Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 55
Lượt truy cập: 1028483
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ ĐIỀU TRỊ MỘT GIÃN TĨNH MẠCH (VARICE) CHƯA BAO GIỜ NHANH ĐẾN THẾ.


NHỮNG ĐIỂM MỐC

TĨNH MẠCH. Một giãn tĩnh mạch (varice) là một giãn thường trực của một tĩnh mạch. Các giãn tĩnh mạch thường nhất được định vị ở các chi dưới. Thường thường chúng có thể đạt nhiều milimet. Sự tiến triển tự nhiên của các giãn tĩnh mạch, nếu không được điều trị, là sự gia tăng kích thước và số lượng. Những biến chứng của các giãn tĩnh mạch chủ yếu được liên kết với nguy cơ vỡ của chúng, gây nên những vết thương có thể đi đến chỗ loét.

NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ. Vài tư thế lúc làm việc làm dễ sự tạo thành các giãn tĩnh mạch : người ta biết rằng tư thế đứng kéo dài với giậm chân tại chỗ, tư thế ngồi kéo dài nửa thân trên nghiêng về phía trước hay việc mang thường xuyên những vật nặng làm dễ sự xuất hiện của những giãn tĩnh mạch. Những giãn tĩnh mạch này có một tính chất gia đình nào đó, điều này có nghĩa là ta tìm thấy thường hơn một bệnh tĩnh mạch nơi những bệnh nhân có cha mẹ mang cùng căn bệnh. Các giãn tĩnh mạch thường xảy ra hơn nơi các phụ nữ. Chúng cũng được liên kết với tuổi tác, chứng béo phì hay rượu.

ĐIỀU TRỊ. Những biện pháp vệ sinh phòng ngừa đơn giản để làm dễ sự lưu thông của máu trong hệ tĩnh mạch phải được xét đến. Điều trị bằng giữ (contention) hay ép (compression) cũng phải được xét đến. Về mặt ngoại khoa, liệu pháp gây xơ cứng (sclérothérapie) được cải thiện nhiều trong những năm qua. Những can thiệp khu trú hơn, được giới hạn hơn và nhanh hơn.

TIẾN TRIỂN. Người ta có thể làm biến mất các giãn tĩnh mạch mà không có đảm bảo rằng những giãn tĩnh mạch khác sẽ tái xuất hiện. Bệnh tĩnh mạch này, mà ta có thể loại bỏ những triệu chứng có thể thấy được, điều này không tương ứng với một sự chữa lành hoàn toàn, có thể bao gồm những tái phát. Vậy những biện pháp vệ sinh và theo dõi, trước hết bằng mắt là cần thiết.


18 triệu người Pháp mắc phải bệnh này.

ANGIOLOGIE. Một giãn tĩnh mạch (varice) tương ứng với sự giãn thường trực của một tĩnh mạch ngoại biên nơi các chi dưới. Vấn đề không chỉ có tính chất thẩm mỹ : đó cũng là vấn đề y khoa, vì lẽ một giãn tĩnh mạch không được điều trị có thể là nguồn gốc của những biến chứng khác nhau, mà thông thường nhất (và đau đớn nhất) là loét cẳng chân (ulcère de la jambe). Vậy không có lựa chọn nào khác, phải hành động. Thế mà, tin tốt lành, sự điều trị các giãn tĩnh mạch đã được đơn giản nhiều trong những năm qua. Thay vì lấy đi tĩnh mạch chính (tĩnh mạch hiển : veine saphène) và những tĩnh mạch bàng hệ nhỏ bị bệnh của nó, nhờ ngoại khoa, như đã được làm trước đây, các thầy thuốc chuyên khoa mạch máu (angiologue) và các thầy thuốc ngoại khoa mạch máu (chirurgien vasculaire) chỉ còn lấy đi cái cần thiết tối thiểu (tĩnh mạch nhỏ bị bệnh). Không những đơn giản hơn mà còn hiệu quả hơn.

“ Trong khu vực được điều trị, người ta làm giảm nhiều tỷ lệ tái phát ”, BS Jean-Pierre Gobin, thầy thuốc chuyên khoa mạch máu và chủ tịch của Société française de phlébologie đã nói như vậy. Tin vui khác, việc lựa chọn những kỹ thuật đã được mở rộng và, vì các kết quả của chúng rất giống nhau, nên thầy thuốc chuyên khoa mạch máu (angiologue) sử dụng kỹ thuật mà ông ta thấy thoải mái nhất, đồng thời có tính đến tĩnh mạch được điều trị và mong muốn của bệnh nhân : người bệnh có muốn trở về nhà trong hai giờ nữa không ? Bệnh nhân có ưa thích được điều trị tại bệnh viện hơn hay không ? Tất cả đều có thể.

Sclérothératpie échoguidée à la mousse được thực hiện ở phòng mạch của người thầy thuốc : trên thực hành, người thầy thuốc chuyên khoa mạch máu tiêm một mousse sclérosante vào trong một tĩnh mạch bị giãn (veine variqueuse) nhờ một cathéter, đồng thời qua siêu âm kiểm soát điều xảy ra trong tĩnh mạch. Mousse có hai ưu điểm là có thể nhìn thấy được bằng siêu âm và phá hủy thành trong của tĩnh mạch bị bệnh. Thường nhất, chỉ cần một mũi tiêm là đủ, nhưng có thể trở về nhà sau buổi điều trị và ngay cả có thể lái xe.

“ Nguyên tắc cũng giống với hai kỹ thuật nội tĩnh mạch (techniques endoveineuses) khác hiện đang được sử dụng, BS Jean-Patrick Benigni, phó chủ tịch của Société française d’angéiologie đã giải thích như vậy. Nhưng thay vì gây bỏng hóa học (brulure chimique) nơi tĩnh mạch bị bệnh bằng một mousse sclérosante, lần này thầy thuốc chuyên khoa mạch máu gây một bỏng nhiệt (brulure thermique) nhờ laser và tần số phóng xạ (radiofréquence).” Chỉ cần gây tê tại chỗ là đủ và như thế rất là nhanh (chỉ cần một buổi điều trị).

GÂY TÊ TẠI CHỖ.

Sau hết, ngay cả những kỹ thuật ngoại khoa của các giãn tĩnh mạch cũng đã tiến triển nhiều trong những năm qua. Trong khi ngày xưa ta mổ càng chậm càng tốt, bằng cách lấy đi một cách mặc nhiên tĩnh mạch hiển (veine saphène), thì ngày nay ta biết rằng điều này phản tác dụng (contre-productif), BS Jean-François Uhl, thầy thuốc chuyên khoa ngoại mạch máu đã xác nhận như vậy. Nhờ chụp hình ảnh 3 chiều (imagerie 3D), chúng ta đã thực hiện đủ tiến bộ trong việc điều biến (modélisation) các tĩnh mạch và thông hiểu căn bệnh tĩnh mạch để để nghị một ngoại khoa vi xâm nhập (chirurgie mini-invasive), với gây tế tại chỗ, chỉ nhằm vào tĩnh mạch hay những tĩnh mạch bàng hệ nhỏ bị giãn (petites veines variqueuses collatérales), nhất là vào giai đoạn đầu của bệnh đó chính là những tĩnh mạch duy nhất bị bất túc (sự trào ngược của tĩnh mạch hiển có thể đảo ngược được). Đó là điều mà ta gọi là thái độ bảo tồn, chỉ hạn chế vào những nhánh giãn tĩnh mạch (chiến lược Asval : ablation sélective des varices sous anesthésie locale hay cắt bỏ chọn lọc những gian tĩnh mạch với gây tê tại chỗ). Và các kết quả rất là nhanh chóng : hai giờ sau khi can thiệp, các bệnh nhân của chúng tôi đã có thể bước. Được nhập viện hôm thứ sáu và với điều kiện không làm những công việc có nguy cơ (đứng, ở chỗ nóng), họ sẽ có thể bắt đầu làm việc trở lại vào ngày thứ hai.”

Mặc dầu kỹ thuật này chỉ mới được sử dụng trong khung cảnh thí nghiệm hay để giảng dạy cơ thể học cho sinh viên, việc chụp hình ảnh ba chiều không gian này có thể được phát triển trong những năm đến để giúp các người thầy thuốc chuyên khoa mạch máu xác định chẩn đoán tốt hơn, nhất là trong trường hợp các bệnh tĩnh mạch biến chứng. Bởi vì không phải do một tĩnh mạch bị giãn được điều trị mà như thế tất cả đều kết thúc. Thật vậy, bệnh tĩnh mạch tiếp tục tiến triển một cách độc lập.

Hiểu được điều gì xảy ra trong các tĩnh mạch, như thể là ta ở trong đó, có thể thật sự đẫy mạnh sự nghiên cứu. Một cơ may : nước Pháp dưới sự thúc đẫy của BS Uhl, thật sự là leader trong lãnh vực này.
(LE FIGARO 26/10/2010)

2/ HÚT THUỐC SAU LỨA TUỔI 50 TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ MẮC BỆNH ALZHEIMER.

Các nhà nghiên cứu Phần Lan công bố hôm nay trên site của Journal of American Medical Association những công trình của họ, cho thấy rằng việc tiếp tục hút thuốc nhiều sau lứa tuổi 50 được liên kết với nguy cơ hai lần nhiều hơn bị bệnh Alzheimer hay một dạng khác của chứng sa sút trí tuệ. Cho đến nay, ta biết rằng thuốc lá chịu trách nhiệm hàng triệu tử vong mỗi năm do ung thư và các bệnh tim mạch trên thế giới. Bệnh Alzheimer có vẻ phải được thêm vào trong danh sách đáng buồn này. Để đi đến kết luận này, các nhà nghiên cứu của đại học Kuopio đã phân tích những dữ kiện của 21.123 người của cùng hệ thống bảo hiểm được theo dõi giữa năm 1978 và 1985, trong khi đó họ ở trong lứa tuổi từ 50 đến 60. Rồi giữa tháng giêng 1994 và tháng bảy 2008, các nhà khoa học đã tiếp tục công trình nghiên cứu và tìm kiếm những người từ nay bị bệnh Alzheimer. Kết quả : những người ở tuổi 50 đã hút hơn hai bao thuốc mỗi ngày cũng là những người, 20 đến 30 năm sau, có hai lần nhiều hơn nguy cơ bị một sa sút trí tuệ, so với những người không hút hay chỉ hút một đôi khi.
(LE FIGARO 26/10/2010)

3/ NHỮNG TẾ BÀO GỐC PHÔI THAI ĐỂ SỬA CHỮA TỦY SỐNG.

NEUROLOGIE. Nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới lao vào trong sự tìm kiếm những điều trị bằng liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) hay gène (thérapie génique) trong mục đích chữa lành những người bị phế tật nặng sau khi bị chấn thương tủy sống. Ý tưởng là can thiệp càng nhanh càng tốt để cố hoạt hóa một sự mọc trở lại của các sợi thần kinh bị thương tổn, điều này không thể thực hiện một khi sự hóa sẹo đã trở thành vĩnh viễn.

Ở Pháp, hơn 1.200 người đã bị phế tật như thế mỗi năm, sau một thương tổn một phần hay toàn phần của tủy sống. Trong 40% các trường hợp, thương tổn này xảy ra sau một tai nạn lưu thông, trong đó 2/3 có liên quan đến những người lái xe môtô hay những scooter. Nói chung, nạn nhân là những người trẻ tuổi, bị chấn thương bởi thảm kịch mà họ kinh qua, ngồi trên một chiếc xe lăn và rình chờ điều trị mới nhất, khả dĩ giúp họ tìm lại khả năng vận động của mình.

Trong bối cảnh này, sự loan báo tuần qua, bởi hiệp hội sinh công nghệ học (biotechnologie) Hoa Kỳ Geron Corporation, thử nghiệm lâm sàng đầu tiên nhằm điều trị một bệnh nhân với những dẫn xuất của các tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires) đã tạo nên một sự xúc cảm đáng kể trên toàn thế giới.

Trừ phi hiện nay, mặc dầu một thử nghiệm như thế đã được thật sự cho phép ở Hoa Kỳ, mặc dầu sự khởi đầu chiêu mộ các bệnh nhân đã đúng là được bắt đầu, nhưng dường như chưa có một bệnh nhân nào đã thật sự được hưởng kỹ thuật cách mạng này. Vài chuyên gia nghi ngờ Geron Corporation đã thông báo về vấn đề này một cách sơ khởi để tái lập lại uy tín ở Thị trường chứng khoán.

Thử nghiệm, được loan báo với rất nhiều quảng cáo bởi Geron, đã bị cấm bởi Chánh phủ Bush với lý do là thử nghiệm này nhờ đến những tế bào gốc phôi thai người. Nhưng Barack Obama đã bật đèn xanh.

Mục tiêu chính của thử nghiệm là đánh giá sự an toàn và độ dung nạp đối với những tế bào gốc phôi thai người, được mệnh danh GRNOPC1, nơi những người bị bại liệt sau một thương tổn ở tủy sống. Những người tham gia thử nghiệm phải nhận những GRNOPC1 được tiêm vào thương tổn của tủy sống trong một thời kỳ dưới 14 ngày sau khi bị thương. Bệnh nhân đầu tiên đã được chọn lọc trong trung tâm Shepherd phục hồi và nghiên cứu những vết thương của tủy sống và của não bộ ở Atlanta (Géorgie, đông nam), một trong những trung tâm tuyển mộ những bệnh nhân ở Hoa Kỳ để thử nghiệm lâm sàng này.

Tuy nhiên cố gắng này là đối tượng của một sự tranh luận. Vài người đặt vấn đề nghi ngờ việc sử dụng những tế bào gốc phôi thai trong điều trị vì những lý do đạo đức. Ngoài ra, cuộc tranh luận nổi lên về lợi ích của protocole do Geron thiết đặt.

“ NHỮNG NGUY CƠ UNG THƯ HÓA ”

“ Những nghiên cứu này dựa trên một tài liệu xuất bản của Hans Keirstead, đã cho thấy, nơi chuột trưởng thành đã bị những thương tổn của tủy sống cổ, rằng một mũi tiêm những tế bào gốc phôi thai người có thể cải thiện khả năng cử động, giáo sư Marc Peschanski (Inserm U 16) đã giải thích như vậy. Mục tiêu của một điều trị như vậy là tránh sự lan rộng của các thương tổn vào giai đoạn đầu của chấn thương và làm giảm tối đa nguy cơ bị các di chứng. ”

Về phía mình, giáo sư Alain Privat (Inserm U 583, Montpellier) tỏ ra dè dặt hơn nhiều về tính thích đáng của thử nghiệm này. “ Đến nay, những tế bào gốc phôi thai người còn bị nghi ngờ gây nên những nguy cơ ung thư hóa không kềm chế được. Mặt khác, tính hiệu quả của loại ghép này đã không được chứng minh trên những mô hình động vật khác với chuột. Thế mà những tế bào gốc phôi thai biến hóa thành những oligodendrocyte, là những tế bào nâng đỡ, nhưng không phải là những tế bào thần kinh. Khả năng phục hỏi lại khả năng vận động có vẻ không có thể với một protocole như vậy.”

Nhóm của GS Privat làm việc trên heo (một mô hình tương tự với người hơn) với một thử nghiệm liệu pháp gène, bằng cách tiêm ARN vào một thương tổn không hoàn toàn của tủy sống nhằm ngăn cản sự làm sẹo và do đó làm dễ sự mọc lại của các sợi trục (axone) (những phần kéo dài của các tế bào thần kinh) và sự phục hồi chức năng.

Những nghiên cứu khác, được thực hiện ở Pháp, nhất là bởi giáo sư Jean Chazal, trưởng khoa ngoại thần kinh của CHU de Clermont-Ferrand, nhằm hiệu chính một protocole sử dụng những tế bào gốc trưởng thành trích từ bệnh nhân và tiêm trở lại vào thương tổn.

Hiện nay, những công trình của ông ta đã được sự cho phép của Agence française de sécurité sanitaire des produits de santé, nhưng tiếp tục là đối tượng của những cuộc tranh luận, đặc biệt là ở trong Viện nghiên cứu về tủy sống.
(LE FIGARO 24/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 116 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/3/2009 )

8/ CÁC TẾ BÀO GỐC : THỬ NGHIỆM ĐẦU TIÊN ĐƯỢC CHO PHÉP Ở HOA KỲ

FDA (cơ quan y tế Hoa Kỳ) đã đồng ý cho một thử nghiệm lâm sàng nơi người với những tế bào gốc phát xuất từ phôi thai người. Được hưởng thử nghiệm này là những nạn nhân của một chấn thương tủy sống đã đưa đến bại liệt hoàn toàn các chi dưới, từ dưới 14 ngày. Chính sự chết của các neurone vận động kiểm soát các cơ đã gây nên bại liệt, sau một chuỗi các biến cố trong đó nối tiếp nhau những đụng giập, các phản ứng viêm với sự phóng thích các phân tử độc hại và sự phá hủy những tế bào nâng đỡ. Thử nghiệm nhằm tiêm các tế bào gốc (cellules souches) vào trong tủy xương, ở nơi bị thương tổn, với hy vọng những tế bào gốc này sẽ thay thế những tế bào suy yếu và sẽ tạo nên những kết nối thần kinh (connexions nerveuses) mới. Nơi động vật, người ta đã thu được những kết quả rất tốt. Các chuyên gia vẫn tỏ ra hoài nghi về những cơ may thành công trên người.
(PARIS MATCH 19-25/2/2009)


4/ BỆNH TRẦM CẢM NẶNG : HƯỚNG CỦA LIỆU PHÁP GENE.

Các nhà nghiên cứu đã trắc nghiệm thành công kỹ thuật này nơi chuột.

PSYCHIATRIE. Chứng trầm cảm ảnh hưởng lên hơn 3 triệu người Pháp. Nhưng thuật ngữ này bao gồm những thực tế rất khác nhau, với những nỗi đau khổ có cường độ và thời gian thay đổi. Một cách tổng quát, người ta ước tính rằng, một ngày nào đó, khoảng 20 đến 30% dân chúng sẽ trải qua một đợt trầm cảm vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống của họ. Và 6 đến 7% trong số những người này sẽ bị một thể trầm trọng hơn mà các thầy thuốc chuyên khoa gọi là bệnh trầm cảm “ quan trọng” hay “ nghiêm trọng. Trong khi một số lớn đáp ứng một cách thuận lợi các điều trị, thì một số nhỏ các bệnh nhân không đáp ứng với các thuốc chống trầm cảm. Hoặc là bởi vì các thuốc không mang lại cho họ tác dụng mong muốn, hoặc là bởi vì chúng chỉ tác động nhất thời, thậm chí, trong vài trường hợp, làm gia trọng ngay cả các triệu chứng. Trong những thể nặng này, những điều trị khác nhau nặng nề hơn đôi khi được đề nghị : sốc điện (éléectrochoc, kích thích não bộ (đang được thử nghiệm)...

Trong bối cảnh nghèo nàn điều trị trước chứng trầm cảm thể nặng, các nhà khoa học đã hướng về lợi ích của liệu pháp gène (thérapie génique). Hiện nay đang còn trong thí nghiệm. Thật vậy, các nhà nghiên cứu của đại học Cornell và của Hôpital Presbyterian ở Nữu Ước, vừa công bố một bài báo trong tạp chí Hoa Kỳ Science Translational Medicine, kết luận rằng liệu pháp gène có thể là một giải pháp đối với những bệnh trầm cảm nặng không đáp ứng với một điều trị hóa học nào. Một cách sơ đồ, họ đã tiêm một gène làm hoạt hóa một protéine được gọi là “ p11 ” vào trong một bộ phận của não bộ được gọi là“ noyau accumbens ”. Sự phục hồi của gène này đã cho phép loại bỏ những triệu chứng trầm cảm nơi những con chuột của phòng thí nghiệm.

MỘT PROTEINE CỦA KHOÁI LẠC.

Các nhà nghiên cứu đã có trực giác rằng protéine p11 được hoạt hóa này trong nhân accumbens của não bộ là căn bản để cảm thấy khoái lạc và cảm thấy một cảm giác thỏa mãn, vắng mặt nơi những người bị trầm cảm. Những phân tích sau khi chết đã cho thấy rằng những bệnh nhân bị trầm cảm nặng có những nồng độ protéine p11 thấp. Chính vì thế BS Michael Kaplitt của đại học Cornell đã chọn đưa gène sản xuất protéine p11 vào trong nhân accumbens bằng cách sử dụng một virus như vecteur. Chính ông đã thử nghiệm thành công kỹ thuật này để điều trị gène những bệnh nhân bị bệnh Parkinson trong một thử nghiệm lâm sàng (giai đoạn 1). “ Về bệnh trầm cảm không nên tự cấm đoán một nghiên cứu nào, thầy thuốc tâm thần Bruno Falissard, giáo sư ở Paris-Sud đã phân tích như vậy. Không phải là hoàn toàn điên rồ khi muốn thử nghiệm liệu pháp gène, mặc dầu liệu pháp này đến nay chỉ dành cho những bệnh di truyền.”

Stéphane Jamain, nhà nghiên cứu ở Inserm trong nhóm tâm thần học di truyền (bệnh viện Henri-Mondor ở Créteil), đánh giá những kết quả của những đồng nghiệp người Mỹ là rất đáng lưu ý. “ Họ mang lại những kết quả đẹp về sinh lý bệnh lý của bệnh. Đó là lần đầu tiên người ta cho thấy rằng có thể biến đổi một hành vi bằng cách đụng đến các gène. Mặc dầu chúng ta còn xa liệu pháp gène đối với người bị trầm cảm ”, nhà nghiên cứu đã đánh giá như vậy. Ông nhắc lại rằng các chuyên gia từ ít lâu nay nghi ngờ nhân accumbens có liên quan trong chứng trầm cảm.

VẪN CÒN NHỮNG NGHI NGỜ.

“ Ngược lại, ngày nay chúng ta không biết một cách chắc chắn liệu protéine p11 có thật sự là protéine của bệnh trầm cảm hay không, Stéphane Jamain đã nói như vậy. “ Những nghiên cứu này rất là đáng lưu ý để hiểu rõ hơn nhưng cơ chế có vai trò trong bệnh trầm cảm, GS Chantal Henry, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần của CHU Albert-Chenevier (Créteil) đã nhận xét như vậy. Với sự xác định những đặc điểm lâm sàng tốt hơn, chúng ta có thể cải thiện việc điều trị các bệnh nhân và làm cho tinh tế hơn việc điều trị. ”Điều trị bệnh trầm cảm, dầu nghiêm trọng như thế nào, bằng liệu pháp gène không phải là không đặt vấn đề về triết học. “ Điều này cũng chẳng khác gì nói rằng ta chẳng có thể làm gì được để chống lại bệnh này và rằng câu trả lời duy nhất là bệnh do di truyền. Thế mà điều đó là sai ”, BS Bruno Falissard đã nhấn mạnh như vậy. Nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ hy vọng nhanh chóng áp dụng lên người kết quả của khám phá được thực hiện nơi các động vật gặm nhấm của họ.
(LE FIGARO 22/10/2010)

5/ UNG THƯ VÚ : VITAMINE D CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ ?

Một công trình nghiên cứu của Pháp, do BS Françoise Clavel-Chapelon (Inserm IGR) điều khiển, được công bố trong tạp chí “ Cancer Epidemiology, Biomarkers & Prevention ”, đã phân tích tác động của vitamine D lên ung thư vú, từ một nhóm 1.540 phụ nữ, được theo dõi từ năm 1990 (những phụ nữ này khi đó tuổi từ 45 đến 60 tuổi). Trong số những phụ nữ này, 636 người đã phát triển một ung thư vú. Những trường hợp này sau đó đã được so sánh trên bình diện tuổi tác, các thói quen ăn uống, thời kỳ mãn kinh, những nồng độ trong máu của calcium và của vitamine D nơi 1272 phụ nữ chứng. Các kết quả cho thấy rằng nơi những phụ nữ có nồng độ vitamine D cao nhất, nguy cơ ung thư giảm 27% so với những phụ nữ khác. Nhung kết quả này tán trợ cho một sự đánh giá lại các nhu cầu vitamine D và lợi ích của việc cung cấp bổ sung bằng thuốc viên hay ampoule. Nguồn vitamine D trực tiếp nhất là da sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nhưng ở Pháp nguồn này thường không đủ suốt trong một thời gian dài trong năm. Những cung cấp vitamine D trong thực phẩm ở Pháp cũng không đủ, khác với ở Hoa Kỳ và Canada.
(PARIS MATCH 30/9-6/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 193 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/9/2010 )

3/ VITAMINE D CŨNG HIỆU QUẢ DỄ LÀM GIẢM NGUY CƠ BỊ UNG THƯ VÚ.

Theo những công trình của một nhóm nghiên cứu Pháp, những nồng độ cao của vitamine D trong máu được liên kết với một sự giảm nguy cơ bị ung thư vú, trong khi những nồng độ calcium trong máu dường như không có liên hệ.

Vitamine D (25-hydroxyvitamine D,25 OH)D) vẫn luôn luôn rất được ưa chuộng trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu. Theo vài dữ kiện dịch tễ học, những nồng độ cao của vitamine D trong huyết thanh được liên kết với một sự giảm nguy cơ ung thư vú, nhưng ít công trình nghiên cứu trước đây đã phân tích mối liên hệ này theo tình trạng mãn kinh hay những yếu tố được biết ảnh hưởng lên nồng độ vitamine D, như chế độ ăn uống và những nồng độ calcium, parathormone và oestradiol trong huyết thanh.

“ Văn liệu y học phân biệt hai loại công trình nghiên cứu, Françoise Clavel-Chapelon (Inserm-Université Paris-Sud), tác giả chính của công trình đã xác nhận như vậy : những công trình nghiên cứu chỉ nói về mối liên hệ giữa nguy cơ ung thư vú và các cung cấp vitamine D và calcium gốc thực vật hay dưới dạng chất bổ sung (complément), và những công trình nghiên cứu khảo sát mối liên hệ này nhờ những nồng độ trong huyết tương của viatamine D và calcium.

Ở đây, nhóm nghiên cứu Pháp đã khảo sát những dữ kiện của một công trình nghiên cứu được tiến hành trên một tập thể gồm 98.995 phụ nữ, tuổi từ 40 đến 65 vào lúc đưa vào công trình nghiên cứu năm 1990. Những người tình nguyện này, sinh giữa năm 1925 và 1950, đã cung cấp những thông tin về lối sống của họ (chế độ ăn uống, điều trị hormone…) hay tiến triển về tình trạng sức khỏe của họ bằng cách điền những bằng câu hỏi mỗi 2 năm từ năm 1990. Các nhà nghiên cứu cũng có những dữ kiện sinh học, thu được trên 25.000 người tình nguyện, từ một mẫu nghiệm máu được tích trữ để định nồng độ sau này.

Kết quả cho thấy rất ít phụ nữ có một nồng độ vitamine thích đáng trong máu, thật vậy, 75% không đạt trị số đích (valeur cible) 30ng/ml.

Mặt khác, các kết quả cho thấy một sự giảm đáng kể 25% nguy cơ bị ung thư vú nơi những phụ nữ có những nồng độ vitamine D cao nhất trong huyết thanh (hoặc <27 ng/ml), so với những nồng độ thấp nhất (< 19,8 ng/ml). Họ cũng quan sát thấy nguy cơ cũng giảm nơi các phụ nữ tiền mãn kinh.

Ngược lại, không có một mối liên kết nào đã được chứng tỏ giữa nồng độ calcium trong huyết tương và nguy cơ ung thư vú.

“ Các tư liệu về chủ đề này rất tản mạn, các tác giả đã bình luận như vậy. Những thử nghiệm lâm sàng với những liều lượng vitamine D khác nhau là cần thiết để xác nhận lợi ích của vitamine D trên ung thư vú. Nhưng, trong lúc chờ đợi, y tế cộng đồng phải khuyến khích sự duy trì những nồng độ thích đáng của vitamine D, nhất là nơi những người có nồng độ thấp ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 21/9/2010)


6/ MÁY BAY CÓ LÀM DỄ SỰ TRUYỀN CÁC BỆNH TRUYỀN NHIỄM KHÔNG ?

Professeur Marc Girard
Vaccinologue
Membre de l’Académie nationale de médecine.


Máy bay đóng vai trò của một máy ấp (incubateur), trong đó các hành khách phải chia sẻ trong nhiều giờ liên tiếp cùng khoảng không gian đóng kín, thuận lợi cho sự lây nhiễm. Điều đó hoàn toàn đặc biệt đúng đối với sự lan truyền các bệnh hô hấp do virus như cúm hay SRAS (syndrome respiratoire aigu sévère).

Sự truyền một bệnh hô hấp giữa các hành khách thường nhất được thực hiện qua trung gian những giọt nhỏ hô hấp (gouttelettes respiratoires) mà người ta phóng ra khi nói, ho, hay hắt hơi. Đó là điều mà ta gọi là sự “ lây truyền trực tiếp ”. Kinh nghiệm cho thấy rằng, trong một chiếc máy bay, những hành khách dễ bị lây nhiễm nhất là những người ngồi ở hai dãy ghế trước chiếc ghế của người bị bệnh và trong hai dãy ghế sau của bệnh nhân này. Xác suất bị nhiễm tùy thuộc vào mức độ gây nhiễm (degré de contagiosité) của người bệnh và thời gian bay. Người ta đánh giá rằng ở hạng kinh tế (classe économiuqe), một hành khách bị cúm có thể truyền bệnh cúm của mình cho 2 đến 5 hành khách trong 5 giờ và cho từ 5 đến 10 hành khách trong 1 giờ bay. Ở hạng nhất, cũng cùng hành khách đó trung bình chỉ làm lây nhiễm dưới 1 hành khách trong 5 giờ và từ 1 đến 3 hành khách trong 1 giờ bay. Điều đó có liên hệ đến không những bệnh cúm hay SRAS mà còn những bệnh lây truyền trực tiếp khác, như lao phổi, cũng như các bệnh đường hô hấp do virus (cảm mạo, viêm phổi, viêm tiểu phế quản), bệnh sởi và các bệnh viêm màng não do vi khuẩn (màng não cầu, phế cầu khuẩn). Trong trường hợp này, công ty hàng không có bổn phận báo cho các hành khách biết rằng họ đang ngồi gần một người bị bệnh để cho phép họ theo một điều trị kháng sinh để phòng ngừa trong 24 giờ sau khi đến.

“ BỆNH SỐT RÉT PHI TRƯỜNG ”

Cách truyền bệnh đường hô hấp thông thường thứ hai là “ truyền bằng khí dung ” (transmission par aérosol). Các khí dung này được tạo thành từ phần khô và rất nhẹ của các giọt nhỏ hô hấp, sau khi bay hơi vẫn còn tồn tại và có thể lơ lửng lâu dài trong không khí. Như thế, các virus, vi khuẩn hay nấm có thể được vận chuyển đi xa bằng đường lưu thông không khí. Trong trường hợp máy bay, những biện pháp thận trọng tuyệt đối được áp dụng, như đổi mới thường xuyên không khí trong các cabine và lọc không khí qua bộ phận lọc tuyệt đối, nhằm tránh sự tạo thành các aérosol và các hậu quả có thể xảy ra. Tuy nhiên ta biết vài trường hợp hiếm hoi truyền bằng aérosol trong những trường hợp các máy lọc hoạt động kém, hoặc do hành khách phải đợi lâu trong máy bay mà không khởi động hệ thống thông khí Đó là trường hợp của một chuyến bay Hồng kông-Bắc kinh vào năm 2003, trong đó 22 hành khách bị mắc phải bệnh SRAS chi sau 3 giờ bay ; hay trường hợp, vào năm 1979, của một chuyến bay trong đó 72% các hành khách đã bị lây nhiễm bởi một hành khách bị cúm. May mắn thay, đó là những trường hợp rất ngoại lệ.

Một cách truyền bệnh nhiễm khuẩn thứ ba và cách “ truyền bằng vecteur ”, đặc biệt là bởi muỗi. Nguy cơ này không phải là không đáng kể trong trường hợp các du lịch bằng đương hàng không đến từ các nước nhiệt đới : người ta đã mô tả ngay cả một “ bệnh sốt rét phi trường ” (paludisme d’aéroport). Nguy cơ ngày nay dường như được chế ngự tốt nhờ việc thực hiện phun một cách hệ thống các thuốc trừ sâu trong các phi trường và trong các cabine của các máy bay. Chúng ta đừng quên rằng ngoài bệnh sốt rét, các con muỗi cũng có thể là những vecteur của những bệnh virus, như chúng ta đã có kinh nghiệm cay đắng ở đảo La Réunion với Chikungunya và như ta đang thấy vào lúc này ở Antilles với bệnh sốt xuất huyết (dengue).

Hàng năm máy bay đảm bảo việc vận chuyển khoảng 4 tỷ và 800 triệu hành khách trên thế giới ! Phải công nhận rằng các biện pháp thận trọng được thực hiện bởi giới hữu trách không hành và các công ty hàng không đã tỏ ra rất có hiệu quả và đã mang những tỷ lệ truyền bệnh nhiễm khuẩn trong các máy bay xuống những trị số rất thấp. Mức độ về khả năng lây nhiễm (degré de contagiosité) của hành khách bị bệnh có tính chất quyết định hơn là môi trường. Tuy nhiên, ta không có dữ kiện nào về sự truyền của những bệnh này trong số những hành khách ở dưới đất.

Khi nào cũng vậy, cách phòng vệ tốt nhất chống lại bệnh vẫn là phòng ngừa. Những biện pháp có thể, phải được thực hiện để phát hiện những người bị bệnh và cách ly họ trước khi họ có thể lên tàu : hoặc là, một khi đã lên tàu, cách ly họ và buộc họ phải mang một mặt nạ. Ngoài ra, việc sử dụng những máy phát hiện sốt đã trở nên bắt buộc trong nhiều phi trường vào lúc trận dịch SRAS năm 2003 và, mới đây hơn, vào lúc cao điểm của trận dịch cúm toàn cầu năm 2009. Không nên đi du lịch khi biết mình bị bệnh là một quy tắc hành xử tốt. Cũng đừng quên rằng những bệnh đường hô hấp thường được truyền qua các bàn tay, sau khi tiếp xúc với những giọt nhỏ hô hấp (gouttelettes respiratoires). Rửa tay thường xuyên với một dung dịch nước-cồn (soluté hydro-alcoolique) phải là một bộ phận của những biện pháp thận trọng thường quy của người hành khách.
(LE FIGARO 4/10/2010)

7/ NHỮNG BỆNH NHÂN PARKINSON BỊ NHỮNG RỐI LOẠN VỀ GIẤC NGỦ.

Những người bi bệnh Parkinson có thể bị những rối loạn hành vi trong giai đoạn giấc ngủ nghịch lý (sommeil paradoxal), điều này có thể gây nên những té ngã khỏi giường vào ban đêm. Đó ít nhất là điều được gợi ý bởi những dữ kiện được trình bày nhân Hội nghị quốc tế thứ 14 về bệnh Parkinson và những cử động bất thường (Buenos Aires, Argentine). Trong số 50 bệnh nhân được khảo sát, 1/3 (17/50) đã có những rối loạn của giai đoạn này của giấc ngủ. Hơn 50% trong số những bệnh nhân này (10/17) đã bị té ngã từ trên giường.
(SCIENCES ET AVENIR 10/2010)

8/ UNG THƯ : NHỮNG TIẾN BỘ MỚI NHẤT CHO MỘT CHẨN ĐOÁN SỚM.

BS Clarisse Dromain, trưởng khoa chẩn đoán quang tuyến thuốc Viện Gustave-Roussy, Villejuif, giải thích làm sao phát hiện những khối u rất nhỏ.

Hỏi : Nhũng kỹ thuật phát hiện mới nhất của một ung thư ở giai đoạn sớm là gì ?
BS Clarisse Dromain : Trước hết phải nói về chụp hình ảnh (scanner, IRM, siêu âm, chụp tuyến vú), từ những năm qua, hưởng được những tiến bộ quan trọng và nhờ nó mà người ta khám phá ra những khối u rất là nhỏ ! Các scanner multidétecteur ngày nay cho phép phát hiện một ung thư dưới 5 mm nơi nhiều cơ quan, như phổi, gan, tụy tạng, thận. Với những kỹ thuật IRM (résonance magnétique nucléaire) mới đây, được gọi là “ chức năng ”, ta thấy được những hình ảnh cơ thể học của một cơ quan cực kỳ nhỏ và đồng thời, tiến bộ lớn, thấy được sự vận hành chức năng của nó. Từ nay, IRM được sử dụng thường xuyên, nhất là để khám não bộ, vú (trong khung cảnh điều tra phát hiện nơi những phụ nữ có nguy cơ), tụy tạng (cách nay 5 năm không thể phân tích được nó !), một bất thường được nghi ngờ của hệ xương và các cơ.

Hỏi : Về ung thư vú, gây bệnh trung bình cho một phụ nữ trên 8, những tiến bộ đạt được là gì ?
BS Clarisse Dromain : Từ tháng hai 2008, chụp tuyến vú (mammographie) được gọi là “ numérique sur détecteur ”, tạo khả năng tái xử lý hình ảnh theo ý muốn (bằng cách phóng đại nó, làm biến đổi sự tương phản giữa mô và cục u), đã được cho phép trong chương trình điều tra phát hiện. Việc chuyển chụp tuyến vú trên phim (mammographie sur film) sang chụp tuyến vú số (mammographie numérique) đã cho phép phát triển một kỹ thuật chụp hình ảnh mới : chụp tuyến vú mạch (angiomammographie) với tiêm một chất cản quang cho phép nhìn thấy những mạch máu nuôi dưỡng của một ung thư. Thăm khám này nhiên hậu có thể thay thế vài chỉ định của IRM để xác nhận một chẩn đoán và di căn của các ung thư vú. Một phát triển khác mới đây của chụp tuyến vú số : tomosynthèse. Kỹ thuật này cho phép thu được một hình ảnh theo 3 chiều và cải thiện sự phát hiện các cục u tuyến vú nhờ làm giảm bớt các bẫy do sự chồng lên nhau của tuyến và cục u nghi ngờ.

Hỏi : Những phương thức nào đã cho phép cải thiện như thế chất lượng của các hình ảnh ?
BS Clarisse Dromain : Chỉ mới cách nay ít lâu, người ta sử dụng những scanner séquentiel chỉ với một diện cắt (plan de coupe) duy nhất, chỉ cho một hình ảnh trong hai chiều không gian. Người ta đã “ cắt khúc ” cơ quan liên hệ thành các thiết diện có bề dày 5 mm, điều này không cho phép phát hiện những khối u dưới 5 mm. Ngoài ra, không thể thực hiện một sự tái tạo hình ảnh trong ba bình diện của không gian, trong khi đó ngày nay, với các scanner multidétecteur, ta thấy được một khối u hay một cơ quan một cách toàn bộ (đặc biệt là với độ cao của nó). Kết quả : những ung thư mà cách 4 hay 5 năm không thể thấy được thì ngày nay được khám phá ở một giai đoạn cực kỳ sớm, điều này đã cho phép cứu được nhiều mạng người ! Những scanner mới nhất này đặc biệt hữu ích để thực hiện những thăm khám vi xâm nhập, như một soi đại tràng ảo (colonoscopie virtuelle).

Hỏi : Còn về IRM, bà hãy giải thích cho chúng tôi những tiến bộ về kỹ thuật ?
BS Clarisse Dromain : Thăm khám này cũng đã hưởng sự phát triển công nghiệp học, có lẽ còn hơn cả scanner ! IRM cho phép, một mặt, thấy rất tốt một khối u trong một cơ quan, mặt khác, cho phép một phân tích tinh tế hơn nhiều về thành phần của nó so với scanner. Vậy ta biết ngay khối u đó là hiền tính hay ung thư.

Hỏi : Khi những ung thư thường xảy ra nhất (các ung thư vú, phổi, đại tràng, tuyến tiền liệt) được khám phá sớm, tiên lượng của chúng như thế nào ?
BS Clarisse Dromain : Theo những báo cáo mới nhất của Inca, ở vào giai đoạn này (khi kích thước khối u dưới 1 cm) 85% các ung thư vú, 80% các ung thư tiền liệt tuyến, 50% các ung thư đại tràng, trực tràng và của vài ung thư phổi được chữa lành. Do đó tầm quan trọng của việc phát hiện sớm !

Hỏi : Những kỹ thuật vi xâm nhập mới đây nào sẽ xác nhận một chẩn đoán sớm ?
BS Clarisse Dromain : Lại nữa, đã có những tiến bộ to lớn ! Nhất là nhờ các kỹ thuật hướng dẫn bằng chụp hình ảnh (trong đó động tác được thực hiện, tùy theo các trường hợp, dưới sự hướng dẫn của siêu âm, scanner hay IRM). Những phương thức mới nhất này cho phép thực hiện sự lấy các mẫu nghiệm mô dưới gây tê tại chỗ, không phẫu thuật, với một chiếc kim được chế tạo đặc biệt cho mỗi loại sinh thiết. Trước đây để lấy những mẫu nghiệm này phải thực hiện gây mê tổng quát trong phòng mổ. Các ví dụ : các mẫu nghiệm mô phổi, xương hay các hạch được thực hiện với scanner, những mẫu nghiệm của gan được thực hiện dưới sự hướng dẫn của siêu âm. Còn về vú, từ ít lâu nay ta lấy các vôi hóa bé xíu (microcalcifications) nghi ngờ chỉ bằng sự hướng dẫn của tia X, nhờ sự phát triển của một kỹ thuật mới : macrobiopsie stéréotaxique. Từ nay ta có thể lấy cả một khối u tiền ung thư dưới 2 cm !
(PARIS MATCH 21/10-27/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 182 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/7/2010 )

2/ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ VÚ : ANGIO-MAMMOGRAPHIE : MỘT TIẾN BỘ TUYỆT VỜI !

BS Clarisse Dromain, trưởng khoa chẩn đoán quang tuyến của bệnh viện Gustave-Roussy de Villejuif, giải thích tiến bộ được thực hiện bởi tiêm một chất cản quang, cặp với chụp tuyến vú (mammographie).
Hỏi : Bắt đầu từ lứa tuổi nào và với nhịp độ bao nhiêu người ta khuyên chụp tuyến vú (mammographie).
BS Clarisse Dromain : Đối với những phụ nữ không thuộc vào một nhóm “ có nguy cơ ” (không mang một bất thường của các gène BRCA1 và BRCA2 hay không có những tiền sử gia đình bị ung thư vú), người ta khuyến nghị chụp tuyến vú (mammographie) hai năm một lần bắt đầu từ 50 tuổi. Nơi những phụ nữ khác (dễ bị thương tổn hơn), sự theo dõi này phải được bắt đầu sớm hơn, vào khoảng năm 30 tuổi, và cần những xét nghiệm sát nhau hơn, mỗi năm một lần. Và chụp tuyến vú khi đó phải được bổ sung bởi một siêu âm (échographie) hay IRM. Theo những dữ kiện mới nhất của châu Âu, sự điều tra phát hiện đại trà đã cho phép làm giảm tỷ lệ tử vong 20 đến 30% trong những vùng mà nơi đó sự tham gia của dân chúng là tốt.

Hỏi : Chụp tuyến vú quy ước (mammographie conventionnelle) là gì ?
BS Clarisse Dromain : Đó là một xét nghiệm X quang, được thực hiện với một kỹ thuật các tia X, cho phép có được những hình ảnh của vú trong tất cả bề dày của nó, tư thế chính diện và bên. Chính trong lúc khảo sát các tương phản giữa mô và tuyến vú mà người ta nhận diện những vôi hóa bé xíu (microcalcifications) và những nốt không điển hình (hai bất thường làm biến dạng mô tuyến ít hay nhiều). Các ung thư có thể xuất hiện dưới dạng các vôi hóa hay các nốt khả nghi.

Hỏi : Những nguy cơ sai lầm ở chỗ nào ?
BS Clarisse Dromain : Khoảng 20% các ung thư nhỏ không được nhận diện. Và điều đó vì nhiều lý do : hoặc là bởi vì tuyến vú, quá đặc (nhất là ở các phụ nữ dưới 50 tuổi), che dấu một nốt (nodule) hay một vôi hóa bé xíu (microcalcification). Hoặc (trong 5% các trường hợp) bởi vì khối u không thể thấy được lúc chụp tuyến vú : trong lúc phát triển, chúng đã không làm biến dạng tuyến bên trong vú, trong khi bình thường các ung thư gây nên một sự bất thường của kiến trúc. Nguyên nhân sai lầm khác : một sự giải thích sai hình quang tuyến. Người ta thấy rõ một bất thường nhỏ vài milimet, nhưng người ta xếp loại nó là hiền tính... Sai lầm này có thể ít hay nhiều các hậu quả. Nói chung, vài tháng sau, vào lúc lần khám tiếp theo, khối u, đã tiến triển, khi đó được chẩn đoán đúng đắn. Chụp tuyến vú có lẽ là một trong những xét nghiệm X quang khó giải thích nhất.

Hỏi : Trong những trường hợp nào (ngoài trường hợp các phụ nữ có nguy cơ), việc bổ sung chụp tuyến vú bằng siêu âm hay IRM là có ích ?
BS Clarisse Dromain : Siêu âm (échographie) phải bổ sung một cách hệ thống một chụp tuyến vú nơi các phụ nữ có đôi vú đặc, khó đọc và khi có chút ít nghi ngờ đối với thăm khám cổ điển hay quang tuyến. IRM (bằng cộng hưởng từ) được chỉ định khi vẫn còn nghi ngờ sau chụp tuyến vú và siêu âm. Với kỹ thuật này, tất cả các ung thư đều có thể thấy được ! Người ta thực hiện IRM bằng cách tiêm một chất cản quang cho phép thấy được các huyết quản nuôi dưỡng của một khối u : sự sinh mạch máu khối u (angiogenèse tumorale) chứng tỏ sự hiện diện của những tế bào ung thư.

Hỏi : Một kỹ thuật mới nhất ra đời : angio-mammographie là một tiến bộ tuyệt vời...
BS Clarisse Dromain : Vâng, xét nghiệm này cho phép tránh IRM đồng thời thu được cùng những thông tin. Phương thức nhằm tiêm một chất cản quang iode (bằng đường tĩnh mạch) trong khi thực hiện chụp tuyến vú quy ước số (mammographie conventionnelle numérique) (cho phép xử lý các hình ảnh theo ý muốn : phóng đại chúng, gia tăng sự tương phản (contraste)... Như thế người ta thấy rất rõ sự phân bố mạch (vascularisation) của các mô và của các khối u. Sự phát hiện các huyết quản nuôi dưỡng là điều quan tâm chủ yếu. Chính chúng, do làm phân tán của các tế bào ác tính, có một nguy cơ quan trọng. Chiến lược hiện nay là phát hiện các ung thư khi chúng còn ở tại chỗ (in situ), nghĩa là được khu trú bên trong các ống (canaux) hay các tiểu thùy của tuyến vú.

Hỏi : Những kết quả của các công trình nghiên cứu được tiến hành với angiomammographie là gì?
BS Clarisse Dromain : Công trình nghiên cứu mới nhất của chúng tôi tại bệnh viện Gustave-Roussy, được thực hiện cộng tác với Viện Curie, trên 150 phụ nữ bị một ung thư vú, đã cho những kết quả có sức thuyết phục, được trình bày ở hội nghị thế giới quang tuyến học ở Chicago. Ở hội nghị này chúng tôi đã so sánh những chẩn đoán được xác lập bởi những hình ảnh chụp tuyến vú quy ước với những hình ảnh thu được bởi angiomammographie. Với kỹ thuật sử dụng một chất cản quang này, người ta đã phát hiện 94% các khối u, so với 78% khi chụp tuyến vú cổ điển. Hiện nay, để so sánh sánh những kết quả của angio-mammographie với những kết quả của IRM, chúng tôi tham gia vào một công trình nghiên cứu quốc tế trên 300 phụ nữ.

Hỏi : Ở Pháp khi nào chúng ta sẽ có thể hưởng được kỹ thuật này ?
BS Clarisse Dromain : Vào cuối năm nay. Những máy chụp tuyến vú mới, được thương mãi hóa bởi General Electric, sẽ được sử dụng trong những bệnh viện và những phòng mạch tư.
(Paris Match 1/7-7/7/2010)


9/ GUILLAUME DUPUYTREN, MỘT NHÀ CƠ THỂ HỌC TÀI NĂNG.

Trong cuốn sách của mình The Life and Times of Guillaume Dupuytren (1777-1835), Paul Wylock gợi lại con người, nhưng cũng thời đại của Guillaume Dupuytren. Được hỗ trợ bởi một tập tranh ảnh (iconographie) dồi dào, 16 chương của cuốn sách dựng lên một bức tranh toàn cảnh về các khía cạnh chính trị, xã hội và văn hóa của xã hội vào thời của Dupuytren. Ông làm việc ở Hôtel-Dieu, dưới chân của Notre-Dame, nơi đây khả năng chuyên môn của ông được nhất trí công nhận và tham vọng cá nhân của ông đã khiến ông được thăng cấp thầy thuốc ngoại khoa trưởng (le chirurgien en chef) vào năm 1815. Thời kỳ đó là rất lý thú về quan điểm ngoại khoa, và đặc biệt là ở Pháp : vào khoảng năm 1750, Louis XVI đã ban hành một loạt các đạo luật, qua đó nhà vua yêu cầu rằng không thể trở thành thầy thuốc ngoại khoa mà không được đào tạo một cách thích đáng. Vào cuối thế kỷ XVIII, sáng kiến thuận lợi này đã làm Paris trở thành trung tâm quy chiếu cho cac thầy thuốc ngoại khoa trên thế giới được xem là văn minh vào thời đó. Chính ngày 1 tháng sáu năm 1831 mà Guillaume Dupuytren đã mổ lần đầu tiên một bệnh nhân bị một sự co cứng của rayon thứ tư và thứ năm của bàn tay trái. Trước đó ông đã tập luyện trên tử thi của một người mà ông đã quen biết trong những năm cuối đời của ông ta và bị một sự co cứng của các ngón tay. Sự giải phẫu tử thi bệnh nhân này đã khiến ông kết luận rằng các thương tổn hẳn phải ở tại cân mạc lòng bàn tay (fascia palmaire), chứ không phải trong các dây gân của các ngón tay như một vài người đương thời đã nghĩ như vậy. Dupuytren đã thực hiện một đường xẻ ngang đầu tiên nơi lòng bàn tay của bệnh nhân, ở mức khớp xương bàn tay-ngón tay (articulation métacarpophalangienne). Vì điều đó không đủ để có được một sự duỗi tốt của các rayon thứ tư và thứ năm, nên sau đó ông đã thực hiện một đường xẻ thứ hai và thứ ba ở đáy của những ngón tay này và như thế sự duỗi của chúng đã có thể trở nên hoàn toàn.
(LE GENERALISTE 16/9/2010)

10/ RƯỢU VÀ THAI NGHÉN : 9 THÁNG KIÊNG KHEM.

“ Số không rượu (zéro alcool) trong thời kỳ thai nghén. ” “ Đó là điều logo, được dán trên những chai rượu từ năm 2007, muốn nói. Gan của thai nhi còn non trên bình diện enzyme. Kết quả : rượu không được thoái hóa ở gan và chưa được 60 phút sau khi người mẹ uống một ly rượu, có thể nói, thai nhi cũng cụng ly. Người ta chấp nhận rằng bệnh cảnh được gọi là hội chứng làm thấm rượu thai nhi (SAF : syndrome d’alcoolisation fœtal) tương ứng với một sự uống rượu đều đặn trên hai ly mỗi ngày hay những lần uống rượu cấp tính với hơn 4 ly. Hội chứng này có liên quan đến 7000 trẻ em mỗi năm ở Pháp, nguyên nhân đầu tiên không phải do di truyền của phế tật tâm thần (handicap mental) của trẻ em. Chậm tăng trưởng, các thương tổn của hệ thần kinh trung ương, những khó khăn trong học tập..., bệnh cảnh lâm sàng là phức tạp. Ngoài ra, một công trình nghiên cứu của Viện theo dõi y tế (InVs : Institut de veille sanitaire) và của Inserm, được thực hiện năm 2008, đánh giá rằng những thể bán phần nhiều hơn 3 lần những thể hoàn toàn. Tất cả những bất thường này đều có thể tránh được. Lại nữa, không có ngưỡng của nguy cơ (seuil de risque), vì vậy người ta khuyên 9 tháng kiêng khem. “ Mặc dầu chỉ một ly uống riêng rẻ dĩ nhiên không gây nên cho tất cả mọi người những thương tổn của những tác dụng độc hại (bởi vì điều đó tùy thuộc vào mức độ nhạy cảm di truyền của các bà mẹ), nhưng những lượng nhỏ chất cồn có thể gây nên những thương tổn thần kinh nơi thai nhi ”, BS Ingrid Chazeron, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần của bệnh viện Clermont-Ferrand đã giải thích như vậy. Ở Pháp, cứ hai phụ nữ thì có một thú nhận là có uống rượu. So với 12% ở Hoa Kỳ và 60% ở Nga. Một con số phát xuất từ công trình nghiên cứu quốc gia duy nhất, được tiến hành ở Auvergne năm 2004 nơi 1000 phụ nữ có thai. “ Việc thiếu được thông tin nơi những phụ nữ này đã làm chúng tôi ngạc nhiên, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, người điều hành công trình nghiên cứu, đã nói tiếp như thế. Ngoài ra, khẩu hiệu “ zéro alcool ” không phải là một thông điệp tốt, bà đã xác nhận như vậy. Tốt hơn là đả thông họ về các cách tiêu thụ và những nguy cơ gặp phải. Như ở Canada, là nơi thông điệp được hướng về những điểm mốc tiêu thụ.” Dầu sao, nếu còn cần phải có một luận cứ bổ sung, thì hai công trình nghiên cứu mới đây vừa để lộ những yếu tố buộc tội mới : một nguy cơ nhân lên hai lần phát triển một thể leucémie aigue myéloblastique, do một tương tác giữa các yếu tố di truyền và sự tiếp xúc tiền sinh, và một khả năng sinh đẻ (fertilité) bị hạ thấp đối với những người con trai của những bà mẹ nghiện rượu.
(SCIENCES ET AVENIR 10/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (1/11/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969