Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 39
Lượt truy cập: 1028466
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ PHẢI CHĂNG TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỀU NGÁY ?

NHỮNG ĐIỂM MỐC

ĐÊM. Chứng ngáy làm bực bội nhiều người trong đêm và có thể hại cho những người ở chung quanh người ngáy cũng như cho chính anh ta. Đó là câu chuyện của những ống có thành mềm. Khi ta thở, không khí đi vào mũi, rồi đi qua hầu nằm ở sau mũi, lưỡi và thanh môn. Không khí sau đó vào trong thanh quản, qua khí quản cho đến tận phổi. Giữa hai phần cứng là mũi và thanh quản, hầu, cho phép không khí đi qua, có một thành màng (paroi membraneuse) và được cấu tạo bởi các cơ, nghĩa là mềm. Trong ngày, trong giai đoạn thức tỉnh, lượng khí đi qua đều đặn. Nhưng trong khi ngủ, họng (hay hầu) hơi co thắt lại và đường kính của ống mà khí đi qua bị hẹp lại. Nếu không khí đi qua trở nên quá khó khăn, sẽ tạo nên các luồng chảy rối (turbulences), sẽ làm rung lên các mô của hầu, đáy lưỡi, lưỡi gà và một phần của màn hầu (voile du palais).

CÁC NGUYÊN NHÂN. Vài nguyên nhân cơ thể học làm dễ sự ngáy. Như là vài người có một màn hầu (voile du palais) hay một lưỡi gà dài một cách bất thường, những hạnh nhân to lớn, hay một hàm dưới nhỏ hay quá lùi lại phía sau. Nhưng cũng có những nguyên nhân do vệ sinh đời sống. Một thể trọng quá mức, uống rượu hay sử dụng thuốc ngủ, thiếu ngủ hay cảm cúm đều có thể gây nên sự xuất hiện hay gia tăng của chứng ngáy. Sự kiện ngủ nằm ngửa cũng có thể làm ngáy gia tăng, nhưng không phải chỉ tư thế lúc ngủ mới có thể làm ta ngáy.

ĐIỀU TRỊ. Có nhiều điều trị hiện hữu, đi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất và tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Rửa mũi bằng nước muối trước khi ngủ có thể là một giải pháp, cũng như trái banh tennis được may vào quần áo ngủ nếu chứng ngáy chỉ xuất hiện khi người ngủ nằm ngửa. Nhưng TMH còn có những vũ khí khác trong kho vũ khí của mình.


Ảnh hưởng lên hơn 10 triệu người Pháp, chứng ngáy (ronflement) có thể che dấu một căn bệnh thật sự.

SOMMEIL. Bên cạnh một người ngáy, các đêm trường không có vẻ gì của một trường giang êm ả : với 100 décibel đối với những người ngáy ồn nhất, như tiếng vù vù của một động cơ xe tải, thì đó là điều gây thử thách nhất cho người ngủ cùng bên kiên nhẫn nhất. Thật vậy, chứng ngáy là một trong những bệnh lý hiếm hoi trong đó người yêu cầu không phải là chính người bệnh mà lại chính là người vợ hay chồng của người ngáy ”, GS Frédéric Chabolie, trưởng khoa Tai Mũi Họng (bệnh viện Foch, Suresnes) và tổng thư ký của Hiệp hội Tai Mũi Họng Pháp đã nhận xét như vậy. Âm vang này, ít ra cũng gây phiền nhiễu, thường phát xuất từ màn hầu (voile du palais), rung lên dưới tác dụng của không khí đi qua. Màn hầu có thể rung lên bởi vì nó quá dài, có hình chân vịt hay không đủ trương lực, hay lại nữa bởi vì nó quá nặng. Khi đó việc lên ký do tuổi tác gia tăng là nguyên nhân quan trọng. Mũi bị tắc nghẽn và/hoặc một xương hàm dưới quá thụt vào (rétrognate) là hai nguyên nhân khả dĩ khác, đặc biệt nơi phụ nữ và người đàn ông trẻ.

Bởi vì một sự tiêu thụ rượu quá mức hay một sự sử dụng đều đặn thuốc ngủ (làm màn hầu càng giãn ra) làm dễ sự xuất hiện của chứng ngáy, nên các thầy thuốc TMH yêu cầu người ngáy cải thiện vệ sinh đời sống của mình : giã biệt những trọng lượng thừa, những bữa ăn tối nhẹ và không có rượu.

Trong phần lớn các trường hợp, như thế không đủ. Khi người ngủ chỉ ngáy khi nào anh ta nằm ngửa, một mẹo nhằm may vào anh ta một balle de tennis, được đặt trong bọc, ở phía sau áo ngủ của anh ta. Khi đó anh ta không thể nằm theo tư thế này và ngủ nghiêng trở thành một phản xạ. Những mẹo khác đã được nghĩ ra để cải thiện sự đi qua của không khí, như các đai nhỏ làm giãn mũi (bandelette de dilatation nasale), những sản phẩm có chất cơ bản tinh dầu (huile essentielle) để bơm vào trong mũi hay trên màn hầu, nhưng không một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh nào đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó, GS Chabolle đã nhận xét như vậy. Về chiếc gối điện nhằm đánh thức người ngáy khi có tiếng ngáy nhỏ nhất, nó chỉ mang lại hậu quả là thay thế một giấc ngủ sâu có tính cách bồi dưỡng bởi một giấc ngủ nông có chất lượng kém hơn. Vì thế khi thức dậy mệt mỏi..”

Bên cạnh những giải pháp gây tranh cãi này, những người khác, với sự chấp thuận của hiệp hội TMH Pháp, được gắn orthèse d’avancée mandubulaire sur mesure (thiết bị nhằm đưa hàm dưới ra phia trước, được chế tạo tùy theo từng cá thể), do nha sĩ thực hiện. Orthèse này là một thiết bị răng gồm hai phần, một phần được thích ứng vào hàm trên còn phần kia vào hàm dưới. Một đòn bẫy (levier) nối hai rảnh cho phép đưa hàm dưới ra phía trước. Kết quả, đáy lưỡi được đẫy ra phía trước, khai thông đáy họng. Khá hiệu quả, nhưng không phải luôn luôn được chấp nhận, bởi vì máy phải được mang mỗi đêm.

KHÔNG CÓ GIẢI PHÁP VẠN ỨNG.

Trong trường hợp này TMH hướng về các điều trị màn hầu bằng tần số phóng xạ (radiofréquence) hay laser (dưới gây mê tại chỗ) hay bằng ngoại khoa (dưới gây mê tổng quát). “ Sự lựa chọn được thực hiện tùy theo động tác cần phải thực hiện, do đó tầm quan trọng của bilan ban đầu này để xác định cái gì rung và gây ngáy, sự cần thiết phải nhanh chóng đi làm việc trở lại hay không và kinh nghiệm của TMH ”, BS Marc Blumen, thầy thuốc chuyên khoa TMH đã giải thích như vậy.

Với tần số phóng xạ (radiofréquence), nhằm kích thích và làm nóng nhẹ màn hầu để làm cho nó cứng hơn, có thể điều trị trong một buổi duy nhất hay nhiều buổi, được thực hiện cách nhau 8 tuần (không gây đau trong trường hợp này). Không cần phải nghỉ việc. Nhưng phải tính 6 đến 8 tuấn để đánh giá các kết quả. Với ngoại khoa hay laser, các kết quả nhanh chóng hơn (4 tuần), nhưng hậu phẫu tức thời đau đớn hơn. “ Sau một phẫu thuật, cũng phải tính 10 đến 15 ngày nghỉ việc. Đó là giải pháp hiệu quả nhất, khi ngoài một màn hầu quá dài, còn phải lấy đi hai hạnh nhân to tướng và/hoặc mọi cấu trúc khác có liên hệ trong chứng ngáy. Vậy không có giải pháp vạn ứng, BS Blumen đã xác nhận như vậy.

Sau khi được điều trị, chứng ngáy có nhiều khả năng giảm đi nhưng không nhất thiết phải biến mất. Thường như thế là đủ để người bạn chăn gối tìm lại giấc ngủ của mình, ít nhất, nếu như lúc ban đầu giấc ngủ này vốn đã có chất lượng tốt. “ Thế mà không phải là luôn luôn như vậy. Chúng tôi đã tiến hành một điều tra nơi 20 cặp vợ chồng, để kiểm tra xem người vợ có một giấc ngủ có chất lượng tốt hơn hay không khi nàng không ngủ với “ ông chồng ngáy ” của mình. Không phải luôn luôn là như vậy. Trong lúc phân tích sâu các điều tra này, chúng tôi đã nhận thấy rằng 25% trong số những người vợ này, chính các nàng cũng ngáy mà không hay biết. Như thế có thể giải thích tại sao vài chứng ngáy của ông chồng, mặc dầu được điều trị một cách thành công, nhưng lại không cải thiện giấc ngủ của đôi vợ chồng ”, GS Chabolle và BS Blumen đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 22/1/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 112 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/2/2009 )

7/ TẤT CẢ CÁC ÔNG ĐỀU NGÁY ?

Tất cả tùy thuộc vào lứa tuổi. Trước tuổi 30, cứ 10 người đàn ông chỉ có một người ngáy mà thôi ; sau 60, cứ 10 người có hơn 6 người bị chứng bệnh này. Ai từng ngủ bên cạnh một người ngáy đều biết rằng tiếng ồn phát ra là không thể chịu đựng nổi và không bao giờ có thể quen được với những tiếng ngáy như vậy ; tuy nhiên ngáy rất là phổ biến. Vào năm 1980, gần ¼ dân số của Cộng Hòa San Marino, một Quốc gia độc lập của Đông Bắc Ý, đã tham gia vào một công trình nghiên cứu về những rối loạn giấc ngủ. Trên 5.713 người được hỏi, 19% là những người thường ngáy (24% đàn ông và 13,8% phụ nữ).

Nhưng tần số này thay đổi tùy theo tuổi tác. Nếu dưới 30 tuổi, chỉ 10% đàn ông và dưới 5% phụ nữ ngáy, tỷ lệ này đạt đến 60% đàn ông và 40% phụ nữ sau tuổi 60 ; tại sao đàn ông ngáy nhiều hơn phụ nữ ? Trước hết chúng ta hãy nhìn xem những nguyên nhân của ngáy.

Khi chúng ta thở, không khí đi qua mũi, rồi vào hầu (họng) nằm phía sau mũi, lưỡi và nắp thanh quản (épiglotte). Sau đó không khí vào trong thanh quản, đến tận các lá phổi qua khí quản. Nằm giữa hai phần cứng là mũi và thanh quản, hầu (pharynx), cho phép không khí đi qua, có một thành màng (paroi membraneuse) mềm mại, được cấu tạo bởi các cơ. Hầu có thể đóng lại, nhất là khi ta thở vào: các thành của hầu sập xuống và ta có nguy cơ nuốt lưỡi nếu các cơ giãn không tránh được sự khép kín này vào thời kỳ đầu của kỳ thở vào. Nhưng khi ta ngủ, những cơ giãn này càng giãn ra khi ta ngủ càng sâu. Hầu khi đó hẹp hơn, làm cho không khí đi qua khó khăn hơn.

Trong lúc thức, luồng khí đi qua đều đặn. Trái lại, trong lúc ngủ, nếu khoảng không gian có sẵn cho khí đi qua không đầy đủ, luồng khi trở nên bị xoáy, làm rung tất các các mô mềm của vùng (đáy lưỡi, lưỡi gà, một phần của khẩu cái mềm và hầu). Những mô mềm này “ phấp phới ” và tạo ra một tiếng thở vào có âm sắc trầm : tiếng ngáy.

Nhiều yếu tố làm dễ sự ngáy. Về phương diện cơ thể học, vài người có một màn hầu (voile du palais) hay một lưỡi gà (luette) dài một cách bất thường, những hạnh nhân lớn, hay một hàm dưới nhỏ hay quá đưa ra đằng sau. Những yếu tố này làm hẹp các đường khí và gây nên ngáy. Chứng béo mập, làm cho lưỡi, các thành của hầu và cổ được bao phủ bởi mỡ, cũng gây nên ngáy. Sự việc ngủ nằm ngửa, làm lưỡi bị trụt ra sau, cũng làm gia tăng ngáy.

MỘT ỐNG KHÍ HẸP

Sự tiêu thụ rượu hay các thuốc ngủ cũng làm gia tăng sự giãn cơ. Cũng vậy, sự thiếu ngủ gây nên sự gia tăng lượng giấc ngủ chậm và sâu (sommeil lent profond), một giai đoạn trong đó ngáy quan trọng nhất (bởi vì sự giãn cơ đạt tối đa). Một cái mũi bị nghẹt, thí dụ lúc bị cúm, có thể gây nên ngáy, bởi vì mũi bị nghẹt buộc không khí chỉ đi qua miệng và bởi vì nó làm gia tăng cố gắng cần thiết để làm không khí lưu thông qua miệng.

Ngoài những yếu tố này ra, một người đàn ông có nhiều nguy cơ bị ngáy hơn, không những do người đàn ông có một thanh quản dô ra hơn, “ quả táo Adam ”, mà còn do một hầu hẹp hơn hầu của các phụ nữ. Chính những khác nhau cơ thể học này khiến cho đàn ông có một giọng nói trầm hơn, nhưng cũng làm giảm khoảng không gian cần thiết cho khí đi qua. Mặt khác, các hormone nữ (nhất là progestérone) làm giới hạn sự ngáy. Điều này giải thích tại sao các bà ngáy cũng gần như bằng các ông sau tuổi mãn kinh. Ngoài ra, thêm vào sự giãn cơ bình thường trong lúc ngủ là sự mất trương lực của các mô lúc tuổi tác gia tăng, điều này giải thích sự gia tăng của hiện tượng ngáy sau tuổi 60.

Sau đây là vài điều lưu ý để làm giảm ngáy lúc ngủ : đừng để bị mất ngủ, tránh uống rượu và dùng các thuốc ngủ vào lúc ngủ, thông mũi trước khi đi ngủ bằng nước muối, khi ngủ nằm nghiêng và gìn giữ thế nào để có một thể trọng bình thường.
(POUR LA SCIENCE 2/2009)


2/ NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ (APNEE DU SOMMEIL) CÓ THỂ NGUY HIỂM.

Các đợt ngừng thở ngắn (apnée) càng lập lại, thì càng nguy hiểm cho người ngáy : “ Ta nói những cơn ngừng thở nặng (apnées sévères) khi chúng xảy ra trên 30 lần nghỉ hoàn toàn (pause complète) mỗi giờ hay một sự giảm hơn 50% lưu lượng hô hấp, GS Chabolle đã giải thích như vậy. Khoảng 1,2 triệu người Pháp bị liên hệ bởi vấn đề này, với 3 hậu hậu quả : một sự mệt mỏi thường xuyên và những cơn đau đầu lúc thức dậy, do đó cảm giác khó ở (mal-être). Một nguy cơ gia tăng bị cao huyết áp, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não. Và sau cùng những nguy cơ tăng gấp mười bị tai nạn đường xá, lao động hay tai nạn trong gia đình.”

Những dạng ngừng thở ngắn lúc ngủ khác ít nghiêm trọng hơn lại còn thường thấy hơn, với 3 triệu người Pháp bị một dạng trung bình (từ 15 đến 30 lần ngừng thở ngắn mỗi giờ) hay nhẹ (dưới 15 lần ngừng thở mỗi giờ). Những dạng này tuy vậy không phải là ít gây trở ngại bởi vì chúng đã ảnh hưởng lên trí nhớ và sự chú ý. “ Chính vì vậy khi người vợ phàn nàn rằng “ nửa kia ” của mình có những lần ngừng nghỉ khi thở trong lúc ngủ, thì không còn phải do dự nữa. Phải đi thăm khám. Nếu thấy một chút nghi ngờ, người thầy thuốc cho thực hiện một polygraphie ventilatoire nocturne : thăm khám này, thường được thực hiện tại nhà, nhằm ghi số ngừng nghỉ hô hấp bằng cách đo, trong một đêm, lưu lượng khí qua mũi và miệng và ảnh hưởng của chúng lên tim. Như thế có thể chọn lọc những người ngừng thở (apnéique) và những người không phải như vậy ”, GS Chabolle đã xác nhận như vậy.

NGOẠI KHOA, VŨ KHÍ SAU CÙNG.

Ngược lại, polysomnographie chỉ có thể được thực hiện trong một centre de sommeil : thăm dò này còn ghi thêm hoạt động điện của não bộ, nhờ những điện cực dán lên sọ của bệnh nhân đang thiu ngủ. Người ta dành polysomnographie cho những bệnh nhân có chẩn đoán không được rõ ràng hay để tìm kiếm một bệnh lý về giấc ngủ liên kết.

3 loại điều trị, được đảm nhận bởi Sécurité sociale, khi đó có thể được đề nghị. Được biết đến nhất là thông khí dưới áp lực dương liên tục (ventilation à pression positive continue, CPAP), nhằm mang một mặt nạ nối với một máy ép nhỏ (compresseur) phát ra không khí dưới áp lực dương, để lấy đi nguyên nhân gây tắc nơi họng. Hiệu quả, thực tiễn (bệnh nhân tự sử dụng) và nhỏ hơn, ít gây tiếng ồn hơn những thiết bị cũ, kỹ thuật thông khí áp lực dương liên tục này được hưởng nhiều cải tiến công nghiệp học. “ Mặc dầu như thế, cứ hai bệnh nhân thì có một bỏ cuộc trong 12 tháng đầu tiên ”, GS Chabolle lấy làm tiếc như vậy.

Phương pháp lựa chọn thứ hai : orthèse dentaire, với hai rãnh răng (gouttière dentaire) được thích ứng theo từng cá thể, được nối với một đòn bẫy (levier), hoặc được trang bị bởi một “ piégeur de langue ” (bọc nhỏ bằng silicone). Nhưng lại nữa, mọi người đều không tán thành và sau một năm cứ hai bệnh nhân có một bỏ cuộc.

Thế thì còn có giải pháp ngoại khoa : giải pháp triệt căn duy nhất, không prothèse, đối với căn bệnh này. Nhiều phẫu thuật khả dĩ : phẫu thuật của màn hầu, của các hạnh nhân, đôi khi phẫu thuật làm thu nhỏ lưỡi và khai tắc.“ Sau cùng, ostéotomie d’avancée bimaxillaire, nhằm làm gãy các hàm dưới để đưa chúng ra phía trước, là một giải pháp triệt căn và rất hiệu quả. Phải tính đến 2 đến 6 ngày nhập viện và hai đến ba tuần nghỉ việc. Và một sự đánh giá lại giấc ngủ sau khi mổ là cần thiết để kiểm tra rằng không còn bị ngưng thở trong lúc ngủ nữa ”, GS Chabolle đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 22/1/2010)

3/ TESTOSTERONE BẢO VỆ TIM CỦA NHỮNG BỆNH NHÂN ĐỘNG MẠCH VÀNH.

Kích thích tố nam này là một chất giãn các động mạch vành rất mạnh, một chất bảo vệ tim mạch hàng đầu. Những nồng độ thấp testostérone nơi người được liên kết với sự hiện diện của nhiều yếu tố nguy cơ của xơ mỡ động mạch. Cho đến nay không một công trình nghiên cứu nào đã đánh giá ảnh hưởng thật sự của hormone này nơi những người bị bệnh động mạch vành. Các thầy thuốc chuyên khoa tim người Anh của Royal Hallamshire Hospital (Sheffield), đã khỏa lấp chỗ trống này. Nhóm nghiên cứu của họ đã theo dõi, trong 7 năm, 930 người bị bệnh động mạch vành, trong đó ¼ có những nồng độ testostérone thấp (dưới 2,6 nanomoles mỗi lít) vào lúc bắt đầu nghiên cứu. Chung kết, tỷ lệ tử vong tim mạch toàn bộ (tim hay não) đã gần như tăng gấp đôi nơi những người này so với những bệnh nhân động mạch vành có nồng độ testostérone bình thường. Công trình này chỉ rõ rằng việc đo nồng độ testostérone trong máu phải là một phần của sự đánh giá nguy cơ tim mạch. Testostérone cũng có thể trở nên một vũ khí phòng ngừa. Ngoài ra, hormone này không phải là không nguy hiểm (nguy cơ đối với tuyến tiền liệt). Những công trình nghiên cứu đánh giá là cần thiết.
(PARIS MATCH 10/11-17/11/2010)

4/ VACCIN CHỐNG VIÊM GAN B PHẢI CHĂNG LÀ KHÔNG CÓ NGUY CƠ ?

BS Marc Bourlière
Fondation-Hôpital Saint-Joseph (Marseille).


Từ 300 đến 400 triệu người trên thế giới là những người mang mãn tính viêm gan B. Sự tồn tại dai dẳng của virus trong cơ thể gây nên một nhiễm trùng gan, có thể dẫn đến xơ gan và bị nguy cơ ung thư gan, nguyên nhân thứ ba của ung thư trên thế giới. Người ta ước tính rằng 2 triệu người chết mỗi năm vì một bệnh có liên quan với virus của viêm gan B. Ở Pháp, công trình nghiên cứu mới nhất của Viện theo dõi y tế (InVS : Institut de veille sanitaire) đã cho thấy rằng 281.000 người bị nhiễm siêu vi trùng. Số trường hợp mới hàng năm được ước tính là 2578. Tỷ lệ này có thể gia tăng trong những năm đến do việc chủng ngừa không được hoàn hảo.

NHẤT TRÍ VỀ TÍNH VÔ HẠI

Vaccin chống lại viêm gan B đã có ở Pháp từ năm 1981. Việc tiêm chủng trở thành bắt buộc đối với nhân viên y tế từ năm 1991 và năm 1994, sự tiêm chủng này đã được đưa vào trong lịch trình tiêm chủng của nhũ nhi. Những lợi ích của sự tiêm chủng đã được chứng minh từ hai mươi năm qua. Thí dụ sự tiêm chủng một cách hệ thống từ năm 1986 những trẻ sơ sinh ở Đài loan, đất nước có bệnh dịch địa phương mạnh, đã làm giảm 75% số các trường hợp ung thư gan nơi các trẻ em, 10 năm sau khi thực hiện công tác tiêm chủng. Cũng vậy, sự tiêm chủng hệ thống các trẻ em giữa năm 1994 và 1997 ở Pháp đã cho phép tránh được khoảng 20.000 nhiễm trùng do virus B và như thế có lẽ tránh được 8000 trường hợp viêm gan cấp tính, 800 trường hợp viêm gan mãn tính B và 40 viêm gan tối cấp (hépatite fulminante).

Cuối những năm 1980, nhiều trường hợp bệnh thần kinh hủy myéline (neuropathie démyélinisante), nhất là xơ cứng rải rác, đã được báo cáo sau khi được tiêm chủng. Những điều chứng thực này đã khiến phải tiến hành những công trình nghiên cứu rộng lớn (trên hơn 700.000 người) để xem có hiện hữu một mối liên hệ nhân quả giữa việc tiêm chủng chống lại VHB và sự xuất hiện những bệnh thần kinh này hay không.

Những công trình nghiên cứu quy mô lớn, tất cả đều cho thấy không có mối liên hệ giữa việc tiêm chủng chống VHB và những căn bệnh này. Cùng kết luận như vậy đối với 5 công trình nghiên cứu cas-témoins, trừ một được thực hiện ở Anh nhưng đối với công trình này vì có nhiều thiên lệch về phương pháp học nên những kết luận gây nhiều tranh luận. Vì vậy, hội nghị nhất trí quốc tế tổ chức ở Paris năm 2003 đã kết luận về tính vô hại của vaccin và đã khuyến nghị tiếp tục công tác tiêm chủng đại trà các nhũ nhi, trẻ em và thiếu niên, thực hiện sự tiêm chủng bắt buộc, vào lúc sinh, các trẻ sơ sinh có mẹ mang VHB, tăng cường việc tiêm chủng những người có nguy cơ và tiêm chủng những người mang VIH hay virus của viêm gan C.

MỘT LỢI ÍCH RÕ RÀNG.

Vào năm 2007, một công trình nghiên cứu đã được tiến hành nơi các thiếu niên bị một bệnh lý hủy myéline (pathologie démyélinisante) và không được tiêm chủng chống lại VIH : kết quả, vaccin chống VHB không làm gia tăng nguy cơ tái phát thương tổn hủy myéline, dầu thời gian theo dõi như thế nào.Một công trình nghiên cứu phụ được công bố năm 2008 đã gợi ý rằng có một nguy cơ liên quan đến việc sử dụng của một loại vaccin. Nhiều sai lệch phương pháp học làm mất giá trị công trình nghiên cứu này, đã khiến các chuyên gia và Haut Conseil de la santé publique, vào tháng 10 2008, kết luận rằng việc được tiêm chủng bởi vaccin chống VHB không làm gia tăng nguy cơ tái phát thương tổn hủy myéline, dầu thời gian theo dõi và vaccin được sử dụng như thế nào.

Tất cả các dữ kiện khoa học nghiêm chỉnh từ hơn 20 năm qua cho thấy rằng sự tiêm chủng chống VHB là không có nguy cơ và có một lợi ích rõ ràng doi với những người được tiêm chủng. Ở Pháp, vài công trình nghiên cứu, không chắc đúng về mặt lý giải, nhưng đã được công bố rộng rãi trong công chúng và đã gieo mối nghi ngờ vào việc tiêm chủng này. Điều này khiến cho đất nước chúng ta hiện nay có mức bảo vệ do tiêm chủng ít tốt nhất nơi nhũ nhi : chỉ 29% các nhũ nhi được tiêm chủng so với 87% ở Đức và 96% ở Tây Ban Nha hoặc Ý.

Cần phải khẩn trương đảo ngược lại tình huống này, phát động trở lại chương trình tiêm chủng nếu không sẽ phải trả một cái giá rất đắt từ nay đến vài năm nữa, khi các trẻ em không được tiêm chủng sẽ trở thành những người lớn không được bảo vệ chống lại tai ương này.
(LE FIGARO 8/11/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 65 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/2/2008 )

2/ VIÊM GAN DO SIÊU VI TRÙNG B : TIÊM CHỦNG KHÔNG GÂY NGUY CƠ CHO TRẺ EM

Một công trình nghiên cứu mới của Pháp nhấn mạnh rằng không có mối liên hệ giữa việc tiêm chủng chống viêm gan do siêu vi trùng B và bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques).

Rất gần đây, việc hai đại diện của công nghiệp dược phẩm đã bị thẩm vấn trong vụ thuốc chủng chống bệnh viên gan B và nguy cơ mắc phải bệnh xơ cứng rải rác, đã làm phát động trở lại cuộc tranh luận về vấn đề này.Tuy vậy, vào tháng 12 vừa qua, các thầy thuốc người Pháp đã công bố trong tạp chí Archives of Pediatrics một công trình nghiên cứu mới kết luận rằng ở trẻ em không có mối liên hệ giữa sự tiêm chủng chống viêm gan do siêu vi trùng B và bệnh xơ cứng rải rác. Được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo sư Marc Tardieu thuộc bệnh viện Kremlin-Bicetre, công trình nghiên cứu có liên quan đến đại đa số các trẻ em đã từng khai báo bị bệnh xơ cứng rải rác ở Pháp từ năm 1994 (lúc chiến dịch chủng ngừa hàng loạt được phát động bởi chính phủ của thời kỳ đó) và năm 2003. “ Đây là lần đầu tiên loại nghiên cứu này được thực hiện ở trẻ em, Marc Tardieu đã nhấn mạnh như vậy, và kết quả là rõ ràng : trong số 143 trường hợp được liệt kê, việc chủng ngừa chống virus của bệnh viêm gan B đã không liên kết với một nguy cơ phát bệnh xơ cứng rải rác quan trọng hơn ”

Năm 2007, nhóm nghiên cứu người Pháp đã chứng tỏ rằng việc tiêm chủng chống viêm gan B nơi các trẻ em đã bị chứng xơ cứng rải rác đã không có một tác dụng nào lên tiến triển của bệnh này cả. “ Những công trình nghiên cứu này xác nhận một chục công trình nghiên cứu khác về chủ đề này và những điều mà các chuyên gia đã nghĩ về bệnh xơ cứng rải rác ”, giáo sư thần kinh học Christian Confavreux, ủy viên của ủy ban y học và khoa học của Hiệp hội nghiên cứu chống xơ cứng rải rác đã bình luận như thế. “ Bây giờ đây, hàng chục triệu người đã được tiêm chủng chống virus trên khắp thế giới, và không còn một nước nào nêu vấn đề này nữa trừ chúng ta. Các nghiên cứu càng được tiến hành sâu thì việc chủng ngừa này càng có vẻ không có tương quan với sự phát khởi hay sự tiến triển của bệnh xơ cứng rải rác ”.

TÍNH MIỄN DỊCH RẤT LÂU DÀI

Trong các nước đang phát triển, siêu vi trùng của viêm gan B là nguyên nhân thứ hai gây tử vong bởi ung thư, sau thuốc lá. Ở Pháp, theo những con số chính thức, virus này gây ra gần 1.500 nạn nhân mỗi năm. Năm 1994, tiếp theo những lời khuyến nghị của OMS, chính phủ Pháp đã phát động một chiến dịch chích ngừa rộng rãi các nhũ nhi và các học sinh lớp 6. Việc tiêm chủng các trẻ ở lứa tuổi thấp gây nên một tình trạng miễn dịch rất lâu dài, có lẽ suốt đời chống lại virus và cho phép tác động lên mọi tầng lớp xã hội. Sự tiêm chủng các học sinh trung học là tiêm chủng đuổi (rattrapage) nhằm hoàn tất sự che chở bằng vaccin chống lại một nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục.

Vào năm 1998, trong khi các mối hoài nghi vẫn còn về một tác dụng làm gia trọng của việc chủng ngừa lên bệnh xơ cứng rải rác, bộ trưởng Y tế Bernard Kouchner, đã quyết định đình chỉ sự tiêm chủng đã được dự kiến nơi tất cả các học sinh trung học. “ Tỷ lệ tiêm chủng bảo vệ nơi các thiếu niên vào thời kỳ đó là gần 80%.” Daniel Lévy-Bruhl, trưởng phòng tiêm chủng ở Viện theo dõi y tế đã xác nhận như thế, “ điều này khiến hiện nay chúng ta quan sát thấy một sự giảm sút các trường hợp viêm gan cấp tính nơi các người trưởng thành trẻ tuổi. Tỷ lệ tiêm chủng bảo vệ nơi các thiếu niên ngày nay dưới 40% và chúng ta sẽ có khả năng thấy số các trường hợp này gia tăng trong những thế hệ mới ”.

Và điều này càng xảy ra khi sự tiêm chủng nơi các nhũ nhi vẫn luôn luôn dậm chân dưới 30%, trong khi tại các nước láng giềng châu Âu và ở Bắc Mỹ tỷ lệ này vượt quá 90%. “ Trái với sự tiêm chủng nơi người lớn, không bao giờ có những mối nghi ngờ về tính vô hại của sự tiêm chủng nơi các nhũ nhi, Daniel Lévy-Bruhl đã kết luận như thế, và việc tiêm chủng này đã được khuyến nghị bởi phần lớn các chính quyền y tế từ năm 1995 : vậy nay đúng là lúc phải áp dụng điều đó.”
(LE FIGARO 12/2/2008)


5/ MỘT ÍT LỊCH SỬ VỀ NHIỆT KẾ.

Các thầy thuốc cố phát hiện sốt nơi các bệnh nhân mình từ thời Thượng Cổ. Nhưng sự phát minh ra nhiệt kế, chiếc máy cho phép định lượng một cách chính xác một sự tăng cao nhiệt độ, chỉ mới từ thế kỷ XVI.

MỘT GIỌT NƯỚC.

Chính vào năm 1597 nhà vật lý người Ý đã hiệu chính đầu tiên chiếc máy thuộc loại này. Trong một ống thủy tinh được làm đầy khí, một giọt nước di chuyển dưới tác dụng của những biến thiên về nhiệt độ. Những chiếc máy này chỉ được dành để đo nhiệt độ môi trường. Phải chờ thêm vài năm nữa một người bạn của Galilée, thầy thuốc người Ý Santorio Santorio (1561-1636), được biết là đã nghiên cứu nhiều nhiệt độ cơ thể, sử dụng lần đầu tiên vào năm 1312 loại máy này để đo nhiệt độ của các bệnh nhân. Chiếc máy, được đặt trong miệng, đánh giá sự thay đổi của nhiệt độ do khí thở ra.

Chiếc nhiệt kế y khoa thật sự đầu tiên, tương tự với những nhiệt kế được sử dụng hôm nay, được phát minh năm 1654 bởi đại công tước Toscane Ferdinand II de Médicis (1610-1670) : đó là một dụng cụ chứa cồn (instrument à alcool), đuợc cấu tạo bởi một thân bằng thủy tinh và có một bình chứa ở phía đầu mút chứa cồn. Thân bằng thủy tinh này mang 50 độ chia chỉ những trị số của nhiệt độ. Khi cồn tiếp xúc với một yếu tố nóng hơn, nó giãn ra và “ leo lên ” dọc theo thang khắc độ, bên trong nhiệt kế. Nhiệt kế chứa thủy ngân (thermomètre à mercure), nhiệt kế hiện đại đầu tiên, được phát triển bởi nhà vật lý người Đức Daniel Gabriel Fahrenheit (1686-1736), thay thế cồn bằng thủy ngân.

Ưu điển của thủy ngân đối với cồn ? Nó cho phép chế tạo những nhiệt kế chính xác hơn bởi vì thủy ngân không dính vào các thành của ống nhiệt kế, điều này làm cho chất dịch đi lên trong ống nhờ hiện tượng mao dẫn (capillarité), thủy ngân làm cho có thể sử dụng những nhiệt kế mạnh hơn những nhiệt kế được dùng với cồn. Thế mà, trong những ống mảnh hơn, ta phát hiện chính xác hơn những “ mức dâng lên ” bé nhỏ của chất dịch. Ngoài nhiệt kế thủy ngân, Fahrenheit cũng đã phát minh vào năm 1714 thang nhiệt độ mang tên ông. Thang nhiệt độ này quy định 32 độ F là nhiệt độ nóng chảy của nước đá và 212 độ F là điểm sôi của nước dưới áp suất không khí bình thường.Ta chịu ơn Anders Celsius (1701-1744) thang Celsius, được sử dụng trên các nhiệt kế y khoa (thermomètre médical) ở Pháp. Nhà vật lý người Thụy Điển đã phát minh vào năm 1742 một nhiệt kế thủy ngân chỉ 100 độ C ở điểm đông lạnh của nước và O độ C điểm sôi của nước, chiều ngược lại với chiều được sử dụng hiện nay. Chính nhà vạn vật học người Thụy Điển Carl von Linné (1707-1778) đã đề nghị đảo ngược lại thang nhiệt độ : năm 1745, ông trình bày ở Viện hàn lâm một mô hình thủy ngân chỉ O độ C là điểm nóng chảy của nước đá và 100 độ C là điểm sôi của nước.

ĐỊNH LƯỢNG SỐT.

Trên quan điểm y học, sự sử dụng nhiệt kế để định lượng sốt chỉ trở thành một động tác thường quy nơi các thầy thuốc chỉ bắt đầu từ thế kỷ XIX, sau những công trình của Karl Reinhold August Wunderlich (1815-1877). Bằng cách cho thấy rằng sốt là một triệu chứng của một căn bệnh chứ không phải là một bệnh nói riêng, thầy thuốc người Đức này khuyến khích các đồng nghiệp của mình đo một cách hệ thống nhiệt độ của bệnh nhân để biết xem là bệnh nhân có đang ủ một căn bệnh nhiễm trùng hay không. Trong hơn 100 năm, nhiệt kế y khoa chuẩn vẫn là nhiệt kế thủy ngân. Những nhiệt kế điện tử (thermomètre électronique) đầu tiên xuất hiện vào đầu những năm 1970, được phát minh bởi các người Mỹ Billy Otis, Robert Cherry Martin, Fritz Kurt Mueller và James Parker. Nhưng chúng chỉ được phổ biến rộng rãi nhờ kỹ thuật làm thu nhỏ (miniaturisation) và sự giảm phí tổn sản xuất. Được chế tạo bằng một ống thông (sonde), nối với một hệ thống yết thị (système d’affichage), chúng có ưu điểm đưa ra một thông tin một cách nhanh chóng (1phút so với 6 đến 9 phút đối với nhiệt kế thủy ngân). Những nhiệt kế điện tử chỉ thay thế nhiệt kế thủy ngân bắt đầu từ năm 1999, khi nhiệt kế này bị cấm ở Pháp (vì nguy cơ độc hại đối với sức khỏe và môi trường). Cũng chính sự cấm đoán này đã cho phép đưa ra thị trường nhiệt kế hồng ngoại nhĩ (thermomètre à infrarouge auricualire), được phát minh vào năm 1991 bởi công ty Hoa Kỳ Diatek. Tuy nhiên hệ thống này, được phân phát bởi các nhà chế tạo khác nhau như Sherwood (đầu tiên), Thermofina, Braun,..., chỉ thật sự được phổ biến ở Pháp bắt đầu từ năm 2000. Còn nhiệt kế hồng ngoại trán không tiếp xúc (thermomètre à infrarouge frontal sans contact), cho phép đo nhiệt độ cách động mạch trán 5 đến 10 cm, được phát minh vào năm 2006 bởi công ty Pháp Visiomed. Trong những năm đến, nhiệt kế hồng ngoại nhĩ theo dự kiến vẫn tiếp tục lợi thế về mức độ chính xác và hiệu quả. Nhưng ước mơ của tất cả các nhà chế tạo, đó là phát triển một “ nhiệt kế không tiếp xúc ba-trong-một ”(“ thermomètre sans contact trois-en-un ”, nghĩa là có khả năng đo nhiệt độ của thân thể ở xa (vài cm đối với bệnh nhân) nhưng đồng thời cũng đo huyết áp và mạch. Loại hệ thống này đang được phát triển trong vòng bí mật trong các phòng thí nghiệm của các nhà chế tạo. Ví dụ, Thermofina, một trong những nhà chế tạo lớn của Pháp đang nghiên cứu hệ thống này từ một chục năm nay. “ Ý tưởng của chúng tôi là hiệu chính một thiết bị được cấu tạo bởi một capteur khá kín đáo (một loại patch), mà ta sẽ đặt cho bệnh nhân trong suốt thời gian bị bệnh hay nằm liệt giường, và cho phép đo nhiệt độ của bệnh nhân này đồng thời với huyết áp và mạch ; và một hộp đọc các dữ kiện (boitier de lecture de données), có thể đọc từ xa nhiệt độ được cảm nhận nơi capteur ”, Caroline Guillaume, người phụ trách chế tạo của Thermofina, đã chỉ rõ như vậy. Sự đọc từ xa có thể được thực hiện nhờ một hệ thống wi-fi hay bluetooth. Trong còn bao nhiêu lâu nữa một nhiệt kế như thế có thể có để sử dụng ? Hôm nay khó có thể trả lời những câu hỏi này, do sự cạnh tranh gay gắt trong lãnh vực này và do bí mật công nghiệp mà các nhà chế tạo cố duy trì.

MỘT GAMME MỞ RỘNG.

Những xí nghiệp khác nghiên cứu một công nghệ học tương tự nhưng với hồng ngoại tuyến : “ Chúng tôi cố cải thiện chiếc nhiệt kế hồng ngoại trán không tiếp xúc đã có trên thị trường để nó cũng có thể đo huyết áp ”, Eric Sebban, chủ tịch của Visiomed groupe đã giải thích như vậy. Nhưng cũng khó biết được nhiều hơn. Dầu thế nào đi nữa, nếu hiện hữu, loại nhiệt kế mới này sẽ không loại bỏ những nhiệt kế khác, như Caroline Guillaume đã nhấn mạnh như vậy : “ Nó sẽ bổ sung gamme hiện có. Bởi vì mỗi loại nhiệt kế có những ưu và khuyết điểm ; vấn đề là phải biết rõ các nhu cầu về mặt sự chấp nhận tâm lý, tính nhanh chóng, độ chính xác,... và chọn dụng cụ đo tùy theo mỗi trường hợp.”
(SCIENCE ET VIE 11/2010)

6/ CÁC THUỐC KHÁNG ĐÔNG THẾ HỆ MỚI.

Cũng hiệu quả như các antivitamine K; các loại thuốc này có ưu điểm không cần theo dõi xét nghiệm sinh học.

CARDIOLOGIE. Các antivitamine K phải chăng có thể bị mất ngôi ? Được thương mãi hóa từ nhiều thập niên, những thuốc kháng đông chuẩn (anticoagulant)dùng bằng đường miệng này, được cấp cho hàng triệu người trên thế giới (900.000 ở Pháp) đã chứng minh tính hiệu quả của chúng. Nhưng việc sử dụng những loại thuốc này rất là tế nhị và làm gia tăng nguy cơ xuất huyết. Một kiểm tra máu phải được thực hiện ít nhất một lần mỗi tháng để thích ứng liều lượng : một quá trình gò bó, thậm chí gây căng thẳng đối với các bệnh nhân.

Một thế hệ mới các chất kháng đông đang xuất đầu lộ diện, dễ sử dụng hơn nhiều bởi vì chúng không cần phải theo dõi sinh học. Trong những công trình nghiên cứu lớn, những loại thuốc này ít nhất cũng có hiệu quả ngang bằng với các antivitamine K trong việc ngăn ngừa sự tạo thành những cục máu đông, và do đó các tai biến mạch máu não, nơi những bệnh nhân bị rung nhĩ, rối loạn nhịp tim thường xuyên, nhân lên gấp 5 lần nguy cơ bị tai biến mạch máu não.

Tuần này, những kết quả rất được mong đợi của một thử nghiệm rộng lớn so sánh rivaroxaban, một trong những loại thuốc chống đông newlook này, với warfarine, một antivitamine K, đã được trình bày ở hội nghị hàng năm của Hiệp hội Tim Hoa Kỳ được tổ chức ở Chicago. Rivaroxaban tác dụng bằng cách ức chế yếu tố Xa, một giai đoạn chủ yếu trong sự đông máu. Thuốc này được thương mãi hóa từ hơn một năm nay ở Pháp bởi Bayer dưới tên Xarelto để phòng ngừa viêm tĩnh mạch và những nghẽn mạch phổi nơi những người được mổ để đặt một khớp giả toàn bộ của háng và đầu gối. Trong bối cảnh đặc biệt này, thuốc được kê đơn trong vài tuần, đó là một thay thế cho những mũi tiêm héparine.

Công trình nghiên cứu quốc tế, được trình bày ở Chicago, đã đưa vào 14.000 bệnh nhân bị bệnh rung nhĩ. Những bệnh nhân này, trong 19 tháng, đã nhận mỗi ngày hoặc là Xarelto, hoặc là antivitamine K. Các dược phẩm có cùng tính hiệu quả trong sự ngăn ngừa các tai biến mạch máu não mà không làm gia tăng nguy cơ gây chảy máu. Những xuất huyết nội sọ hay gây tử vong ít thường xảy ra hơn trong nhóm Xarelto so với những bệnh nhân được điều trị bởi antivitamine K. Vào năm 2009, một loại thuốc khác, dabigatran, tác dụng lên yếu tố II (hay thrombine), một giai đoạn của sự đông máu, đã chứng tỏ hiệu quả hơn warfarine. Cũng như Xarelto, dabigatran đã được thương mãi hóa bởi Boehringer Ingelhelm, dưới tên Pradaxa, để phòng ngừa các viêm tĩnh mạch. Và saga vẫn còn tiếp tục bởi vì hai loại thuốc khác (edoxaban và apixaban) có cách tác dụng tương tự Xarelto và đang được đánh giá, luôn luôn được sử dụng trong rung nhĩ.

CÙNG LIỀU LƯỢNG CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI

Đối với các chuyên gia Pháp hiện diện trong một hội nghị báo chí được tổ chức ở Chicago bởi hãng Bayer, những thuốc kháng đông mới này sẽ đơn giản hóa đời sống hàng ngày của các bệnh nhân và của các thầy thuốc. “ Các antivitamine K có thể rất khó quản lý do nhiều tương tác với các loại thuốc và thức ăn, GS Ismael Elalamy, trưởng khoa huyết học sinh học thuộc bệnh viện Tenon (Paris) đã giải thích như vậy. Ông nhắc lại rằng, lớp thuốc này là nguyên nhân của 17.000 trường hợp nhập viện mỗi năm ở Pháp vì những tác dụng phụ. Ngược lại, với những thuốc mới kháng đông dùng bằng đường miệng này, không cần một theo dõi xét nghiệm máu nào và liều lượng cũng giống nhau cho tất cả mọi người. Nhiên hậu, ngoài rung nhĩ, chúng cũng có thể có một vai trò để điều trị, ngay giai đoạn cấp tính, các viêm tĩnh mạch, thậm chị các nghẽn mạch phổi. Hiện nay, ở Châu Âu, Xarelto và Pradaxa chỉ được cho phép trong phòng ngừa các viêm tĩnh mạch, trước khi đặt prothèse của chi dưới. “ Các bệnh nhân bị rung nhĩ đòi chúng tôi những thuốc kháng đông mới này, nhưng ở Châu Âu chưa được phép trong chỉ định này, và điều đó cần nhiều thời gian ”, GS Jdan-Yves Heuzey, thầy thuốc chuyên khoa Tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou (Paris) đã phàn nàn như vậy.
(LE JOURNAL DU FIGARO 18/11/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 100 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 7/11/2008 )

6/ NHỮNG THUỐC KHÁNG ĐÔNG CÓ HIỆU QUẢ HƠN

Các cục máu đông tĩnh mạch là mục tiêu của những thuốc kháng đông thế hệ mới. Cuộc cách mạng đang diễn tiến. Huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse) không được chú ý đến bởi vì đó là một bệnh “có tiếng động thấp” (une maladie à bas bruit).

Các triệu chứng của nó không dễ giải thích và những nguyên nhân cũng không rõ ràng như huyết khối động mạch (thrombose artérielle), được biết đến nhiều hơn bởi vì những yếu tố nguy cơ của nó là rõ ràng (cao huyết áp, đái đường, cholestérol, thuốc lá).

Huyết khối tĩnh mạch thường được liên kết với những chuyến bay dài hay với sự nhập viện. “Những nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde) rộng hơn. Có những bệnh nhân được phẫu thuật, nhất là những bệnh nhân chịu một cuộc giải phẫu chỉnh hình như đặt khớp giả đầu gối hay háng, nhưng cũng ở những bệnh nhân được nhập viện vì một viêm phổi, một ung thư hay một suy tim ”, giáo sư Cedric Herman, trưởng khoa huyết học của UCL (Bruxelles) đã giải thích như vậy. “Nhưng những phụ nữ ngừa thai bằng hormone thay thế (contraception oestroprogestative), các phụ nữ có thai và những bệnh nhân có những bất thường về đông máu cũng có nguy cơ” .

Loại huyết khối này khởi phát bởi vì những thương tổn mạch máu của các thành tĩnh mạch mong manh hay những biến đổi của thành phần máu làm gia tăng tính đông máu của nó và đưa đến một cục máu đông. Cục máu đông này, khi tách rời ra và đi ngược lên phổi, có thể gây nên nghẽn mạch phổi (embolie pulmoniare), có khả năng gây chết người.

“Một nửa các bệnh nhân được đặt khớp háng giả phát triển một huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse), thường nhất là không có triệu chứng, nhưng cũng có thể diễn biến thành tệ hại nhất, Cédric Hermans đã giải thích như vậy. Một nửa triệu người châu Âu mỗi năm chết vì biến chứng của huyết khối tĩnh mạch. Tỷ lệ tử vong của bệnh này là 10 lần cao hơn những tai nạn đường xá và ở bệnh viện cứ 10 tử vong thì một có liên quan với huyết khối tĩnh mạch. Những biện pháp thông thường để ngăn ngừa là mang bas de contention hay sử dụng các thuốc, phổ biến nhất là héparine. Nhưng héparine có những nhược điểm: một tính hiệu quả không được đầy đủ, những nguy cơ bị dị ứng, sự bất dung nạp thuốc, cần phải tiêm dưới da mỗi ngày, khả năng bị những biến chứng xuất huyết.

Chính vì vậy mà nghiên cứu đã tìm kiếm một loại thuốc khác. “Đó là tấn công vào chính cơ chế của sự đông máu và nhất là của tác dụng của thrombine bảo đảm sự biến hóa các sợi fibrine. Những chất cản của yếu tố Xa trong quá trình đông máu dường như đặc biệt đầy hứa hẹn. Khoảng 6 loại thuốc hiện đang được trắc nghiệm lâm sàng , nhưng đứng đầu phải là rivaroxaban, vừa được chấp thuận bởi ủy ban châu Âu các dược phẩm để dùng cho người. Thuốc này hình như hiệu quả hơn và không cho những tác dụng phụ.
(LE SOIR 6/9-7/9/2008)

Thời Sự Y Học Số 144 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/9/2009 )

6/ MỘT THẾ HỆ CÁC THUỐC KHÁNG ĐÔNG RẤT HỨA HẸN.

Các antivitamines K, được kê đơn từ nhiều thập niên qua cho những người có nguy cơ cao bị các tai biến mạch máu não, phải chăng chẳng bao lâu nữa sẽ trở nên lỗi thời ? Hiệu quả nhưng khó vận dụng, các thuốc kháng đông (anticoagulants) này làm gia tăng sự xuất hiện của các xuất huyết, nhất là ở đường tiêu hóa. Dabigatran, một thuốc kháng đông mới, gây chảy máu rõ rệt ít hơn nhưng đống thời vẫn có hiệu năng ít nhất là tương tự, theo một thử nghiệm rộng rãi được trình bày tại hội nghị tim học ở Barcelonne. Công trình nghiên cứu, đã được thực hiện trên 18.000 bệnh nhân mắc bệnh rung nhĩ (fibrillation auriculaire) (một rối loạn nhịp tim dễ đưa đến các tai biến mạch máu não), cũng đã được công bố trên site Internet của New England Journal of Medicine. Dabigatran đã được thương mãi hóa bởi hãng Boehringer Ingelheim dưới tên Pradaxa trong một chỉ định khác. “ Đó là một công trình có tầm quan trọng chủ yếu ”, GS Jean-Yves le Heuzey (PARIS) đã đánh giá như vậy. Theo thầy thuốc chuyên khoa tim này, dabigatran và những thuốc tương cận khác, còn đang được trắc nghiệm lâm sàng, sắp đến sẽ được đề nghị ưu tiên một trong vài trường hợp rung nhĩ.
(LE FIGARO 1/9/2009)


7/ BỆNH LOÃNG XƯƠNG : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA MỘT LOẠI THUỐC MỚI.

Hội nghị vừa qua về các bệnh xương ở Toronto đã phát hiện những lợi ích của dénosumab. BS Patrick Gepner, thầy thuốc chuyên khoa về Khớp thuộc bệnh viện Foch de Suresne, tác giả của “ Bệnh loãng xương ” bình luận về vấn đề này.

Hỏi : Những người nào dễ bị chứng loãng xương nhất ?
BS Patrick Gepner : Bệnh loãng xương (ostéoporose) là một bệnh khuếch tán của khung xương, gây nên một sự giảm của sức đề kháng của xương. Bệnh này liên quan chủ yếu các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh. Xương, mô sống đổi mới một cách thường trực, chứa hai loại tế bào : những hủy cốt bào (ostéoclaste) phá hủy mô xương, và những tạo cốt bào (ostéoblaste) tái tạo lại nó. Bệnh loãng xương là do một sự mất quân bình giữa hai loại tế bào này. Không được điều trị, mối nguy hiểm đó là gãy xương (gần 150.000 trường hợp mỗi năm ở Pháp).

Hỏi : Điều trị cổ điển của căn bệnh xương này là gì ?
BS Patrick Gepner : Phải nhận một điều trị thuốc những bệnh nhân là nạn nhân gãy xương và những bệnh nhân được chẩn đoán loãng xương bằng densitométrie osseuse. Hiện nay có nhiều loại thuốc uống được sử dụng : Serm, bisphosphonate, ranélate de strontium (Protelos)… một thuốc mới hơn, zolédronate (Aclasta) (một bisphosphonate), được cho bằng đường tĩnh mạch với một lần truyền duy nhất mỗi năm. Mục đích của tất cả các loại thuốc này đều giống nhau : gia tăng mật độ của các xương và do đó gia tăng sức đề kháng của chúng, bằng cách làm giảm sự phá hủy xương bởi các hủy cốt bào.

Hỏi : Những kết quả thu được với những điều trị này là gì và có những tác dụng phụ không ?
BS Patrick Gepner : Về những thuốc được cho bằng đường miệng, các kết quả dĩ nhiên tùy thuộc vào sự tuân thủ điều trị bởi vì, bất hạnh thay, nhiều bệnh nhân quên thuốc hay tự dừng lại (đến 50% bệnh nhân bỏ thuốc sau một năm). Tại sao ? Bởi vì đó là một bệnh không có triệu chứng trước khi gãy xương : ta nói đó là dịch bệnh thầm lặng. Zolédronate tiêm truyền mỗi năm (không có nguy cơ bị quên) cho những kết quả rất tốt : sau 3 năm, người ta quan sát thấy một sự giảm 70% các trường hợp gãy xương đốt sống và 40 % những gãy xương háng (với sự duy trì tình hiệu quả sau 6 nằm điều trị). Nhưng zolédronate có những chống chỉ định : suy thận nghiêm trọng, những vấn đề về răng không được giải quyết khiến bị nguy cơ (rất nhỏ) hoại tử xương (ostéonécrose) của xương hàm dưới. Những tác dụng phụ thông thường là hiền tính và tạm thời, được nổi bật bởi một hội chứng cúm trong vài ngày, giảm đi trong những lần truyền tiếp theo sau đó.

Hỏi : Trong hội nghị vừa rồi ở Toronto, người ta đã chứng mình những lợi ích của một loại thuộc mới. Nó tác dụng như thế nào ?
BS Patrick Gepner : Phương thức mới nhất sử dụng dénosumab, một loại thuốc mà cách tác dụng rất độc đáo. Đó là một kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) được chế tạo ở phòng thí nghiệm, lần này ảnh hưởnglen sự tương tác hoạt động của hai loại tế bào xương (nhưng không còn trực tiếp lên các hủy cốt bào nữa). Thuốc này được cho mỗi 6 tháng, bằng cách tiêm dưới da.

Hỏi : Những kết quả nghiên cứu nào đã chứng minh các lợi ích của dénosumab trong chỉ định này ?
BS Patrick Gepner : Một công trình nghiên cứu rộng lớn đã được thực hiện trên hơn 7800 phụ nữ mãn kinh và bị loãng xuong. Kết quả : sau 3 năm điều trị, tính hiệu quả của dénosumab cũng cùng tầm cỡ như tính hiệu quả của zolédronate (và hầu như không có các tác dụng phụ : vài nhiễm trùng da hiếm hoi), được duy trì cho đến năm thứ năm.

Hỏi : Những ưu điểm của phương pháp mới này so với những điều trị cổ điển khác ?
BS Patrick Gepner : 1. Không có chống chỉ định : điều trị có thể được cho dầu chức năng thận thế nào. 2. Không có nguy cơ bị quên thuốc. 3. Một tính hiệu quả lớn chống gãy xương. 4. Một độ dung nạp tốt. 5. Không có những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị. Loại thuốc này đã có ở Hoa Kỳ từ đầu năm nay, sẽ có mặt ở Pháp trong vài tháng nữa.
(PARIS MATCH 18/11-24/11/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 100 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 7/11/2008 )

9/ ĐIỀU TRỊ BỆNH LOÃNG XƯƠNG: MỘT MŨI TIÊM MỖI NĂM ĐỂ CÓ MỘT LỢI ÍCH QUAN TRỌNG

Mỗi năm chỉ cần tiêm truyền một liều duy nhất acide zolédronique 5mg sẽ làm giảm nguy cơ gãy xương và cải thiện mật độ xương (densité osseuse) nơi những phụ nữ mãn kinh bị bệnh loãng xương (ostéoporose).

Ngày nay, bệnh loãng xương gây bệnh cho hơn 1,5 triệu phụ nữ, hoặc nhiều hơn tỷ lệ ung thư vú, tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim hợp lại.Trong các nước công nghiệp, gần 50% các phụ nữ trên 50 tuổi sẽ bị một gãy xương đốt sống (fracture vertébrale), một gãy xương háng hay cổ tay. Tỷ lệ gãy xương háng ở châu Âu sẽ gia tăng gần 30% trong hai thập niên đến. Nhưng bệnh loãng xương cũng là một vấn đề của các ông : cứ 4 người thì có một người bị chứng bệnh này và ở Bỉ có 90.000 đàn ông và 300.000 phụ nữ trên 50 tuổi bị chứng bệnh loãng xương này. Điều trị có hiệu quả … với điều kiện phải chịu điều trị. Với điều trị bằng bisphosphonates bằng đường miệng, mỗi ngày hay mỗi tuần một lần, thì vào tháng thứ sáu tỷ lệ bệnh nhân còn theo đuổi điều trị chỉ còn 56,3% (nữ) và 41% (nam) các bệnh nhân, và sau một năm tỷ lệ này là 46,5% (nữ) và 27,8% (nam). Việc thiếu tuân thủ điều trị là có nguy cơ cao : sự thiếu tôn trọng này làm giảm một nửa khối lượng xương đạt được và nhân lên gấp 4 nguy cơ bị gãy xương. Nguy cơ những gãy xương đốt sống mới xảy ra được thu giảm 19% nơi bệnh nhân kiên trì trong điều trị trong khi gia tăng 35% nơi bệnh nhân không kiên trì.

Acide zolédronique (Aclasta) thuộc họ các bisphosphonate. Đó là một chất cản sự tiêu xương gây nên bởi các hủy cốt bào (ostéoclastes), đã chứng tỏ tính hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ gãy xương trên 3 vị trí : đốt sống, háng và ngoại biên. Acide zolédronique được phân biệt với những thuốc bisphosphonate khác ở chỗ là chỉ cần truyền dịch mỗi năm một lần.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 24/10/2008)

Thời Sự Y Học Số 162 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/2/2010 )

8/ CHỨNG LOÃNG XƯƠNG : MỘT DỊCH BỆNH THẦM LẶNG ?

Trên thế giới, 250 triệu người bị bệnh loãng xương (ostéoporose), đại đa số là phụ nữ. Con số sẽ tăng gấp đôi trong những năm đến ! Sau khi đã đạt một cao điểm khối lượng xương (pic de masse osseuse) trong thời kỳ thiếu niên, xương có khuynh hướng dễ vỡ dần. Bất hạnh thay, những biểu hiện của bệnh này chỉ xuất hiện trong trường hợp gãy xương. Nhưng gãy xương đốt sống ( “ gãy lún ” ) có thể được thể hiện bởi triệu chứng đau cột sống và bởi sự giảm kích thước của thân mình. Không có một dấu hiệu báo động nào, do đó mới có thuật ngữ bệnh dịch thầm lặng (épidémie silencieuse).

CÁC PHI ĐẠN CÓ ĐẦU TÌM (DES MISSILES A TETE CHERCHEUSE).

Mãi đến nay, các thuốc thuộc họ các biphosphonates như alendronate (Fosamax), risédronate (Actonel)... đã tỏ ra hiệu quả với cả một tác dụng ngăn ngừa các gãy cổ xương đùi. Raloxifène (Evista), thuốc thuộc các chất điều biến của các thụ thể oestrogène (modulateurs des récepteurs d’oestrogènes) cũng có một tác dụng có lợi chống lại chứng loãng xương. Một loại thuốc khác, ranélate de strontium (có cơ chế tác dụng độc đáo và duy nhất), kích thích các tế bào sản xuất xương và giảm những tác dụng của các tế bào phá hủy. Nhưng các điều trị không ngừng tiến triển và lại còn có cái tốt hơn : zolédronate (Aclasta, Zometa). Chỉ cần cho một lần mỗi năm bằng cách tiêm truyền trong 15 phút, GS Philippe Orcel đã xác nhận như vậy. Như thế ít bị gò bó hơn, tránh được những vấn đề về tiêu hóa và những lãng quên. Theo một công trình nghiên cứu quốc tế kéo dài trong 3 năm trên 8000 người, phép điều trị này ngăn ngừa 70% các gãy xương đốt sống và 40% các gãy xuống đùi. Thật là tiến bộ biết bao ! ”

Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ vượt qua một giai đoạn có tầm quan trọng chủ yếu với sự xuất hiện sắp đến của các sinh liệu pháp nhắm đích (biothérapie ciblée), mà tính hiệu quả vừa được chứng minh bởi những công trình nghiên cứu quốc tế. “ Cho mãi đến nay, GS Philippe Orcel đã giải thích như vậy, những điều trị của bệnh loãng xương đều tác động vào những tế bào xương bị rối loạn.

Với liệu pháp sinh học (thérapie biologique) hay sinh liệu pháp (biothérapie), người ta nhắm vào chính ngay các cơ chế là nguồn gốc của sự loạn năng của chúng. Bước nhảy vọt thật là đáng kể ! Những phi đạn có đầu tìm (missiles à tete chercheuse) này là gì ? Đó là một kháng thể, được chế tạo trong phòng thí nghiệm bằng génie génétique, có tác dụng làm vô hiệu hóa protéine chịu trách nhiệm sự phát sinh của những tế bào hủy xương, do đó phong bế sự tạo thành chúng. Như thế kháng thể này ngăn cản sự biến đổi của mô xương. Cách cho thuốc của sinh liệu pháp, dénosumab, sẽ ít bó buộc hơn : một mũi tiêm dưới da mỗi 6 tháng. Tác dụng của thuốc sẽ ngưng ngay khi ngừng điều trị, do đó thuốc này không có nguy cơ gây ngộ độc do tích lũy.
(PARIS MATCH 11/2-17/2/2010)


8/ BỆNH SỐT RÉT : NHỮNG HỨA HẸN CỦA ARTEROLANE

Trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh sốt rét, một công trình nghiên cứu vừa phát hiện tính hiệu quả của artérolane, một thuốc tổng hợp mới thuộc lớp các trioxolanes. Artérolane có tác dụng tương đương với artémisine, một chất được phân lập từ cây ngải nhất niên (armoise annuelle), hiện nay là một trong những thuốc điều trị chính. Một tin tốt lành bởi vì có một nguy cơ hết trữ lượng artémisine và những công trình nghiên cứu mới đây khiến e ngại một sự gia tăng đáng kể của sự đề kháng của Plasmodium falciparum, tác nhân gây sốt rét, với loại thuốc này. Không những tác dụng nhanh, artérolane dường như cũng được dung nạp tốt.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2010)

9/ MỘT ÍT ASPIRINE CHỐNG LẠI UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG.

Sử dụng aspirine 75 mg mỗi ngày làm giảm tỷ lệ mắc phải và tỷ lệ tử vong của các khối u này. Nhưng việc uống thuốc không toa vẫn không được khuyến nghị.

PREVENTION. Được sử dụng một cách đều đặn trong nhiều năm, một liều lượng tối thiểu aspirine (75mg mỗi ngày) có thể làm giảm 24% nguy cơ ung thư đại-trực tràng và làm giảm 1/3 tỷ lệ tử vong của nó nơi những bệnh nhân bị bệnh. Đó là điều được đánh giá bởi các thầy thuốc người Anh, có công trình nghiên cứu đã được công bố trong tạp chí y học The Lancet. Đối với Peter Rothwell, thuộc đại học Oxford, tác giả đầu tiên của bài báo, một điều trị với những liều lượng nhỏ aspirine có thể được kê đơn để phòng ngừa cho những người có nguy cơ cao bị ung thư đại[*] trực tràng, thí dụ do thể địa gia đình.

Nhưng dường như còn sớm để đề nghị mộ cách rộng rãi hơn chiến lược “ hóa học-phòng ngừa ” này trong dân chúng, nhất là do những tác dụng phụ của aspirine ở đường tiêu hóa (kích thích, chảy máu).

Các ung thư đại-trực tràng là trong số những khối u ác tình thường xảy ra nhất trong các nước phát triển. Ở Pháp, khoảng 37.000 trường hợp mới được ghi nhận hàng năm, điều này đặt những ung thư này vào hàng thứ ba về mặt tỷ lệ xuất hiện bệnh và hàng thứ hai đối với tỷ lệ tử vong. Người ta chứng thực một tố bẩm gia đình (prédisposition familiale) trong 17% các trường hợp.

Trong những năm qua, nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý những tính chất bảo vệ của aspirine (với những liều lượng hàng ngày vài trăm milligramme), nơi những người có nguy cơ cao bị những ung thư này hay nơi những người đã bị bệnh. Lợi ích của công trình của Peter Rothwell và các đồng nghiệp là đã tổng hợp các dữ kiện của 5 công trình nghiên cứu rộng lớn về chủ đề này, được tiến hành ở Vương Quốc Anh, ở Hòa Lan và Thụy Điển. Như thế các tác giả đã có thể phân tích một quần thể 14.000 bệnh nhân, được cung cấp aspirine mỗi ngày hay không (để phòng ngừa tim mạch) trong 6 năm. Trong 18 tháng theo dõi, 2,8% những người tham dự đã phát triển một ung thư đại-trực tràng.

“ TÔI SẼ TỰ CHO PHÉP CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA NÀY ”

Toàn bộ, trong thời kỳ này, nguy cơ xuất hiện các khối u đại trực-tràng được giảm 24% nơi những người sử dụng aspirine. Và tỷ lệ tử vong của những ung thư này giảm 35%. Lợi ích được quan sát đối với những liều lượng hàng ngày 75mg, và những liều lượng cao hơn không cho những lợi ích bổ sung, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Họ cũng ghi nhận rằng tác dụng bảo vệ của aspirine liên hệ chủ yếu những khối u nằm trong phần đầu (được gọi là gần) của đại tràng, vùng khó thấy được bằng những thăm khám nội sọi. Aspirine không có vai trò bảo vệ đối với những ung thư của phần xa đại tràng và ở trực tràng.

Đối với các nhà nghiên cứu người Anh, các kết quả này có những hàm ý đối với thực hành hàng ngày. Nơi những bệnh nhân phải được điều trị chống ngưng kết (traitement antiagrégant) để làm giảm nguy cơ tai biến tim mạch, lý lẽ phòng ngừa các ung thư đại trực tràng phải làm lệch cán cân về phía aspirine hơn là dành cho một loại thuốc khác. Ngay từ bây giời tôi sẽ tự cho phép chiến lượt này nơi những người có nguy cơ cao bị ung thư gia đình, được đả thông về những lợi ích và nguy cơ của aspirine ”, GS Robert Benamouzig thuộc bệnh viện Avicenne (Bobigny, Pháp) đã bình luận như vậy. Công trình nghiên cứu này hẳn là một giọt nước làm tràn đầy ly, và khiến các chuyên gia phai họp nhau lại để quyết định ai sẽ được hưởng biện pháp ngăn ngừa bằng aspirine này ”, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa nói thêm như vậy. Nhưng trong khi chờ đợi một hội nghị nhất trí như vậy, ông khuyên không nên tự dùng thuốc để thực hiện sự phòng ngừa.
(LE FIGARO 24/10/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 35 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 17/7/2007 )

8/ ASPIRINE VÀ PHÒNG NGỪA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG

Uống aspirine 300mg mỗi ngày suốt trong 5 năm sẽ bảo vệ chống lại sự phát sinh ung thư đại tràng 10 năm sau đó. Đó là kết quả của công trình nghiên cứu được điều hành bởi John A. Baron thuộc Dartmouth Medical School (Hoa Kỳ). Mặc dầu việc sử dụng aspirine mỗi ngày dường như là một cách tốt đề phòng ngừa một trong những khối u ác tình thường xảy ra nhất, tuy nhiên các nhà ung thư học không khuyên uống aspirine vì mục đích này cho tất cả mọi người: việc uống aspirine lâu dài có thể gây nên xuất huyết dạ dày và ruột. Chỉ những người có nguy cơ cao bị ung thư đại tràng mới phải uống mà thôi
(SCIENCE ET VIE 7/2007)

Thời Sự Y Học Số 145 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 23/10/2009 )

6/ ASPIRINE LÀM GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG DO UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG.

Nơi những bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng, uống mỗi ngày một viên aspirine làm giảm nguy cơ tử vong (dưới 29% những nguy cơ chết vì ung thư này và dưới 21% vì những nguyên nhân khác). Đó là điều được rút ra từ công trình nghiên cứu được thực hiện bắt đầu từ năm 1981 bởi Andrew Chan và các đồng nghiệp của Massachusetts General Hospital de Boston, nơi 1.300 bệnh nhân bị ung thư đại-trực tràng, mà một nửa những bệnh nhân này đã thêm aspirine vào toa đơn thuốc hàng ngày của họ. Những lợi ích của aspirine trong bệnh lý này được giải thích bởi tác dụng ức chế của nó lên enzyme COX-2, chịu trách nhiệm phản ứng viêm và sự tăng sinh của các tê bào. Mặc dầu tác dụng được xác nhận này, aspirine chẳng được khuyến nghị bao nhiêu trong mục đích phòng ngừa bởi vì các tác dụng phụ của nó : kích thích dạ dày ruột và chảy máu tiêu hóa. Mặt khác, tất cả các bệnh nhân không sản xuất COX-2 với lượng đủ lớn để nhạy cảm với tác dụng của aspirine.
(SCIENCE ET VIE 10/2009)

Thời Sự Y Học Số 196 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 18/10/2010 )

4/ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG : ASPIRINE CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ ?

Vào năm 2007, những kết quả của những công trình nghiên cứu của Anh và Mỹ, được thực hiện trên hàng ngàn bệnh nhân, đã xác nhận rằng aspirine có thể có một tác dụng bảo vệ chống ung thư đại tràng. Aspirine ức chế một enzyme tai hại, cyclo-oxygénase 2 : men này đóng một vai trò quan trọng trong quá trình viêm và biến hóa của một polype hiền tính thành ung thư. Trung bình sự giảm nguy cơ là 33% nơi những người dùng 325 mg aspirine hai lần mỗi tuần trong ít nhất 5 năm ; 40% nơi những người dùng 300 mg mỗi ngày trong 5 năm và 70% khi sự tiêu thụ vượt quá 5 năm. Mặc dầu với những kết quả này, vẫn còn thiếu sự xác định liều lượng tối thiểu có thể mang lại một tác dụng bảo vệ, bởi vì 300 mg mỗi ngày là một liều lượng cao. Một công trình nghiên cứu của Anh mới đây (Drs Faraht Din et Malcolm Dunlop) đã so sánh 2.279 người bị ung thư đại tràng với 2900 người chứng lành mạnh, và đã có thể xác định rằng một tác dụng bảo vệ (với giảm 22% nguy cơ) xuất hiện ngay năm đầu tiên, bắt đầu từ 75mg aspirine, 4 lần mỗi tuần.
(PARIS MATCH 7/10-13/10/2010)


10/ ĐIỀU LÀM CHO CÁC CÔ BÉ DẬY THÌ SỚM.

Công trình nghiên cứu, cho phép nhận xét hiện tượng này, đã được thực hiện dưới sự chỉ đạo của một viện nghiên cứu về ung thư vú ở Hoa Kỳ. Thật vậy người ta đã nhận xét rằng các cô gái dậy thì sớm có một nguy cơ bị ung thư vú cao hơn dân chúng nói chung. Mặt khác, sự dậy thì sớm tương quan với một sự gia tăng tỷ lệ các ung thư nơi các cơ quan sinh dục nữ khác, những vấn đề thuộc về xúc cảm, sự lạm dụng ma túy, cũng như sự tương đối sớm của những giao hợp đầu tiên với những hệ lụy liên quan đến bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục. Những công trình nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng sự vắng mặt của người cha sinh học (père biologique) làm cho tuoi dậy thì xảy ra sớm hơn. Ngoài ra, các nghiên cứu này không quan tâm đến IMC, mặc dầu một thể trọng tăng cao làm hạ tuổi dậy thì. Ta có thể nghĩ rằng sự thiếu người cha sinh lý gây nên một stress nơi cô gái, với một ảnh hưởng lên thái độ ăn uống.

CHỈ TRONG MÔI TRƯỜNG KHÁ GIẢ.

Công trình nghiên cứu nêu trên xem xét tình huống trong hai năm nơi 444 cô gái tuổi từ 6 đến 8 tuổi. Các tác giả đã lưu tâm tuổi vú bắt đầu tăng trưởng (thélarche) và tuổi xuất hiện hệ lông mu (pilosité pubienne) (pubarche). Những tham số này cho một cái nhìn chính xác hơn so với nồng độ hormone : không những chúng tương ứng đúng với sự thành thục của các tuyến thượng thận và của trục sinh dục, chúng còn có đặc điểm xuất hiện trước tuổi có kinh lần đầu (ménarche). Trong nhóm được khảo sát, 80 cô gái (hoặc 18%) sống trong một gia đình vắng mặt người cha sinh học. Thật vậy, những kết quả cho thấy rằng tuổi khởi đầu của sự tăng trưởng vú (thénarche) xảy ra sớm hơn nơi các cô gái “ không cha ”, nhưng chỉ nếu như các cô gái này sống một một môi trường khá giả. Mặt khác, thời điểm bắt đầu xuất hiện hệ lông mu sớm hơn (pubarche précoce) chỉ được quan sát nơi nhưng cô bé da đen xuất phát từ một môi trường như thế. Mối tương quan hơi thấp hơn, nhưng tồn tại sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với IMC, điều này chứng minh rằng những cơ chế khác cũng đóng vai trò.

THUYẾT TIẾN HOÁ

Các chuyên gia về thuyết tiến hóa đã tìm ra một giả thuyết để giải thích : đứng trên quan điểm tiến hoá, sự vắng mặt của người cha tương ứng với một tình hình không ổn định, ít an toàn. Các cô gái phản ứng lại điều này bằng cách trở nên có khả năng sinh sản (fertile) trẻ hơn, điều này tạo những đảm bảo bổ sung khả năng truyền gène cho hậu duệ. Lý thuyết này có vẻ đúng, nhưng không đả động gì hết về nhưng cơ chế sinh học. Lý thuyết này không giải thích tại sao tuổi bắt đầu tăng trưởng vú sớm (thélarche précoce) chỉ được quan sát trong giới khá giả, và cũng không giải thích tại sao tuổi bắt đầu xuất hiện hệ lông mu sớm hơn (pubarche précoce) nơi các cô gái da đen.

TỪ PHEROMONE ĐẾN CORTISOL

Vài chuyên gia đề xuất ý kiến rằng các cô gái thuộc vào một gia đình không bố có lẽ chịu sự hiện diện của nhiều người đàn ông và do đó được tiếp xúc với một phổ lớn các chất phéromone, điều này có thể làm khởi động hoạt tính của các trục nội tiết có liên quan. Nhưng sự hiện diện hay không của những người đàn ông trưởng thành khác không làm thay đổi gì hết mối tương quan được quan sát trong công trình này. Các tác giả công nhận không thể đề nghị một lời giải thích đúng lẽ cho hiện tượng này. Về ảnh hưởng của môi trường xã hội ta có thể nghĩ rằng mạng lưới bao quanh các gia đình giàu có hơn tương đối bị hạn chế, điều này làm cho các cô gái không cha thường cô độc hơn. Chắc chắn đó là trường hợp khi cuộc sống sung túc tài chánh của gia đình phát xuất từ sự tích cực tham gia các hoạt động nghề nghiệp của người mẹ.

NHỮNG YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG.

Những cơ chế môi trường cũng được nêu lên : các cô con gái thuộc gia đình khá giả sử dụng nhiều mỹ phẩm hơn, trong đó vài sản phẩm là những chất khả dĩ làm rối loạn nội tiết (perturbateur endocrinien). Các cô gái thuộc những gia đình khá giả cũng có nhiều gadget électroniques, như các máy vi tính hay console de jeu. Sự kích thích ánh sáng do chúng sinh ra được biết là có khả năng làm rối loạn giấc ngủ, điều này cũng có liên hệ với sự dậy thì sớm. Về sự xuất hiện hệ lông mu sớm (pubarche précoce), chỉ ảnh hưởng lên các cô gái da đen thuộc môi trường khá giả, có thể là do sự phân biệt chủng tộc, làm gia tăng mức độ stress. Người ta biết rằng hiện tượng xuất hiện hệ lông mu (nhưng không phải tuổi vú bắt đầu tăng trưởng (thélarche) có tương quan mạnh mẽ với sự tổng hợp các kích thích tố sinh dục bởi các tuyến thượng thận cũng như bởi cortisol, kích thích tố được tiết ra trong tình trạng căng thẳng (hormone de stress). Sau hết, cần nói thêm rằng sự vắng mặt của người mẹ trong gia đình không có tác dụng lên sự phát triển dậy thì của các cô gái.
(LE GENERALISTE 28/10/2010)

Chú thích :
Phéromone : thuật ngữ phéromone đã được dùng vào năm 1959 để chỉ một chất được phát ra bởi một người nào đó và có khả năng ảnh hưởng lên hành vi của một người khác mà người này không hay biết. Người đầu tiên đã phát hiện tác động của các phéromones lên con người là nhà tâm lý học nữ Martha McClintock, thuộc Đại học Havard. Vào năm 1971, bà đã phát hiện một tác dụng đồng bộ hóa (synchronisation) của chu kỳ kinh nguyệt nơi những phụ nữ sống chung trong các căn phòng đại học. Trong nghiên cứu này, Mc Clintock chứng thực rằng những người phụ nữ ở cùng chung phòng có khuynh hướng có kinh nguyệt cùng lúc, sau một thời gian nào đó ở chung với nhau. Bởi vì ngoài ra bà cũng chứng thực tác dụng này không những nơi các con chuột cái giữ chung trong cùng một chuồng, mà còn cả khi chúng ở trong những chuồng riêng biệt nhưng được nối cùng đường khí vào, nên bà đã suy ra rằng một chất thông tin hóa học (messager chimique) được chuyển bời không khí đã đồng bộ hóa các chu kỳ buồng trứng.


Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 151 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 7/12/2009 )

9/ MẸ BÉO PHÌ, CON GÁI DẬY THÌ SỚM ?

Chứng béo phì của người mẹ có một ảnh hưởng lâu dài lên tuổi bắt đầu kinh nguyệt nơi các thiếu nữ. Thật vậy, Sara Keim và các cộng sự viên (National Institutes of Health, Bethesda, Mariland) đã chứng nhận rằng các cô gái có mẹ béo phì, có 3 lần nhiều hơn nguy cơ có kinh nguyệt bắt đầu ở một lứa tuổi sớm (trước 12 tuổi), so với các cô gái mà mẹ có một trọng lượng bình thường hay hơi cao.

Những công trình nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng các cô gái béo phì có kinh sớm hơn và rằng các cô gái có mẹ béo phì cũng có khuynh hướng trở nên béo phì. Trong công trình nghiên cứu hiện nay, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã xác nhận rằng các cô gái có mẹ béo phì, đạt tuổi dậy thì ở một lứa tuổi sớm hơn, dầu có bị béo phì hay không.

Các tác giả đã căn cứ trên các dữ kiện thu được qua 597 cuộc phỏng vấn nơi các phụ nữ tuổi từ 22 đến 32 tuổi.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 6/10/2009)

Thời Sự Y Học Số 156 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/1/2010 )

10/ TUỔI DẬY THÌ ĐÃ CÓ TỪ TRONG TRỨNG NƯỚC.

Đối các cô con gái và các cậu con trai, những yếu tố tăng trưởng sớm trong tử cung và sau khi sinh, dường như ảnh hưởng đồng thời lên các chỉ dấu sớm hay muộn của sự phát khởi tuổi dậy thì.

Người ta nghi ngờ rằng dậy thì sớm (puberté précoce) làm dễ những chứng bệnh khác nhau như ung thư hay chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu người Đức, Nadina Karaolis-Danckert và các cộng sự viên, đã muốn biết xem môi trường của những giây phút đầu tiên của cuộc sống có ảnh hưởng lên sự xuất hiện của tuổi dậy thì hay không.

215 người tham dự (49,8% con gái) vào công trình nghiên cứu DONALD. Trong công trình này người ta thực hiện những phép đo người (mesures anthropométriques) liên tiếp giữa 6 và 13 tuổi để có thể đánh giá tuổi bắt đầu dậy thì và những thông tin liên quan đến trọng lượng vào lúc sinh, sự cho bú sửa mẹ, tốc độ lên cân và những đặc điểm của bố mẹ.Tuổi vào lúc kích thước cơ thể đạt cao điểm và tuổi bắt đầu kinh nguyệt cũng được tính đến.

Những trẻ, cân nặng từ 2.500 đến dưới 3.000 g, có khởi đầu tuổi dậy thì 7 tháng sớm hơn. Những trẻ, đã lên cân nhanh chóng giữa lúc sinh và lúc được 24 tháng, có tuổi dậy thì 4 tháng sớm hơn những trẻ đã lên cân một cách bình thường. Một sự lên cân nhanh chóng cũng được lên kết với một sự đạt sớm cao điểm của tầm vóc và ở nơi các cô con gái, tương ứng với một bắt đầu kinh nguyệt sớm.

Theo các tác giả, đối với các cô con gái và các cậu con trai, những yếu tố tăng trưởng sớm trong tử cung và đau khi sinh dường như ảnh hưởng đồng thời lên các chỉ dấu sớm và chậm của sự phát khởi của tuổi dậy thì, độc lập với sự cấu thành của cơ thể trước tuổi dậy thì.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 15/12/2009)

Thời Sự Y Học Số 172 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 03/5/2010 )

6/ DẬY THÌ SỚM : HƯỚNG BỊ TRANH CÃI CỦA CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM.

Nhân một cuộc hội thảo, được tổ chức về các chất gây rối loạn nội tiết (perturbateurs endocriniens), các nhà nghiên cứu Pháp đã bày tỏ nỗi băn khoăn của họ.

TOXICOLOGIE. Từ năm 1850 đến 1950, ở Châu Âu và ở Hoa Kỳ, tuổi dậy thì của các cô con gái trung bình sớm 3 năm, chuyển từ 17 tuổi xuống còn 14 tuổi. Sự tiến triển này ngày nay dường như được ổn định, nhưng ngược lại, người ta gặp ngày càng nhiều những trường hợp dậy thì cực sớm, được đặc trưng chủ yếu bởi sự xuất hiện vú trước 8 tuổi hay kinh nguyệt trước 10 tuổi.

Nguồn gốc của những xáo trộn của sự phát triển sinh dục này là gì ? Mặt khác những xáo trộn này cũng ảnh hưởng các cậu con trai với những bất thường tinh hoàn hay những dị tật niệu quản.Từ những năm 1980-1990, một bộ phận của các chuyên gia độc chất học (toxicologue) quy trách nhiệm vào các chất hoá học, được biết hơn dưới tên các chất gây xáo trộn nội tiết (perturbateurs endocriniens) bởi vì chúng có khả năng biến đổi những chức năng hormone. Những chất gây rối loạn nội tiết này hiện diện khắp nơi trong môi trường (các thuốc trừ sâu), nhưng cũng trong nhiều sản phẩm mà chúng ta sử dụng trong đời sống hàng ngày (plastiques, các mỹ phẩm, đồ bao bì, nước hoa…)

LIỀU LƯỢNG KHÔNG TẠO NÊN ĐỘC CHẤT.

Tuy nhiên hướng này không mang lại sự nhất trí trong giới nghiên cứu. Một colloque được tổ chức ở Rennes để trình bày những kết quả của các công trình nghiên cứu, được tài trợ trong bối cảnh của của chương trình nghiên cứu về các chất gây rối loạn nội tiết, được phát động ở Pháp bởi bộ trưởng môi trường năm 2005.

Có những chỉ dấu, nhưng dưới mắt của các nhà nghiên cứu thì chúng không đủ để xác lập một mối liên hệ nhân quả trực tiếp. Vài yếu tố vững chắc đã hiện hữu trong lãnh vực kích thích tố : cửa sổ tiếp xúc (fenêtre d’exposition) (thai nghén và những tháng đầu tiên của thai nhi) có một vai trò chủ yếu và mặt khác, chính không phải liều lượng gây độc, điều này làm phức tạp tất cả. Các nhà nghiên cũng đã khám phá rằng các phản ứng đối với các chất gây rối loạn nội tiết có thể thay đổi tùy theo cá thể.

3 LỚP SẢN PHẨM.

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ mới đây đã cho thấy rằng, trong số một nhóm hơn 1000 thiếu nữ, mà ¼ đã bắt đầu tuổi dậy thì vào năm 8 tuổi và ½ vào năm 9 tuổi, các nồng độ đáng kể của các chất gây rối loạn nội tiết đã được ghi nhận trong nước tiểu của chúng. 3 lớp sản phẩm đã được phát hiện : các phénol, trong đó có biphénol nổi tiếng, hiện diện trong các bình sữa, các phtalate và các phyto-œstrogène, mà các tính chất thơm rất được ưa chuộng bởi công nghiệp.

Phản ứng lại công trình nghiên cứu này trong le Quotidien du médecin, GS Charles Sultan, CHU de Montpellier, đánh giá rằng công trình nghiên cứu mang lại những lý lẽ để “ đề nghị giảm bớt, nếu không thì cấm chỉ các chất gây ô nhiễm nói chung và các thuốc trừ sâu nói riêng, mà ảnh hưởng lên sự cân bằng nội tiết vẫn đáng quan ngại ”.

Ở Rennes, ý kiến được đưa ra lại khác hẳn. “ Nguồn gốc của những trường hợp dậy thì rất sớm có lẽ do nhiều yếu tố ”, Jean-Paul Bourguignon, thầy thuốc chuyên khoa nhi nội tiết của đại học Liège (Bỉ) đã đánh giá như vậy. Đối với ông ta phải tính đến nhiều yếu tố khác như chế độ ăn uống hay stress của người mẹ trong thời kỳ thai nghén
(LE FIGARO 14/4/2010)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (29/11/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969