Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 45
Lượt truy cập: 1009025
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/RƯỢU CÓ THỂ CÓ HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA CÁC TINH TRÙNG.

Các cháu trai mà bà mẹ đã uống rượu trong thời kỳ thai nghén, có nguy cơ khả năng sinh sản thấp hơn.

REPRODUCTION. ở Châu Âu và Hoa Kỳ, trong những thập niên qua việc giảm số các tinh trùng, được chứng thực nơi những người đàn ông, có thể là do, ít nhất một phần, sự tiếp xúc với rượu trong tử cung.

Trong một công trình nghiên cứu, được công bố mới đây trong tạp chí Human Reproduction, Cecillia Ramlau-Hansen và các đồng nghiệp của bệnh viện đại học Aarhus (Đan Mạch) cho thấy rằng, những người đàn ông, mà mẹ đã uống nhiều hơn một ly mỗi ngày trong thời kỳ thai nghén, có sự sản xuất các tinh trùng bị giảm 1/3, và rằng những hậu quả đã có thể được nhận thấy bắt đầu chỉ 2 ly mỗi tuần, hoặc 24 g alcool. Đây là lần đầu tiên một mối liên hệ như vậy được phát hiện. “ Mặc dầu hiện nay đó chỉ là một sự tương quan, nhưng hướng mới này là đáng quan tâm ”, GS Louis Bujan, thuộc đại học Paul-Sabatier và của CHU de Toulouse đã đánh giá như vậy. Chúng ta hãy nhắc lại rằng, việc tiêu thụ rượu bởi các phụ nữ có thai đã là nguyên nhân đầu tiên không phải do di truyền của sự chậm phát triển trí tuệ nơi đứa trẻ sinh ra đời.

Chính vào năm 1992, lần đầu tiên, hai nhà nghiên cứu Đan Mạch khác đã báo cáo với giới hữu trách y tế của đất nước họ về sự giảm không đổi, từ nhiều thế hệ, của sự sản xuất các tinh trùng của đồng bào họ. Bởi vì cùng lúc đó người ta chứng thực một sự tăng cao của các bất thường của sự phát triển của bộ máy sinh dục nam và của các ung thư tinh hoàn, nên các mối nghi ngờ đều hướng về những yếu tố môi trường, nhất là sự tiếp xúc với vài hợp chất hoá học, các chất làm rối loạn nội tiết (perturbateur endocrinien).

Rất nhanh chóng Đan Mạch đã ở hàng đầu trong những nghiên cứu được thực hiện trong lãnh vực này. Và điều này vì nhiều lý do. Vào thời kỳ đó, đất nước đã phải đương đầu với một tình trạng giảm khả năng sinh sản rõ rệt của các cặp vợ chồng. Thật vậy, Đan Mạch giữ kỷ lục Châu âu về sinh đẻ bằng thụ thai nhân tạo (FIV : fécondation in vitro), và hiện nay vẫn nhu vậy với một tỷ lệ gần 5%, hoặc gấp ba lần so với nước Pháp. Sau đó, việc tạo điều kiện cho các nhà khoa học Đan Mạch được tham khảo các hồ sơ y khoa của tất cả các bệnh nhân được nhập viện từ năm 1977, đã cho phép họ thực hiện những nghiên cứu thống kê trên nhiều thế hệ. Các điều tra, được tiến hành nơi các phụ nữ mang thai bởi nhóm nghiên cứu của Miels Stakkebaek ở Rigshospitalet de Copenhague, trước hết đã cho thấy tác dụng có hại của chứng nghiện thuốc lá của người mẹ lên khả năng sinh đẻ của các người con gái, với một thời hạn để thụ thai tăng gấp đôi nếu các phụ nữ đã được tiếp xúc trong tử cung với thuốc lá cũng là những người hút thuốc. Vào năm 2007, Cecilia Ramlau-Hansen và các đồng nghiệp báo cáo một sự giảm gần 20% độ tập trung của tinh trùng của những người đàn ông, vốn đã bị tiếp xúc với thuốc lá của người mẹ khi còn trong tử cung. Sau cùng, một công trình nghiên cứu mới của Đan Mạch, được thực hiện một cách đặc biệt lên những phôi thai người, với tuổi dưới một tam cá nguyệt, xuất phát từ IVG, đã phát hiện một sự suy giảm khối lượng dự trữ của những tế bào sinh sản trong những cơ quan sinh dục của cả hai giới tính, do đã bị tiếp xúc trong tử cung với thuốc lá.

Những tác dụng được xác nhận này của thuốc lá, và bây giờ được nghi ngờ đối với rượu, càng đáng lo ngại khi số các phụ nữ tiếp tục hút hay uống trong thời kỳ thai nghén. Ở Pháp, một công trình nghiên cứu của Stéphanie Toutain, thuộc Đại Học Paris-Descartes, mới đây gợi ý rằng nhiều phụ nữ còn đánh giá thấp những nguy hiểm của một sự tiêu thụ rượu và tương đối hóa các nguy cơ tùy theo loại nước uống hay tùy theo lúc thai nghén. Theo công trình nghiên cứu, lời ghi “ Zéro alcool trong thời kỳ thai nghén ” trên các chai rượu từ năm 2007 có lẽ không đủ. Cecilia Ramlau-Hansen nghĩ rằng cần phải đi xa hơn bởi vì “ mặc dầu còn quá sớm để xác nhận một mối liên hệ trực tiếp nhân quả, nhưng công trình nghiên cứu của chúng tôi tăng cường ý tưởng cho rằng, các phụ nữ có thai phải tuyệt đối tránh rượu, và ngay cả đối với mọi phụ nữ đã có ý định như vậy, bởi vì khi những phụ nữ này khám phá ra rằng mình có thai thì họ có thể đã mang một bào thai đã nhiều tuần lễ rồi ”.
(LE FIGARO 28/10/2010)

2/ TẠI SAO TA THÈM ĂN CHOCOLAT KHI BỊ MẤT TINH THẦN ?

Nhiều công trình nghiên cứu đúng là đã chứng tỏ điều đó : chocolat có một tác dụng dương tính đáng kể lên khí chất. Đến độ ở Hoa Kỳ, 40% các phụ nữ và 15% các người đàn ông tuyên bố nghiện chocolat ; vài người cho rằng chocolat làm dịu những trạng thái lo âu. Vậy có phải là do tác dụng của các chất hướng tâm thần (psychotrope) được chứa trong cacao ? Những chất kích thích, như caféine và phényléthylamine, hay những chất gây sảng khoái, như các hợp chất cannabinoide, tất cả đều được biết là mang lại sự thoải mái và phụ thuộc. Nhưng mặc dầu chúng tác động lên các đường vòng não bộ (circuit cérébral) phụ trách khoái lạc và động cơ, nhung không có gì chứng tỏ rằng chúng hiện diện với lượng đầy đủ trong chocolat để có một tác dụng in vivo .

CÁC NEURONE CỦA KHOÁI LẠC.

Theo Serge Ahmed, nhà nghiên cứu thuộc Institut des neurosciences de Bordeaux và chuyên gia về nghiện đường, “ tác dụng thú vị của chocolat chủ yếu phát xuất từ những cảm giác ngọt (sensations sucrées) phát được sinh ra từ các gai vị giác (papilles gustatives) ”. Cũng phải tính đến sự thèm các chất béo, mà các nhà sinh thần kinh Paul Johnson và Paul Kenny, thuộc Scripps Research Institute (Hoa Kỳ), mới đây đã cho thấy rằng chúng có thể tạo nên những trạng thái phụ thuộc bằng cách tác động lên các neurone dopaminergique của khoái lạc.

Nhưng thế thì tại sao chocolat trắng, ngọt hơn và nhiều mỡ hơn, hay chocolat đen, nhiều chất hướng tâm thần hơn (psychotrope), lại không được ham thích hơn chocolat sữa, lại được đánh giá hơn nhiều ? Có lẽ phải xét đến các chất lượng vị giác đặc biệt của loại chocolat này. Một tiêu chuẩn mà khoa học khó lòng định lượng được. Tuy nhiên có một điều chắc chắn : tác dụng của chocolat lên khí chất tan biến ngay khi miếng chocolat tan đi trong miệng. Điều này làm dễ sự xuất hiện của chứng ăn vô độ chocolat (boulimie chocolatière)
(SCIENCE ET VIE 10/2010)

3/ PHẢI CHĂNG NÊN TRỞ LẠI SỰ SINH ĐẺ TẠI NHÀ ?

Professeur Roger Henrion
Président de l’Académie nationale de médecine


Từ vài năm nay, người ta chứng kiến một sự gia tăng trở lại của việc thực hiện sinh đẻ tự ý tại nhà, mà người ta tin là đã thuộc về quá khứ. Một điều tra của Conseil national de l’ordre des sages-femmes đã tiết lộ rằng, vào năm 2008, 1169 trường hợp sinh đẻ đã được thực hiện tại nhà bởi những nữ hộ sinh hành nghề tự do và rằng khoảng 4500 yêu cầu đã không có thể được làm thỏa mãn, đối chiếu với 3950 vào năm 2007. Một cách nghịch lý, cái “ mode ” này là do vài bà mẹ bác bỏ việc y tế hóa (médicalisation) sự sinh đẻ, do những tiến bộ được thực hiện trong sự theo dõi thai nhi và khả năng điều khiển sự chuyển dạ, cũng như trong sự làm giảm đau péridurale hay sự hồi sức trẻ sơ sinh. Ngoài ra, sự lựa chọn sinh đẻ trong tổ ấm của gia đình đi đôi với sự hồi lưu của thủ thuật giảm đau péridurale. Đối với vài hiệp hội phụ nữ đặc biệt cốt cán, phụ nữ phải có thể đẻ “ như thế nào mà họ muốn và đẻ ở đâu họ muốn ”.

Một công trình nghiên cứu của Mỹ đúng lúc vừa nhắc lại điều mà mọi thầy thuốc sản khoa đã hành nghề trong những năm 1950, đều đã trải qua kinh nghiệm : việc sinh đẻ tại nhà bao hàm một nguy cơ không thể giảm bớt đối với bà mẹ và trẻ em và có thể được kết thúc một cách bi thảm. Thật vậy, tỷ lệ tử vong của các em bé, mặc dầu hiếm, nhưng được nhân lên 3 lần khi sinh đẻ tại nhà, nếu đứa trẻ không bị dị tật. Tuy nhiên công trình nghiên cứu này không xét đến những trường hợp tái nhập viện và tình trạng thần kinh của các trẻ sơ sinh. Thế mà các trường hợp tử vong của các trẻ chủ yếu xảy ra vào thời kỳ sinh và trong những ngày đầu và là do tình trạng suy hô hấp và những thất bại trong hồi sức, chứng tỏ đã ít sử dụng hơn những can thiệp sản khoa như đặt forceps khi sự sinh đẻ xảy ra ở nhà.

Ta có thể làm giảm một cách đáng kể các nguy cơ bằng cách thực hiện một sự chọn lựa cẩn thận những yếu tố nguy cơ ngay từ tháng thứ ba và trong suốt thời kỳ mang thai, kể cả trong tháng cuối cùng. Trong những nước mà việc sinh đẻ tại nhà là chuyện thông thường, như ở Hòa Lan, người ta ước tính hơn 60% số các phụ nữ được đưa vào bệnh viện trước khi thai đủ tháng. Nhưng những biến chứng hoàn toàn không thể tiên đoán được có thể xuất hiện trong lúc chuyển dạ và vào lúc sổ thai. Điều này có thể là do một bất thường của các co thắt tử cung, liên kết hay không với một bất thường của sự giãn cổ tử cung, một sự chậm dinh bồn của đầu đứa bé bởi vì có một khung chậu hơi hẹp mà không được hay biết, một tình trạng ngột thai ít nhiều đột ngột, hay lại nữa một sự bất thường lúc sổ thai, được kéo dài một cách lạm dụng, thậm chí những tai biến hiếm hơn nhưng thường gây tử vong đối với đứa bé như sa cuống rốn hay vòng rốn quấn cổ (procidence du cordon hay circulaire du cordon).

NHÀ BẢO SINH

Lúc sinh ra đời, trẻ sơ sinh có thể cần đến một sự hồi sinh ; sau khi sinh có thể xảy đến nơi phụ nữ một sự xuất huyết lúc sổ nhau (hémorragie de la délivrance), mà trong một trường hợp trên nghìn trường hợp, là đáng sợ bởi vì sự chảy máu rất là ồ ạt. Mặc dầu ta có thể di chuyển bà mẹ trong tình trạng tai biến nguy kịch nhưng ngay cả ở Hòa Lan, là nơi những khoảng cách vận chuyển ngắn và các vận chuyển xảy ra rất đúng lúc, tuy vậy người ta ước tính thời hạn cần thiết giữa nơi ở của bệnh nhân và bệnh viện là 45 phút. Thế mà cấp cứu sản khoa đôi khi được tính từng phút, với nguy cơ chắc chắn tử vong hay phế tật. Ngoài ra những trường hợp di chuyển trong lúc chuyển dạ đều đáng sợ, bởi vì nguy cơ tử vong khi đó của đứa bé được ước tính là 1%.

Vậy không phải là một ý ngông cuồng khi chính quyền, vào năm 1972, khuyên không nên sinh đẻ ở nhà, cũng không phải là một sự tình cờ khi tỷ kệ tử vong chu sinh (mortalité périnatale) là 52 trên 1000 trường hợp sinh đẻ vào năm 1952, từ nay tỷ lệ này xuống dưới 7 đối với 1000 trường hợp, theo cùng tiêu chuẩn. Cũng không phải là một điều đáng ngạc nhiên khi các hãng bảo hiểm từ chối bảo hiểm nguy cơ sinh đẻ tại nhà hay buộc những số tiền bảo hiểm to lớn. Để dung hòa giữa yêu cầu tiện nghi thoải mái với đòi hỏi an toàn, những cấu trúc trung gian mới đã được thiết đặt với tính cách thí nghiệm. Đó là những nhà hộ sinh (maison de naissances), được đặt dưới sự trách nhiệm độc nhất của các nữ hộ sinh và phụ thuộc vào một cơ sở y tế, bao gồm một khoa sản, nhưng không có khả năng cho trú ngụ. Còn Collège national des gynécologues et obstétriciens français thì chủ trương phát triển những espace de naissance physiologique bên trong những maternité publique.
(LE FIGARO 4/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 182 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/7/2010 )

8/ SINH ĐẺ TẠI NHÀ GÂY NGUY CƠ CHO EM BÉ.

Những trường hợp tử vong quá mức chủ yếu là do những vấn đề hô hấp và một sự thất bại trong hồi sức, theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ.

OBSTETRIQUE. Những năm qua, càng ngày càng hợp thời trang trong các nước phương Tây, những trường hợp sinh đẻ tại nhà có lẽ dễ chịu hơn đối với các phụ nữ, nhưng chúng có thể nguy hiểm hơn cho các em bé.

Đó là kết luận phần nào gây lo ngại của một công trình nghiên cứu rộng lớn vừa được công bố on line trong American Journal of Obstetrics & Gynecology. Tỷ lệ tử vong sơ sinh được nhân lên gấp 3 lần lúc sinh tại nhà, so với một cuộc sinh đẻ ở nhà hộ sinh, BS Joseph Wax (Maine Medical Center, Portland) và các đồng nghiệp đã ước tính như vậy. Họ đã phân tích toàn bộ các dữ kiện có được về chủ đề này, ở Bắc Mỹ và châu Âu. Tổng cộng, công trình phân tích méta của họ đã bao gồm gần 550.000 trường hợp sinh đẻ, trong đó 342.056 đã được dự kiến sinh tại nhà và 207.551 được dự kiến sinh tại bệnh viện. Các kết quả rất là tương phản tùy theo ta quan tâm đến người mẹ hay em bé.

Điều chứng thực thứ nhất, các phụ nữ chọn sinh ở nhà, thường có sức khoẻ tốt hơn, họ có ít những yếu tố nguy cơ sản khoa hơn những phụ nữ dự kiến đẻ ở khoa sản bệnh viện. Các tác giả cũng ghi nhận rằng các cuộc sinh đẻ ở nhà thoải mái hơn đối với các bà mẹ, bởi vì ít bị médicalisé hơn so với ở bệnh viện.

Các động tác như péridurales, mổ lấy thai hay cắt tầng sinh môn như thế hiếm xảy ra hơn, điều này làm giảm tỷ lệ các biến chứng do sinh đẻ và sổ thai(nhiễm trùng, xuất huyết). Về các em bé được sinh ở nhà, chúng có một tỷ lệ sinh non và trọng lượng thấp lúc sinh hơi thấp hơn.

“ GIỚI HẠN, ĐÓ LÀ SỰ AN TOÀN ”

Tuy nhiên có một mặt trái, thế mà lại có tầm cỡ : nguy cơ tử vong sơ sinh (mortalité néonatale) (trong 4 tuần lễ đầu tiên sau khi sinh) là cao hơn nhiều. Mặc dầu biến chứng này là hiếm (tỷ lệ tử vong sơ sinh là khoảng 0,3 đối với 1000 trường hợp ở bệnh viện), nhưng tần số tăng lên gấp hai nơi các trẻ sinh ở nhà, và ngay cả gấp ba đối với những em bé không có các bất thường bẩm sinh. Những trường hợp tử vong quá mức ở nhà chủ yếu là do những vấn đề hô hấp và một thất bại trong hồi sức, theo các tác giả của công trình nghiên cứu.

“ Những kết quả này đặt ra câu hỏi về mối liên hệ giữa tỷ lệ tử vong sơ sinh cao sau khi sinh ở nhà và tỷ lệ thấp nhờ đến những can thiệp sản khoa trong nhóm này ”, BS Joseph Wax đã kết luận như vậy. “ Tỷ lệ quá mức tử vong sơ sinh hoàn toàn xác minh cảm tưởng của các thầy thuốc chuyên khoa sản, BS Jean Marty, tổng thư ký của Công doàn quốc gia các thầy thuốc chuyên khoa phụ sản ở Pháp, phàn nàn, cũng như những đồng nghiệp của ông ta, phải đối đầu với những trường hợp bi thảm đáng lý ra có thể tránh được. “ Chúng tôi thông hiểu mong ước của các phụ nữ muốn có một môi trường ít médicalisé hơn và ngoài ra đã có nhiều cố gắng nhân bản hóa trong các khoa sản trong những năm gần đây, Jean Mary đã tiếp tục phát biểu như vậy. Nhưng mặt hạn chế, đó là sự an toàn. Trong trường hợp có vấn đề, sự kế cận với các phương tiện là một yếu tố thiết yếu.” Một ý kiến phần lớn được chia sẻ bởi GS Philippe Descamps, trưởng khoa phụ sản của CHU d’Angers. “ Trong sản khoa, ta không thể thấy trước tất cả mọi chuyện. Ngay cả khi tất cả các đèn báo ở màu xanh, vẫn có thể xảy ra một thảm họa ”, ông đã nhấn mạnh như vậy. Để tôn trọng mong ước của các bệnh nhân mình muốn được sinh đẻ một cách ít médicalisé hơn, GS Descamps đã tạo ra trong khoa của ông một “ khoảng sinh lý ” (espace physiologique), trong đó thái độ điều trị nhẹ nhàng hơn, “ nhưng rất an toàn vì lẽ nhóm y tế vẫn ở kế cận các bệnh nhân ”.

Ở Pháp, mặc dầu một nhu cầu gia tăng, các sinh đẻ tại nhà dường như không nhiều. Trong Pays de la Loire, những trường hợp sinh tại gia là khoảng 100 lần sinh mỗi năm, hoặc 0,25% của các trường hợp sinh đẻ trong vùng.

Một công trình nghiên cứu khác, được tiến hành cuối năm 2008 bởi Conseil national de l’Ordre des Sages femmes nơi 1.600 nữ hộ sinh hành nghề tự do kết luận rằng chỉ 4% trong số các nữ hộ sinh này thực hiện sinh đẻ tại nhà, hoặc 1000 trường hợp sinh mỗi năm. “ Trên nguyên tắc chúng tôi không chống đối việc làm này trong một bối cảnh an toàn, nhưng ngày nay có nhiều lạm dụng ”, Conseil de l’Ordre des sages-femmes đã nói như vậy.

Hiện nay, các nữ hộ sinh muốn thực hiện sinh đẻ tại nhà đụng phải hàng rào từ phía các nhà bảo hiểm nghề nghiệp : số tiền đóng bảo hiểm khoảng 19.000 euro, gần 20 lần nhiều hơn để bảo hiểm những cuộc sinh đẻ trong một cơ sở y tế.
(LE FIGARO 3/7/2010)


4/ MỔ NÃO QUA MẮT.

Ta đã biết ngoại khoa không sẹo (chirurgie sans cicatrice), đang phát triển mạnh, nhằm can thiệp qua những lỗ tự nhiên (orifices naturels) của cơ thể để đạt đến cơ quan được mổ. Được gọi là Notes (natural orifice transluminal endoscopic surgery : chirurgie endoscopique transluminale), môn này vừa được làm phong phú thêm với Tones (transorbital neuroendoscopic surgery). Những bệnh nhân người Mỹ đầu tiên đã được mổ trong các đại học của San Diego và Washingon. Thay vì phải cắt một mảng xương (volet osseux) của hộp sọ (craniotomie : mở sọ) để đi vào đến não, các phẫu thuật viên ưa thích hơn một đường mổ qua mắt. Các dụng cụ, được đưa qua một đường xẻ nhỏ xíu được thực hiện ở mí mắt. Rồi, qua một lỗ được chọc thủng ở sàn xương hốc mắt, (một phần xương rất mảnh và dễ tiếp cận), các dụng cụ được đưa vào sâu hơn. Khoảng 20 bệnh nhân, được mổ vì những đè ép của dây thần kinh thị giác, các u não hay các gãy xương đáy sọ, đã được hưởng ngoại khoa vi xâm nhập này mà không bị biến chứng. Các tác giả của công trình nghiên cứu, được công bố trong Neurosurgery, đã tiên đoán rằng danh sách các bệnh lý liên hệ sẽ được kéo dài thêm : các dị dạng mạch máu, các khối u .
(SCIENCES ET AVENIR 11/2010)

5/ NHỮNG NGƯỜI Ở LỨA TUỔI THẤT TUẦN HIỆN NAY THÔNG MINH HƠN TRƯỚC ĐÂY.

Từ 30 năm qua, một công trình nghiên cứu của Thụy Điển quan tâm đến những người ở lứa tuổi 70, cho thấy một sự tiến triển của những khả năng trí tuệ ở lứa tuổi này.

NEUROLOGIE. Công trình nghiên cứu H 70 được căn cứ trên một ý tưởng khá độc đáo. Ngoài những vấn đề khác ra, công trình này nhằm kiểm tra xem các năng lực trí tuệ (capacité intellectuelle) ở lứa tuổi 70 có được cải thiện tùy theo các thời kỳ hay không. Một cách cụ thể, công trình so sánh các chức năng não bộ của những người đàn ông và đàn bà 70 tuổi vào năm 1970 và chịu những test psychométrique vào năm đó, với những người tình nguyện khác, họ cũng đã được 70 tuổi vào năm 2000 và cũng đã chấp nhận chịu cùng một loạt các trắc nghiệm. Nhiều dữ kiện của công trình nghiên cứu này, lần đầu tiên được khởi xướng trong những năm 1970 bởi khoa thần kinh học và thần kinh sinh học của đại học Gothenburg, đã là đối tượng của những tài liệu xuất bản. Mới đây nhất tạp chí Neurology đã công bố những kết quả mới xác nhận rằng những người thất tuần ngày nay về phương diện trí tuệ hiệu năng hơn cách nay 30 năm.

Để đi đến một kết luận như thế, các nhà khoa học Thụy Điển đã quan tâm đến những kết quả của các test psychométrique (đánh giá trí nhớ, mức độ nhanh chóng, sự lưu loát ngôn ngữ, logic thời gian-không gian) của những người sinh năm 1901 và được 70 tuổi trong những năm 1970. Các nhà nghiên cứu đã so sánh hiệu năng của những người này với hiệu năng của những người tình nguyện 70 tuổi khác, lần này trong những năm 1930 và chịu những trắc nghiệm tương tự trong những năm 2000. Công trình này tiết lộ một cách không mập mờ một sự cải thiện của tất cả các năng lực trí tuệ của những người đã được 70 tuổi trong những năm 2000 so với những người 70 tuổi của những năm 1970.

Làm sao hiểu được một tiến triển như thế ? “ Sự cải thiện này có thể được giải thích, ít nhất một phần, bởi những săn sóc trước và sau khi sinh tốt hơn, một chế độ ăn uống chất lượng tốt hơn, một trình độ giáo dục đã gia tăng, những điều trị được phổ biến tốt hơn chống lại cao huyết áp và một cách tổng quát chống lại những bệnh tim-mạch, BS Simona Sacuiu (Đại học Gothenburg) đã giải thích như vậy. Có lẽ cũng phải tính đến trình độ trí tuệ cao ngày nay được đòi hỏi để có thể theo dõi TV và sử dụng Internet, từ nay chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Những nhóm người Thụy Điển 70 tuổi sắp đến, một lần nữa sẽ được phân tích trong những thập niên tiếp theo, sẽ cho phép biết được những năng lực trí tuệ con người có tiếp tục tiến triển với thời gian hay không..

Công trình nghiên cứu cũng chú ý về những mối liên hệ giữa những rối loạn trí nhớ vào năm 70 tuổi và nguy cơ về sau bị bệnh Alzheimer. Các tác giả đánh giá rằng những vấn đề trí nhớ là yếu tố tiên đoán duy nhất về một nguy cơ sa sút trí tuệ. Nhưng tất cả những người thất tuần có một trí nhớ kém không hẳn tất cả sẽ phát triển một sa sút trí tuệ sau đó. Ngoài ra, cách nay 30 năm, những trắc nghiệm có khả năng tiên đoán sa sút trí tuệ, ngày nay sẽ không còn giá trị nữa do sự tiến triển toàn bộ của các năng lực trí tuệ. Các tác giả đánh giá rằng trong ba thập niên, nguy cơ bị bệnh Alzheimer nơi những người trên 70 tuổi thật sự đã không giảm. Trong khi đó những công trình nghiên cứu khác lại nêu giả thuyết về một sự sụt giảm như thế.

“ Sự kích thích sớm các mảng neurone, nhờ sự giáo dục, có lẽ cho phép ngày nay có một dự trữ nhận thức (réserve cognitive) quan trọng hơn so với trong quá khứ. ”
(LE FIGARO 26/10/2010)

6/ BỆNH PARKINSON THẤY ĐƯỢC TRONG...RUỘT !

Để nhận diện sự hiện diện của các thương tổn trong não bộ và đánh giá tầm quan trọng của chúng, chỉ cần nhìn vào trong...ống tiêu hóa. Chính trong lúc phân tích các mẫu sinh thiết của đại tràng nơi những bệnh nhân bị bệnh Parkinson mà Pascal Derkinderen và các đồng nghiệp (Inserm và CHU, Nantes) đã nhận xét những bất thường trong các neuron của đại tràng, gợi lại những bất thường được quan sát trong não bộ của các bệnh nhân. “ Trong hình dáng và trong dáng vẻ : các thể tập hợp (agrégat) của một protéine trong thân tế bào của các neurone hay trong những phần kéo dài của chúng ”, nhà nghiên cứu đã báo cáo như vậy. Còn hơn thế : tầm quan trọng của các thương tổn tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh. Nhờ thế hy vọng làm cho chẩn đoán được chính xác hơn ở một giai đoạn tiến triển của bệnh và thiết đặt một công cụ có hiệu lực hơn chụp hình ảnh để thấy được một cách gián tiếp hoạt động của não. Một công cụ quý giá, bởi vì “ việc mất các neurone à dopamine, điển hình đối với bệnh Parkinson, được quan sát với vài kỹ thuật chụp hình ảnh não, ngày nay không cho phép kết luận về tiến triển cũng như mức độ nghiêm trọng của bệnh ”, Pascal Derkinderen đã giải thích như vậy.
(SCIENCE ET VIE 11/2010)

7/ BỆNH LAO ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN TRONG VÒNG CHƯA ĐƯỢC HAI GIỜ.

Brigitte Gicquel là chuyên viên về bệnh lao của Viện Pasteur Paris.

Hỏi : Nhanh và rất đơn giản khi sử dụng, một trắc nghiệm mới để chẩn đoán bệnh lao dường như đầy hứa hẹn. Trắc nghiệm này hoạt động như thế nào ?
Brigitte Gicquel : Được mệnh danh là Xpert MTB/RIF, xét nghiệm này cho một kết quả tại chỗ trong thời gian chưa được hai giờ, kể cả chuẩn bị và phân tích. Chỉ cần pha trộn một mẫu nghiệm đờm với một sản phẩm làm bất hoạt vi khuẩn lao, chỉ cần đặt nó trong một cartouche plastique, rồi đưa tất cả vào trong một chiếc máy thực hiện một phân tích di truyền bằng PCR (amplication en chaine de polymérase). Kỹ thuật này cho phép phát hiện sự hiện diện của trực khuẩn lao, và những biến dị mang lại một sự đề kháng đối với rifampicine, một trong những kháng sinh chính được sử dụng. Những giống gốc mang những biến dị này nói chung đề kháng với nhiều kháng sinh khác. Được phát triển đồng thời bởi cơ quan FINF, đại học y khoa của New Jersey và công ty Cepheid, trắc nghiệm này vừa được đánh giá một cách thành công.

Hỏi : Những kết quả đạt được là gì ?
Brigitte Gicquel : Người ta đã đo tính hiệu quả của nó trên 1730 bệnh nhân, được phân chia trên 5 phòng xét nghiệm quy chiếu ở Pérou, Azebaidjan, Nam Phi và Ấn Độ. Xpert đã cho phép nhận diện 98,2% các bệnh nhân, 97,6% những bệnh nhân mang một giống gốc đề kháng với rifampicine và 98,1% những bệnh nhân bị nhiễm bởi một giống gốc nhạy cảm bởi kháng sinh này. Đối với những mẫu nghiệm đờm mà xét nghiệm cơ bản bằng kính hiển vi đã cho một kết quả âm tính vì thiếu tính nhạy cảm, trắc nghiệm này đã phát hiện hơn 70% các trường hợp ngay lần phân tích đầu tiên, 85% sau hai lần phân tích và 90% sau ba lần. Những kết quả này rất là đáng phấn khởi.

Hỏi : Trắc nghiệm này mang lại gì hơn những phương pháp hiện nay ?
Brigitte Gicquel : Khám bằng kính hiển vi hầu như là kỹ thuật duy nhất được sử dụng trong những nước đang phát triển, là những nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nhưng người ta ước tính rằng sự thăm khám bằng kính hiển chỉ cho phép phát hiện khoảng 50% các trường hợp bởi vì các trực khuẩn thương quá ít trong đờm ; nói chung đó là trường hợp đối với những bệnh nhân bị nhiễm đồng thời bởi virus của sida. Sự cấy in vitro những mẫu nghiệm đờm nhạy cảm hơn nhiều. Nhưng việc cấy này đòi hỏi nhiều cơ sở hạ tầng hơn, nhân viên được đào tạo, và nhiều tuần lễ để cho kết quả. Sau cùng, Xpert nhanh hơn, nhạy cảm hơn và sử dụng đơn giản hơn so với tất cả các trắc nghiệm PCR được phát triển cho đến nay. Xét nghiệm mới này sẽ được đánh giá trên thực địa trong vài tháng tới.
(LA RECHERCHE 11/2010)

8/ HỘI CHỨNG BURKITT.

Denis Burkitt sinh ở Bắc Ái Nhĩ Lan năm 1911. Cha ông, một kỹ sư cầu cống say mê ornithologie (khoa chim), gởi ông theo học trường theo đạo Tin Lành. Vào năm 11 tuổi, trên đường đến trường, Denis bị hỏng mất mắt phải sau một trận gây gỗ. Là học sinh trình độ trung bình, ông nghĩ là sẽ theo cùng con đường sự nghiệp như cha ông, nhưng các giáo sư của ông không tin rằng ông có khả năng như vậy. Dưới ảnh hưởng của người chú, là thầy thuốc và cũng là nhà truyền giáo ở Kenya, ông hướng về nghành y khoa và nhận được văn bằng vào năm 24 tuổi. Ông chuyên về ngoại khoa, với ý nghĩ đi hành nghề ở các nước thuộc địa, nhưng ông bị từ chối bởi vì ông quá già (trên 30 tuổi), bởi vì không có nhiệm sở trống hay bởi vì ông bị chột mắt ! Trên thực tế, sự nhiệt tâm tôn giáo của ông có lẽ chịu phần trách nhiệm. Quân đội thì không so đo đến thế và ông đi chinh chiến từ năm 1943 đến 1945, ở Kenya, Somalie và Ouganda. Nếu một người độc nhãn biết chiến đấu (ông được thăng cấp thiếu tá), thì ông cũng có khả năng ở lại châu Phi với tư cách quân y sĩ sau chiến thắng. Ông làm việc ở Ouganda trong những bệnh viện vùng thôn quê, được thiết đặt trong những điều kiện bấp bênh.

Với tư cách thầy thuốc ngoại khoa, ông thực hiện thường xuyên những phẫu thuật cắt cụt chi đối với chứng phù voi (éléphanthiasis) và xây dựng một xưởng nhỏ chế tạo các chân tay giả bằng plastique. Chính vào năm 1957 ông đã khám một cậu bé 5 tuổi mang một khối u ác tính to tướng vùng dưới hàm, mà trước đây chưa bao giờ được quan sát. Một cách tỉ mỉ, ông chụp hình và thực hiện một thủ thuật sinh thiết, phát hiện đó là một u bạch huyết (lymphome). Vài tuần sau, ông thấy một cô gái nhỏ bị cùng bệnh lý hiếm hoi này. Hai trường hợp hiếm xảy ra trong cùng một ngôi làng, đó không phải là một sự trùng hợp, Burkitt và các cộng sự viên sau đó đã đi 16.000 km để viếng thăm gần 60 bệnh viện ở châu Phi và xác lập sự phân bố địa lý của loại ung thư này, hoặc 10 độ mỗi bên đường xích đạo, trong những vùng ẩm ướt, điều này làm ông lầm tưởng rằng một loài muỗi nào đó là nguyên nhân gây nên bệnh này. Một năm sau, British Journal of Surgery công bố bài viết của ông mô tả khối u, nhưng chỉ vào năm 1961, trong lúc thảo luận với Michael Epstein, mà một lý thuyết về mối liên hệ virus được nhắm đến. Sau hai năm làm việc, Epstein phát hiện virus trong những mảnh mô. Virus Epstein-Barr sinh ra đời, theo sau là sự khám phá về trách nhiệm của virus này trong bệnh mononucléose infectieuse bénigne nơi những người trẻ mạnh khỏe, trong khi đó sự tiếp xúc mạnh và lặp lại với virus của những trẻ châu Phi bệnh hoạn (được liên kết với những kích thích nhiễm trùng khác), làm dễ sự ung thư hóa của các tế bào lympho. Virus đầu tiên gây ung thư cho người do đó được khám phá và ung thư được gọi là lymphome de Burkitt.

Burkitt cũng quan tâm đến điều trị những bệnh nhân này. Mãi cho đến khi đó, việc giải phẫu cắt bỏ là điều trị duy nhất, nhưng sau đó xảy ra nhiều tái phát. Burkitt đề nghị hóa học liệu pháp với méthotrexate và cyclophosphamide với những kết quả ngoạn mục. Về sau này, Burkitt khám phá tầm quan trọng của các chất sợi trong thức ăn (fibres alimentaires) cần cho sự hoạt động tốt của ruột của những người Phi Châu và ông tham gia chiến dịch vận động để thuyết phục Tây Phương rằng phải trở lại với rễ cây và rau xanh. Burkitt nhấn mạnh sự phòng ngừa và biến đổi thành ngữ “ phòng bệnh hơn chữa bệnh thành “ đặt một hàng rào ở trên cao của vách đá, hơn là cho đậu một xe cứu thương bên dưới ! ”. Ông cũng nói : “ Nước Mỹ là một quốc gia táo bón. Nếu anh đi ra phân nhỏ, thì anh phải có những bệnh viện lớn ! ” Hiểu ngầm, chế độ ăn uống kém (malbouffe) làm phát sinh bệnh béo phì, túi cùng (diverticuliare), động mạch vành, đái đường, sâu răng, trĩ, sỏi và mật. Ông viết nhiều sách trong đó cuốn cuối cùng năm 1979 “ Don’t Forget Fiber in Your Diet ”. Ông nhận nhiều khen thưởng quốc tế trong đó có một giải thưởng tương đương Nobel, Bower Award and Prize for Achievement in Science en 1992. Không ai ngạc nhiên hơn ông khi nhận được huy chương vàng và 373.000 dollar tiền mặt. Năm sau, ông qua đời trong căn hộ của ông ở Gloucester, hưởng thơ 82 tuổi.
(LE GENERALISTE 28/10/2010)

9/ BỆNH BÉO PHÌ NGHIÊM TRỌNG : ĐIỀU TRỊ MỚI BẰNG NỘI SOI.

GS Robert Benamouzig, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa thuộc bệnh viện Avicenne de Bobygny, giải thích những ưu điểm của phương pháp không phẫu thuật này.

Hỏi : Bắt đầu từ những tiêu chuẩn nào, ta nói là bị béo phì ?
GS Robert Benamouzig. Đó là một định nghĩa phổ quát tương ứng với chỉ số khối lượng cơ thể (IMC : indice de masse corporelle), được tính bằng cách chia trọng lượng (tính bằng kilo) với bình phương kích thước. Chỉ số của một trọng lượng trung bình nằm giữa 18 và 25. Giữa 25 và 30, được gọi là tăng thể trọng (surpoids). Trên 30, đó là chứng béo phì, và bắt đầu từ 35, chứng béo phì được gọi là bệnh lý (obésité mobide hay maladive). Bắt đầu từ 40, ta gọi là siêu béo phì (superobésité).

Hỏi : Tùy theo những loại béo phì khác nhau này, những điều trị là gì ?
GS Robert Benamouzig : Đối với những người bị tăng thể trọng (surpoids), giải pháp là chế độ ăn uống (régime), liên kết với một vệ sinh đời sống mới, trong đó một hoạt động vật lý đều đặn. Đối với chứng béo phì bệnh hoạn, với một IMC trên 35 (hay hơn 30 nếu như bệnh nhân có những bệnh liên kết như một cao huyết áp), ta bàn về một chiến lược can thiệp, thường nhất là ngoại khoa, luôn luôn được liên kết với chế độ ăn uống và vệ sinh đời sống mới. Đối với những trường hợp siêu béo phì, chỉ có ngoại khoa được dự kiến.

Hỏi : Những kết quả ta thu được với những phương pháp khác nhau này là gì ?
GS Robert Benamouzig : Chế độ ăn uống (régime) cho phép đa số những bệnh nhân tăng thể trọng mất trung bình và dài lâu, 4,5 hay 6 kilo. Vậy đó là một sự giảm cân khiêm tốn (nhưng có vài trường hợp sự gầy ốm quan trọng hơn). Đối với chứng béo phì bệnh lý, ngày nay giải phẫu được thực hiện nhiều nhất trong những trung tâm chuyên môn, nhằm lấy đi một phần lớn dạ dày để làm giảm thể tich và chức năng của nó. Nhờ thế, ta có được một sự giảm cân quan trọng. Đối với những người siêu béo phì, ta sử dụng một kỹ thuật được gọi là “ bypass ” (bắt cầu), với kỹ thuật này ta thiết lập một chiếc cầu giữa dạ dày (được làm hẹp lại bằng ngoại khoa) và đại tràng. Như thế ta tránh sự tiêu hóa hoàn toàn bằng đường ruột, điều này làm giảm số năng lượng được cung cấp bởi thức ăn (một người nặng 10 kilo khi đó có thể mất 20 kilo, hay hơn nữa trong vài tuần). Nhưng những kết quả của những động tác nặng nề này chỉ có được với cái giá của những nguy cơ biến chứng : nhiễm trùng, rò (fistules), v..v (5% các trường hợp).

Hỏi : Kỹ thuật mới thay thế ngoại khoa là gì ?
GS Robert Benamouzig : Kỹ thuật này chỉ được áp dụng đối với những trường hợp béo phì bệnh lý với IMC giữa 35 và 40 hay giữa 30 và 35 nếu có những bệnh liên kết. Sự can thiệp, dưới gây mê tổng quát, nhằm đưa vào, nhờ một ống nội soi (endoscope) (tuyau), một quả bóng được xếp lại như một chiếc dù trong dạ dày, quả bóng này, một khi được thiết đặt, được bơm phồng lên bằng khí và nước. Thể tích của quả bóng, do làm hẹp dạ dày lại, có một tác dụng lên các hormone điều hòa sự thèm ăn. Vì cảm giác no nê xảy ra nhanh hơn, nên bệnh nhân ăn ít hơn. Quả bóng được rút ra sau 6 tháng. Những tác dụng có lợi của nó, trong 2/3 các trường hợp, được duy trì một phần hay hoàn toàn. Với kỹ thuật mới này, ta mất cân khoảng 12 kg, trong vài tuần (tối đa 3 tháng).

Hỏi : Can thiệp nội soi này có gây nên những tác dụng phụ hay không ?
GS Robert Benamouzig :Trong hai hay ba ngày, bệnh nhân bị nôn và mửa (được làm giảm bớt nhờ điều trị). Sau đó tình hình bình thường trở lại.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào được thực hiện với phương thức mới nhất này ?
GS Robert Benamouzig : Nhiều ngàn người béo phì đã hưởng được phương pháp này, trong số đó 70 bệnh nhân của khoa chúng tôi ở bệnh viện Avicenne. Cho đến nay, tất cả các thử nghiệm đều cho những kết quả tốt. Sau khi rút quả bóng, 1/3 các bệnh nhân vẫn giữ những thói quen ăn uống tốt lành và duy trì thể trọng của họ, chỉ 1/3 lên cân trở lại vài kilo và 1/3 phục hồi trở lại thể trọng lúc ban đầu. Nơi hai loại bệnh nhân đầu tiên, người ta đã quan sát thấy các hormone tiếp tục điều hòa sự thèm ăn bởi vì vẫn ở nồng độ thấp. Sự theo dõi sẽ cho phép biết những kết quả này có tồn tại lâu dài hay không.

Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm của phương pháp nội soi này là gì ?
GS Robert Benamouzig :
  • Động tác ít xâm nhập hơn, như thế chịu đựng được tốt hơn.
  • Có ít nguy cơ bị biến chứng hơn.
  • Phương pháp vi xâm nhập có thể đảo ngược được.

(PARIS MATCH 28/10-3/1/2010)

10/ NGUY CƠ NHỒI MÁU CƠ TIM ĐƯỢC ĐỌC TRONG SỢI TÓC.

Và nếu như ta có thể tiên đoán được nguy cơ nhồi máu cơ tim bằng cách phân tích các sợi tóc của bệnh nhân ? Đó là điều được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu đã định lượng cortisol (hormone de stress) trong da đầu bằng phương pháp miễn dịch-men (méthode immuno-enzymatique). Các công trình đã được tiến hành trên 120 người khoảng 60 tuổi, trong số đó một nửa đã bị nhồi máu cơ tim. Mặc dầu tính đến những yếu tố nguy cơ khác, người ta chứng thực rằng nồng độ cortisol trong mao mạch tăng cao hơn trong trường hợp nhồi máu. Như thế sự phát hiện những người có nguy cơ bị tai biến tim do một stress mãn tính có thể dẫn đến những biện pháp phòng ngừa.
(SCIENCE ET AVENIR 11/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (9/11/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969