Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 21
Lượt truy cập: 1009000
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201

BS NGUYỄN VĂN THỊNH



1/ THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM : NHỮNG DỰ KIẾN MỚI.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

ĐỨA CON. Những người đã trải qua như thế không dấu được niềm hạnh phúc và lòng biết ơn của họ. Sau khi đã thử thụ thai, trong nhiều năm, em bé hằng ước mơ, cuối cùng họ đã phải bắt đầu cuộc vận động xin con nuôi, hay trông mong vào một phép lạ. Phép lạ này đã đến cho khoảng 4 triệu phụ nữ và các đôi vợ chồng. Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (fécondation in vitro), cột trụ trung tâm của hỗ trợ y khoa sinh sản (AMP : assistance médicale à la procréation) đã làm đảo lộn đời sống của rất nhiều người trên thế giới. Không có nó, những đứa trẻ này đã không bao giờ chào đời.

ĐOẠN ĐƯỜNG. Tuy vậy, các thầy thuốc và bệnh nhân không che dấu được rằng các kết quả không được đảm bảo và đoạn đường lâm sàng của thủ tục thụ tinh trong ống nghiệm không phải là dễ dàng. Trước hết, phải cố xác định nguyên nhân của vô sinh (infertilité). Phải trải qua những thăm khám không phải khi nào cũng đơn giản và hiển nhiên. Sau đó, một sự chuẩn bị cho cơ thể để, thí dụ, chịu những mũi tiêm hormone vào những ngày và giờ rất chính xác, không phải luôn luôn tương hợp với cuộc sống nghề nghiệp. Rồi trích lấy noãn bào (prélèvement d’ovocytes), ghép phôi thu được trong ống nghiệm vào lại (réimplantation d’embryons) trong tử cung. Và đôi khi thất bại. Và rồi lại bắt đầu lại đoạn đường chiến binh nhưng không có gì là bảo đảm,.

PHÍ TỔN. Một thụ tinh trong ống nghiệm (FIV) có thể tổn phí nhiều ngàn euro tùy theo số những thử nghiệm được thực hiện.

TRIỄN VỌNG. GS René Frydman đã đề cập đến vấn đề này cách nay mấy ngày. Một trong những hướng nghiên cứu lớn là có thể thành lập những ngân hàng noãn bào (banque d’ovocytes) tương tự như những ngân hàng tinh trùng (banque de spermatozoides). Nhưng để có được điều đó, các kỹ thuật bảo tồn các noãn bào nữ phải được trắc nghiệm, hoàn thiện và được cho phép.

Một trong những kỹ thuật này, được gọi là “ vitrification ”, mặc dầu đã được sử dụng trong nhiều nước, nhưng lại bị cấm chỉ ở Pháp.


PROCREATION. Từ khi Louis Brown chào đời năm 1978, hơn 4 triệu trẻ em trên thế giới đã được sinh ra nhờ thụ tinh trong ống nghiệm (FIV : fécondation in vitro), được hiệu chính bởi Robert Edwards, vừa nhận giải thưởng Nobel về y khoa. Các kỹ thuật hỗ trợ y khoa sinh sản (AMP : assisstance médicale à la procréation) đã không ngừng tiến triển từ đó. Lần đầu tiên ở Pháp, những trường hợp sinh ra các em bé phát xuất từ các noãn bào đông lạnh (ovocytes congelés) đã được thực hiện bởi GS René Frydman ở Clamart.

Ở Pháp, số các trẻ em được sinh ra đời nhờ kỹ thuật hỗ trợ y khoa sinh sản vẫn ổn định : 20.136 đối với năm 2008, hoặc chiếm 2,4 % trong số 800.000 trường hợp sinh mỗi năm. Trong 94 % các trường hợp, những trẻ em này phát xuất từ các giao tử của cặp vợ chồng. Những trường hợp sinh do hiến tinh trùng chỉ chiếm 5% toàn bộ, những trường hợp sinh do hiến noãn bào chiếm 0,7%. Ngoài một nguồn gốc y khoa (tắc các vòi trứng hay những rối loạn rụng trứng nơi phụ nữ, những bất thường tinh dịch nơi đàn ông), nguyên nhân thông thường nhất của vô sinh (infertilité) là tuổi tác. “ Các phụ nữ muốn có con càng ngày càng muộn nhưng vẫn không nhận thức rằng khả năng sinh sản của họ sụt giảm nhanh sau 35 tuổi. Thế mà, kỹ thuật hỗ trợ y khoa sinh sản không phải là chiếc đũa thần : những tỷ lệ thành công của nó cũng giảm theo tuổi tác, BS Joelle Belaisch-Allart, người phụ trách hỗ trợ y khoa sinh sản thuộc centre hospitalier des Quatre Villes (Sèvres), đã giải thích như vậy. Tỷ lệ thành công của các FIV, trung bình 25% mỗi lần thử, sụt xuống còn 12% ở tuổi 38 và 6% ở tuổi 42.

Ngoài kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (insémination artificielle), hỗ trợ y khoa sinh sản dựa trên kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (FIV) cổ điển và, từ 15 năm nay, dựa trên kỹ thuật tiêm tinh trùng nội bào tương (ICSI : intracytoplasmic sperm injection), trong đó một tinh trùng được tiêm trực tiếp vào trong noãn bào mẹ để làm thụ tinh. Trong cả hai trường hợp, trước hết buồng trứng phải được kích thích bởi một hormone, FSH, để có thể sản xuất đồng thời nhiều nang (follicule) (chứa một noãn bào mỗi nang), thay vì chỉ một nang vào lúc chu kỳ kinh nguyệt tự nhiên. Sự rụng trứng (ovulation) sau đó được khởi động, rồi các noãn bào (ovocytes) (trung bình khoảng một chục), được thu thập đúng vào lúc chín mùi, bằng cách chọc dò xuyên qua âm đạo. Phương thức chuẩn này, khá gò bó, có thể gây nên một sự tăng kích thích (hyperstimulation) nơi những phụ nữ có nguy cơ ; đối với những phụ nữ này những phương thức “ giảm nhẹ ” (protocole allégé) đã được dự kiến, và vài người mong muốn từ nay dùng chúng một cách rộng rãi hơn. “ Nhưng những phương thức “ giảm nhẹ ” này chỉ cho 15% những trường hợp sinh mỗi lần thử, so với 25% với phương thức kích thích chuẩn. Đối với những phụ nữ mà khả năng sinh sản bị biến đổi, thì nguy cơ thất bại càng gia tăng, thầy thuốc phụ khoa đã cảnh cáo như vậy. GS Jean-Philippe Wolf, trưởng khoa sinh học của sự sinh sản thuộc bệnh viện Cochin (Paris), cùng chung ý kiến. Đối với ông “ những phương thức giảm nhẹ này không được sử dụng nơi những phụ nữ trên 35 tuổi ”. Kỹ thuật tiêm tinh trùng nội bào tương (ICSI) nguyên thủy nhằm để chữa các trường hợp vô sinh nam giới, một tinh trùng duy nhất đủ để làm thụ tinh noãn bào, trong đó nó được đưa vào bằng micro-injection dưới kính hiển vi. “ Dần dần, việc nhờ đến kỹ thuật tiêm tinh trùng nội bào tương (ICSI) được mở rộng cho những trường hợp giảm khả năng sinh sản phụ nữ (hypofertilité féminine), những trường hợp thất bại thụ tinh trong ống nghiệm (FIV) cổ điển, và cho những phụ nữ 40 tuổi mà sự chọc dò chỉ mang lại 3 hay 4 noãn bào.”, GS Jean-François Guérin, trưởng khoa y khoa sinh sản của CHU de Lyon đã giải thích như vậy. Ngày nay, kỹ thuật tiêm tinh trùng nội bào tương (ICSI) chiếm 60% của toàn bộ các trường hợp FIV.

Những tiêu chuẩn chọn noãn bào và tinh trùng tốt hơn nhờ kỹ thuật tiêm tinh trùng nội bào tương (ICSI), những môi trường cấy tốt hơn, sự thụ tinh được làm chủ tốt, nhưng chắc chắn chính sự bảo tồn (conservation) là đạt tiến bộ nhất. Các phôi thai thường thường được ghép vào trong tử cung 48 giờ sau khi thụ tinh, hiếm hơn vào ngày thứ 5 hay thứ 6, ở giai đoạn túi phôi (blastocyste). Mặc dầu sự đông lạnh các phôi thai thừa (embryons surnuméraires), dành cho các thai nghén tương lai, cho những kết quả rất tốt, mặc dầu sự đông lạnh các tinh trùng hoàn toàn đúng đắn, nhưng không phải như vậy đối với các noãn bào. “ Kỹ thuật đông lạnh chậm (congélation lente) hiện nay vận hành kém với noãn bào vì vài cấu trúc rất nhạy cảm đối với lạnh ”, GS Guérin đã giải thích như vậy. “ Đó là một tế bào to lớn, đông lạnh rất kém. Sự đông lạnh chậm (congélation lente), rất tế nhị, cho phép nhiều lắm thu hồi từ 10 đến 15% các noãn bào, trong khi đó kỹ thuật mới, vitrification hay kỹ thuật đông lạnh cực nhanh (congélation ultrarapide), gìn giữ được 95% các noãn bào ”, GS Wolf nói thêm như vậy. Mặc dầu được sử dụng ở ngoại quốc, nhưng ở Pháp kỹ thuật vitrification này bị cấm chỉ đối với các noãn bào, nhưng nghịch lý thay, lại có thể thực hiện đối với phôi thai (embryon).

PHÔI THAI DUY NHẤT.

Những tiến bộ này đã cho phép làm giảm số các phôi thai được chuyển. Cho đến đâu ? Nhiều người chủ trương phôi thai duy nhất (embryon unique).“Nhưng nếu chuyển một phôi duy nhất nơi một phụ nữ 40 tuổi, các cơ may có thai chỉ đạt 4%. Sự chuyển phôi duy nhất chỉ có giá trị đối với những phụ nữ trẻ, có những phôi tốt. Sau 35 tuổi, tốt hơn là chuyển 2, thậm chí 3, nếu người phụ nữ trên 40 tuổi hay sau nhiều lần thử không thành công, BS Belaisch-Allart đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 15/11/2010)


Chú thích :

1/ Hỗ trợ y khoa sinh sản (AMP : assistance médicale à la procréation) hay PMA (procréation médicalement assistée) (Sự sinh sản được hỗ trợ về mặt y tế) là thuật ngữ để chỉ toàn bộ các phương thức cho phép dẫn đến sự kết hợp của một noãn (ovule) và một tinh trùng người, nhờ một can thiệp y khoa, chứ không phải là một sự giao hợp. Các kỹ thuật được sử dụng là sự thụ tinh nhân tạo (insémination artificielle), do sự đưa tinh dịch, thu được bằng động tác thủ dâm, vào trong bộ máy sinh dục nữ nhờ một cathéter d’insémination, và sự thụ tinh trong ống nghiệm (fécondation in vitro), được tiếp theo sau bởi sự chuyển phôi (transfert de l’embryon) (F.I.V.E.T.E, hay fivette), nhằm kết hợp, ngoài cơ thể, một noãn và một tinh trùng, rồi chuyển phôi được tạo thành vào trong tử cung người mẹ.


2/ Ferilité : khả năng sinh sản, ở đàn ông và phụ nữ.

Người đàn ông và người đàn bà có khả năng sinh sản (fertile) ngay từ tuổi dậy thì, nhưng người đàn ông vẫn giữ nguyên khả năng này cho đến một tuổi cao niên, trong khi đó người phụ nữ ngưng thụ thai sau thời kỳ mãn kinh. Khả năng sinh sản nam giới (fertilité masculine) được liên kết với sự tiết (bởi các tinh hoàn) các tinh trùng lành mạnh và di động, với số lượng đầy đủ trong tinh dịch, nghĩa là bình thường ít nhất 20 triệu mỗi ml. Khả năng sinh sản nam (fertilité masculine), với tuổi tác gia tăng, giảm dần dần và một phần. Khả năng sinh sản nữ giới (fertilité féminine) tùy thuộc vào khả năng các buồng trứng sản xuất noãn và khả năng phóng thích, vào mỗi kỳ kinh, một noãn lành mạnh. Khả năng này được liên kết với sự cân bằng hormone của người phụ nữ và khả năng niêm mạc tiếp nhận trứng được thụ tinh lúc làm tổ.

3/ Infertilité (hay stérilité) : vô sinh hay tuyệt sinh. Sự mất khả năng thụ thai một đứa bé. Tỷ suất các đôi vợ chồng vô sinh được xác lập từ 1 đến 5%. Nguyên nhân của một trường hợp vô sinh được tìm kiếm ở 4 mức : tinh dịch, sự rụng trứng, các đường sinh dục nữ và nam và sự bất tương hợp giữa tinh dịch và môi trường sinh dục phụ nữ.


Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 180 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 28/6/2010 )

3/ VÀO NĂM 42 TUỔI, NHỮNG KHẢ NĂNG CÓ THAI SAU THỤ THAI TRONG ỐNG NGHIỆM (FECONDATION IN VITRO) LÀ GÌ ?

Professeur Roger Henrion
Gynécologue obstétricien
Président de l’Académie nationale de médecine.


Thụ thai trong ống nghiệm (FIV : fécondation in vitro) là một điều trị được hoàn toàn nắm vững, nhưng với cái giá phải trải qua nhiều xét nghiệm và lấy bệnh phẩm, mà vài cặp vợ chồng so sánh với một đoạn đường chiến binh thật sự. Thường cần phải thực hiện nhiều lần.

Dầu nguyên nhân của vô sinh là gì đi nữa, kinh nghiệm của các trung tâm điều trị, tuổi của người phụ nữ là một yếu tố quyết định trong sự thành công hay thất bại của FIV. Khả năng sinh sản giảm một cách không tránh được và một cách từ từ nơi phụ nữ từ 35 đến 40 tuổi, rồi một cách đột ngột từ 40 tuổi trở đi, vì lẽ chất lượng và số lượng của các noãn bào (ovocyte) được chứa trong các buồng trứng, giảm đi với thời gian. Điều đó đưa đến hậu quả là các cơ may có thai và có một em bé giảm đi với tuổi tác. Không phải là tình cờ khi bảo hiểm xã hội ấn định tuổi 43 như là tuổi từ đó các điều trị không còn được bồi hoàn nữa.

Không có một điều trị nào có thể cải thiện chất lượng của các noãn bào, chìa khóa thật sự của sự thành công của FIV. Khả năng định ổ trong lòng nội mạc tử cung và phát triển cho đến khi sinh ra đời, mà các phôi chuyển có được, phụ thuộc vào chất lượng này. Tỷ lệ có thai sau FIV là hơn 35% nếu phụ nữ dưới 38 tuổi, trụt xuống khoảng 15% nếu người phụ nữ tuổi hơn 38 và hiếm khi vượt quá 10% khi ở lứa tuổi trên 40. Tỷ lệ này là 1% khi 44 tuổi. Tỷ lệ sinh lại còn thấp hơn. Mặt khác, nếu nhiều hơn một phôi được đặt lại, có nguy cơ đa thai với các hậu quả sinh non và các biến chứng sản khoa.

Trên thực tế, ở tuổi 42, nếu người phụ nữ phản ứng tốt với điều trị kích thích buồng trứng, nếu chất lượng và số phôi thu được là thỏa mãn, và nếu tử cung bình thường, không bị u xơ cũng như bệnh của cơ tử cung, tất cả các hy vọng đều có thể, nhưng những cơ may có một em bé không vượt quá 5 đến 10%.

Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sau 38 tuổi, trong trường hợp đáp ứng tốt với kích thích buồng trứng, các cơ may thai nghén gần như số không. Khi đó, bất hạnh thay, ngừng mọi toan tính là điều hợp lý hơn.

Ngoài ra, vào lứa tuổi này, một phần do chất lượng của các noãn bào kém nhất, nên số các sẩy thai ngẫu nhiên gia tăng rõ rệt, những sự chậm tăng trưởng trong tử cung thường xảy ra hơn, nguy cơ trisomie được nhân lên gấp 10 lần, và nguy cơ của những dị dạng khác có thể được phát hiện, nhưng với cái giá của một loạt các xét nghiệm ít nhiều bó buộc, kết hợp những định lượng hormone, lấy nhiều bệnh phẩm và siêu âm nhiều lần. Tất cả những khó khăn này giải thích rằng, trong nhiều nước, càng ngày càng nhiều phụ nữ, ở tuổi 42, ưa thích có thai bằng cách nhận noãn cho (don d’ovule). Trên nguyên tắc sự cho noãn này được đề nghị nơi cac phụ nữ không có noãn bào hoặc có những chất lượng kém, do một bệnh di truyền, một hóa học liệu pháp hay một phóng xạ liệu pháp chống ung thư, thậm chí một phẫu thuật ngoại khoa. Nhưng ở Pháp, các thời hạn để có được các noãn bào đã là rất dài, khoảng 3 năm, bởi vì sự hiến noãn bào (don d’ovocyte) là một dấn thân thật sự đối với các người cho.Những người hiến này phải chịu một sự kích thích buồng trứng, một điều trị nặng nề, khó khăn và mệt nhọc, và một thủ thuật trích lấy noãn bào ở phòng mổ dưới gây mê tổng quát hay tại chỗ.

Một yếu tố cuối cùng phải được xét đến : tình trạng sức khỏe của người phụ nữ. Người ta biết rằng một cao huyết áp hay một bệnh đái đường thai nghén có thể luôn luôn có thể xảy ra trong lúc có thai. Vậy FIV càng bị chống chỉ định trong trường hợp cao huyết áp, đái đường hay béo phì, để tránh những biến chứng nghiêm trọng. Nhữn.g cặp vợ chồng muốn thực hiện FIV phải được đả thông một cách hoàn chỉnh để có thể quyết định một cách thông suốt.
(LE FIGARO 1/3/2010)


2/ NHỮNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ Y KHOA SINH SẢN.

SỰ THỤ TINH NHÂN TẠO (insémination artificielle)

Nguyên tắc : các tinh trùng của người chồng hay của một người cho (insémination par donneur) (nếu người chồng vô sinh) được đặt trực tiếp trong đường sinh dục nữ (cổ tử cung hay xoang tử cung) nhờ một ống nghiệm (pipette), vào ngày rụng trứng. Nói chung, sự chuyển (transfert) này xảy ra sau một kích thích buồng trứng nhờ các hormone làm phong bế sự rụng trứng trong thời kỳ đầu, rồi khởi động sự rụng trứng (GnRH, LH,...), để làm chủ thời điểm rụng trứng và làm gia tăng số các noãn bào được phát ra.

Chỉ định :

  • Vô sinh nam giới (stérilitité masculine). Khi những giao hợp không thể thực hiện được vì những vấn đề phóng tinh hay cương, khi người chồng có một tinh dịch nghèo các tinh trùng (oligospermie : ít tinh trùng) ; nếu tinh dịch được bảo quản trong một ngân hàng (banque de spermatozoides) trước khi người đàn ông chịu một điều trị làm vô sinh (thí dụ chống ung thư) ; hoặc nếu như người chồng không sản xuất tinh trùng (khi đó cần hiến tinh dịch, le don de sperme)

  • Vô sinh nữ (stérilité féminine) : các bất thường của cổ tử cung hay của chất nhớt cổ tử cung (glaire cervicale) (niêm dịch bao phủ lỗ của cổ tử cung), quá dày hay quá acide, làm trở ngại sự đi qua của các tinh trùng.


Lần đầu tiên : vào cuối thế kỷ XVIII, trước hết nơi động vật, rồi nơi người.

Tỷ lệ thành công : từ 10 đến 15% mỗi chu kỳ.

Số trường hợp mỗi năm ở Pháp : 54.618 lần thử vào năm 2007, trong đó 5378 (9,8%) với hiến tinh dịch.

Đặc điểm : tiêm dưới da các thuốc kích thích buồng trứng có thể được thực hiện bởi bệnh nhân hay người chồng (nếu vợ hay chồng theo một khóa đào tạo nhỏ).

SỰ THỤ THAI TRONG ỐNG NGHIỆM (FIV) CỔ ĐIỂN.

Nguyên tắc : Kỹ thuật này nhằm thực hiện trong phòng thí nghiệm(“ in vitro ”) sự gặp gỡ giữa noãn bào (ovocyte) và các tinh trùng, bình thường diễn ra trong đường sinh dục nữ (trong các vòi trứng). Từ 3 đến 10 noãn bào được lấy nơi người phụ nữ sau một điều trị để kích thích các buồng trứng. Tinh dịch của người đàn ông được thu nhận, thường nhờ động tác thủ dâm (masturbation). Tinh dịch này sau đó chịu một xử lý in vitro, đặc biệt nhằm loại bỏ tinh dịch (liquide séminal) bao quanh các tinh trùng. Bình thường, chất dịch này, có tác dụng làm hạn chế khả năng thụ tinh, được loại bỏ khi các tinh trùng chạy qua đường sinh dục nữ. Như vậy để bắt chước hiện tượng này, các tinh trùng được đặt trong một máy ly tâm (centrifugeuse). Những tinh trùng di động nhất sau đó được chọn lựa để làm thụ tinh các noãn bào. Hai hoặc ba phôi thai (embryon) sau khi thu được, được cấy vào trong tử cung. Từ nay, đối với những phụ nữ không thể chịu được sự kích thích buồng trứng, có thể nhờ đến một “ sự làm chín in vitro ” các noãn bào được lấy vào một giai đoạn còn non.

Chỉ định : các vòi trứng bị tắc, ngăn cản không cho các tinh trùng đi lên đến tận noãn bào.

Lần đầu tiên : vào năm 1978 ở Vương quốc Anh (Louise Brown) và vào năm 1982 ở Pháp (Amandine).

Tỷ lệ thành công : cho đến 30 tuổi khoảng từ 20 đến 25% mỗi lần thử và trên 38 tuổi dưới 5%.

Số các trường hợp mỗi năm ở Pháp : khoảng 20.000. Năm 2007 : 19720 lần thử FIV có các giao tử thuộc vợ hoặc chồng (tinh trùng của người chồng hay noãn bào của người vợ) (4453 lần sinh), 491 với hiến tinh trùng (134 lần sinh) và 176 với hiến noãn bào (41 lần sinh).

Đặc điểm. Đó là một thủ thuật khá nặng nề đối với phụ nữ, phải chịu một điều trị kích thích buồng trứng trong 15 ngày đến 3 tuần, rồi một gây mê tại chỗ hay toàn thân để thực hiện sự chọc dò lấy noãn bào.

TIÊM TINH TRÙNG NỘI BÀO TƯƠNG
(ICSI : Intracytoplasmic Sperm injection)

Nguyên tắc : Tiêm vào trong tế bào chất tinh trùng (Icsi : injection intracytoplasmique de spermatozoide) là một FIV “ được cải thiện ”. Nhằm làm gia tăng cơ may thụ tinh, một tinh trùng duy nhất được tiêm trực tiếp vào trong noãn bào, nhờ một micropipette. Nếu tinh dịch không có tinh trùng, ta có thể lấy trực tiếp chúng trong các đường sinh dục nam hay tinh hoàn.

Chỉ định : đối với những trường hợp vô sinh nam (stérilité masculine), nghĩa là trong trường hợp các tinh trùng số lượng rất ít, ít di động hay hình thái bất thường, do đó không có khả năng thụ tinh.

Lần đầu tiên : ngày 14/1 năm 1992, ở Bỉ, Université libre de Bruxelles (ULB), được thực hiện bởi các GS Palermo và Van Steirteghem. Ở Pháp, Icsi đầu tiên thành công đã được thực hiện ở Hôpital américain de Neuilly, tháng sau năm 1994.

Tỷ lệ thành công : khoảng 30% trước 30 tuổi và dưới 5% sau 40 tuổi.

Số các trường hợp mỗi năm ở Pháp : vào năm 2007, 31.055 lần thử giữa vợ chồng (tinh trùng của người chồng hay noãn bào của người vợ), 580 với hiến tinh dịch (128 trường hợp sinh), và 312 với hiến noãn bào (68 trường hợp sinh).

Đặc điểm : từ năm 2001, những kết quả của Icsi được cải thiện nhờ một hệ thống kính hiển vi có độ phóng đại lớn (microscope à forte résolution), cho phép chọn lựa một tinh trùng có cấu tạo tốt, trước khi được tiêm vào trong noãn bào. Chính kỹ thuật Imsi (IntraCytoplasmic Morphological Sperm Injection), được thể hiện bởi “ tiêm vào trong tế bào chất dưới kính hiển vi có độ phóng đại (microinjection intracytoplasamique à fort grossissement) đang được đánh giá.

CHUYỂN PHỐI ĐÔNG LẠNH CỦA MỘT NGƯỜI THỨ BA

Nguyên tắc : kỹ thuật này nhằm chuyển một phôi thai được làm đông lạnh (embryon congelé) phát xuất từ một cặp vợ chồng khác. Cặp vợ chồng này đã có một hay nhiều đứa con và không muốn sử dụng một phôi khác, có được nhờ FIV và được làm đông lạnh (khi đó ta gọi là “ embryon sans projet parental ”). Phôi cũng có thể phát xuất từ một cặp vợ chồng nhưng vợ hay chồng đã chết, và trong trường hợp này không còn được dùng để sinh con nữa.

Chỉ định : đối với những cặp vợ chồng mà người chồng và người vợ vô sinh, nhưng người vợ còn có một tử cung còn hoạt động.

Lần đầu tiên : năm 1984, ở Melbourne, Úc, và năm 1986, ở Pháp, nhưng đó khong phải là một phôi phát xuất từ một người hiến.

Tỷ lệ thành công : khoảng 22% đối với mỗi chuyển phôi.

Số các trường hợp mỗi năm ở Pháp : vào năm 2007, 124 trường hợp chuyển phôi đông lạnh (transfert d’embryons congelés) đã được thực hiện, mang lại 28 lần sinh, hoặc 0,1% nhưng em bé được sinh bởi AMP.

Đặc điểm : việc nhờ đến một phôi của những người cho hàm ý chấm dứt quan hệ dòng máu sinh học, bởi vì đứa bé sẽ không được hưởng ADN của một ai trong cặp vợ chồng.

GHÉP BUỒNG TRỨNG.

Nguyên tắc : nếu một người phụ nữ phải chịu một điều trị có khả năng làm vô sinh, các thầy thuốc có thể lấy một buồng trứng nơi người phụ nữ này và làm đông lạnh những mảnh của phần ngoại biên. Khi người phụ nữ này muốn có một đứa con, những mảnh này sẽ được ghép vào cho bà ta, và bình thường chúng sẽ sản xuất các noãn bào.

Chỉ định : đối với những bệnh nhân muốn có một đứa con trong tương lai và phải chịu hóa học điều trị hay một phóng xạ liệu pháp, hay một sự cắt bỏ ngoại khoa các buồng trứng (thí dụ để chống lại một ung thư), nói tóm lại, một điều trị gây nên một sự phá hủy các nang nguyên thủy (follicules primordiaux) của buồng trứng.

Lần đầu tiên : mô buồng trứng lần đầu tiên được trích lấy ở Pháp vào năm 1995. Những thủ thuật ghép buồng trứng mang lại kết quả thai nghén đã được thực hiện vào năm 2004 ở Bỉ và vào tháng sáu 2009 ở Pháp.

Tỷ lệ thành công : cho đến hôm nay trên thế giới, cứ 22 bệnh nhân được điều trị như thế thì 6 đã có một đứa con sau khi được ghép.

Số trường hợp mỗi năm ở Pháp : khoảng 100 đông lạnh buồng trứng, vài trường hợp ghép.

Đặc điểm : nguy cơ chủ yếu là ghép những tế bào ác tính còn sót lại hiện diện trong mẫu trích. Nguy cơ này cao hơn trong trường hợp buồng trứng bị ung thư.
(SCIENCE ET VIE, HORS SERIE, 12/2009)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 108 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/1/2009 )

5/ EM BÉ ĐẦU TIÊN TỪ MỘT BUỒNG TRỨNG ĐUỢC GHÉP

Sau khi được ghép một buồng trứng lấy từ người em gái sinh đôi, một phụ nữ người Đức đã sinh ra đời một em bé gái. Sự ghép của cơ quan này đã được thực hiện năm 2006 ở Trung tâm Vô sinh Saint Louis (Hoa Kỳ). Kỹ thuật này mở đường cho việc gìn giữ các buồng trứng bằng đông lạnh trước khi ghép trở lại nơi những phụ nữ bị bệnh ung thư mà các trị liệu làm phương hại đến các khả năng thai nghén.
(SCIENCE ET VIE 1/2009)


3/ TRƯỜNG HỢP SINH CÁC EM BÉ PHÁT XUẤT TỪ CÁC NOÃN ĐÔNG LẠNH ĐẦU TIÊN Ở PHÁP.

PROCREATION. Đó là một première Pháp trong lãnh vực sinh sản, được thực hiện bởi GS René Frydman. Thầy thuốc chuyên khoa phụ sản nổi tiếng, cha đẻ của đứa bé ông nghiệm đầu tiên của Pháp năm 1982, vừa loan báo sự sinh ra đời trong khoa của ông thuộc bệnh viện Antoine-Béclère, Clamart, những trẻ sinh đôi được thụ thai từ những noãn bào đông lạnh (ovocytes congelés). Người mẹ và hai con, Jérémie và Keren (3,2kg và 2,8kg), được sinh hôm thứ ba, vẫn luôn luôn mạnh khỏe.

Thành công không những về mặt kỹ thuật mà còn về sự táo bạo đã dám lẩn tránh quyết định cấm đoán. “ Luật pháp cho phép, với điều kiện nguy cơ mất khả năng sinh đẻ không được xác định rõ, gìn giữ các noãn bào bằng đông lạnh (congélation), nhưng không phải bằng phương pháp có hiệu năng nhất, vitrification, hay kỹ thuật đông lạnh cực nhanh (congélation ultrarapide), lấy cớ cho rằng mọi đổi mới được xem như là sự nghiên cứu trên phôi thai ”, hôm qua ông đã giải thích như vậy với AFP, đồng thời xác nhận là đã nhờ đến, cho người phụ nữ vừa mới sinh, “ một kỹ thuật đông lạnh chậm ” (une technique de congélation lente).

Trên thế giới, hơn một ngàn trẻ em được sinh ra nhờ phương pháp đông lạnh noãn bào (cryopréservation d’ovules), nhất là ở Nhật Bản, Tây Ban Nha, hay cả ở Canada. Những kỹ thuật này, đặc biệt là vitrification d’ovule (đông lạnh cực nhanh), trước hết được dành cho những phụ nữ bị ung thư và phải chịu một điều trị có thể ảnh hưởng lên khả năng sinh sản của họ. Các bào tử được làm đông lạnh trước khi điều trị rồi được làm tan đông lúc cần đến để thực hiện thụ tinh nhân tạo. Việc phương thức vitrification này bị cấm chỉ ở Pháp đã gây nên nhiều cuộc tranh luận. NGUY CƠ QUÁ TRỚN.

Theo ông, tuy vậy thủ thuật đông lạnh các noãn bào có thể biến đổi thực hành của FIV. “ Hôm nay, ta kích thích quá đáng các phụ nữ, với những tác dụng đôi khi có hại cho họ. Trong tương lai, ta có thể kích thích nhẹ hơn, làm đông lạnh các noãn bào và chuyển chúng về sau, khi ta đã chuẩn bị tử cung cho một sự làm tổ tốt, ông còn nói như vậy với Nouvel Observateur. BS Pierre Tourame, thầy thuốc chuyên khoa phụ sản ở Marseille cũng cùng ý kiến như vậy. Vị thầy thuốc này đánh giá rằng bảo quản đông lạnh các noãn bào (cryopréservation d’ovocytes) có 2 chỉ định chính : các phụ nữ bị một ung thư và các phụ nữ được kích thích buồng trứng trong khung cảnh sinh sản được hỗ trợ y khoa (procréation médicalement assistée) và có quá nhiều noãn bào. Như thế họ sẽ có thể yêu cầu hoặc là bảo tồn các phôi thai, hoặc là các noãn bào của họ.
(LE FIGARO 4/1/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 186 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 09/8/2010 )

9/ TA CÓ THỂ HY VỌNG CÓ CON SAU MỘT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỤ KHOA KHÔNG ?

Professeur Roger Henrion
Gynécologue obstétricien
Président de l’Académie nationale de médecine


Ta có nghĩ rằng có thử thách nào đau đớn hơn đối với một phụ nữ trẻ, khi hay tin cùng một lúc rằng, cô ta bị một ung thư và điều trị được sử dụng, mặc dầu càng ngày càng có hiệu quả và cứu mạng, lại có thể gây nên một sự vô sinh vĩnh viễn ? Những tình trạng tiến thối lưỡng nan như thế, nếu xảy ra vào những thời điểm trước đây, là điều không thể quan niệm được, là vì khi đó chẩn đoán ung thư chậm hơn nhiều và tiên lượng nghiêm trọng hơn nhiều, thì từ nay, điều này không còn hiếm hoi nữa, nhất là khi các thai nghén muộn ngày càng gia tăng với sự chậm trễ ngày càng rõ rệt của tuổi thai nghén đầu tiên hay ước muốn có thai sau một cuộc hôn nhân mới.

Đứng trước nỗi thống khổ của các bệnh nhân mình, các thầy thuốc đã tìm cách làm giảm những tác dụng có hại của các điều trị lên chức năng buồng trứng. Ngoài sự làm chủ tốt hơn, bởi các thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến và ung thư, các liều lượng được cho, các trường phóng xạ và tính chất của các tác nhân hóa học và của sự phối hợp chúng lại với nhau, còn được thêm vào những kỹ thuật được sử dụng bởi các thầy thuốc chuyên khoa phụ sản và các nhà sinh học, nhằm bảo tồn các chức năng sinh sản.

Nhưng, nếu ở người đàn ông, sự bảo tồn tinh dịch được quy tắc hóa tốt, với những kết quả được nhận thấy, thì tình huống phức tạp hơn nhiều ở người phụ nữ. Một mặt, bởi vì các noãn bào (ovocyte) được tiếp cận khó khăn hơn và đề kháng kém với quá trình làm đông lạnh-làm tan đông (congélation-décongélation), mặt khác bởi vì phần lớn các kỹ thuật đều cần một sự thành thục sinh dục (maturité sexuelle), một sự kích thích buồng trứng (stimulation ovarienne) và sự hiện diện của một người phối ngẫu.

Trong trường hợp phóng xạ liệu pháp (radiothérapie), kỹ thuật được sử dụng nhất nhằm tách xa buồng trứng khỏi những nguồn bức xạ, bằng cách đặt nó trong bụng, trên vị trí bình thường của nó. Sự bảo toàn của chức năng buồng trứng đat được trong khoảng 80% các trường hợp, với điều kiện người phụ nữ dưới 40 tuổi. Kỹ thuật thứ hai, vẫn còn ở giai đoạn thí nghiệm, là ghép buồng trứng với các cuống mạch máu của nó trong một nơi khác của cơ thể không phải hố chậu, ở dưới cẳng tay hay trong bụng.

Nhưng trong hoá học liệu pháp, xê dịch buồng trứng chẳng ích lợi gì. Ngoài một sự thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro) được thực hiện cấp cứu, ngoài sự hiện diện của một người phối ngẫu và một sự kích thích buồng trứng, làm trì hoãn sự thực hiện điều trị của ung thư, giải pháp an toàn nhất là làm đông lạnh (congélation embryonnaire).

Tỷ lệ sinh bằng chuyển phôi (accouchement par transfert) là khoảng 20%. Nhưng vì sự làm đông lạnh chậm các noãn bào trưởng thành đã không có những kết quả được mong chờ, nên người ta đã đề nghị một loại làm đông lạnh các noãn bào cực nhanh, được gọi là vitrification. Tỷ lệ sinh khi đó sẽ là 30% bằng chuyển phôi, trong khi tỷ lệ này chỉ 10% sau phương pháp làm đông chậm (congélation lente). Mặc dầu sự theo dõi hơn 900 trẻ em sinh ở Ý vào năm 2009 là hoàn toàn làm an lòng, nhưng kỹ thuật này chưa được cho phép ở Pháp.

Một phương pháp khác, đáng lưu ý đối với các thiếu nữ, là sự bảo tồn bằng đông lạnh (cryoconcervation của mô buồng trứng, nhằm bảo tồn các noãn nang nguyên thủy (follicules primordiaux), nằm ở vỏ của buồng trứng. Mô của buồng trứng được đặt lại hoặc ở vị trí hố chậu, hoặc xa vị trí gốc của nó. Thật ra, cho đến ngày nay, chỉ có các ghép ở vị trí hố chậu mới đã cho phép có được các thai nghén. Người ta cũng có thể nhờ đến sự hiến các noãn bào, nhưng với những thời hạn từ hai đến 5 năm, một phần do hiếm có người cho (donneuse), khoảng 200 đến 300 mỗi năm ở Pháp.

Còn về việc có thai cho những kẻ khác, giải pháp duy nhất cho một cặp vợ chồng có một đứa con phát xuất từ các gène riêng của mình khi tử cung đã bị lấy đi nhưng các buồng trứng được bảo tồn. Sẽ là đáng ngạc nhiên khi sự thai nghén này được chấp thuận ở đất nước chúng ta cách nay vài năm. Các lựa chọn càng khó thực hiện khi ta thiếu các công trình nghiên cứu được tiến hành trên một số lớn người, điều này khiến vẫn còn những hoài nghi về các phương thức điều trị tốt nhất của chứng vô sinh và sự xuất hiện của các tái phát. Rõ ràng là các quyết định chỉ nên được thực hiện trong các équipe biết rất rõ nhau. Dầu thế nào đi nữa, mặc dầu các kết quả không hoàn toàn được đảm bảo, nhưng chỉ nội việc loan báo một khả năng có con về sau này cũng là một thông điệp mang lại hy vọng.
(LE FIGARO 28/6/2010)

Thời Sự Y Học Số 187 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 16/8/2010 )

9/ CUỘC TRANH CÃI CHUNG QUANH PHUƠNG PHÁP LÀM ĐÔNG LẠNH CÁC NOÃN BÀO (CONGELATION D’OVOCYTES)

Dành cho các phụ nữ vô sinh, một kỹ thuật mới “ vitrification ” mặc dầu đã chứng tỏ hiệu quả, lại bị cấm chỉ ở Pháp.

PROCREATION. Một bên, các thầy thuốc chuyên khoa trong hỗ trợ y khoa sinh sản (AMP : assistance médicale à la procréation). Còn bên kia, chính quyền. Đối tượng của sự tranh chấp ? Một kỹ thuật mới có tính chất cách mạng, “ vitrification ”, nhằm làm đông lạnh một cách cực kỳ nhanh và không tạo nên những tinh thể nuớc đá, những tế bào sinh sản phụ nữ, các noãn bào (ovocytes). Các thầy thuốc tin chắc rằng đó là một bước ngoặt trong AMP. Kỹ thuật này có liên quan đến những phụ nữ, ví dụ, phải chịu một điều trị trong bối cảnh của một ung thư, nhưng sau đó lại muốn có con. Các chuyên gia không hiểu tại sao kỹ thuật này, mặc dầu được sử dụng trong nhiều nước (Nhật Bản, Canada, Đức, Tây Ban Nha, Ý, Bỉ), và đã thấy chào đời hơn một ngàn em bé, nhưng lại không được cho phép ở Pháp. Lại còn tệ hại hơn, họ không hiểu tại sao lại không được phép đánh giá phương thức hỗ trợ sinh đẻ này. Vài thầy thuốc không do dự gởi các thành viên đi đào tạo ở nước ngoài.

Ở Pháp, từ những năm 1940, có thể làm đông lại (congeler) các tinh trùng. Ngược lại, việc làm đông lạnh những tế bào sinh sản của phụ nữ lại bị cấm chỉ. Đất nước của chúng ta bị đối đầu với một tình trạng thiếu người hiến các noãn bào. Vào năm 2006, chỉ có 220 phụ nữ đã hiến noãn, cho phép thực hiện 400 thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro), trong khi 1.300 cặp vợ chồng phải chờ đợi. Kỹ thuật vitrification này đúng là “ giải pháp cho những vấn đề dự trữ buồng trứng bị biến đổi và cho những tình trạng mãn kinh xảy ra sớm ”, BS Jean-Michel Dreyfusn, phó chủ tịch của nghiệp đoàn các thầy thuốc chuyên khoa ngoại sản, đã đánh giá như vậy.

Nếu các thầy thuốc cũng ủng hộ việc làm đông lạnh các noãn bào, đó là vì phương pháp này cho phép để dành noãn bào của các phôi thai, điều này được cho phép từ những năm 1980. Nhưng phải công nhận rằng hệ thống này đặt ra một số vấn đề nào đó. Chúng ta còn nhớ câu chuyện nổi tiếng chẳng hay ho gì của Evans ở Anh, đã trở thành chủ đề thời sự của năm 2006. Nathalie Evans bị một khối u ung thư buồng trứng. Vì biết rằng cô ta sẽ phải theo một điều trị làm cô trở thành vô sinh, nên Evans quyết định cùng với chồng làm đông lạnh các phôi thai. Nhưng rồi cặp vợ chồng ly dị. Sau khi đã được chữa lành bệnh, cô đòi lại các phôi thai của mình. Nhưng chính quyền Anh từ chối vì cho rằng các phôi thai không thuộc về Nathalie mà là sở hữu của cặp vợ chồng. Sau đó Tòa án Châu Âu cũng đưa ra một quyết định theo cùng chiều hướng này.

BS Pierre Boyer là nhà sinh học thuộc bệnh viện Saint-Joseph de Marseille. Vào năm 2007, ông tham dự một cuộc trình bày về đông lạnh các noãn bào tại một hội nghị. Tức khắc, ông hiểu được lợi ích của vấn đề này. “Với sự đông lạnh của các noãn bào, chỉ có người mẹ mới quyết định, cũng theo cách như có một sự đông lạnh của các tinh trùng đối với những người cha ”, ông đã nêu lên như vậy. Một lý lẽ cũng được sử dụng bởi BS Pierre Tourane, thầy thuốc phụ khoa ở Marseille. “ Kỹ thuật này sau cùng cho phép tránh được gánh nặng của sự đông lạnh các phôi thai. ” Rất phấn chấn, GS Claude Sureau, cựu trưởng khoa phụ sản của bệnh viện Cochin, ủy viên của Hội hàn lâm y học và của Comité national d’éthique, tố cáo một “ sự ngu xuẩn hành chánh ” làm cho nước Pháp phải trụt hậu một cách lố bịch trong vấn đề này ”.

NHỮNG “ PHƯƠNG THUỐC ” KHÁC NHAU.

Vậy thì, tại sao giới hữu trách lại từ chối không cho phép kỹ thuật này chào đời ? “ Các kỹ thuật mới của AMP bị cấm chỉ. Thế thì không thể trắc nghiệm phương pháp đông lạnh này mà không thay đổi luật đạo đức sinh học(loi de bioéthique) năm 2004. ”, François Thepot, phó giám đốc của Agence de biomédecine đã tóm tắt như vậy. Ở Bộ y tế, người ta công nhận rằng sự cấm đoán này tạo nên một sự “ kềm hãm ” đối những người chuyên nghiệp và rằng vấn đề này đang được nghiên cứu. Ở Afssaps, Fabienne Bartoli, phó tổng giám đốc, giải thích rằng những phương thức tiến hành vitrification là “ phức tạp vì lẽ chúng không được tiêu chuẩn hóa trong tất cả các phòng thí nghiệm ”. Vấn đề, các nhà sinh học chuyên về AMP đã trả lời như vậy, là mỗi phòng thí nghiệm có “ phương thức chế biến ” (recette de cuisine) của riêng mình. Ví dụ, các thầy thuốc Canada khi thực hiện vitrification, không sử dụng cùng protocole như các đồng nghiệp ở Nhật Bản. Và tất cả các thầy thuốc Canada cũng không sử dụng cùng kỹ thuật… “ Đất nước của chúng ta bị chấn thương bởi vụ máu ô nhiễm, BS Jean-Michel Dreyfus đã phân tích như vậy. Người ta vẫn còn sợ cái bóng ma của sự vụ này. Như thế, người ta áp dụng nguyên tắc thận trọng (principe de précaution) khắp mọi nơi. ”

Luật đạo đức sinh học (loi de bioéthique) sẽ có vài thay đổi trong thời gian tới. Nhưng những điểm liên quan đến những phương pháp mới của AMP có được thay đổi hay không ? Trong lúc chờ đợi, các thầy thuốc cho rằng chúng ta đã mất khá nhiều thời gian. Một điều không thể chấp nhận được đối với một đất nước đã luôn luôn ở mũi nhọn trong lãnh vực này.
(LE FIGARO 26/3/2010)


4/ NHỮNG NGUY CƠ CỦA HỖ TRỢ Y KHOA SINH SẢN.

Mỗi năm ở Pháp gần 200.000 trẻ em sinh ra đời nhờ những kỹ thuật hỗ trợ y khoa sinh đẻ (PMA : procréation médicale assistée). Theo công trình nghiên cứu rộng lớn nhất từng được thực hiện về vấn đề này trong 33 trung tâm PMA ở Pháp, thì những phương thức này được liên kết với một tỷ lệ dị dạng bẩm sinh (malformation congénitale) không phải là không đáng kể . Hoặc khoảng hơn 4% trong khi tỷ lệ được dự kiến nơi những ngươi sinh đẻ bình thường là 2% đến 3%. Công trình này, được trình bày bởi BS Géraldine Viot, chuyên gia di truyền học của khoa sản Port-Royal (bệnh viện Cochin, Paris), ở Hội nghị châu Âu di truyền học người, đã nhận thấy một sự gia tăng số các angiome cutané (được gọi là những tache de vin), các bất thường tim nhất là nơi con gái và những bất thường tiết niệu nơi con trai. Nhưng mặc dầu công trình nghiên cứu chứng thực sự kiện, nhưng không giải thích được tại sao. Và không cho phép biết là một kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (FIV : fécondation in vitro), kỹ thuật thụ tinh nhân tạo bởi người cho (insémination par donneur), kỹ thuật tiêm tinh trùng nội bào tương (Tcsi : injection de spermatozoide dans l’ovule), có chịu trách nhiệm một trong những bất thường này hay không. Vì lẽ, ngoài chính kỹ thuật hỗ trợ y khoa sinh đẻ, nhiều yếu tố có thể có liên hệ : chứng vô sinh của người mẹ, những điều trị bằng hormone, kiểu đông lạnh các giao tử…vậy công trình nghiên cứu phải được tiếp tục. Trong lúc chờ đợi, các tác giả mong muốn rằng các cặp vợ chồng mong muốn nhờ đến những kỹ thuật này phải được đả thông.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 181 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 05/7/2010 )

8/ THỤ THAI TRONG ỐNG NGHIỆM LÀM GIA TĂNG CÁC NGUY CƠ DỊ TẬT.

SANDRINE CABUT

Theo một công trình nghiên cứu của Pháp, hỗ trợ y khoa sinh đẻ (AMA : assistance médicale à la procréation) làm gia tăng các nguy cơ bất thường tim và đường tiểu.

PEDIATRIE. Các bất thường tim, niệu-sinh dục hay các u mạch ở da (angiome cutané), các trẻ được sinh sau một AMA có một nguy cơ hơi gia tăng bị các dị tật bẩm sinh, theo một công trình nghiên cứu rộng rãi của Pháp, được trình bày hôm qua ở Hội nghị châu Âu về di truyền người, diễn ra ở Goteborg (Thụy Điển). Hơn 30 năm sau khi sinh đứa bé-ống nghiệm (bébé-éprouvette) đầu tiên (Louis Brown, năm 1978), các kỹ thuật của AMP đã bùng nổ trên thế giới. Sự thụ thai trong ống nghiệm (FIV : fécondation in vitro hay “ fivette ”), sự tiêm tinh trùng trực tiếp vào noãn (ICSI : injection de spermatozoide directement dans l’ovule) hay sự thụ tinh nhân tạo (insémination artificielle), những kỹ thuật khác nhau này là nguồn gốc của 2,% các sinh đẻ ở Pháp. Tổng cộng, hơn 200.000 trẻ em đã được thụ thai như thế trên đất nước của chúng ta.

Nhưng câu hỏi về những hậu quả của những thụ thai hỗ trợ (fécondation assistée) này trên sự phát triển của các trẻ em không được giải quyết. Nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý rằng, chúng có thể là nguồn gốc của một sự gia tăng quá mức của các bất thường nhiễm sắc thể, của các khối u hay của những dị dạng, mà không có kết luận thật sự. Để xác định những nguy cơ và theo dõi tốt hơn những đứa trẻ bị liên hệ, vài nước như Thụy Điển đã thiết đặt các sổ đăng ký. Pháp đang thực hiện điều đó, nhưng hệ thống chưa được hữu hiệu.

5 LẦN NHIỀU U MẠCH HƠN.

Nhờ sự giúp đỡ của hội Follow up, nhóm nghiên cứu của BS Géraldine Viot, chuyên gia di truyền học thuộc khoa sản Port-Royal, Paris, đã sàng lọc 15.000 trường hợp sinh đẻ, được đăng ký giữa năm 2003 và 2007, trong 33 cơ sở bệnh viện thực hiện AMA. “ Chúng tôi đã quan sát thấy một tỷ lệ mắc phải các dị dạng quan trọng là 1,24 %, trong khi đó tỷ lệ được dự kiến là 2 đến 3% ”, BS Viot đã chỉ rõ như vậy. Theo bà, những kết quả này phải được xem như là làm yên lòng. “ Trong những công trình nghiên cứu trước đây, tỷ lệ dị dạng lên đến 11%, nhưng phần lớn được thực hiện trên một số ít quan trọng các trường hợp. Sức thuyết phục của công trình nghiên cứu của chúng tôi, đó là số những người tham dự, quan trọng nhất trên thế giới cho đến nay.”.

Trong cuộc điều tra này, các dị dạng được gọi là quan trọng (malformation majeure) (nghĩa là gây nên một phế tật nặng hay cần một động tác ngoại khoa) có liên quan chủ yếu đến tim và hệ niệu-sinh dục. “ Các bất thường tim, thường nhất là thông liên thất (communication interventriculaire), thường xảy ra hơn nơi con gái. Các bất thường niệu-sinh dục, liên quan các con trai nhiều hơn ” BS Viot xác nhận như vậy. Về những thương tổn nhỏ như các u mạch ở da (angiome cutané) (sự tăng sinh hiền tính của các mạch máu), chúng 5 lần thường xảy ra hơn nơi những trẻ sau khi sinh bằng AMP so với sinh đẻ tự nhiên. Ngược lại, không có những bất thường nhiễm sắc thể quá mức trong nhóm các trẻ sinh bình thường.

Công trình nghiên cứu chưa hẳn đã chấm dứt. “ Từ nay, 45 bệnh viện sẽ tham dự vào công trình nghiên cứu, có nghĩa là gần một nửa các trung tâm ở Pháp, và chúng tôi có 4.000 hồ sơ mới để phân tích, BS Viot đã nói như vậy, đồng thời nhấn mạnh tỷ lệ “ to lớn ” được chấp nhận trong số các gia đình. Trong lúc tiếp tục phân tích những hồ sơ mới này, các nhà nghiên cứu Pháp hy vọng có thể phát hiện những yếu tố làm dễ các dị dạng : chứng bệnh vô sinh (infertilité) của người mẹ, các điều trị hormone, kỹ thuật ICSI, môi trường cấy, sự đông lạnh của các giao tử (congélation des gamètes).

“ Những kết quả này không gây ngạc nhiên ”, BS Marie Boyer, nhà phôi học thuộc bệnh viện Saint-Joseph (Marseille) đã bình luận như vậy. Bà đã nghiên cứu tất cả các hồ sơ của những trẻ em được thụ thai bằng AMP trong bệnh viện này từ 1995. Như thế bà theo dõi các tham số sức khỏe của một nhóm 2.500 chú bé, với những dữ kiện cũng khá làm an lòng, nhất là về sự tăng trưởng của chúng. Tuy vậy Cơ quan sinh y học (Agence de biomédecine) vẫn phê phán về những kết luận của công trình nghiên cứu của B Viot, do sự thiên lệch về phương pháp học.
(LE FIGARO 15/6/2010)


5/ “ PHẪU THUẬT SẼ KHÔNG CÒN ĐỂ LẠI SẸO NỮA ”

Philippe Céruse là thầy thuốc ngoại khoa Tai Mũi Họng của Hospices civils de Lyon, chuyên về ngoại khoa vi-xâm nhập (chirurgie mini-invasive).

Hỏi : Vào tháng 3 năm 2009, ông đã là người thầy thuốc ngoại khoa đầu tiên ở Pháp lấy đi một phần thanh quản của một bệnh nhân bị ung thư mà không để lại sẹo ở cổ. Cuộc phẫu thuật diễn ra như thế nào ?
Philippe Céruse : Chúng tôi đã đưa 3 bàn tay được trang bị dụng cụ (bras instrumentés) của một robot ngoại khoa (robot chirurgien) vào trong miệng của bệnh nhân. Rồi chúng tôi đã lấy đi các khối u của thanh quản và rút những khối u này qua miệng. Sau đó, vấn đề còn lại là khâu vết thương mổ bên trong. Để thực hiện cuộc phẫu thuật này, được hợp thức hóa bởi nhóm của Gregory Weinstein ở Philadelphie, chúng tôi đã sử dụng một robot được mệnh danh là Da Vinci. Chiếc máy này, cỡ gần 2 m, cho phép thực hiện những vi động tác (microgeste) ngoại khoa có độ chính xác cao. Bởi vì các bàn tay khớp (bras articulés) của robot mang ở đầu chi các dụng cụ ngoại khoa (kéo, kẹp, dao mổ...) có đường kính 5 mm và một caméra. Chúng có thể thực hiện những cử động gần như 360 độ, điều mà một cổ tay người không thể làm được. Nhờ một hệ thống quang học và caméra, người thầy thuốc ngoại khoa cũng có được một thị lực được phóng đại đến 20 lần theo 3 chiều không gian vào lúc can thiệp. Điều này cho phép ông ta kiểm soát hoàn toàn các dụng cụ và khối u cần phải lấy đi. Tính đến nay, khoảng 70 bệnh nhân ở Pháp đã hưởng một ngoại khoa ORL bằng đường “ qua miệng ” (par voie trans orale).

Hỏi : Ngoại khoa không gây sẹo bên ngoài (chirurgie sans cicatrice extérieure) này phải chăng chỉ đáp ứng một mối quan tâm về thẩm mỹ ?
Philippe Céruse : Không, những bệnh nhân của chúng tôi ít đòi hỏi về sự vắng mặt của những vết sẹo mổ. Điều họ mong muốn trước hết, đó là tránh mở khí quản (trachéotomie), phục hồi lời nói một cách nhanh chóng và sớm xuất viện. Cắt bỏ thanh quản qua miệng cho phép một sự phục hồi nhanh chóng : bệnh nhân có thể nói trở lại ngay khi thức dậy, tự ăn uống trở lại một cách bình thường và không đau đớn ngay ngày thứ tư sau mổ, và giã từ bệnh viện 6 ngày sau đó. Ngược lại, với ngoại khoa cổ điển, bệnh nhân phải giữ một ống thông mở khí quản (canule de trachéotomie) trong 5 đến 10 ngày và được nuôi ăn qua một ống thông mũi-dạ dày, trong 2 đến 3 tuần. Sau đó bệnh nhân phải bắt đầu ăn trở lại với một thanh quản được mổ và có những rối loạn về nuốt. Nói chung bệnh nhân bắt đầu nói trở lại tối thiểu sau 48 giờ và được nhập viện khoảng 3 đến 4 tuần.

Hỏi : Chúng ta có thể dự kiến rằng rồi mai đây phần lớn những cuộc phẫu thuật của chúng ta không để lại một vết sẹo nào ?
Philippe Céruse : Vâng.Hoàn toàn đúng như vậy. Ngoại khoa vi xâm nhập (chirurgie mini-invasive) đã được sử dụng trong lãnh vực tiết niệu, tim học, dạ dày-tá tràng, phụ khoa, sản khoa và bây giờ là trong lãnh vực ngoại khoa tai mũi họng. Nhưng có những sự kềm hãm trong việc sử dụng nó : phải chắc chắn rằng, khi đó là một khối u cần phải lấy đi, ngoại khoa vi xâm nhập về quan điểm ung thư học cũng phải đáng tin cậy như ngoại khoa cổ điển. Điều đó đã được cho thấy trong những kết quả sơ khởi trong văn liệu khoa học, nhưng phải được xác nhận. Hạn chế khác : sự tiếp cận với robot. Bởi vì điều đó tổn phí 2 triệu euro, và kit de “ démarrage ” 30.000 euro. Ngoài ra cứ sau 20 cuộc mổ, phải thay mới mỗi dụng cụ, trị giá 5000 euro mỗi đơn vị.
(LA RECHERCHE 11/2010)

6/ CÁC DI CĂN TRỞ THÀNH CÁC MỤC TIÊU.

Để chống lại ung thư, các thầy thuốc có một kho vũ khí đã gây ấn tượng. Ngoài việc cắt bỏ khối u bằng ngoại khoa, họ cũng có thể nhắm các tế bào ác tính bằng cách chiếu tia X vào chúng (liệu pháp phóng xạ) hay làm ngộ độc chúng với hóa học trị liệu.

Dĩ nhiên mỗi trong 3 kỹ thuật này có những ưu điểm và những bất lợi. Bắt đầu bằng những thiệt hại “ collatéral ” mà chúng sinh ra. Dầu đó là ngoại khoa, phóng xạ liệu pháp hay hóa học trị liệu, những điều trị này dĩ nhiên tấn công vào các khối u nhưng chúng cũng ảnh hưởng lên các mô lành mạnh.

Ở Liège (Bỉ), GS Vincent Castronovo của “ Giga ” (Groupe interdisciplinaire de génoprotéomique appliquée) đề nghị một con đường thứ tư : con đường của chữ ký phân tử (signature moléculaire).
“ Thật vậy đó là nhắm tối đa vào các tế bào ung thư bằng cách nhận diện chúng nhờ những protéine rất đặc biệt mà chúng sản xuất ”, ông đã giải thích như vậy.

Thật vậy những tế bào ung thư biểu hiện những kháng nguyên đặc biệt. Do đó, trên lý thuyết, chỉ cần nhận diện chúng để chẩn đoán một ung thư. Trong thực tiễn, đó lại là một chuyện khác. Những thách thức này đã được đảm nhận bởi nhóm nghiên cứu của GS Castronovo. Và xuất sắc đến độ nhóm đã cấp chứng chỉ cho khoảng 50 phân tử đặc trưng của 6 loại ung thư khác nhau : các phân tử của ung thư vú, của lymphome, của glioblastome, của ung thư tụy tạng, của các ung thư xương và gan.

Thành công này đã khiến các nhà nghiên cứu thành lập một spin-off mới. Được mệnh danh “ Targetome ”, spin off hiệu chính những công cụ cần thiết để nhận diện những chất chỉ dấu sinh học này.

MỘT HY VỌNG ĐỐI VỚI UNG THƯ ĐẠI TRÀNG VÀ NHỮNG DI CĂN GAN.

“ Nhưng đó không phải là hoạt động duy nhất của chúng tôi, nhà nghiên cứu nói tiếp. Một khi công cụ chẩn đoán đã được hiệu chính, chúng tôi cũng sử dụng cùng những chất chỉ dấu sinh học này để xây dựng một điều trị nhắm đích vào khối u. Những phân tử được nói đến được dùng làm người dẫn đường cho các loại thuốc có nhiệm vụ loại bỏ những tế bào ung thư. Như thế, những chất chỉ dấu này sẽ gắn vào những tế bào ung thư và phóng thích hoạt chất của chúng. Đó là một cuộc chiến chọn lọc (une guerre sélective) thật sự chống lại ung thư. Với kết quả ít tác dụng hơn lên những tế bào lành mạnh vùng lân cận, điều này thoải mái hơn đối với bệnh nhân. ”

Một hướng thứ ba cũng được theo bởi nhóm Targetome. Ngoài sự nhận diện những chất chỉ dấu sinh học mới và sự phát triển những chất chỉ dấu sinh học nhắm đích (biomarqueur de ciblage), các nhà nghiên cứu Liège cũng muốn sử dụng những khám phá của mình để cải thiện việc chụp hình ảnh y khoa trong ung thư học. Các chất chỉ dấu sinh học được nhận diện đối với một ung thư nào đó có thể được cặp với những chất đồng vị đánh dấu (traceur radioactif), chiếu sáng khối u và xác định vị trí và mức độ lan rộng của nó.

“ Các chất đánh dấu (traceur) chụp hình ảnh và những kháng thể đối với liệu pháp nhắm đích, được phát triển từ những chất chỉ dấu sinh học Targetome sẽ là một cuộc cách mạng trong ung thư học, GS Castronovo đã đánh giá như vậy. Đó là 3 cột trụ của liệu pháp cá thể hóa của ngày mai. ”

Ưu tiên hiện nay ? “ Chúng tôi đã nghiên cứu 6 chất chỉ dấu của 6 loại ung thư, ông đã xác nhận như vậy. Trong tương lai, chúng tôi sẽ đặc biệt tập trung các khảo sát của chúng tôi vào việc nhận diện những chất chỉ dấu sinh học liên kết với các di căn gan. ”

“ Những di căn đến gan này là từ một ung thư của đại tràng. Khi ta bị di căn gan, thế là ta hầu như bị kết án rồi. Thật vậy ta không thể sống mà không có gan. Ở đất nước chúng ta (Bỉ) đó là nguyên nhân thứ hai gây tử vong do ung thư. Bằng cách nhắm những khối u đặc hiệu này, ta có thể hy vọng sau cùng mang lại một điều trị hiệu quả chống lại loại ung thư này.
(LE SOIR 17/11/2010)

7/ VIÊM GAN B VÀ C : LÀM SAO TRÁNH ?

BS Jean-Claude Desenclos
Directeur scientifique à l’InVs


Các bệnh viêm gan là những bệnh nhiễm trùng vẫn còn chưa được biết rõ. Tuy vậy người ta ước tính rằng 281.000 người bị nhiễm trùng ở Pháp bởi virus của viêm gan B (VHB) ; 230.000 người mang virus gây bệnh viêm gan C (VHC). Cộng lại, hai virus này góp phần gây tử vong cho hơn 5000 người mỗi năm. Điều đó nói lên tầm quan trọng của biện pháp phòng ngừa, của công tác điều tra phát hiện... và nhắc lại điều mà ta biết về những cách truyền bệnh.

VHB cực kỳ dễ gây lây nhiễm : 10 lần cao hơn VHC, 100 lần hơn VIH (HIV, virus gây bệnh Sida). VHB hiện diện trong máu, trong tinh dịch, các chất tiết âm đạo và sữa mẹ. Sự truyền virus được thực hiện qua tiếp xúc trực tiếp với máu, trong lúc giao hợp, lúc dùng chung những dụng cụ bị nhiễm trùng (ống tiêm, muỗng, bông, ống hút) nơi những người sử dụng chất ma túy (UD : usagers de drogue), lúc thực hiện những động tác xâm nhập (y khoa hay lúc xâm mình, piercings...), vào lúc sinh đẻ hay lúc dùng chung những đồ vật bị lây nhiễm. Các kiểu lây truyền đều giống nhau đối với VHC, trừ hai điểm : sự đi qua của virus từ mẹ đến con trong lúc sinh thường ít xảy ra và sự truyền bằng đường sinh dục chỉ là ngoại lệ.

VHB gây nhiễm nhiều hơn nơi đàn ông, các giai cấp xã hội không được ưu đãi, những người nguồn gốc châu Á, châu Phi dưới Sahara, những người sử dụng chất ma túy bằng đường tĩnh mạch và những người đàn ông có quan hệ đồng tính luyến ái. Các phụ nữ, những người sinh ra trong một nước Trung Đông hay châu Phi dưới Sahara, những người không được ưu đãi về mặt xã hội và những người sử dụng chất ma túy đều đặc biệt bị lây nhiễm bởi VHC (60% những người sử dụng ma túy bị nhiễm trùng và khoảng 3500 trường hợp nhiễm trùng mới xảy ra mỗi năm trong nhóm này).

Làm sao tránh bị lây nhiễm ? Biện pháp phòng ngừa tốt nhất đối với viêm gan B là chủng ngừa. Nhưng không có vaccin chống lại VHC. Tất cả những gì tránh sự tiếp xúc giữa máu của các người với nhau làm giảm sự khuếch tán của hai virus. Nhờ công tác phát hiện có hệ thống các trường hợp hiến máu từ đầu những năm 1990 nên sự lan truyền do truyền máu vô cùng hiếm ở Pháp. Trong môi trường điều trị, sự lan truyền trở nên ngoại lệ từ khi những biện pháp thận trọng về vệ sinh được tăng cường từ giữa những năm 1990. Không có sự lan truyền bằng đường sinh dục của VHB trong trường hợp sử dụng một cách hệ thống bao dương vật (préservatif).

NHỮNG KỀM HÃM CÔNG TÁC ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN.

Nơi những người dùng chất ma túy, sự giảm các nguy cơ, nhờ việc sử dụng các chất thay thế của các opiacés (buprénorphine hay méthadone) kết hợp với việc không dùng chung dụng cụ tiêm, là cơ sở của công tác phòng ngừa. Điều này đã cho những kết quả tốt đối với VIH, nhưng hiệu quả của nó ít hơn đối với VHC.

Sự điều tra phát hiện là chủ yếu. Sự việc biết là ta có bị nhiễm virus hay không cho phép áp dụng những biện pháp thận trọng để bảo vệ những người chung quanh và định hướng những điều trị. Vào năm 2004, chỉ 45% những người mang VHB và 57% những người mang VHC là đã được phát hiện, rất dưới tỷ lệ 75% được chủ trương bởi kế hoạch chống các bệnh viêm gan của Pháp. Vậy cần tìm hiểu những lý do nào đã kềm hãm việc điều tra phát hiện và sự phòng ngừa.
(LE FIGARO 8/1/2010)

8/UNG THƯ ĐẠI TRÀNG : LỐI SỐNG, CHÌA KHÓA CỦA PHÒNG NGỪA.

Nếu như chúng ta ăn uống lành mạnh, không hút thuốc, uống rượu có mức độ và tập nhiều thể dục hơn, khi đó ta có thể ngăn ngừa ¼ trong 1,2 triệu ung thư đại tràng được chẩn đoán mỗi năm.

Helene Kirkegaard và các cộng sự viên (Đan Mạch) đã phân tích các dữ kiện liên quan đến 55.487 người đàn ông và đàn bà tuổi từ 50 đến 64, không có các tiền sử về ung thư. Họ đã theo dõi nhóm người này trong khoảng 10 năm. Những người tham dự đã điền một bảng câu hỏi thăm dò lối sống và thói quen ăn uống của họ.

Trên cơ sở những dữ kiện được thu thập, mỗi người tham dự được cấp một chỉ số lối sống (index de style de vie) (được cho điểm từ 0 đến 5). Người ta gán cho mỗi người tham dự một điểm theo tiêu chuẩn mà người này thỏa mãn : không hút thuốc, bước nửa giờ mỗi ngày, không uống hơn 7 ly rượu mỗi tuần nếu đó là một phụ nữ (14 nếu đó là người đàn ông), có một tour de taille dưới 88 cm đối với các phụ nữ (102 cm đối với những người đàn ông) và ăn uống lành mạnh. Trong thời gian theo dõi, 678 trường hợp ung thư đại trực tràng đã được chẩn đoán. Theo các tác giả, giả sử tất cả những người tham gia đều đạt được chỉ số lối sống 5 điểm, thì điều đó có thể làm giảm 23% số các trường hợp ung thư. Vậy thông điệp sau cùng là khuyến khích dân chúng theo đuổi một lối sống lành mạnh.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 16/11/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 112 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/2/2009 )

2/ THUỐC LÁ : NGUY CƠ UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG

Nếu vai trò của thuốc lá trong nguy cơ xuất hiện một ung thư phổi (hay bàng quang) đã được chứng minh, thì vai trò của nó như yếu tố làm dễ các ung thư đại tràng và của trực tràng vẫn còn được bàn cãi. Một công trình phân tích méta (duyệt xét lại nhiều công trình nghiên cứu khác nhau) gồm 40.000 trường hợp ung thư đại-trực tràng vừa cho thấy rằng thuốc lá làm gia tăng 18% nguy cơ xuất hiện các ung thư này và gia tăng 25% nguy cơ tử vong.
(PARIS MATCH 29/1-4/2/2009)


9/ RUỘT THỪA VIÊM : MỔ MỘT CÁCH CÓ Ý THỨC.

Kíp ngoại khoa của BS Hamy (CHU d’Angers) đã thực hiện một công trình nghiên cứu nơi 233 bệnh nhân (15 tuổi và hơn), được khám ở phòng cấp cứu vì đau bụng phía phải, xác nhận tính hữu ích của điểm số Alvarado. Nhiều thế hệ các bệnh nhân đã được mổ ruột thừa viêm với triệu chứng duy nhất đau bụng dưới bên phải. Đối với 20 đến 30% trong số những bệnh nhân này, cuộc phẫu thuật là vô ích. Nhưng sự viêm nhiễm có thể tiến triển thành viêm phúc mạc, ảnh hưởng đến tiên lượng sinh tử. Vì vậy hơi chút nghi ngờ, các thầy thuốc chủ trương mổ vì lý do an toàn. Nhờ thầy thuốc ngoại khoa Alfredo Alvarado, để mổ một cách có ý thức, có một thang các điểm số (scores), đi từ O đến 10 và bao gồm 6 triệu chứng và hai xét nghiệm sinh học. Đau bụng dưới bên phải liên kết với đếm bạch cầu trên 10.000, mỗi dấu hiệu được 2 điểm. Những tiêu chuẩn khác (nôn hay mửa,...) được 1 điểm. Trên 6 điểm phải mổ không trì hoãn. Dưới 4 điểm bệnh nhân có thể về nhà. Giữa 4 và 6 , bệnh nhân được giữ lại theo dõi trong 24 giờ (siêu âm hay scanner). Mức độ nhạy cảm của phuơng pháp trên 90%.
( PARIS MATCH 18-24/11/2010)

10/ VIÊM ĐỘNG MẠCH CỦA CÁC CẲNG CHÂN : MỘT LIỆU PHÁP TẾ BÀO CHỐNG CÁC TÁI PHÁT.

BS Jean-Marc Alsac, chirurgien vasculaire thuộc bệnh viện Georges-Pompidou, giải thích phương pháp mới điều trị phòng ngừa bằng ghép các tế bào.

Hỏi : Khi nào ta nói là viêm động mạch (artérite) của các cẳng chân ?
BS Jean-Marc Alsac : Ta chẩn đoán bệnh lý huyết quản này (xơ mỡ động mạch) khi các động mạch bị bít bởi những mảng xơ mỡ. Bệnh này thành hình dần dần, trong nhiều năm, và ở Pháp gây bệnh cho 10% những người trên 60 tuổi, tức khoảng 20 triệu người, mà một nửa trong số này là những người đàn ông. Ta đã biết những yếu tố nguy cơ : tuổi tác, thuốc lá, cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết, bệnh đái đường...

Hỏi : Những triệu chứng của viêm động mạch cẳng chân là gì ?
BS Jean-Marc Alsac : Vào giai đoạn đầu tiên, viêm động mạch của các cẳng chân tiến triển không gây triệu chứng. Vào giai đoạn thứ hai, sự tắc của động mạch bắt đầu hạn chế sự tưới máu của chi : bệnh nhân lúc bước bị đau như chuột rút ở bắp chân hay ở đùi chân. Vào giai đoạn thứ ba, là lúc các thương tổn đã lan rộng lên khắp mạng động mạch, các cơn đau xuất hiện lúc nghỉ ngơi. Không được điều trị, viêm động mạch có nguy cơ gây nên hoại thư có thể dẫn đến sự cưa cụt.

Hỏi : Một viêm động mạch ở cẳng chân phải chăng có thể làm lo sợ những thương tổn khác ?
BS Jean-Marc Alsac : Khi bị viêm động mạch cẳng chân, cần phải tìm kiếm một cách hệ thống những thương tổn tim mạch khác (các động mạch vành và các động mạch cảnh) bởi vì, trong 50% các trường hợp, bệnh đã xâm chiếm những địa phận động mạch khác.

Hỏi : Hiện nay những điều trị quy ước là gì ?
BS Jean-Marc Alsac : Vào những giai đoạn 1 và 2, ta kê đơn cho bệnh nhân một điều trị nội khoa bằng thuốc uống (các chất chống ngưng kết tiểu cầu, statine…), dĩ nhiên được liên kết với một vệ sinh đời sống mới, trong đó ngừng thuốc lá và một hoạt động vật lý đều đặn. Bắt đầu từ giai đoạn 3, là lúc các cơn đau xuất hiện lúc nghỉ ngơi, cần phải can thiệp ngoại khoa. Nơi 60% các bệnh nhân, ta đặt một stent (một loại lò xo bằng kim loại nhỏ nhằm duy trì sự mở của huyết quản) bằng đường nội soi (par voie endoscopique). Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, ta thực hiện một bắt cầu ngoại khoa (pontage chirurgical). Với việc đặt các stent, các kết quả tức thời rất là tốt nhưng trong 40% các trường hợp, ta quan sát thấy, một năm sau, động mạch bị tắc trở lại, một phần hay hoàn toàn, khi đó sẽ cần phải đặt lại stent hay mổ bắt cầu.

Hỏi : Nguyên nhân của những tái phát này là gì ?
BS Jean-Marc Alsac : Stent, lúc tấn công thành huyết quản, sinh ra một quá trình làm sẹo viêm (cicatrisation inflammatoire), một phản ứng trong đó những tế bào sửa chữa (trong thành của mạch máu) tăng sinh một cách quá mức, đến độ làm tắc dần dần trở lại động mạch. Thật vậy, nếu những tế bào này « lồng lên », đó là bởi vì chúng không được kềm chế tốt bởi những tế bào khác (những tế bào nội mạc), những tế bào này do bị bệnh nên số lượng không đầy đủ.

Hỏi : Điều trị mới nhằm tránh những tái phát này là gì ?
BS Jean-Marc Alsac : Mục đích là duy trì thường trực sự mở của động mạch được điều trị bằng cách phong bế quá trình viêm, nguồn gốc của sự tái phát. Phương thức nhằm, sau khi đặt stent, tiêm quanh mạch máu những tế bào nội mạc mạch máu phát xuất từ người cho lành mạnh. Những tế bào này, được cấy trong phòng thí nghiệm liệu pháp tế bào ở bệnh viện Saint-Louis, được encapsulé trong một lớp bọc gélatine.

Hỏi : Tác dụng của những tế bào được tiêm này là gì ?
BS Jean-Marc Alsac : Chúng sẽ tiếp viện cho sự thiếu hụt của các tế bào nội mạc của chính bệnh nhân, lần này không gây phản ứng viêm quá mức nhờ những yếu tố mà những tế bào này tiết ra. Lớp vỏ gélatine bảo vệ những tế bào « lạ » được ghép này chống lại hiện tượng thải bỏ trong từ một đến hai tháng. Sau kỳ hạn này, chúng được thải bỏ bởi cơ thể mà không gây tác dụng phụ.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh lợi ích của điều trị này ?
BS Jean-Marc Alsac : Các công trình nghiên cứu nơi người đã được thực hiện ở Hoa Kỳ trên 60 bệnh nhân. Những kết quả đã cho thấy một độ dung nạp rất tốt và một sự hiệu quả rất thỏa mãn sau một thời gian hai năm nhìn lại. Ở Pháp, chúng tôi đã tiến hành một công trình nghiên cứu cách nay 6 tháng, với 3 nhóm nghiên cứu, trong đó có nhóm của chúng tôi ở bệnh viện Georges-Pompidou. Chúng tôi sẽ có các kết quả vào cuối năm 2011.
(PARIS MATCH 10/11-17/11/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/11/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969