống đủ lâu để có thể ngưng uống rượu, và sau đó tối đa hóa những khả năng của anh ta kiên trì cai rượu.” Và nhấn mạnh rằng, về vấn đề này, mốt chánh sách y tế có trách nhiệm phải nhằm nâng đỡ các bệnh nhân, để giúp họ chống lại rượu.
(LE SOIR 18/4-19/4/2009)


5/ BILAN SỨC KHỎE KÉM ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI MỸ.

Tỷ lệ tử vong của những người từ 45 đến 65 tuổi đã giảm rất nhiều ở Châu Âu. Các kết quả gây thất vọng ở Hoa Kỳ có thể được quy cho hệ thống y tế của của họ.

SANTE PUBLIQUE. Suốt trong 15 năm qua, hy vọng sống (espérance de vie) đã tiến bộ gần như khắp nơi ở châu Âu trong lứa tuổi từ 45 đến 65 tuổi. Khắp nơi trong những nước phát triển, chứ không phải ở Hoa Kỳ. Những kết quả của một công trình nghiên cứu, được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu của đại học Columbia và được công bố hôm qua trong tạp chí Hoa Kỳ Health Affairs, là một điều lăng nhục đối với chính sách y tế, được thực hiện bởi các chính phủ kế tiếp nhau của Hoa Kỳ. Trong một thời gian dài, bệnh béo phì, chứng nghiện thuốc lá, ung thư hay ngay cả các tai nạn lưu thông đã bị vạch mặt chỉ tên để giải thích tỷ lệ tử vong quá cao có thể tránh được của những người Mỹ trong lứa tuổi từ 45 đến 65 tuổi.

Tài liệu công bố mới này, được tài trợ bởi quỹ của Commonwealth (cơ quan tư nhân thực hiện những điều tra độc lập về y tế công cộng) chắn hẳn sẽ gây tiếng vang : tài liệu này đánh giá rằng những kết quả xấu về hy vọng sống của những người Mỹ có thể được quy trực tiếp cho hệ thống y tế của họ, chứ không phải do những lý do được viện dẫn cho đến nay. Những kết quả có tính chất xây dựng. Vào năm 2005, những người Mỹ trắng 45 tuổi có tỷ lệ sống sót ở tuổi 60 thấp nhất trong số các nước được khảo sát. Một tỷ lệ dưới những tỷ lệ được quan sát ở Thụy Sĩ, Thụy Điển, Hòa lan và Nhật bản vào năm...1975.

Để đi đến những kết luận này, các nhà nghiên cứu đã khảo sát, 15 năm sau, những hành vi (comportement), những yếu tố nguy cơ, sức khỏe cũng như tỷ lệ sống sót (taux de survie) nơi những người đàn ông và các phụ nữ, tuổi từ 45 đến 65, ở Hoa Kỳ và trong 12 nước khác (Úc Đại Lợi, Áo, Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật bản, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển và Vương quốc Anh). Mặc dầu Hoa Kỳ dĩ nhiên đã tiến bộ giữa năm 1975 và 2005, nhưng các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng nơi những nước được khảo sát khác, tất cả đã tiến bộ tốt hơn. Nói tóm lại, tuổi thọ gia tăng ít nhanh hơn bên kia Đại Tây Dương (Hoa Kỳ) trong lứa tuổi này. Những kết quả lại còn gây ngạc nhiên hơn khi ở Hoa Kỳ, những chi phí về y tế cho mỗi người dân đã tăng hơn gấp đôi trong cùng thời kỳ.

Trong lúc nghiên cứu những yếu tố nguy cơ gây tử vong sớm (trước 60 tuổi) của mỗi nước, họ đã tìm thấy rất ít sự khác nhau về những thói quen của những người hút thuốc. Các người Mỹ ngay cả làm giảm sự tiêu thụ thuốc lá của họ còn nhanh hơn những nước khác. Về chứng béo phì, tỷ lệ lưu hành của nó quan trọng hơn ở Hoa Kỳ, nhưng đó là điều đã xảy ra vào năm 1975.

Sau cùng những vụ giết người và những tai nạn đường xá không thể giải thích những dị biệt như thế về tỷ lệ sinh tồn giữa 12 nước được khảo sát. Tại sao trong bối cảnh này, nước Mỹ lại ghi những kết quả y tế xấu đến như thế mặc dầu những chi phí về y tế rất quan trọng ? Các tác giả của công trình nghiên cứu đã chỉ mặt vào hệ thống y tế “ không được điều hòa ” (le système de soins “ non régulé ”) của Hoa Kỳ. Người ta có thể chi phí nhiều tiền bạc mà không hưởng được một chất lượng tốt về săn sóc y tế.

“ Những điều trị nơi các thầy thuốc chuyên khoa, nói chung là tốn kém và không được tập trung, là nguyên nhân của những kết quả này ”, Peter Muenningn, giáo sư y tế cộng đồng và là một trong hai tác giả của công trình nghiên cứu, đã đánh giá như vậy. Karen David, chủ tịch của Quỹ Commonwealth đánh giá rằng, sự vận hành hoạt động của hệ thống y tế Hoa Kỳ là “ không thể chấp nhận được ”. “ Hoa Kỳ phải cải thiện các săn sóc y tế đa khoa (soins généralistes), cũng như sự điều hòa với các săn sóc chuyên khoa (soins spécialisés). Sẽ ít mất thời gian hơn và ít tốn tiền hơn, bà ta đã tuyên bố như vậy. Jacques Vallin, giám đốc nghiên cứu ưu tú của Viện quốc gia về nghiên cứu nhân khẩu học không ngạc nhiên bởi những kết quả xấu này. “ Công trình nghiên cứu này chứng minh tầm quan trọng của sự tổ chức của hệ thống y tế có chất lượng. Đất nước này chi phí cho mỗi người dân nhiều hơn nước Pháp và Nhật bản và tuy vậy, các con số lại ít tốt đẹp hơn ”, ông đã phàn nàn như vậy. Thầy thuốc chuyên khoa này nhắc lại rằng những chi phí của Hoa Kỳ là rất cao, nhưng hệ thống y tế lại có lợi nhiều nhất cho những người khá giả nhất. “ Nhiều bệnh nhân sau khi đi khám một thầy thuốc, lại không đi mua thuốc đã được kê toa hay quyết định chỉ mua một nửa các thuốc đã được kê đơn, ông đã giải thích như vậy.
(LE FIGARO 8/10/2010)

6/ DẤU HIỆU BABINSKI

Joseph Babinski, sinh năm 1857, con trai của một kỹ sư Ba lan chạy trốn qua Pháp để tránh khủng bố Nga, là một trong những thầy thuốc người Pháp đã làm cho bệnh viện Salpêtrière de Paris nổi tiếng thế giới ngay vào cuối thế kỷ thứ XIX. Đứa con của Montparnasse, được đánh giá là nặng nề và dễ bảo nhưng lanh lợi và mãnh liệt lúc say mê, Babinski đã cho thấy một bản chất ám ảnh (un fond obsessionnel), có thể đã góp phần vào tính tỉ mỉ của ông. Lúc còn sinh viên, ông được Charcot để ý và trở nên người học trò được ưa thích nhất của ông ta. Sau khi tốt nghiệp, ông là thầy thuốc của các bệnh viện và những thăm khám thần kinh của ông trở nên nổi tiếng mặc dầu được diễn ra trong âm thầm tuyệt đối. Trước hết, đó là một nhà quan sát mô tả lâm sàng (un observateur descriptif clinique). Đối thủ của ông loại được ông khỏi sự bổ nhiệm chức giáo sư thực thụ, bước chuyển bắt buộc hướng về ghế giáo sư. Việc qua đời của Charcot vào năm 1893 làm ông trơ trọi, không có quyền giảng dạy, và ông đành chấp nhận chức vụ trưởng khoa lâm sàng của bệnh viện Pitié Salpetrière, cho đến ngày ông về hưu năm 1922. Ở đó, ông có thời gian chuyên tâm vào triệu chứng học lâm sàng hơn là vào những thăm khám và các xét nghiệm. Vào năm 1896, ông mô tả “ hiện tượng của các ngón chân ”. Được công bố vào năm 1903, dấu hiệu Babinski bị dèm pha khá lâu mặc dầu nhiều bài báo sẽ dành cho nó về sau này. Vào năm 1900, một năm trước Alfred Frohlich, Babinski mô tả hội chứng béo phì-sinh dục (syndrome adiposo-génital) của một khối u vùng dưới đồi (tumeur hypothalamique), hay hội chứng Babinski-Frohlich. Năm sau, ông liên kết dấu hiệu đồng tử không đều (anisocorie) và bệnh phình động mạch chủ với bệnh giang mai giai đoạn tiến triển (hội chứng Babinski-Vaquez) rồi trình bày những triệu chứng do thương tổn một nửa hành tủy (lesion hémibulbaire) hay hội chứng Babinski-Nageotte. Vào năm 1905, ông nghiên cứu bệnh tabès và triệu chứng thất điều (ataxie) và cho rằng bệnh hystérie không hiện hữu và được gây nên bởi thầy thuốc nơi những bệnh nhân nhạy cảm với tự kỷ ám thị. Joseph Babinski chết vì bệnh Parkinson vào năm 1932 lúc 75 tuổi, nhưng ông đã có thời gian thấy được những thành tựu của mình trong thần kinh học được quốc tế công nhận.
(LE GENERALISTE 30/9/2010)

7/ TRỨNG CÓ NGUY HIỂM CHO SỨC KHỎE KHÔNG ?

Professeur Alain Rerat
Vétérinaire
Membre de l’Académie nationale de médecine.


Mỗi người Pháp tiêu thụ trung bình 250 chiếc trứng mỗi năm, nhưng nhiều người do dự không muốn ăn vì sợ bị dị ứng, vi khuẩn salmonella và nhất là cholestérol.

Đúng là trứng tương đối giàu cholestérol (khoảng 200mg) và do đó, từ lâu người ta đã khuyến nghị hạn chế sự tiêu thụ trứng, bị buộc tội làm gia tăng nồng độ cholestérol trong máu và làm dễ tỷ lệ mắc bệnh tim mạch. Thế mà, bây giờ người ta xác lập rõ ràng rằng chính gan mới sản xuất gần như toàn bộ cholestérol trong máu và rằng sự cung cấp thực phẩm, dầu nguồn gốc là gì, đều không đáng kể. Do đó việc tiêu thụ trứng không thể được quy trách nhiệm là nguyên nhân của nồng độ cholestérol xấu trong máu.

Về nguy cơ dị ứng, chúng ta hãy nhắc lại rằng các dị ứng thức ăn là do sự tiêu thụ nhiều loại thức ăn khác nhau trong đó vài thành phần, nhất là các protéine, gây nên những phản ứng phòng vệ của cơ thể, dưới dạng sản xuất các kháng thể nơi vài bệnh nhân mẫn cảm. Đó có thể là trường hợp của trứng, nhưng những phản ứng như thế chỉ xảy ra nơi một bộ phận ít quan trọng của dân chúng, nói chung là các trẻ em, nơi chúng những rối loạn này sẽ biến mất trong thời gian tăng trưởng.

Ngược lại, trứng giàu protéine : 7 đến 8 g trong một chiếc trứng 60g, hoặc khoảng 1/5 nhu cầu hàng ngày của protéine động vật của người trưởng thành, và 10% của nhu cầu toàn thể protéine. Những protéine này rất được quân bình vì thế được lấy làm quy chiếu bởi FAO (Food and Agriculture Organization, Liên Hiệp quốc) và OMS : Thật vậy chúng mang lại những acide aminé cần thiết cho một sự quân bình tối ưu để trang trải những nhu cầu của trẻ em và người lớn. Ngoài ra, lòng đỏ của trứng chứa một lượng lớn (khoảng 5,5 g đối với một chiếc trứng nặng 60g) lipide có một tỷ lệ cao các acide béo chưa bảo hòa (acide gras polyinsaturé) (khoảng 15%), trong đó có oméga 3 mà cơ thể không thể tổng hợp nhưng sự cung cấp chúng lại thiết yếu cho hoạt động chức năng của cơ thể. Sau cùng, sự hiện diện của những muối khoáng và các vi yếu tố (oligoélément) khác nhau cần phải được nhấn mạnh, cũng như những hàm lượng cao của vitamine A,D và E, mà các chức năng trong chuyển hóa calcium và những tính chất kháng oxy hóa đặc biệt có lợi. Chưa kể đến sự nghèo tương đối calo của trứng (khoảng 90 calo có thể chuyển hóa trong một chiếc trứng 60g, trong đó 80% trong lòng đỏ), điều này khiến trứng trở thành một thức ăn có thể được khuyến nghị trong một chế độ ăn uống nói chung giàu năng lượng, và với một cái giá ít ỏi.

NHỮNG QUY TẮC VỆ SINH.

Những điều kiện hiện đại của chăn nuôi, không những đã không làm mất giá các chất lượng dinh dưỡng của trứng, mà còn khả dĩ cải thiện chúng, qua chế độ ăn uống của gà, đặc biệt trên bình diện các hàm lượng oméga 3, vitamine tan trong mỡ và vài vi yếu tố. Những điều kiện này đã cho phép ổn định tỷ lệ mắc phải những nhiễm độc-nhiễm trùng (toxi-infection) nguồn gốc salmonella.

Nhưng cần phải nhắc người tiêu thụ những cách sử dụng tốt về việc tiêu thụ trứng, đó là đặt không chậm trễ vào tủ lạnh, cấm rửa (động tác này lấy đi lớp cuticule bảo vệ trứng khỏi bị vi khuẩn lây nhiễm), thời gian giới hạn sử dụng được khuyến nghị 28 ngày, nấu trong trường hợp nghi ngờ, tiêu thụ ngay không bảo quản (ngay cả bằng tác dụng lạnh) các mayonnaise dùng trong gia đình... Và cảnh cáo người tiêu thụ về những nguy hiểm gặp phải trong trường hợp vi phạm những nguyên tắc này, mà sự áp dụng cho phép ngăn ngừa những hậu quả đôi khi nghiêm trọng của sự lây nhiễm của trứng (mặc dầu ngoại lệ). Nếu những điều kiện vệ sinh này hội đủ, ta có thể khuyến nghị tiêu thụ trung bình năm trứng mỗi tuần.
(LE FIGARO 4/10/2010)

8/ SUY TIM : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ NHẮM ĐÍCH MỚI.

GS Michel Desnos, trưởng khoa tim bệnh viện George-Pompidou, giải thích một loại thuốc, ivabradine, cải thiện tiên lượng của bệnh suy tim như thế nào.

Hỏi : Ông có thể cho một định nghĩa về bệnh suy tim, căn bệnh thường xảy ra này ?
GS Michel Desnos: Người ta nói suy tim khi tim không còn có thể làm tốt công việc của mình nữa. Nó giãn ra và không co thắt đầy đủ để phóng máu cần cho sự oxy hóa các cơ quan. Hậu quả, những cơ quan này bị biến đổi dần dần : trước hết phổi bị ảnh hưởng để gây nên khó thở, rồi xuất hiện các suy thận và suy gan. Mặt khác, căn bệnh này là bệnh lý tim duy nhất gây mệt, và triệu chứng này trầm trọng với thời gian. Ở Pháp, 2 đến 3% dân số bị bệnh suy tim, hoặc 1 triệu rưởi người và con số này không ngừng gia tăng !

Hỏi : Nguyên thủy, những nguyên nhân của sự loạn năng của tim này là gì ?
GS Michel Desnos: Tất cả các bệnh tim mạch đều có thể, sau một thời gian tiến triển, dẫn đến suy tim. Thí dụ : cao huyết áp hay những thương tổn khác nhau của các động mạch của tim. Trong một số các trường hợp (khoảng 10%), đó là những thể gia đình liên kết với những bất thường di truyền.

Hỏi : Không được điều trị, những nguy cơ là gì ?
GS Michel Desnos: Bệnh nhân không được điều trị sẽ chịu một sự trầm trọng của bệnh lý, ở một giai đoạn tiến triển, các cơn khó thở có thể xảy ra ngày lẩn đêm, một sự lên cân với phù nề xuất hiện ở các cẳng chân. Ở một giai đoạn tiến triển, có nguy cơ tử vong. Hiện nay, người ta thống kê nơi những bệnh nhân suy tim 10% tử vong mỗi năm !

Hỏi : Mãi cho đến nay, thái độ điều trị của bệnh này là gì ?
GS Michel Desnos: Việc xử trí bao gồm hai loại điều trị. Điều trị thứ nhất có cơ sở là những thuốc lợi tiểu để làm giảm sự ứ đọng nước và muối, chịu trách nhiệm hiện tượng phù nề. Điều trị thứ hai được thực hiện với hai loại thuốc khác nhau : một bêtabloquant có tác dụng làm chậm tần số của nhịp tim và một inhibiteur de l’enzyme de conversion nhằm hạn chế sự giãn cơ.

Hỏi : Những kết qua thu được với điều trị cổ điển này ?
GS Michel Desnos: Các công trình nghiên cứu đã cho thấy một sự cải thiện chất lượng sống của các bệnh nhân, một sự giảm rõ rệt những lần nhập viện và một sự hạ khoảng 30% tỷ lệ tử vong. Nhưng những thuốc này cũng đã gây nên những tác dụng phụ nơi 10 đến 20% các bệnh nhân, trong đó có một sự hạ huyết áp.

Hỏi : Điều trị mới nhất vừa được thương mãi hóa là gì ?
GS Michel Desnos: Mặc dầu những kết quả thu được với điều trị quy ước, suy tim vẫn là một bệnh nặng, chịu trách nhiệm quá nhiều tử vong. Do đó các cố gắng của các nhà nghiên cứu để tìm ra một loại thuốc cải thiện chất lượng. Một thuốc mới, ivabradine, được cho thêm vào protocole cổ điển, vừa chứng tỏ tính hiệu quả của nó

Hỏi : Cơ chế tác dụng của loại thuốc này là gì ?
GS Michel Desnos: Đó là một quá trình rất nhắm đích, chỉ làm giảm tần số tim mà không làm hạ huyết áp của bệnh nhân. Điều này mang lại một ưu điểm to lớn !

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó ?
GS Michel Desnos: Công trình nghiên cứu quốc tế sau cùng Shift, được tiến hành trên 6.558 bệnh nhân. Đó là công trình nghiên cứu lớn nhất từng được thực hiện về bệnh suy tim. Trong thử nghiệm này, tất cả các bệnh nhân đã tiếp tục theo điều trị thông thường, nhưng họ được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất đã dùng thêm ivabradine (dưới dạng các thuốc viên 7,5 mg hai lần mỗi ngày), nhóm kia đã nhận thêm một placebo. Công trình nghiên cứu kéo dài khoảng hai năm. Kết quả : người ta đã liệt kê được 26% ít hơn những trường hợp tử vong do suy tim trong nhóm đã nhận ivabradine, cũng như khoảng 25% ít hơn những trường hợp nhập viện. Độ dung nạp của thuốc này tỏ ra rất tốt. Tác dụng phụ duy nhất : 3% các bệnh nhân tạm thời bị khó chịu bởi những tia chớp sáng nhỏ.
(PARIS MATCH 14/10-20/10/2010)

9/ HƯỚNG VỀ MỘT CHẨN ĐOÁN SỚM BỆNH ALZHEIMER.

Bệnh Alzheimer có thể được phát hiện ngay trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên, nhờ sự phân tích các phân tử hiện diện trong dịch bao quanh não (dịch não tủy).

Ít nhất là một chục năm : đó là thời gian ngăn cách giữa lúc khởi đầu bệnh Alzheimer với những triệu chứng đầu tiên. Do đó việc phát hiện những chỉ dấu đáng tin cậy của giai đoạn sớm của bệnh lý này là một thách thức tầm cỡ. Mục tiêu : điều trị bệnh nhân càng sớm càng tốt, trước khi các thiệt hại gây nên cho não bộ không thể vãn hồi được. Một giai đoạn mới theo chiều hướng này vừa mới được vượt qua bởi một nhóm các nhà khoa học Bỉ, Thụy Điển và Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu này dường như đã khám phá một chữ ký sinh học (signature biologique) đáng tin cậy của căn bệnh, nơi những người chưa có những dấu hiệu đặc trưng của bệnh.

Nhóm nghiên cứu đã đo trong chất dịch bao quanh não bộ và tủy sống (dịch não tủy), những nồng độ của ba phân tử liên kết với các thương tổn não bộ, được gây nên bởi căn bệnh này. Các định lượng được thực hiện trên hơn 400 người ở lứa tuổi 70 : 100 người bị mắc phải bệnh Alzheimer, 196 chỉ bị những rối loạn nhận thức mức độ vừa phải (trí nhớ, ngôn ngữ) và 14 người lành mạnh. Kết quả : một chữ ký sinh học (signature biologique) đặc biệt đã được phát hiện nơi 90% những người tình nguyện của nhóm thứ nhất, nơi 72% trong nhóm thứ hai và nơi 36% trong nhóm cuối. Chữ ký này là một tỷ suất các nồng độ giữa protéine PTau181P và peptide beta-amyloide 1-42.

Một cách song hành, hai công trình nghiên cứu phụ đã đối chiếu những dữ kiện này. “ Chúng tôi đã tìm thấy lại chữ ký sinh học này nơi 94% những người hôm nay đã chết (64 trên 68), và sự giải phẫu tử thi đã xác nhận sự hiện diện của căn bệnh, John Trojanowski, thầy thuốc chuyên khoa cơ thể bệnh lý thần kinh thuộc đại học Pennsylvanie, đồng tác giả của ấn bản, đã chỉ rõ như vậy. Chữ ký này cũng hiện diện nơi 57 người có những rối loạn mức độ trung bình ; những người này sau đó đã phát triển bệnh lý trong 5 năm tiếp theo sau. ” Vậy chữ ký sinh học này dường như là một chỉ dấu tốt, ở một giai đoạn sớm, và với một độ chính xác cao.

“ Những dữ kiện này là rất đầy hứa hẹn, và cho thấy rằng việc sử dụng những chất chỉ dấu sinh học này có thể cho phép chẩn đoán bệnh trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên, Jean-Charles Lambert, thuộc viện Pasteur de Lille đã bình luận như vậy. Nhưng trước hết những dữ kiện này phải dược xác nhận trên một số lớn hơn các người tình nguyện và được theo dõi trong một thời kỳ lâu dài. ”

CHỌC DÒ.

Ngày nay, chỉ có giải phẫu tử thi của não bộ mới cho phép xác nhận rằng một người đã bị bệnh Alzheimer, điều này giải thích tại sao chẩn đoán khó khăn đến như thế. Do đó để xác lập chẩn đoán, các thầy thuốc không thể dựa trên một chùm các chỉ dấu được cung cấp bởi những trắc nghiệm tâm thần kinh và chụp hình ảnh y khoa. Chẩn đoán như vậy xảy ra ở một giai đoạn đã tiến triển của bệnh lý, thường quá muộn để các phương tiện hiếm hoi hiện có có thể kềm hãm một cách hiệu quả căn bệnh. Do đó lợi ích có những chữ ký sinh học sớm thuộc loại này. Tuy nhiên việc khảo sát chúng đòi hỏi chọc dò tủy sống để lấy dịch não tủy, và việc sử dụng chọc dò quy mô lớn chỉ hoàn toàn được biện minh nếu có những điều trị chữa lành nhằm phong bế căn bệnh ở một giai đoạn sớm. Những loại thuốc thuộc loại này hiện đang được phát triển
(LA RECHERCHE 10/2010)

10/ CÁC BỆNH TIM MẠCH : UỐNG MỘT ÍT ĐỂ BẢO VỆ TRÁI TIM MÌNH.

Đó là một lý lẽ chính ủng hộ rượu vang : rượu vang có một hiệu quả bảo vệ tim (effet cardioprotecteur), duy trì ý tưởng của nghịch lý Pháp (french paradox) nổi tiếng, xuất hiện trong những năm 1990. Rất nhiều công trình nghiên cứu đã đều đồng quy theo chiều hướng này, chứng tỏ tác dụng dương tính cùa các polyphénol lên cholestérol xấu. Một trong những công trình nghiên cứu mới nhất, công trình của một nhóm nghiên cứu Pháp của Inserm, đã nhận diện một cơ chế phân tử có liên quan đến tác dụng giãn mạch của delphinidine (anthocyane), một polyphénol hiện diện trong rượu vang đỏ. Các nhà nghiên cứu đã cho thấy, nơi chuột, rằng chất này hoạt hóa một thụ thể được biết là có tác dụng kích thích sự sản xuất oxyde d’azote, một gốc tự do (radical libre) có tác dụng giãn mạch. Để được như thế, không cần phải tiêu thụ rượu vang để có được những kết quả bảo vệ này ! Những thức ăn thức uống khác như cà phê, chè xanh hay chocolat, đều giàu polyphénol. Ngoài ra, như Pierre Ducimetière, nhà dịch tễ học của Inserm, mới đây đã viết, “ nghịch lý Pháp không còn tồn tạinữa ”. Thật vậy, những công trình nghiên cứu khác đã chứng minh rằng trên bình diện bệnh động mạch vành, nước Pháp chiếm một vị trí trung gian theo một gradien bắc-nam, nhưng chắc chắn không phải là ngoại lệ. Ngoài ra, “ không gì chứng tỏ rằng rượu vang là yếu tố duy nhất giải thích, BS Jean Dallongeville, thuộc Viện Pasteur de Lille đã xác nhận như vậy. Những người uống có mức độ của những công trình nghiên cứu này nói chung là những người không hút thuốc, ăn uống lành mạnh và tập thể thao.”
(SCIENCE ET AVENIR 9/2010)

Đọc thêm : :

Quote

Thời Sự Y Học Số 43 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 24/9/2007 )

6/ NƯỚC NHO VẮT TỐT CHO TIM VÀ CÁC MẠCH MÁU

Các nhà nghiên cứu của Madrid đã yêu cầu 15 người có sức khỏe tốt và 26 người được điều trị bằng thẩm tách máu (hémodialysé) (là những người có nguy cơ về bệnh tim cao hơn), uống mỗi ngày 100 ml nước nho vắt. Sau 2 tuần, tất cả những người tình nguyện có nồng độ cholestérol LDL (cholestérol xấu) hạ thấp và nồng độ cholestérol HDL (cholestérol tốt) tăng cao. Nơi những bệnh nhân đang được điều trị bằng thấm tách máu, tỷ suất giữa cholestérol toàn thể và HDL (một chỉ dấu của các bệnh tim mạch) đã giảm một cách quan trọng (gợi ý giảm nguy cơ). Các nhà khoa học đã tìm kiếm nơi những bệnh nhân thấm tách máu những nồng độ protéine MCP-1 (một chỉ dấu của phản ứng viêm liên kết với các bệnh tim mạch). Sau 3 tuần uống nước nho vắt, các protéines này đã giảm 56%. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng nước nho vắt giúp giãn các huyết quản bằng cách làm dễ sự phóng thích monoxyde d’azote.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2007)

Thời Sự Y Học Số 106 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 19/12/2008 )

4/ RƯỢU VÀ CÁC HUYẾT QUẢN

Nếu một hoặc hai ly rượu vang mỗi ngày có thể có lợi cho tim và các huyết quản, thì trái lại sự hấp thụ những lượng lớn rượu trong một khoảng thời gian giới hạn làm gia tăng nguy cơ bị xơ mỡ động mạch (athérosclérose). Một thí nghiệm được thực hiện in vitro bởi John P.Cullen và các cộng sự viên (Đại Học Rochester, Hoa Kỳ) đã làm sáng tỏ một cơ chế khả dĩ. Những liều lượng cao acétaldéhyde, chất chuyển hóa chính của rượu, có thể kích thích sự dính kết của các bạch cầu mono (monocytes) với hậu quả là làm gia tốc quá trình xơ mỡ động mạch.

Vậy rượu dường như gây nên những tác dụng đối nhau, tùy theo cách uống : uống có mức độ (1-2 ly mỗi ngày) có một tác dụng bảo vệ tim. Nhưng hoàn toàn trái lại nếu ta “ tiết kiệm ” những nồng độ có ích hàng ngày trong năm, để uống chúng chỉ trong một lần vào dịp đêm Giáng Sinh.
(LE GENERALISTE 18/12/2008)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (25/10/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969