Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 90
Lượt truy cập: 1026985
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ LÀM SAO CHỐNG LẠI ANDROPAUSE ?

NHỮNG ĐIỂM MỐC

TÌNH DỤC (SEXUALITE). Andropause, phát xuất từ chữ Hy Lạp andros, có nghĩa là “ người đàn ông ”, và pausis, có nghĩa là “ ngừng ”, thường được biểu thị như là một ménopause của nam giới. Nhưng ở đàn ông andropause không xảy ra đột ngột, chỉ ảnh hưởng lên một thiểu số những người đàn ông (khoảng 2%) và không có nghĩa là sự ngừng khả năng sinh sản (fertilité). Chính vì vậy một vài thầy thuốc thích nói sự giảm năng bộ sinh dục (hypogonadisme). Andropause chỉ thật sự được nghiên cứu từ 20 năm nay.

CÁC TRIỆU CHỨNG. Andropause là một tập hợp các triệu chứng sinh lý và tâm lý đi kèm sự hạ nồng độ testostérone nơi người đàn ông đang già đi. Người ta ước tính rằng bắt đầu từ lứa tuổi 30, mỗi 10 năm nồng độ testostérone hạ 10%. Andropause thường xảy ra giữa 45 và 65 tuổi. Những triệu chứng thay đổi từ sự giảm dục tính (libido) ( “ thèm ” tình dục, appétit sexuel) đến những rối loạn cương (problèmes érectiles), một sự mệt mỏi thường xuyên và rõ rệt, một tình trạng thiếu trương lực cơ toàn bộ, một giấc ngủ có chất lượng xấu và một khả năng bị lên cân.

CHẨN ĐOÁN. Chẩn đoán được thực hiện bằng cách định lượng nồng độ trong máu của testostérone. Bây giờ người ta biết rằng dưới một ngưỡng nào đó, các triệu chứng của andropause có thể xuất hiện. Nhưng vài người phản ứng tốt hơn so với người khác sự hạ nồng độ testostérone này.

ĐIỀU TRỊ. Mặc dầu không có những công trình nghiên cứu đáng kể về tính hữu ích của testostérone, việc kê đơn testostérone đã gia tăng 400% trong vòng 10 năm ở Hoa kỳ. Nhiều công trình nghiên cứu đã được phát động để đánh giá tốt hơn tác dụng của testostérone ngoại tại này. Ở Pháp, người ta có thể lựa chọn giữa một mũi tiêm testostérone nhắc lại mỗi hai đến ba tuần hay những viên thuốc được uống mỗi ngày, nhất thiết trong bữa ăn. Cũng có những dạng khác nhưng khá tốn kém, như một patch phải được thay mỗi hai ngày hay một gel phải được đặt trên da mỗi ngày.


Được gây nên do sự hạ thấp của nồng độ testostérone, andropause có thể gây nên sự xuất hiện của những triệu chứng bất lực (symptomes incapacitants).

Biologie. “Andropause không thể so sánh với ménopause (mãn kinh), xảy ra nơi tất cả các phụ nữ. Mặc dầu phần lớn các người đàn ông có nồng độ testostérone giảm nhẹ khi càng lớn tuổi, nhưng không có sự gián đoạn đột ngột trong quá trình tiết hormone cũng như trong sự sản xuất các giao tử (gamète), do đó các người đàn ông vẫn có thể có khả năng sinh sản cho đến một lứa tuổi cao niên ”, GS Jacques Young, trưởng khoa nội tiết học và các bệnh sinh sản thuộc CHU de Bicêtre, Kremlin-Bicetre, đã nhắc lại như vậy.

Tuy vậy nhiều người đàn ông trên 50 tuổi than phiền có một cảm giác mệt mỏi, một tình trạng thiếu trương lực cơ, một sự giảm dục tình, một tình thần ủ rũ hay nhưng rối loạn cương. Nhưng những triệu chứng này không phải chỉ đặc biệt do nồng độ testostérone bị giảm.

Mặc dầu không có những công trình nghiên cứu đáng kể về tính hữu ích của testostérone, tuy vậy việc kê đơn testostérone đã gia tăng 400% trong vòng 10 năm ở Hoa kỳ, một tình hình đủ gây lo ngại khiến giới hữu trách y tế Hoa Kỳ phát động một công trình nghiên cứu độc lập quy mô lớn để đánh giá lợi ích của một điều trị như thế nơi người đàn ông lớn tuổi bị thiếu hormone nam (déficit androgénique).

Ở Châu Âu, các thầy thuốc vẫn thận trọng hơn và một công trình nghiên cứu được công bố vào mùa hè này trong tờ báo rất đúng đắn New England Journal of Medicine, lần đầu tiên đã xác lập vài cơ sở vững chắc về số những người đàn ông thật sự bị liên hệ bởi vấn đề này. Thật vậy nhóm của giáo sư Frederic Wu, thuộc đại học Manchester, đã tính toán rằng sự thiếu hụt hormone nam liên quan đến tuổi tác cuối cùng là khá hiếm hoi vì lẽ nó chỉ ảnh hưởng dưới 2% dân số được khảo sát, hoặc 3369 người đàn ông tuổi từ 40 đến 79 tuổi, trong 8 trung tâm châu Âu.

3 TRIỆU CHỨNG SINH DỤC.

Vấn đề andropause thường được đề cập đến bởi những người đàn ông phàn nàn bị những rối loạn thuộc loại tình dục. “ Phải nhớ rằng, mặc dầu dục tính (libido) được bảo tồn, nhưng rối loạn cương không liên hệ với testostérone, những rối loạn này phần lớn có nguồn gốc mạch máu ”, GS Jacques Young đã chỉ rõ như vậy. Thật vậy theo những công trình nghiên cứu của GS Wu, andropause được định nghĩa như là sự kết hợp của ít nhất 3 triệu chứng tình dục : tần số cương cứng vào buổi sáng và những ý nghĩ tình dục (pensée sexuelle) bị giảm và sự hiện diện của loạn năng tình dục (dysfonction sexuelle) và một nồng độ testotérone toàn bộ dưới 3,2 ng/ml.

Những tiêu chuẩn này bổ sung những chỉ định hiện nay về thái độ xử trí khi đứng truớc một sự thiếu hụt hormone nam, đã từng là đối tượng của một sự nhất trí quốc tế năm 2009. Sau đợt định lượng đầu tiên testotérone toàn thể trong máu dưới 3 ng/ml, một xét nghiệm máu lần thứ hai cho phép xác nhận sự giảm hormone và kiểm tra rằng nó không có nguồn gốc bệnh lý. Vị thầy thuốc cũng đảm bảo sự vắng mặt của ung thư tuyến tiền liệt.

Một khi chẩn đoán được xác định, nhiều loại điều trị khác nhau có thể được đề nghị : tiêm lập lại mỗi hai đến ba tuần hay uống các viên thuốc mỗi ngày, nhất thiết trong một bữa ăn. Những dạng thuốc khác, khá tốn kém đã xuất hiện gần đây hơn : một patch phải được thay mỗi hai ngày, một gel phải được đặt lên da mỗi ngày và dạng thuốc tiêm tác dụng chậm, phải được tiêm nhắc lại mỗi 3 tháng.

Một thăm khám theo dõi đầu tiên được thực hiện sau 3 tháng, với một điều tra phát hiện mới ung thư tuyến tiền liệt và một bilan chuyển hóa. “ Việc theo dõi phải đều đặn bởi vì, mặc dầu không có công trình nghiên cứu cho thấy rằng testostérone gây nên ung thư tuyến tiền liệt, nhưng người ta biết rằng, nếu một ung thư hiện diện, sự phát triển của nó gia tăng khi có sự hiện diện của testostérone ”, GS Pierre Costa, trưởng khoa tiết niệu và andrologie của bệnh viện Caremeau de Nimes, đã nhắc lại như vậy. Những thăm khám này được lặp lại sau 6 tháng rồi mỗi năm. Việc theo dõi cũng cho phép kiểm tra tính hiệu quả của điều trị : nếu bệnh nhân thấy các triệu chứng của mình được cải thiện, đó là điều ông ta cần đến, nếu không không cần thiết phải tiếp tục điều trị. “ Điều quan trọng cần phải nhấn mạnh là khi người ta đứng trước một sự thiếu hụt testostérone thật sự, sự cho bổ sung cho phép những người đàn ông hồi sinh ”, GS Hervé Lejeune, trưởng khoa y khoa sinh sản thuộc bệnh viện Femme-Mère-Enfant de Bron, đã nhắc lại như vậy.

Vậy mặc dầu andropause không thể so sánh được với ménopause, các công trình nghiên cứu đang được tiến hành sẽ phải đánh giá những nguy cơ do việc sử dụng hormone thay thế lâu dài. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu này không trả lời những câu hỏi tổng quát hơn mà khuynh hướng y tế hóa của lão hóa (médicalisation du viellissement) hiện nay đặt ra.
(LE FIGARO 8/11/2010)

2/ CUỘC CÁCH MẠNG CỦA CÁC VIÊN THUỐC GÂY CƯƠNG (PILULE DE L’ERECTION).

“ Sự cương (l’érection) là một người lính canh (sentinelle) của sức khỏe tim mạch, GS François Giuliano, thầy thuốc chuyên khoa niệu học thuộc bệnh viện Raymond-Poincaré (Garches) đã xác nhận như vậy. Một cách tổng quát, khi một người đàn ông trên 50 tuổi thấy xuất hiện một vấn đề về cơ chế cương, thì đó là một bệnh tim mạch, cho đến khi có bằng cớ ngược lại.”

Vậy đó là một bệnh rất thường xảy ra và hiện nay cứ 3 người đàn ông trên 55 tuổi thì có một bị loạn năng cương (dysfonction érectile). Những yếu tố nguy cơ (bệnh béo phì, chứng nghiện thuốc lá, sự nhàn rỗi không hoạt động) cũng thường thấy và những người đàn ông bị cao huyết áp, loạn lipide-huyết (dyslipidémie), bệnh động mạch vành, bệnh đái đường, phần lớn bị loạn năng cương. “ Một người đàn ông già đi và thấy xuất hiện những triệu chứng của loạn năng cương phải đi khám bệnh, mặc dầu ông ta không kêu ca gì cả, bởi vì loạn năng cương có thể là triệu chứng của một chứng bệnh khác ”, GS Giuliano đã chỉ rõ như vậy.

SỨC KHOẺ TIM MẠCH.

Vậy trước khi quyết định mọi điều trị của chứng loạn năng cương, cần phải điểm tình hình về sức khỏe tim mạch. Ngoài ra, người ta đã xác lập rằng, đối với loại bệnh nhân bị những yếu tố nguy cơ tim mạch, sự xuất hiện một loạn năng cương trong thời gian 7 đến 8 năm là một yếu tố nguy cơ cao của tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim và chết đột ngột. Hiện nay, cứ hai người đàn ông được theo dõi bởi thầy thuốc chuyên khoa tim thì có một bị một vấn đề về cương và chỉ cần thay đổi vệ sinh đời sống liên hệ với sự phòng ngừa nguy cơ tim mạch đôi khi có thể cho phép cải thiện một cách ngẫu nhiên chức năng cương (fonction érectile).

Mặc dầu từ lâu đã có những loại điều trị thỏa mãn đối với chứng loạn năng cương, nhưng sự xuất hiện những điều trị bằng đường miệng vào năm 1998 đã là một cuộc cách mạng thật sự. “ Lần đầu tiên, với một điều trị đơn giản và an toàn, người ta đã mang lại cho những người đàn ông lớn tuổi khả năng tình dục với khả năng đưa dương vật vào ”, GS Giuliano đã nhấn mạnh như vậy. Ông muốn nói rõ rằng có thể có một tình dục hài hòa mà không cần phải đưa vào dương vật. Vậy không phải tất cả các người đàn ông đều phàn nàn về những rối loạn cương và những loại thuốc này chỉ được cho trước một rối loạn được thể hiện.

Loạn năng cương (dysfonction érectile) được định nghĩa là sự mất khả năng tái diễn hay thương trực, trong thời gian ít nhất 3 tháng, có được, lúc được kích thích tình dục, một sự cương cứng cho phép một giao hợp với dương vật được đưa vào một cách thỏa mãn. Tất cả các thuốc uống được sử dụng hiện nay là những thuốc có tác dụng tim mạch nhằm ngăn ngừa hậu quả của một sự khiếm khuyết chức năng của các tế bào biểu mô của các huyết quản dương vật. Những loại thuốc này không được kê đơn cho những bệnh nhân không có khả năng thực hiện một cố gắng vật lý tương ứng với động tác giao hợp với dương vật được đưa vào và không được cấp cho những bệnh nhân đang nhận một điều trị mà chất cơ bản là những dẫn xuất nitré.

Những loại thuốc này là những chất làm dễ sự cương cứng và cho phép, qua một sự kích thích tình dục, mang trở lại một sự cương thỏa mãn cho 2/3 các bệnh nhân. “ Bất lợi duy nhất hiện nay của những thứ thuốc này là giá cả, vì lẽ không một loại thuốc nào trong số những loại này được bồi hoàn bởi hãng bảo hiểm và rằng nhiều bệnh nhân từ chối sử dụng vì lý do này ”, GS Giuliano đã lấy làm tiếc vậy .

Đối với những bệnh nhân này hay đối với những bệnh nhân không đáp ứng với những loại thuốc này, cần phải nhờ đến những điều trị xưa hơn, như những mũi tiêm vào trong dương vật hay sử dụng một bơm dương vật (pomme pénienne). Nếu như những điều trị này thất bại, có thể đặt một dương vật giả (prothèse pénienne). Những điều trị này ít thuận lợi hơn cho một dục tính tự nhiên và những thử nghiệm đang được tiến hành, đặc biệt bởi nhóm của GS Giuliano, để phát triển những điều trị bằng thuốc uống đối với những bệnh nhân không đáp ứng với những điều trị hiện nay.
(LE FIGARO 8/11/2010)

3/ MỘT XÉT NGHIỆM HỨA HẸN PHÁT HIỆN NGUY CƠ TIỀN SẢN GIẬT.

Một xét nghiệm máu có thể cho phép nhận diện những phụ nữ có thai có nguy cơ tiền sản giật, một dạng cao huyết áp có khả năng gây chết người, xuất hiện trong 5% các trường hợp thai nghén. Đó là điều mà các nhà nghiên cứu thuộc đại học Cork (Ireland) hy vọng. Các nhà nghiên cứu này đã phân tích máu của 60 phụ nữ có thai có biến chứng tiền sản giật. Họ đã nhận diện 14 hợp chất trong máu, chỉ hiện diên nơi những phụ nữ này và có thể phát hiện ngay tuần lễ thứ 15 của thời kỳ thai nghén, ngay trước khi xuất hiện các triệu chứng. Xét nghiệm tiên đoán này, có thể được thương mãi hóa từ nay đến 5 năm nữa, có mức độ đáng tin cậy trong 90% các trường hợp. Nhưng những hợp chất này cũng sẽ phải giúp hiểu tốt hơn những cơ chế của tiền sản giật, với hy vọng tìm ra một điều trị.
(SCIENCE ET VIE 11/2010)

4/ ĐẬU NÀNH CHỐNG LẠI NHỮNG RỐI LOẠN GIẤC NGỦ GÂY NÊN BỞI THỜI KỲ MÃN KINH.

Các chất Isoflavone của đậu nành làm giảm những rối loạn giấc ngủ gây nên bởi thời kỳ mãn kinh. Kết luận này, được rút ra từ một công trình nghiên cứu của Brésil, đã được công bố trong “ Menopause : the journal of the North American menopause society ”. Theo công trình nghiên cứu này, những phụ nữ, vốn đã tiêu thụ các chất isoflavone của đậu nành trong 4 tháng, đã ít bị những rối loạn giấc ngủ hơn so với những phụ nữ đã nhận một placebo.

Trong khi những công trình nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng các isoflavone (các thành phần thực vật tự nhiên) có thể góp phần làm giảm một vài tình trạng âu lo do thời kỳ mãn kinh, như các đợt phừng mặt (bouffées de chaleur), nhưng chưa có một nghiên cứu nào được thực hiện về ảnh hưởng của isoflavone lên những rối loạn của giấc ngủ. Những rối loạn này tuy vậy ảnh hưởng lên 28 đến 63% các phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh. Ngoài những vấn đề khác ra, các phụ nữ mãn kinh kêu van số giờ ngủ của họ bị giảm, khó ngủ và một giấc ngủ bị gián đoạn. Những phụ nữ này thường ngủ ít tốt hơn trong thời kỳ mãn kinh so với trước thời kỳ này.

Tổng cộng, 38 phụ nữ mãn kinh tuổi từ 50 đến 65 đã tham gia vào công trình nghiên cứu của Brésil. Một nửa trong số những phụ nữ này đã tiêu thụ 80mg isoflavone đậu nành mỗi ngày, trong khi những phụ nữ khác đã nhận một placebo (không có hoạt chất). Vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu và sau 4 tháng, các người tham gia đã được mời nêu lên những đặc điểm của giấc ngủ của họ qua một bảng câu hỏi.

Các phụ nữ, đã tiêu thụ các isoflavone, đã bị những vấn đề về giấc ngủ ít hơn nhiều so với những phụ nữ đã nhận placebo. Trước khi bắt đầu công trình nghiên cứu, 90% các phụ nữ của nhóm “ isoflavones ” bị những rối loạn về giấc ngủ. Sau 4 tháng, tỷ lệ này sụt xuống còn 37%. Những người tham gia đã báo cáo những vấn đề về giấc ngủ ít hơn và một phân tích khách quan đã xác nhận sự kiện này. Trong nhóm “ placebo ”, tỷ lệ các phụ nữ gặp phải những vấn đề về giấc ngủ đã chuyển từ 95% xuống 63%.

Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng isoflavone đậu nành có thể giúp điều trị những rối loạn về giấc ngủ trong thời kỳ mãn kinh nhưng họ cũng công nhận rằng những công trình nghiên cứu khác là cần thiết để xác nhận những kết quả này.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/11/2010)

5/ ALZHEIMER : VAI TRÒ CỦA MỘT PROTEINE ĐƯỢC XÁC NHẬN.

Người ta đã biết vai trò trung tâm của nó trong bệnh Alzheimer, nhưng không một ai cho đến nay đã có thể xác lập chức năng tế bào của protéine APP. Từ nay đó là điều đã được thực hiện, theo những nhà nghiên cứu Úc đại Lợi, mà những công trình vừa được công bố trong tạp chí Cell : protéine của màng tế bào này cho phép các neurone loại bỏ sắt thặng dư của chúng. Thế mà ta biết, từ khi những mô tả đầu tiên của Alois Alzheimer vào năm 1906, rằng những chất lắng amyloide độc cho não bộ là do một mảnh vỡ của protéine APP. Trước hết chúng được biểu hiện trong thùy hải mã (hippocampe), vùng chủ chốt để ghi nhớ và xác định vị trí trong không gian, hai chức năng đầu tiên bị ảnh hưởng trong bệnh Alzheimer.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2010)

6/ SINH SẢN NAM GIỚI : NGUY CƠ CỦA CÁC THUỐC GIẢM ĐAU TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN.

Vài loại thuốc, như aspirine hay ibuprofène, được sử dụng bởi một phụ nữ có thai, ảnh hưởng lên khả năng sinh sản của đứa bé sẽ sinh ra đời.

PROCREATION. Từ nhiều năm nay, một sự hạ thấp của các tinh trùng được phát hiện trong vài nước, đặc biệt là ở Phần Lan, nhưng cũng xảy ra trong vài thành phố của Pháp, đặc biệt là ở Paris. Một số hơi cao hơn các dị dạng sinh dục (malformations génitales) như tinh hoàn ẩn (cryptorchidie) (tinh hoàn không đi xuống bìu dái của cháu trai, toàn bộ hay một phần) cũng đã được mô tả khắp nơi trong những nước công nghiệp hóa. Sau cùng, ung thư tinh hoàn gia tăng trong các vùng nói trên. Nguyên nhân chính xác của những hiện tượng này vẫn không được biết đến. Hôm nay tạp chí Human reproduction công bố những kết quả của những công trình, được thực hiện ở Đan mạch, Phần lan và Pháp, cho phép nghi ngờ vai trò của các thuốc giảm đau được sử dụng bởi bà mẹ trong thời kỳ thai nghén.

Như thế, theo những nghiên cứu này, sự việc đã sử dụng aspirine hay ibuprofène trong hơn hai tuần trong tam cá nguyệt thứ nhất hay thứ hai của thai kỳ, đã làm gia tăng gấp hai nguy cơ sinh ra đời một đứa bé trai bị chứng tinh hoàn ẩn (cryptorchidie). Cùng khuynh hướng được quan sát với paracétamol. Và đối với những bà mẹ tương lai đã sử dụng cùng lúc, trong hơn 15 ngày, hai loại thuốc giảm đau, nguy cơ có một đứa bé trai bị bệnh tinh hoàn ẩn 22 lần cao hơn nguy cơ của những phụ nữ không sử dụng gì hết. Thế mà, người ta biết rằng bệnh tinh hoàn ẩn là một yếu tố nguy cơ đồng thời của chứng vô sinh nam giới (infertilité masculine) và của ung thư tinh hoàn.

Trong những năm 1980, các nhà nghiên cứu vốn đã nghi ngờ những thuốc giảm đau này dùng nơi động vật đực gây nên những rối loạn sinh sản. Nhưng đã phải đợi công trình nghiên cứu được công bố hôm nay để có được những dữ kiện chính xác hơn nơi người. Công trình nghiên cứu này được thực hiện trên hơn 400 phụ nữ có thai người Đan Mạch, đã chấp nhận trả lời một bảng câu hỏi về các thói quen trong cuộc sống và nhất là việc sử dụng các thuốc giảm đau. Sau khi sinh, các trẻ em giới tính nam, được sinh ra từ những phụ nữ này, đã được thăm khám để đặc biệt tìm kiếm một bệnh tinh hoàn ẩn. Chính như vậy mà các tác giả của công trình nghiên cứu lần đầu tiên đã có thể nhận thức rằng các đứa trẻ của những phụ nữ vốn đã dùng một hay nhiều trong số 3 thuốc giảm đau được khảo sát, trong hơn 15 ngày, suốt trong 6 tháng đầu của thai nghén, có nguy cơ gia tăng một cách đáng kể bị chứng tinh hoàn ẩn.

Để hiểu hiện tượng này, các thầy thuốc Đan Mạch và Phần lan đã tiếp xúc Bernard Jégou, giám đốc nghiên cứu ở Inserm đơn vị 625 và ở đại học Rennes-I và chuyên gia quốc tế về những vấn đề môi trường và khả năng sinh sản nam giới. Nhà chuyên môn này khảo sát các canh cấy tế bào tinh hoàn của phôi thai chuột, nhằm trắc nghiệm các loại thuốc hay phân tử hóa học và đánh giá tác dụng của chúng lên chức năng sinh sản của phôi thai. Như thế trên mô hình chuột này ông đã có thể phát hiện một sự giảm tiết testostérone (kích thích tố nam) của những tế bào tinh hoàn phôi thai trước sự hiện diện của các thuốc giảm đau này (paracétamol, ibuprofène hay aspirine).

Sau hết, các nhà nghiên cứu Đan mạch đã tiến hành một thí nghiệm thứ ba. Họ đã cho các con chuột cái mang thai một trong những thuốc giảm đau này với liều lượng lớn. Và sau đó họ cũng đã có thể quan sát thấy trong hậu duệ nam vài bất thường thể hiện một sự nhạy cảm ít hơn đối với testostérone. “ Những công trình nghiên cứu này là những dấu hiệu chỉ rõ rằng phải đặc biệt chú ý đến việc sử dụng các thuốc giảm đau trong thời kỳ thai nghén. Tuy nhiên vẫn phải thận trọng : chúng tôi phát hiện một sự liên kết chứ không phải là một mối liên hệ nhân quả, Bernard Jégou, đồng tác giả của bài báo được đăng tải trong Human Reproduction đã giải thích như vậy. Nhưng những lý lẽ gián tiếp khác cũng đi theo chiều hướng này. Chính ở Đan mạch là nơi sự tiêu thụ cao nhất paracétamol được quan sát và cũng chính là nước có tỷ lệ tinh hoàn ẩn cao nhất. Hôm nay, những tín hiệu này chỉ cho chúng ta rằng phải tiến hành những nghiên cứu dịch tễ và thí nghiệm mới.” Kể từ nay chính giới hữu trách y tế có trách nhiệm tuyên bố về tính thích đáng trong việc hạn chế sử dụng các thuốc giảm đau trong thời kỳ thai nghén.
(LE FIGARO 9/11/2010)


7/ BỆNH HƯ KHỚP : SỤN CỦA MỘT KHỚP XƯƠNG ĐƯỢC TÁI SINH IN VIVO.

Hỏi : Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã thành công sửa chữa các khớp xương hoàn toàn bị phá hủy nơi chuột. Như thế nào ?
Didier Hannouche : Họ đã lấy đi toàn bộ bề mặt của một khớp xương của cẳng trước nơi 10 con thỏ khỏe mạnh. Rồi họ đã ghép thay thế một vật liệu bằng polymère biodégradable có cùng hình dáng với khớp và được tẩm bởi một yếu tố tăng trưởng, TGFbeta3. Sau đó yếu tố này đã cho phép quá trình chiêu mộ (recrutement) và biệt hóa (différenciation) thành những tế bào sụn từ các tế bào gốc, đặc biệt là của tủy xương. Kết quả : sau một tháng sụn được tái sinh ở bề mặt của khớp, và sau hai tháng, các động vật có thể di chuyển bình thường và vật liệu đã biến mất đi một phần. Đây là lần đầu tiên người ta cho thấy, ở một quy mô gần với lâm sàng, rằng sự tái sinh in vivo (regénération in vivo) của toàn bộ của một mặt khớp là có thể thực hiện được. Thật vậy, sụn là một mô lành sẹo một cách rất khó khăn.

Hỏi : Tuy vậy ta đã biết sửa chữa mô sụn.
Didier Hannouche : Vâng, nhưng những kỹ thuật hiện nay chỉ cho phép sửa chữa mô sụn nơi người nếu thương tổn ít lan rộng như trong trường hợp sau chấn thương. Hoặc người ta lấy một miếng sụn không bị thương tổn ở ngoại biên của khớp và người ta ghép vào nơi thương tổn, hoặc người ta chế tạo sụn in vitro từ những tế bào sụn được lấy nơi bệnh nhân và người ta ghép vào lại trong khớp.

Hỏi : Ưu điểm của kỹ thuật mới này là gì đối với những người bị bệnh hư khớp ?
Didier Hannouche : Hư khớp (arthrose) là một bệnh thoái hóa của khớp, có thể gây nên những thương tổn có kích thước lớn của sụn. Trong trường hợp này, ta thay thế toàn bộ khớp bằng một khớp giả (prothèse articulaire), thường bằng kim loại hay céramique. Thế mà khớp giả này bị hao mòn với thời gian và phải được thay thế sau 10 hay 15 năm. Hy vọng của phương pháp mới này là sự sửa chữa sẽ vĩnh viễn : chính những tế bào của chính bệnh nhân cho phép sửa chữa, vậy chúng tạo nên những liên kết chắc chắn hơn trong khớp. Thị trường là quan trọng : bệnh hư khớp ảnh hưởng lên một nửa của dân số thế giới trên 65 tuổi.

Hỏi : Những vấn đề cần phải giải quyết trước khi áp dụng lên người ?
Didier Hannouche : Còn cần phải mang lại nhiều hơn những bằng cớ về các chất lượng chức năng của sụn mới được tạo thành và đảm bảo rằng sụn này không bị thoái hóa với thời gian. Ngoài ra, phải xác minh rằng việc lựa chọn yếu tố tăng trưởng là tối ưu và không có nguy cơ với liều lượng được sử dụng nhưng cũng cần xác minh rằng vật liệu được sử dụng để làm mọc sụn được phóng thích tại chỗ một cách dần dần. Còn sẽ phải trắc nghiệm phương pháp này nơi một động vật có kích thước lớn hơn. Vậy việc sử dụng nơi người chỉ có thể được dự kiến không trước 10 năm, nhưng đó là một viễn ảnh rất quyến rũ.
(LA RECHERCHE 10/2010)

8/ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CÁC ĐIỀU TRỊ MỚI.

GS Dominique Valade, trưởng khoa cấp cứu đau đầu của bệnh viện Lariboisière giải thích cách tác dụng của các phương pháp mới đây nhằm điều trị các bệnh thiên đầu thống cấp và mãn tính.

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những loại thiên đầu thống khác nhau ?
GS Dominique Valade. Đó là một căn bệnh rất thường xảy ra : ở Pháp, 10 triệu người mắc phải chứng bệnh này ! Trước hết phải phân chia bệnh thiên đầu thống xảy ra từng đợt (migraine épisodique) với bệnh thiên đầu thống mãn tính (migraine chronique). Trong loại đầu (trung bình dưới 15 cơn mỗi tháng), đi trước các triệu chứng đau đầu là những triệu chứng thần kinh như các rối loạn thị giác, cảm giác, ngôn ngữ…và trong trường hợp cực kỳ, một bại liệt bán thân gây nên nhưng rối loạn vận động. Khi đó người ta nói “ bệnh thiên đầu thống với tiền triệu ” (migraine avec aura), ảnh hưởng lên 15% các bệnh nhân. Nhưng trong đa số các trường hợp (70%), các cơn được giới hạn vào triệu chứng đau đầu, xảy ra mà không có một dấu hiệu báo trước nào. Trong loại thứ hai, loại của các chứng thiên đầu thống mãn tính (15% các trường hợp), người bệnh chịu hơn 15 cơn mỗi tháng (trong số đó vài cơn được liên kết với một sự lạm dụng các thuốc chống thiên đầu thống hay những thuốc giảm đau vốn đã gây nên một sự phụ thuộc).

Hỏi : Có những người bị tố bẩm với bệnh này hay không ?
GS Dominique Valade. Đó là một bệnh di truyền. Một khám phá mới đây đã cho phép phân lập một gène chịu trách nhiệm trên nhiễm sắc thể 8.

Hỏi : Hiện nay, điều trị cổ điển của các bệnh thiên đầu thống này là gì ?
GS Dominique Valade. Có hai loại : điều trị các cơn cấp tính và điều trị duy trì được thực hiện dài lâu. Điều trị cơn cấp tính dựa trên các triptan, các loại thuốc có ưu điểm làm giảm quá trình viêm nơi các huyết quản của vỏ bọc của não bộ nhưng có bất lợi là gây nên co thắt các huyết quản này. Các triptan có thể được cho liên kết với một thuốc chống viêm. Điều trị duy trì (mục đích làm giảm các cơn), tùy theo các trường hợp, bao gồm một trong 4 loại dược phẩm lớn : bêtabloquant, antisérotoninergique, các thuốc chống trầm cảm, các thuốc chống co giật.. Các triptans làm giảm đau nhưng bị chống chỉ định trong các trường hợp cao huyết áp hay có tiền sử bệnh huyết quản. Các thuốc chống viêm cũng làm dịu cơn thiên đầu thống nhưng trong vài trường hợp có nguy cơ gây nên một loét hay chảy máu dạ dày. Các bêtabloquant bị chống chỉ định nơi những bệnh nhân hen phế quản và có thể gây nên nhưng rối loạn giấc ngủ, khó thở, thậm chí một tình trạng bất lực nơi đàn ông. Các thuốc chống trầm cảm làm lên cân. Ngược lại các thuốc chống động kinh có nguy cơ gây nên sự gầy ốm.

Hỏi : Đối với những cơn cấp tính, phương pháp điều trị mới là gì ?
GS Dominique Valade. Đối với những đợt cấp tính của bệnh thiên đầu thông (có hay không có tiền triệu), một họ mới các loại thuốc, các gépan, đã tỏ ra cũng có hiệu quả lên sự đau đớn như các triptan, nhưng lần này không có tác dụng có hại lên các huyết quản. Các công trình nghiên cứu quốc tế trên nhiều ngàn bệnh nhân thiên đầu thống đã dẫn đến những kết quả rất có lợi và nói chung một sự dung nạp thuốc tốt. Ở Pháp, các gépan sẽ có mặt trên thị trường trong một năm nữa. Vẫn trong điều trị các con, những loại thuốc khác, 5HT1F đã là đối tượng của những công trình nghiên cứu trên khoảng 1000 bệnh nhân. Lại nữa, người ta đã chứng thực một sự hiệu quả lên cơn đau nhưng không có tác dụng lên các huyết quản.

Hỏi : Về các điều trị duy trì, tiến bộ đạt được là gì ?
GS Dominique Valade. Hai phương pháp điều trị chủ yếu nhằm vào những bệnh nhân bị chứng thiên đầu thống mãn tính (hơn 15 cơn mỗi tháng). Phương pháp đầu tiên nhằm, với một buổi tại bệnh viện, thực hiện 17 mũi tiêm Botox trong da trên 17 vị trí của sọ. Mục đích của điều trị này (chỉ được thực hiện bởi một thầy thuốc chuyên khoa thần kinh) là làm giảm số các cơn để bệnh nhân đi từ giai đoạn thiên đầu thống mãn tính sang giai đoạn cơn thiên đầu thống. Người ta cho rằng Botox tác dụng bằng cách làm giảm sự nhạy cảm của hệ thần kinh ngoại biên. Hai công trình nghiên cứu quốc tế lớn, trên hơn 2000 bệnh nhân, đã cho phép quan sát mục đích tìm kiếm sau một thời gian nhìn lại 4 năm. Không có một tác dụng phụ nào đã được chứng thực. Phương pháp thứ hai, bằng oxy liệu pháp, có liên hệ đến những đau đầu liên kết với một sự lạm dụng thuốc. Một công trình nghiên cứu đang được tiến hành.
(PARIS MATCH 4/11-10/11/2010)

9/ VALVULE DE BAUHIN

Gaspard hay Caspar, sinh năm 1560, là Bauhin nổi tiếng nhất của một gia đình giàu có gồm 6 thế hệ thầy thuốc và các nhà khoa học. Lịch sử nhớ đến ông nhưng cũng nhớ đến người anh cả Jean, thầy thuốc và nhà thực vật, và người cha của họ, cũng có tên là Jean, thầy thuốc người Pháp theo đạo Tin Lành, thầy thuốc ngoại khoa của thành phố Amiens, phải qua Thụy Sĩ để tị nạn vì những ngược đãi tôn giáo. Hai Jean (ông anh lớn hơn 20 tuổi) mang lại cho ông sự ham thích môn cơ thể học và thực vật học. Chỉ mới 12 tuổi, Gaspard Bauhin vào Đại học Bâle để bồi dưỡng những kến thức về khoa học và triết học của mình. Khi ông bảo vệ trường hợp y khoa đầu tiên Gaspard chỉ mới được 17 tuổi. Sau đó ông theo học cơ thể học ở Padoue (Ý) và tham gia những buổi phẫu tích tư nhân. Ông đi du lịch khắp nước Ý trước khi trở lại Montpellier rồi Paris, ở đây ông tự hào là phụ tá của giáo sư cơ thể học Séverin Pineau trong những công trình giải phẫu tử thi. Ông trở lại Bâle lúc 21 tuổi, theo lời yêu cầu khẩn cấp của Collège des médecins. Vừa mới đến, ông điều khiển cuộc phẫu tích một “ người nam giới ” trước sự hiện diện của 70 khán giả. Cuộc biểu diễn kéo dài 5 ngày và càng đáng chú ý khi một cảnh tượng như vậy đã không còn được thấy nữa từ 10 năm qua. Tuy vậy ông chưa bảo vệ luận án “de dolore colico ” (la colique : cơn đau bụng) cũng chưa có được văn bằng, điều này sẽ được thực hiện vài tháng sau. Ông tức thời được bổ nhiệm vào đại học y khoa và giảng dạy môn cơ thể học và thực vật học và tiếng Hy Lạp ! Ông được bổ nhiệm 4 lần làm viện trưởng đại học và 9 lần làm khoa trưởng đại học y khoa. Luôn luôn say mê thực vật, ông đưa sinh viên đi tham quan qua những cuộc thám hiểm thực vật mùa hè. Dưới sự thúc đẩy của ông, một nơi thường trực dành cho những cuộc biểu diễn cơ thể học được thành lập, cũng như một khu vườn dành cho những loài thực vật hiếm. Sự nổi tiếng của ông khiến ông trở nên thầy thuốc riêng của công tước Friedrich de Wurtemberg. Mặc dầu Bauhin đã không mang lại sự cống hiến quan trọng nào cho cơ thể học, nhưng ông có công đã cải thiện phần lớn danh pháp (nomenclature), nhất là tên gọi của các cơ. Ông cũng là người đầu tiên mô tả van hồi-manh tràng (valvule iléo-caecale) mang tên ông (valvule de Bauhin). Trong những tác phẩm của mình, ông kể lại, vào năm 19 tuổi, ông đã khám phá van hồi-manh tràng như thế nào, vào lúc những cuộc phẫu tích tư nhân ở Paris. Ông cũng để lại “ glande de Bauhin ”, cấu tạo nhỏ tiết chất nhớt được gắn sâu vào đỉnh lưỡi. Tác phẩm “ Theatrum anatomicum ” đã trở thành bản văn nổi tiếng, có hệ thống, được dẫn giải một cách thích thú và đổi mới mà không gây quá nhiều tranh cãi. Ông nêu lên những bất thường cơ thể học ít được biết đến cũng như những dữ kiện bệnh lý. Chính Bauhin đặt tên “ aréole ” (quầng) cho vùng sắc tố chung quanh núm vú. Ông quan tâm nghệ thuật nha khoa, được ảnh hưởng bởi những tác phẩm của Galen và Aristote, và, dĩ nhiên, để lại nhiều tác phẩm về thực vật. Cũng trong lãnh vực này ông là người tiền phong về xếp loại. Tác phẩm “ Pinax theatri boanica ”, được xuất bản một năm sau khi ông qua đời, mô tả 6000 thứ (variété) thực vật. Lần đầu tiên, ông chọn thực vật không phải theo thứ tự chữ cái mà theo các chi (genre) rồi theo các loài (espèce). Công trình của ông được cải thiện bởi Charles Plumier sau khi ông mất, đặt tên Bauhinia cho một họ những cây nhiệt đới. Về sau nữa, để tỏ lòng tôn kính Jean và Gaspard Bauhin, một trong các loài thực vật được gọi là Bauhinia “ bijuga” (để chỉ hai anh em). Cuộc đời riêng của ông không phải là kém phần phong phú. Cưới vợ ba lần, ông có 3 người con gái và một người con trai (lại còn được gọi là Jean), nối nghiệp ông với tư cách giáo sư cơ thể học và thực vật học rồi y khoa. Gaspard Bauhin, nhà thông thái quả là độc đáo, đã ảnh hưởng lên khoa học trong hơn một thế kỷ, nhờ phương cách ngăn nắp và có phương pháp trong việc xử lý những chủ đề, nhờ tư duy trong sáng và lòng nhiệt thành không mệt mỏi của ông. Nhà cơ thể học nổi tiếng William Harvey đã nói về con người trầm tỉnh và dè dặt này : “ Đó là một người khéo léo và hiếm có ”. Ông mất vào tháng 12 năm 624 ở Bâle lúc 64 tuổi.
(LE GENERALISTE 12/11/2010)

10/ GÈNE CỦA BỆNH CẬN THỊ ĐÃ ĐƯỢC NHẬN DIỆN.

Bệnh cận thị là một khuyết tật “ gia đình ”. Nhưng mãi cho đến nay, gène của bệnh cận thị vẫn không được biết đến.Trong khi khảo sát hơn 4000 trẻ sinh đôi, các nhà nghiên cứu của King’s College (Luân Đôn) đã nhận thấy rằng vài biến thể của gène RASGRF1, được biểu hiện trong những tế bào của võng mạc, được liên kết với chứng cận thị thông thường. Các đồng nghiệp của họ ở Erasmus Medical Center (Rotterdam) đã xác nhận những kết quả này nơi 13.000 người, và hy vọng từ nay đến 10 năm nữa phát triển một liệu pháp gène (thérapie génique) hiệu quả chống lại bệnh cận thị. Cứ hơn 4 người trưởng thành thì một bị mắc phải chứng bệnh này.
(SCIENCE ET VIE 11/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/11/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969