Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 30
Lượt truy cập: 1009009
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG NIỀM HY VỌNG MỚI CHỐNG LẠI VIÊM GAN C.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

CƠ QUAN. Các bệnh viêm gan (hépatite, do chữ Hy lạp hepar có nghĩa là gan) là những viêm nhiễm cấp tính của gan, được gây nên bởi một virus. 3 virus thường được gặp nhất là các virus A,B,C, nhưng những virus khác cũng đã được nhận diện (D,E,G...). Các độc tố khác, như ruợu hay vài loại nấm, cũng có thể gây nên những thương tổn trong gan. Gan là cơ quan to lớn nhất của cơ thể con người. Trung bình gan nặng 1,5kg và hơn 90% được cấu tạo bởi những tế bào đặc hiệu, được gọi là những tế bào gan (hépatocyte), với số lượng khoảng 500 tỉ. Vào bất cứ lúc nào, gan cũng chứa khoảng 10% thể tích máu của chúng ta và có thể thanh lọc, biến đổi các protéine, tiết mật và điều hòa nhiều chuyển hóa thiết yếu.

MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG. Viêm gan A (hépatite A, 90% các trường hợp viêm gan), cũng được gọi là hoàng đảng (jaunisse), được chữa lành và không thoái hóa thành bệnh mãn tính. Trong 1% các trường hợp, viêm gan A có thể có một thể tối cấp (forme fulminante) rất nguy hiểm. Vaccin bảo vệ ít nhất 10 năm. Viêm gan B, một bệnh thường gặp, đặc biệt ở vùng châu Phi dưới Sahara và ở Đông nam châu Á, có thể trở thành mãn tính. Gần 350 triệu người bị lây nhiễm trên thế giới, trong đó 1 đến 2 triệu người chết vì bệnh viêm gan này mỗi năm. Virus của viêm gan B có khả năng làm lây nhiễm 100 lần cao hơn virus của sida. Viêm gan C là viêm gan có thể dẫn đến thể mãn tính trong 50% các trường hợp, và khoảng 20% trong số các thể mãn tính này tiến triển thành xơ gan. Và xơ gan đến lượt dẫn đến ung thư gan.

SỰ LÂY NHIỄM. Viêm gan A gây lây nhiễm do sự lan truyền miệng-phân (transmission oro-fécale). Viêm gan B được truyền bằng đường máu, sinh dục (đó là bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục phổ biến nhất và gây chết người nhất trên thế giới) hay từ mẹ qua con. Trong 90% các trường hợp, viêm gan C được truyền bằng đường máu nhưng cũng có thể được truyền bằng đường sinh dục hay từ mẹ qua con.


Các nhà nghiên cứu hy vọng làm gia tăng một nửa số các trường hợp chữa lành.

GAN. Những năm sắp đến sẽ biến đổi điều trị và tiên lượng của viêm gan C đối với 230.000 người hôm nay bị dạng mãn tính của viêm gan này ở Pháp.

Giai đoạn thứ nhất, sự xuất hiện sắp đến của hai điều trị mới chống virus, boceprevir và telaprevir, dành cho những bệnh nhân bị gây bởi virus VHC được gọi là “ génotype 1 ” (có 6 biến thể), hoặc khoảng 50%. Được phối hợp với điều trị hiện nay bởi interféron pégylé và ribavirine, chúng nâng tỷ lệ chữa lành từ 45% lên 70%. Ngay trước khi được đưa ra thị trường trong vòng một năm nữa, “ trước hết những thuốc mới này sẽ được phân phát nhờ một giấy phép tạm thời cho 1500 bệnh nhân bị đau nặng và không đáp ứng với điều trị hiện nay ”, GS Stanilas Pol, thầy thuốc chuyên về gan thuộc đại học Cochi (Paris) đã nhấn mạnh như vậy.

Nhiễm trùng bởi VHC có thể được chữa lành một cách tự nhiên. Thường chúng xảy ra không được nhận thấy. Nhưng nếu đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn, virus tiếp tục tăng sinh trong các tế bào gan và nhiễm trùng trở nên mãn tính. Phản ứng viêm liên kết với nhiễm trùng virus gây nên những thương tổn gan và tạo thành một tổ chức vô định hình (amorphe), sự xơ hóa (fibrose), thay thế dần dần gan lành mạnh và làm biến đổi chức năng của nó. “ Đó là một căn bệnh thầm lặng : nếu ta không tìm kiếm thì ta chẳng tìm ra. ¼ các chẩn đoán được thực hiện muộn, ở giai đoạn xơ hóa tiến triển (fibrose avancée) hay xơ gan ”, GS Patrick Marcellin, thầy thuốc chuyên khoa về gan thuộc bệnh viện Beaujon (Paris), một trong 30 trung tâm quy chiếu đối với bệnh viêm gan C, đã giải thích như vậy. Thế mà, trên 100 người bị nhiễm bởi VHC, 20% sẽ phát triển một xơ gan sau 20 năm, và với một nguy cơ bị ung thư gan 3% đối với những người này. Vì không có vaccin, biện pháp phòng ngừa tốt nhất vẫn là phát hiện và điều trị, ngày nay cứ hai bệnh nhân thì một được chữa lành và nguy cơ bị ung thư được chia cho 7.

VHC được truyền chủ yếu qua đường máu. Phần lớn các ô nhiễm mới được liên kết với sự sử dụng, dầu chỉ một lần, các chất ma túy bằng đường tĩnh mạch. Nhưng trên 5000 trường hợp mới được phát hiện mỗi năm, nhiều trường hợp cũng do truyền máu truớc năm 1991 (nguy cơ này hiện nay không còn nữa), do các nhiễm trùng bệnh viện hay do những động tác xâm nhập vốn có thể đã xảy ra từ nhiều thập niên qua. “ Một phần lớn trong số 100.000 người mang siêu vi trùng mãn tính mà không biết, không có một yếu tố nguy cơ nào được nhận diện và kể cả không tưởng tượng ra là mình đã có thể bị lây nhiễm ”, GS Marcellin đã nhấn mạnh như vậy. Cũng như các đồng nghiệp, ông mong muốn một phát hiện có hệ thống viêm gan C. Bởi vì, mặc dầu ngày nay số người bệnh chữa lành nhiều hơn hai lần các trường hợp mới, nhưng sự gia tăng sắp đến của các thể nặng do một chẩn đoán muộn phải đáng e ngại.

Nồng độ transaminase tăng cao trong máu có thể báo động về thương tổn gan, nhưng chẩn đoán dựa trên sự hiện diện các kháng thể kháng VHC (anticorps anti-VHC) và nhất là sự nhận diện của biến thể virus gây bệnh. Khi tình trạng xơ hóa, được đánh giá bằng siêu âm hay bằng sinh thiết gan, là tối thiểu, thì sự theo dõi và sự làm giảm các yếu tố nguy cơ (tăng thể trọng quá mức, hội chứng chuyển hóa, cholestérol và rượu) có thể đủ. Khi sự xơ hóa là quan trọng hay đã tiến triển thành xơ gan, khi đó buộc phải điều trị. Điều trị dựa trên sự kết hợp của interféron pégylé và ribavirine, mà những tác dụng phụ, thiếu máu và những rối loạn khí chất, có thể kiểm soát được. Tính hiệu quả của điều trị là 60%. Sự không thể phát hiện virus trong 6 tháng xác nhận nhiễm trùng được chữa lành, cũng thường là một sự chữa lành của bệnh gan : “ một xơ hóa tiến triển (fibrose évoluée), và ngay cả một xơ gan ở một giai đoạn sớm có thể hoàn toàn thoái biến ”, GS Jean-Michel Pawlotsky thuộc CHU Henri-Mondor (Créteil) đã đảm bảo như vậy.

Mới được nhận diện gần đây, một chất chỉ dấu di truyền của đáp ứng đối với điều trị, IL28B, gây nhiều mối quan tâm. Các loại thuốc mới chống virus đang được phát triển sẽ đến tiếp theo sau sự xuất hiện sắp đến của telaprevir và boceprevir, những thuốc này do cải thiện tỷ lệ chữa lành, mang lại một niềm hy vọng mới cho các bệnh nhân và cũng mở ra triễn vong điều trị không cần interféron.
(LE FIGARO 29/1/2010)

2/ TA CÓ THỂ CHỮA LÀNH VIÊM GAN C ?

GS Jean-Michel Pawlotsky
Centre national de référence des hépatites
virales B,C de Delta.


Viem gan C là bệnh mãn tính do virus duy nhất mà ngày nay ta có thể chữa lành bằng các thuốc chống virus. Điều trị dựa trên việc sử dụng hai loại thuốc phối hợp nhau : interféron alpha, được cho dưới dạng tiêm dưới da một lần mỗi tuần, và ribavirin, được cho bằng đường miệng hai lần mỗi ngày. Hai loại thuốc này, khi được dùng phối hợp, làm giảm một cách quan trọng sự tăng sinh của virus, cho phép cơ thể loại bỏ dần dần những tế bào bị nhiễm virus. Khi không còn một tế bào nào bị nhiễm trùng nữa trong gan, nhiễm trùng được chữa lành.

Thời gian điều trị và các liều lượng thuốc thay đổi tùy theo loại virus. Thật vậy VHC thuộc nhiều nhóm, được gọi là génotype. Génotype 1 thường được thấy nhất ở Pháp (khoảng 60% các trường hợp), tiếp theo là génotype 3 (20%) và các génotype 2 và 4 (10% mỗi loại), các génotype 5 và 6 rất là hiếm. Các génotype 1 và 4 phải được điều trị trong 48 tuần với những liều ribavirine cao hơn, trong khi các génotype 2 và 3 có thể chỉ cần điều trị trong 24 tuần với những liều ribavirine thấp hơn. Điều trị này không phải là không có những tác dụng phụ, nhưng nhìn toàn bộ được dung nạp tốt và không đáng bị mang tiếng xấu mà người ta thường được gán cho nó. Các hội chứng thuộc loại cúm và thiếu máu thường thấy. Những dấu hiệu dễ bị kích thích, trầm cảm, các rối loạn giấc ngủ cũng có thể được quan sát. Toàn bộ những triệu chứng này cần được theo dõi sát về mặt lâm sàng và sinh học nơi các bệnh nhân.

Điều trị cho phép chữa lành khoảng 50% các bệnh nhân không bao giờ được điều trị trước đây, khi những bệnh nhân này bị nhiễm bởi một virus génotype 1 hay 4, và khoảng 80% các bệnh nhân bị nhiễm bởi một virus génotype 2 hay 3. Tuy nhiên, nơi những bệnh nhân bị thất bại trong điều trị, trong một thời gian rất lâu đã không có một giải pháp thay thế nào và sự tái điều trị bằng cùng những loại thuốc với cùng những liều lượng đã chỉ cho phép chữa lành khoảng 10 đến 15% các bệnh nhân. Chính vì vậy sự phát triển những phương pháp điều trị mới đã được nôn nóng chờ đợi.

Sự nghiên cứu đã cho phép làm sáng tỏ những cơ chế của chu kỳ của virus trong các tế bào gan và, do đó, cho phép phát triển những phương thức điều trị mới có thể ức chế một cách đặc hiệu những cơ chế này. Những thuốc này được gọi là các thuốc “ chống virus trực tiếp ” hay “ đặc hiệu ” (antiviarux directs ou spécifiques).

Các chất chống virus đặc hiệu sẽ có trên thị trường, có lẽ vào năm đến, là những chất ức chế protéase của VHC, được gọi là telaprevir và boceprevir. Chúng chỉ có hiệu quả chống lại các virus génotype 1, lúc được kết hợp với interféron alpha và ribavirine. Sự thực hiện một liệu pháp 3 thứ thuốc (triple thérapie) trong 24 đến 48 tuần cho phép thu được những tỷ lệ chữa lành khoảng 75%, hoặc lợi được 25%. Nơi những người đã được điều trị bởi interféron và ribavirine và đã không loại bỏ được virus, sự kết hợp 3 thứ thuốc cho phép có được những tỷ lệ chữa lành từ 50 đến 60%.

Tuy nhiên những tác dụng phụ bổ sung của những điều trị này phải được theo dõi và điều trị, chủ yếu là các ban da hay một thiếu máu được thêm vào tình trạng thiếu máu hiện có. Điều quan trọng cần ghi nhận là các công trình nghiên cứu cho đến nay được thực hiện trên những quần thể các bệnh nhân “ chuẩn ”, nhưng những kết quả có thể ít thuận lợi hơn đối với những quần thể bệnh nhân khác. Đối với những người bị nhiễm bởi một VHC không phải génotype 1, sẽ còn phải chờ đợi vài năm nữa mới có trên thị trường những loại thuốc nhằm vào những giai doạn khác của chu kỳ tế bào của virus. Những loại thuốc này đang trong qua trình phát triển lâm sàng.
(LE FIGARO 8/1//2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 72 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/4/2008 )

3/ MỘT PROTEINE PHONG BẾ VIRUS CỦA VIÊM GAN C ĐÃ ĐƯỢC NHẬN DIỆN

Một nhóm các nhà nghiên cứu Mỹ đã nhận diện một protéine, hiện diện trong cơ thể, có tác dụng phong bế không cho virus của viêm gan C (VHC) đi vào trong các tế bào. Trong một bài báo được công bố hòm thư tư 2/4, bởi tạp chí on line PloS ONE, Laurence Cocquerel và Jean Dubuisson, thuộc Viện sinh học Lille, giải thích là đã khám phá ra rằng phân tử này, được gọi là « EWI-2wint », tương tác với một trong các thụ thể được sử dụng bởi VHC vào lúc khởi đầu của chu kỳ nhiễm khuẩn.

« Trong lúc trắc nghiệm in vitro, chúng tôi đã chứng nhận rằng, trong các dòng tế bào mà EWI-2wint và thụ thể này tương tác với nhau, VHC không thể sử dụng thụ thể này và do đó không thể làm nhiễm trùng tế bào. Khi không có protéine này, VHC sẽ liên kết với thụ thể và đi vào bên trong tế bào », Laurence Cocquerel đã giải thích như thế. Các tế bào gan vì thiếu phân tử cản EWI-2wint này, do đó virus có thể vào trong tế bào, một hiện tượng có thể được vận dụng đối với các tác nhân nhiễm trùng khác. Khám phá này sẽ mở ra những triển vọng điều trị quan trọng về lâu dài. các nhà nghiên cứu lưu ý đến 3 bộ phận của protéine EWI-2wint. « Chúng tôi sẽ thử sản xuất những dạng hoà tan để xem dạng nào sẽ có cùng những khả năng cản của protéine toàn thể. », Laurence Cocquerel đã chỉ rõ như vậy.

Các công trình này đã được hổ trợ bởi ANRS (cơ quan quốc gia nghiên cứu bệnh sida và viêm gan do siêu vi trùng). Khoảng 130 triệu người bị mắc phải viêm gan C trên thế giới, trong đó một nửa triệu ở Pháp. Trở nên mãn tính trong 60 đến 80% các trường hợp, viêm gan C có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan.
LE MONDE 3/4/2008) LE SOIR 3/4/2008

Thời Sự Y Học Số 134 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/7/2009 )

8/ MỘT KHÁNG THẾ MỚI BẢO VỆ CHỒNG LẠI NHIỄM TRÙNG BỞI VIRUS CỦA VIÊM GAN C.

Kháng thể mới này vô hiệu hóa virus trong canh cấy và ngăn cản sự lây nhiễm. MBL-HCV1, được phát triển bởi nhóm nghiên cứu của Donna Ambrosino, thuộc đại học y khoa Massachusetts, dường như rất hứa hẹn. Để tìm được kháng thể MBL-HCV1 này, các nhà sinh học đã tiêm những yếu tố của virus vào các con chuột được nhân hóa (souris humanisés) (được biến đổi về mặt di truyền để có thể sản xuất những kháng thể người). Sau khi đã phân lập trong máu những kháng thể có khả năng nhận biết và liên kết với virus, các nhà sinh học đã trắc nghiệm tác dụng của chúng lên các canh cấy của các mô đuợc lấy nơi những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn. Rồi thì hiệu quả của chúng đã được trắc nghiệm trên các động vật linh trưởng (primates) không phải người, được cho tiếp xúc với virus. Các kháng thể MBL-HCV1 đã lần lượt trung hòa virus và đã bảo vệ các động vật linh trưởng chống lại nhiễm trùng. Một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 theo dự kiến sẽ được bắt đầu trong vòng năm nay. Theo OMS, có 3 đến 4 triệu người bị nhiễm bởi viêm gan C mỗi năm. Hiện tại không có một vaccin nào.
(SCIENCE ET VIE 7/2009)

Thời Sự Y Học Số 160 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 8/2/2010 )

4/ ARN CÓ THỂ PHONG BỀ VIRUS CỦA VIÊM GAN C.

Một phép điều trị di truyền (traitement génétique) mới chống lại virus của viêm gan C, đã được trắc nghiệm nơi khỉ. Thuốc mới này có hai ưu điểm so với những thuốc cổ điển : nó hiệu quả ngay cả nhiều tháng sau khi đã cho thuốc và không gây nên đề kháng với virus. Giải thích : để tăng sinh, virus của viêm gan C cần gắn vào một phân tử nhỏ ARN, miR-122, hiện diện rất nhiều trong gan. Do đó, Robert Lanford (tổ chức nghiên cứu sinh y học San Antonio, Hoa Kỳ) và Henrik Orum (Santaris Pharma, Đan Mạch) đã có ý nghĩ phong bế ARN này bằng cách sử dụng một ARN khác, bổ sung, gắn vào đúng nơi bám của virus của viêm gan C. Điều trị như thế đã cho phép làm giảm số virus trong máu của các con khỉ được dùng để nghiên cứu. Điều trị này đã là đối tượng của một thử nghiệm lâm sàng được gọi là giai đoạn I, nhằm trắc nghiệm tính vô hại của nó nơi một số nhỏ những người tình nguyện mạnh khỏe. Theo những đánh giá của OMS, viêm gan C gây bệnh cho gần 3% dân số thế giới.
(SCIENCES ET VIE 2/2010)


3/ SAU CÙNG MỘT VACCIN CHỐNG VIÊM GAN E ĐÃ RA ĐỜI.

Một nhóm nghiên cứu Trung Hoa đã trắc nghiệm thành công một vaccin chống viêm gan E trên hơn 56.000 người. Hơn 100.000 người Hoa tuổi từ 16 đến 65 đã được tuyển mộ cho thử nghiệm này. Một nửa đã nhận 3 liều vaccin trong 6 tháng ; nửa kia nhận một placebo. Trong năm tiếp theo sau lần tiêm chủng sau cùng, 15 người đã phát triển một viêm gan E trong nhóm “ placebo ” so với O trong nhóm “ vaccin ”. Đó là một bước tiến kỹ thuật tuyệt vời, GS François Bicaire, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière (Paris) đã đánh giá như vậy. Rất hiện diện trong các nước đang phát triển và đang bành trướng ở Châu Âu, viêm gan E được truyền chủ yếu bằng sự lây nhiễm phân của nước uống và thức ăn. Viêm gan E thường không gây triệu chứng nhưng tỏ ra rất nghiêm trọng nơi các phụ nữ có thai (tỷ lệ tử vong 20%). Công ty Trung Hoa đã hiệu chính vaccin này (Xiamen Innovax Biotech) sẽ tiến hành sự thương mãi hóa nó.

(SCIENCE ET VIE 12/2010)

4/ MỘT KHÍ QUẢN NHÂN TẠO PHÁT XUẤT TỪ CHÍNH CÁC MÔ CỦA CÁC BỆNH NHÂN.

Kỹ thuật ngoại khoa lần đầu tiên trên thế giới này, được thực hiện bởi một nhóm người Pháp, đã được thử nơi 7 bệnh nhân. 5 người còn sống và có một cuộc sống bình thường.

CHIRURGIE. Đó là một bước tiến mới trong một trong những thách thức lớn của ngoại khoa ngực : phẫu thuật thay thế khí quản. Một nhóm các nhà ngoại khoa người Pháp đã sử dụng một cách thành công một kỹ thuật độc đáo để tái tạo cơ quan này từ chính các mô của bệnh nhân.

Khí quản nhân tạo đã được chế tạo từ một mảnh da, “ được trang bị ” bởi những mảnh sụn lấy từ các xương sườn. Trong vòng 6 năm, 7 bệnh nhân đã được mổ, hôm qua hai nhà phẫu thuật, tác giả của thành tích đầu tiên trên thế giới này, đã loan báo như vậy ; GS Philippe , thầy thuốc ngoại khoa ngực và mạch máu thuộc trung tâm ngoại khoa Marie Lannelongue (Plessis-Robinson), và BS Frédéric Kolb, thầy thuốc phẫu thuật tạo hình thuộc Viện Gustave-Roussy (Villejuif). 5 trong số những bệnh nhân này vẫn còn sống và tiếp tục một cuộc sống bình thường. Kỹ thuật mới này sẽ cho phép điều trị, thậm chí chữa lành những người bị ung thư rất lan rộng của khí quản, không có thể mổ được bởi vì ngoại khoa hiện nay quá nặng nề.

TRÁNH NHỮNG NGUY CƠ THẢI BỎ.

Ống dẫn, đường kính từ 10 đến 15 cm, nằm giữa thanh quản và các phế quản ; khí quản được cấu tạo bởi một lớp mỏng bên trong (niêm mạc), giúp lọc những phần tử (particules), và một lớp bên ngoài gồm những vòng sụn, giữ cho khí quản được mở ra. Trong trường hợp bị thương tổn bởi một chấn thương hay một khối u, các phẫu thuật viên có thể lấy đi phần bị bệnh nếu nó không vượt quá một nửa chiều dài toàn thể của khí quản. Trên mức này, phải lấy đi toàn bộ khí quản và tái tạo. Mặc dầu nhiều thập niên nghiên cứu, nhưng chưa có một giải pháp nào thật sự thoả mãn được tìm ra.

Những kỹ thuật ghép cổ điển tỏ ra quá phức tạp và cần những điều trị chống suy giảm miễn dịch nặng nề để tránh những thải bỏ. “ Các khí quản giả (prothèse) luôn luôn bị nhiễm trùng, bị thải bỏ bởi cơ quan và ăn mòn những cơ quan lân cận ”, các BS Dartevell và Kolb đã đánh giá như vậy trong thông báo của mình. Họ nói là cũng bi qua về những phương pháp thay thế khí quản bằng những cơ quan khác, với người hiến tặng (donneur) hay không (như ruột, thực quản hay động mạch chủ), cần sự thiết đặt một endoprothèse để làm cứng toàn thể. Còn về hướng những tái tạo trong phòng thí nghiệm, thì vẫn còn đang trong giai đoạn nghiên cứu.

Philippe Dartevelle và Frederic Kolb đã bắt đầu suy nghĩ vấn đề này vào năm 2004 để đề nghị một giải pháp cho trường hợp bi thảm của một bệnh nhân 35 tuổi. “ Chúng tôi đã nhờ đến một sự kết hợp nhiều kỹ thuật cổ diển trong ngoại khoa tạo hình ”, BS Kolb đã xác nhận như vậy. Một mảnh mô hình chữ nhật với các huyết quản của nó được lấy ở cẳng tay ; rồi được “ trang bị " với những mảnh sụn, xuất phát từ các xương sườn của bệnh nhân. Sau đó hai bờ mép được may lại để có được một hình trụ. Bộ khung này cho phép tránh phải nhờ đến một sự nâng đỡ bằng các endoprothèse. “ khó chịu đối với bệnh nhân và khộng kéo dài lâu lắm ”, nhà phẫu thuật tạo hình đã xác nhận như vậy. Và không cần thiết một điều trị làm suy giảm miễn dịch nào, vì lẽ tất cả các mô đều xuất phát từ bệnh nhân.

Tính toàn bộ, trên bảy bệnh nhân được hưởng kỹ thuật này, 5 bệnh nhân còn sống và có một cuộc sống bình thường với một thời gian nhìn lại từ 1 đến 6 năm.

Hai bệnh nhân khác, vì đã chịu những phẫu thuật thay thế rộng trên các phế quản, đã chết vì bị nhiễm trùng. Thật vậy, lớp niêm mạc, vì không có các lông mao, tỏ ra ít hiệu quả hơn biểu mô hô hấp bình thường để thải bỏ các phần tử và các chất tiết phế quản. Để ngăn ngừa nguy cơ này, các nghiên cứu đang được tiến hành trong phòng thí nghiệm để sử dụng một biểu mô phát xuất từ tỵ hầu, được trang bị bởi những lông mao quý báu. Nhiên hậu, theo GS Dartevelle, một khí quản nhân tạo như thế có thể được thực hiện cho vài chục bệnh nhân mỗi năm ở Pháp.

Một hướng khác trong lãnh vực này : nhóm của GS lain Wurtz (Lille) đã chọn một con đường khác : thay thế khí quản bằng động mạch chủ, được lấy trên hai người hiến tặng đã chết. Loại mô này, không gây nên những thải bỏ, được biến hóa dần thành khí quản. “ Từ 4 năm nay, chúng tôi đã điều trị như thế 6 bệnh nhân bị những ung thư không thể mổ được. 4 bệnh nhân vẫn còn sống, trong đó 3 đã lấy lại một hoạt động nghề nghiệp bình thường ”, GS Wurtz đã xác nhận như vậy. Một endoprothèse là cần thiết, nhưng nhà ngoại khoa hy vọng lấy nó đi sau 5 năm.
(LE JOURNAL DU FIGARO 30/11/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 74 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 18/4/2008 )

2/ PHẪU THUẬT TÁI TẠO KHÍ QUẢN ĐẦU TIÊN

Một nhóm các nhà nghiên cứu người Pháp đã thành công chế tạo một khí quản mới cho các bệnh nhân, từ các mãnh da và sụn của chính những bệnh nhân này. Lần đầu tiên, hai nhà phẫu thuật người Pháp, G.S Philippe Dartevelle (trung tâm ngoại khoa Marie-Lannelongue, ở Plessis-Robinson) và BS Frédéric Kolb (thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình ở Viện Gustave-Roussy, ở Villejuif) đã thành công tái tạo khí quản nơi nhiều bệnh nhân. Họ đã trình bày các công trình này ở Valence vào khóa học quốc tế đầu tiên về phẫu thuật khí quản.

Khí quản, cơ quan mảnh dẻ có thể bị biến dạng bởi các thủ thuật thông nội khí quản khi hồi sức cấp cứu hay lúc gây mê, lúc bị xâm nhập bởi các khối u ung thư, hoặc nếu là nơi xuất hiện các rò (fistules) giữa khí quản và thực quản, sẽ là ác mộng của các nhà phẫu thuật ngực. Bởi vì khí quản, được bao phủ bởi một lớp biểu mô hô hấp, với các lông mao nhằm tống xuất niêm dịch và bụi bặm, và được cấu tạo bởi các vòng sụn có tác dụng làm mở, nằm kẹt giữa các huyết quản lớn của tim và thực quản. Chỉ cần một khối u nhỏ trong khí quản cũng đủ gây ngạt thở khá nhanh, hoặc những nhiễm trùng lặp đi lặp lại.

Thế mà mãi đến hiện nay, các nhà ngoại khoa đã không có một giải pháp thật sự vừa ý để thay thế khí quản. Người ta đã đề nghị “ thông ống ” (tuber) khí quản , bằng các vật liệu khác nhau, như các stents, các ống silicone, giữa thanh quản và các phế quản, nhằm tái lập sự liên tục. Nhóm nghiên cứu của GS Martinod (bệnh viện Avicenne) năm qua đã đề nghị dùng một mảnh ghép động mạch chủ bụng để thay thế khí quản bị bệnh, nơi một bệnh nhân bị ung thư khí quản. Hiện sự đánh giá lâm sàng đang được thực hiện ở nhiều trung tâm của Pháp.

Từ mười năm qua, các phẫu thuật ghép khí quản đã được thực hiện thành công trên heo, nhưng cho đến nay chưa bao giờ thành công trên người. Khí quản được tiếp vận máu rất kém, bằng các huyết quản nhỏ xuyên (petits vaisseaux perforants) : khí quản là cơ quan không có động mạch hay tĩnh mạch riêng. Và trong trường hợp ghép khí quản, nguy cơ hoại tử thường xảy ra. Hiện nay, các dự án ghép khối thanh quản-khí quản-thực quản (greffe de bloc larynx-trachée-œsophage) với các mạch máu vẫn còn là... dự án .

KỸ THUẬT LAMBEAU RADIAL

Chính trong bối cảnh này mà một ngày nào đó năm 2004, Philippe Dartevelle đã tiếp Philippe Soto, một kỹ sư công chánh người Toulouse, 35 tuổi, đến khám bệnh. Thất vọng bởi vì không có một thầy thuốc ngoại khoa nào đề nghị cho ông một giải pháp : được phẫu thuật năm 2003 vì những “ hòn u ” (nodules) của tuyến giáp trạng . Nhưng thật ra đó là một lymphome của trung thất (médiastin) và thực quản của bệnh nhân bị xâm nhập bởi ung thư. Vài ngày sau phẫu thuật, một rò (fistule) đường kính 4-5 cm xuất hiện giữa thực quản và thành sau của khí quản. Không thể nào uống hoặc ăn mà không bị sai đường, ngay việc nuốt nước miếng cũng không thể được ! Được nuôi ăn bằng ống dạ dày, bệnh nhân lại còn chịu những buổi hóa học trị liệu nặng nề. Vào tháng 6 năm 2004, các thầy thuốc ngoại khoa của CHU Marseille thiết đặt một ống trong khí quản và một ống khác trong thực quản. “Một năm không ăn, tôi đã mất 15 kg, một năm không uống, không ngủ bởi vì bị ho. Tôi 35 tuổi, tôi không thể sống mãi như thế này”, Philippe Soto đã giải thích như vậy.

Giáo sư Dartevelle, cộng tác với đồng nghiệp Villejuif Frédéric Kolb, đã đề nghị với bệnh nhân một kỹ thuật mới : kỹ thuật được gọi là lambeau radial. Các nhà phẫu thuật lấy trên cẳng tay một bề mặt da rộng lớn, xuống tận lớp cân mạc (aponévrose) ; tất cả, gồm cả động và tĩnh mạch quay (artère et veine radiale) được may theo hình túi tiền (en portefeuille) vào nơi khí quản. Giáo sư Dartevelel giải thích "12 giờ phẫu thuật để ghép một mô được phân bố mạch (tissu vascularisé) có khả năng chống lại áp lực". Cuộc phẫu thuật thành công: “Hai tuần sau mổ, tôi đã có thể uống ly nước đầu tiên, Philippe Sota đã nói như vậy. Một sự hồi sinh.
LE FIGARO 29-30/3/2008


5/ MỘT VACCIN CÓ THỂ TĂNG CƯỜNG TÁC DỤNG CỦA BCG CHỐNG LẠI BỆNH LAO.

Sau cùng, một tin tốt lành trên mặt trận chống lại bệnh lao : một vaccin thí nghiệm đã cho phép tăng cường sự bảo vệ được mang lại bởi BCG, vaccin duy nhất hiện có chống lại căn bệnh này. Được chế tạo bởi các nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm ở Seatle (Hoa Kỳ), vaccin ID93 mang lại những niềm hy vọng lớn. Bởi vì BCG, được sử dụng từ năm 1921, hiệu quả chống lại các thể nặng và không lây nhiễm của trẻ em (loại viêm màng não), nhưng hầu như không bảo vệ chống lại bệnh lao phổi, căn bệnh phổ biến nhất nơi người lớn. Để cải thiện khả năng bảo vệ, hai chiến lược đối đầu nhau : hoặc là thay thế BCG, hoặc là tiếp tục sử dụng và bổ sung tác dụng của nó bằng một vaccin thứ hai nhằm vào những thể phổi của bệnh. Chính đó là điều mà nhóm nghiên cứu của Seatle đã đặt ưu tiên, bởi vì BCG rất được sử dụng trên thế giới (hơn 100 triệu trẻ em được tiêm chùng mỗi năm). Vậy BCG tạo nên một vaccin cơ bản tốt mà ID93 có thể “ booster ”(tăng cường tác dụng). Để tổng hợp ứng viên vaccin này, các nhà nghiên cứu đã chọn lọc 4 protéine cấu thành của Mycobacterium tuberculosis, vi khuẩn nguyên nhân gây bệnh lao.“ Các protéine này được bảo tồn trong tất cả các giống gốc của vi khuẩn, kể cả trong những tế bào đề kháng với các kháng sinh ”, Sylvie Bertholet, người đã tiến hành các công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.
(SCIENCE ET VIE 12/2010)

6/ TẤN SỐ TIM TĂNG CAO : CŨNG XẤU CHO THẬN.

Đã có một lúc các thầy thuốc chuyên khoa tim xác nhận rằng một tần số tim tăng cao có hại cho tim. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng một tần số tim trên 70-80 đập mỗi phút có thể ảnh hưởng một cách âm tính lên tỷ lệ bệnh tật và tỷ lệ tử vong do tim. Bây giờ đây các nhà nghiên cứu xác nhận rằng một tần số tim tăng cao cũng có một tác động lên thận.

Một cách tổng quát, các thầy thuốc cho rằng một nhịp tim tăng cao tự nó không đáng lo ngại, miễn là tần số này không vượt quá 100 đập mỗi phút. Mặt khác một trái tim đập nhanh thường được xem như là một trong những dấu hiệu của hội chứng áo choàng trắng (syndrome de là blouse blanche) và như thế chỉ là một dấu hiệu tạm thời. Tuy vậy, càng ngày càng rõ ràng là một tần số tim tăng cao không những chỉ gây nên những tai biến tim mạch như nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não, mà còn làm gia tăng nguy cơ suy thận.

BỆNH THẬN GIAI ĐOẠN CUỐI (ESRD : END-STAGE RENAL DISEASE)

Một công trình nghiên cứu mới của Hoa Kỳ vừa cho thấy rằng một tần số tim tăng cao lúc nghỉ ngơi và một sự biến thiên có giới hạn của tần số tim tạo nên hai yếu tố nguy cơ đối với sự phát triển một suy thận tiến triển (ESRD) và do đó những nhập viên thường xuyên. Daniel Brotman, tác giả chính của công trình nghiên cứu này, nghĩ rằng các thầy thuốc không xem trọng lắm sự tăng cao của tần số tim. “ Họ không tin chắc rằng một loạn năng của hệ thần kinh tự trị có thể có một tác dụng lên chức năng thận ”, ông ta đã xác nhận như thế. Các tác giả đã đo tần số tim và sự biến thiên của nó trong một quần thể hơn 13.000 người tuổi từ 45 đến 64, trong trung bình 16 năm.

Suốt trong thời gian theo dõi, 199 bệnh nhân đã phát triển một ESRD và 541 người trong số này đã được nhập viện vì một vấn đề về thận. Sau khi phân chia quần thể các bệnh nhân thành nhóm có tần số tim tăng cao và nhóm có tần số tim biến thiên, người ta có thể quan sát thấy rằng những bệnh nhân thuộc nhóm có tần số tim tăng cao có hai lần nguy cơ bị suy thận hơn so với nhóm chứng, còn nhóm có tần số tim biến thiên có nguy cơ 1,5 lần cao hơn.

HỆ GIAO CẢM VÀ THẬN

Mặt khác các tác giả công nhận rằng một công trình nghiên cứu quan sát như thế không có khả năng chứng minh một mối liên hệ nhân quả giữa các bất thường của các tham số tim và sự suy thận. Tuy nhiên họ gợi ý rằng vài cơ chế có thể giải thích một mối quan hệ như vậy. Tần số tim tăng cao cũng như một sự giảm khả năng biến thiên của nó là dấu hiệu của một sự biến đổi của chức năng hoạt động của hệ thần kinh tự trị. Các tận cùng sợi trục giao cảm đi vào trong thận và có thể ảnh hưởng ở đó chức năng ống thận hay tăng cường tác dụng co mạch của angiotensine. Ngoài ra một sự bất quân bình giao cảm/phó giáo cảm tương quan với sự hiện diện của các yếu tố dẫn đến chứng xơ mỡ động mạch, như cao huyết áp, loạn năng nội mô, các rối loạn lipide, sự đề kháng insuline và quá trình viêm.

Tất cả những yếu tố này có thể có một tác dụng không thuận lợi lên tiến triển của chức năng thận. Mặc khác, ta tự hỏi trong chừng mực nào sự suy sụt chức năng thận, liên kết với tác động có hại của một tần số tim, làm tăng cao tỷ lệ mắc phải những tai biến tim mạch.

MỘT ÍT HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ.

Các tác giả đều đồng ý nói rằng giới hạn của tần số tim bình thường nằm trong khoảng 70-80 đập mỗi phút. Theo Stevo Julius, giáo sư nội khoa của đại học Michigan, một sự tăng cao tần số tim đi đôi với một sự tăng cao nguy cơ suy tim, nhồi máu cơ tim và chết đột ngột. Vậy đo tần số tim là một chuyện không những rất đơn giản, mà còn có thể cứu được nhiều mạng người. Trong trường hợp nghi ngờ, chỉ cần để bệnh nhân yên tĩnh một lúc rồi bắt đầu đo trở lại. Sau cùng, Stevo Julius cho một tuyau hay về việc phòng ngừa : “ Bằng cách làm cho tần số tim của bệnh nhân tăng lên 100 lần mỗi phút trong một nửa giờ, 3 lần mỗi tuần, ta làm sụt tần số tim của bệnh nhân này lúc nghỉ ngơi 10 đến 15 đập mỗi phút.”
(LE GENERALISTE 12/11/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 159 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/2/2010 )

4/ CÓ ĐÚNG LÀ MẠCH NHANH CÓ TIỀN LƯỢNG XẤU ?

Phải nhất trí mạch nhanh nghĩa là gì. Đó là mạch (bằng chứng của tần số của các tiếng đập của tim), được lấy lúc nghỉ ngơi nơi một người bớt căng thẳng và có một mạch đều. Một cách cổ điển, mạch được đo ở tư thế nằm sau 10 phút nghỉ ngơi. Mặt khác phải biết rằng nếu ta có một mạch không đều và nhanh có lẽ đó là một rối loạn nhịp phải được điều trị.

Vài công trình nghiên cứu dịch tễ học đã phát hiện một mối liên hệ có ý nghĩa giữa tần số tim lúc nghỉ ngơi và tỷ lệ tử vong, dầu cho tỷ lệ tử vong này do tim mạch hay tỷ lệ tử vong toàn bộ. Đó là trường hợp nơi những bệnh nhân có một bệnh lý tim mạch, và có thể ngay cả nơi những bệnh nhân có vẻ khỏe mạnh. Một câu hỏi vẫn tồn tại : một mạch nhanh phải chăng là một yếu tố nguy cơ hay là một chỉ dấu nguy cơ ?

Có những lý lẽ để cho rằng một mạch nhanh lúc nghỉ ngơi (và một sự gia tốc quá mức của mạch đối với một gắng sức có cường độ thấp) như là điềm xấu nơi những bệnh nhân tim, đặc biệt hơn là nơi những bệnh nhân suy tim hay với một bệnh của các động mạch vành, ngay cả trong tình trạng ổn định.

Thật vậy, những kết quả của hai công trình nghiên cứu lớn, được tiến hành trên 20.000 bệnh nhân động mạch vành trong tình trạng ổn định, đã phát hiện một tỷ lệ tử vong toàn bộ và do tai biến mạch máu, gia tăng đối với một tần số tim lúc nghỉ ngơi trên 75/phút. Trong một trong những công trình nghiên cứu này, trong đó, ngoài ra, lực co bóp của tim bị giảm, người ta đã quan sát nhận thấy một sự gia tăng gần 50% tỷ lệ bị suy tim đối với một tần số tim lúc nghỉ ngơi trên 70/phút. Ngược lại, sự xuất hiện của những tai biến tim-mạch được thu giảm 36% nơi những người có tần số tim được giảm một cách đáng kể.

Người ta biết rằng sự gia tốc của tần số tim, do làm gia tăng những nhu cầu oxy của tim, do làm biến đổi chức năng của thành của các động mạch vành, do kích thích sự phóng thích các hormone “ độc hại ” (catécholamines), làm dễ sự thiếu máu cục bộ (ischémie) của cơ tim và sự tạo thành các cục máu đông (huyết khối : thrombus) trong các động mạch vành. Do đó không có gì ngạc nhiên khi tỷ lệ mắc phải nhồi máu cơ tim và những tai biến tim-mạch khác gia tăng trong trường hợp tần số tim nhanh hơn.

Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của sự đo tần số tim lúc nghỉ ngơi, ngoài huyết áp ra, đặc biệt nơi những bệnh nhân động mạch vành và/hoặc với một chức năng tim xấu, và sự cần thiết làm chậm lại tần số này dưới trị số bia (valeur cible) bằng một điều trị thích đáng.
(COEUR ET ARTERE 1/2010)


7/ PHÁT HIỆN CHỨNG ĐIẾC NGAY TỪ KHI SINH RA ĐỜI.

Ở Pháp, mỗi năm 800 trẻ em sinh ra đời bị bệnh điếc bẩm sinh (surdité congénitale). Nhưng trung bình chứng điếc này chỉ được phát hiện vào lúc trẻ được 2 tuổi. Thế mà, 24 tháng (và đôi khi hơn) vắng mặt sự kích thích giác quan (stimulation sensorielle) này “ có hại cho sự phát triển của não bộ, nhưng cũng có hại cho sự tạo thành tiếng nói ; một đứa trẻ được phát hiện muộn sẽ không bao giờ phục hồi lại được một giọng nói bình thường ”, BS Edwige Antier, thầy thuốc Nhi Khoa và đại biểu quốc hội đã phát biểu như vậy.

Cùng với các dân biểu khác, bà là động cơ của một dự luật được đệ trình cuối tháng 11 tại Quốc Hội nhằm bảo vệ cho sự thiết đặt một chương trình phát hiện đại trà chứng điếc này. Trên thực tiễn, trong tất cả các nhà hộ sinh và trong 3 ngày sau khi sinh, các nữ hộ sinh chỉ cần thực hiện nơi các nhũ nhi một trắc nghiệm đơn giản, không đau, được gọi là PEAA (potentiels évoqués auditifs automatisés) là đủ. Trong trường hợp dương tính, một sự xác nhận sẽ được thực hiện trong 3 tháng với một bilan hoàn chỉnh hơn (TMH, di truyền học), tất cả được thực hiện trong một trong số những CDOS tương lai (centre de dépistage et d’orientation de la surdité). Những trung tâm này sẽ được phân bố trên toàn lãnh thổ, nếu đạo luật được thông qua.

“ Người ta ước tính rằng cứ 10 trẻ em được nhận diện bởi trắc nghiệm này, thì chỉ có một cuối cùng bị điếc ”, GS Noel Garabédian, TMH thuộc bệnh viện Trousseau (Paris) đã xác nhận như vậy. Từ nhiều năm nay, những bảng tường trình chủ trương phát hiện sớm chứng điếc bẩm sinh đã được soạn thảo. 6 thành phố ở Pháp đã được hưởng một chương trình tiền phong, liên hệ đến 33 nhà hộ sinh và 150.000 nhũ nhi. Tuy vậy, lợi ích của một chương trình điều tra phát hiện như thế không tạo nên sự nhất trí.

(SCIENCES ET AVENIR 12/2010)

8/ BỆNH BEHCET

Hulusi Behçet sinh ở Istambul năm 1889, dưới thời Đế Chế Thổ Nhĩ Kỳ. Cha ông là một thương gia mà tên của ông có nghĩa là “ sáng rực ”, nhưng cuộc đời của Hulusi lại bắt đầu một cách buồn bã bởi vì ông mất mẹ lúc còn nhỏ tuổi. Là đứa bé sống nội tâm và cô đơn, ông học tiếng Pháp, tiếng latin và tiếng Đức. Là nguời ham học, ông quyết định là thầy thuốc. Dưới Đế Chế Thổ Nhĩ Kỳ, môn này không dành cho những người dân sự và ông phải ghi danh theo học để được đào tạo ở Viện Quân Y. Là Tiến sĩ Y khoa rồi chuyên khoa Da liễu, ông tốt nghiệp năm 1914 lúc 25 tuổi. Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ liên minh với Đức. Suốt trong Đệ nhất thế chiến, ông phục vụ trong một bệnh viện quân sự. Sau chiến tranh, ông tu nghiệp ở Budapest và Berlin rồi trở về nước và gia nhập vào Đại học y khoa Istambul vừa mới mở. Ở đó, ông gặp người chị của một bệnh nhân, con gái của một nhà ngoại giao nổi tiếng, ông cưới cô ta và trở thành bố của một cháu gái nhỏ. Với sự thành lập của Cộng Hòa Thổ, một số đáng kể các cải cách ra đời. BS Behcet khi đó là người Thổ đầu tiên nhận tước hiệu giáo sư. Rất hiếu kỳ, là người thuyết trình giỏi và là văn sĩ, ông tham gia nhiều hội nghị quốc gia và quốc tế, bảo vệ rồi công bố những quan sát độc đáo. Ông dịch ra tiếng Thổ những bài báo của các đồng nghiệp để giúp đỡ những người đồng hương của ông và với tư cách thầy thuốc chuyên bệnh hoa liễu, ông rất say mê về bệnh giang mai và leishmaniose. Ông cũng mô tả các bệnh ký sinh trùng và các bệnh nấm như bệnh gale des céréales hay dermatite des figuiers và thành lập vào lúc 35 tuổi tờ báo vénérologie đầu tiêng bằng tiếng Thổ, “ Turkich Archives of Dermatology and Syphilology ”. Cùng thời kỳ, những quan sát đầu tiên của ông về bệnh Behçet bắt đầu với bệnh nhân đầu tiên, được xếp loại từ 40 năm nay là “ bệnh lỡ mồm tái phát mãn tính ” (aphtose récidivante chronique) hay “ ban đỏ xuất tiết tái phát ” (erythema exudativum récidivante), tùy theo những triệu chứng lần lượt được chứng thực. Giang mai ? Lao ? Những bệnh nhân tương tự được gởi đến ông trong nhiều năm. Behçet nghĩ đến một virus hay một cửa vào do nhiễm trùng răng, sau khi đã loại bỏ những nguyên nhân khác bằng các phân tích và sinh thiết. Vào năm 1937, ông trình bày những điều chứng thực của ông trong một tờ báo tiếng Đức và ngõ lời ở hội nghị của Hiệp hội bệnh ngoài da (Société de Dermatologie) ở Paris. Vào năm 1938, những nhà khoa học Bỉ, Weekers và Reginster báo cáo những dấu hiệu tương tự. Những trường hợp mới được báo cáo ở Áo, Hoa Kỳ, Nhật bản, Đan mạch, Thụy Sĩ và Israel. Căn bệnh mới này cần đến 10 năm để nhận tên là “ Morbus Behçet ” ở Hội nghị y khoa quốc tế ở Genève, và sau đó để trở thành một cách vĩnh viễn “ maladie de Behçet ”.Tuy vậy tác phẩm quan trọng nhất của Behçet là một chuyên luận dành cho bệnh giang mai, đặc biệt phong phú và chi tiết, có nhan đề “ Clinical Syphilis Diagnosis and Related Dermatoses ”.Về Behçet, người ta nói rằng ông nổi tiếng khắp nơi trừ ở Thổ Nhĩ Kỳ, đến độ ông phải đi khắp thế giới để trình bày những nghiên cứu của mình. Phải chăng đó là nguyên nhân đưa đến sự ly dị của ông ? Behçet là một người có văn hóa, rất quan tâm đến nghệ thuật và văn học. Mặc dầu là người vui tính, tuy vậy ông mắc phải chứng mất ngủ, viêm đại tràng và cơn đau thắt ngực. Là người hút thuốc kinh niên, ông chết đột ngột vào năm 1948, vào lúc 59 tuổi. Giữa năm 1921 và 1940, Behçet công bố 126 bài báo quốc gia và quốc tế, trong đó một nửa được đăng tải trong những tờ báo khoa học có uy tín, nhưng cũng như nhiều vĩ nhân khác, ông chỉ được thật sự vinh danh rất lâu sau khi đã qua đời. Bắt đầu tư năm 1975, Thổ Nhĩ Kỳ đã đặt tên ông cho các trường học, các phòng thí nghiệm, các thư viện, các hội nghị như“ Korea-Turkey Behçet Days ” và dành cho ông nhiều bức chân dung và pho tượng. Vào năm 1980, hình ông xuất hiện trên một con tem, vào năm 1982, ông nhận sau khi mất “ Medical Award of the Turkish Republic ” và gần như 50 năm sau khi qua đời, một huy chương tưởng niệm bằng bạc dành cho ông.
(LE GENERALISTE 25/11/2010)

9/ BỆNH CHÁN ĂN : TÍNH ƯU VIỆT CỦA LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH.

BS bình luận những kết quả của một công trình nghiên cứu về tính hiệu quả của phương pháp của Maudsley đối với những rối loạn ăn uống Sylvie Rouer-Sapora, thầy thuốc tâm thần thuộc bệnh viện Sainte-Anne,.

Hỏi : Bà hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của chứng chán ăn (anorexie).
BS Sylvie Rouer-Saporta. Đó là một căn bệnh bắt đầu ở tuổi thiếu niên và được thể hiện bởi một ước muốn được gầy ốm cực kỳ. Bệnh này xảy ra nhiều hơn nơi các phụ nữ (9 con gái đối với một con trai). Để làm mất trọng lượng, những người bị bệnh chán ăn (anorexique) sử dụng nhiều chiến lược khác nhau : hạn chế ăn uống (lượng và phẩm), các thuốc nhuận tràng, mửa, thể thao quá thể …trong hai phần ba các trường hợp, bệnh lý này trở nên mãn tính.

Hỏi : Người ta có biết những nguyên nhân của rối loạn ăn uống này không ?
BS Sylvie Rouer-Saporta : Ngoài một nguyên nhân gia đình, như một bất thường của một gène của thụ thể đối với sérotonine, hay một loạn năng của vài chất dẫn truyền thần kinh ở não bộ, người ta đã đưa ra các giả thuyết.
  • Một sự khó khăn giao tiếp với người mẹ và những người chung quanh.
  • Muốn giống như các mannequin rất gầy gò được đăng trong các tạp chí, một lý tưởng cần đạt được.


Hỏi : Những hậu quả của chứng chán ăn lên sức khỏe là gì ?
BS Sylvie Rouer-Saporta : Nơi các cô con gái, ta rất thường quan sát thấy ngừng kinh nguyệt, nếu chứng chán ăn này kéo dài, sẽ phương hại đến khả năng sinh đẻ. Nơi các cậu con trai, nếu bệnh lý mãn tính, sẽ có một sự thiếu hụt hormone toàn bộ. Ở lứa tuổi 30, các phụ nữ suy dinh dưỡng này thường bị những vấn đề loãng xương và tan cơ. Trong những tình huống còn nghiêm trọng hơn, người bệnh bị loạn nhịp tim.

Hỏi : Cuộc sống của một người bị bệnh chán ăn diễn biến như thế nào ?
BS Sylvie Rouer-Saporta : Về phương diện tâm lý, bệnh nhân không chịu nhận là mình bị rối loạn : trở nên gầy ốm, các thiếu nữ cảm thấy đẹp hơn vì vẻ người tương ứng với lý tưởng của họ. Một mặt, trước khi bệnh trở nặng, vì tình trạng nhịn ăn làm tiết ra các chất endorphine, nên các bệnh nhân này có một cảm tưởng thoải mái. Nhưng khi sự mất cân trở nên quan trọng hơn, các cô gái bị chứng trầm cảm và có thể có cả những ý nghĩ tự tử. Vào giai doạn tiến triển này, vì những thiếu hụt do suy dinh dưỡng nên bệnh nhân cần được nhập viện thường xuyên. Người ta quan sát thấy cùng những hậu quả nơi các cậu con trai.

Hỏi : Điều trị thông thường của bệnh chán ăn này là gì ?
BS Sylvie Rouer-Saporta : Thường nhất, chính áp lực gia đình và trường học khiến một cô thiếu nữ bị bệnh này phải đi khám một thầy thuốc chuyên khoa tâm thần (đôi khi một thầy thuốc đa khoa). Thầy thuốc tâm thần khi đó sẽ làm cho bệnh nhân nhận thức được những nguy cơ gây nên bởi sự hạn chế ăn uống và thuyết phục bệnh nhân đi dự đều đặn những buổi liệu pháp hành vi (thérapie comportementale). Ở tuổi trưởng thành, chính những hậu quả tai hại của bệnh chán ăn lên sức khỏe khiến người bệnh phải đi thăm khám.

Hỏi : Những kết quả thu được với liệu pháp hành vi này ?
BS Sylvie Rouer-Saporta : Trước mắt, những kết quả đều tốt nhưng những tái phát thường xảy ra : hơn 50% sau một năm.

Hỏi : Một công trình nghiên cứu mới đây của Hoa Kỳ đã chứng minh tính ưu việt của phương pháp Maudsley Hospital. Phương pháp mới nhất này là gì ?
BS Sylvie Rouer-Saporta : Đó là một liệu pháp gia đình (thérapie familiale) trong đó có sự tham dự của bố mẹ. Các bậc phụ huynh này bắt đầu theo một số buổi điều trị nào đó, trong đó người ta giải thích cho họ làm sao giúp đỡ các con (thí dụ, bằng cách tránh những xung đột thường ngày, bằng cách thiết lập một bầu không khí thư giãn trong bữa ăn…). Thật vậy, người ta dạy cho cha mẹ của cô gái bị bệnh trở thành “ những nhà cùng điều trị ” (cothérapeutes). Sau đó, họ báo cáo đều đặn với thầy thuốc tâm thần những kết quả thu được và những khó khăn mà họ gặp phải.

Hỏi : Những kết quả công trình nghiên cứu với liệu pháp hành vi này ?
BS Sylvie Rouer-Saporta : Trong cuộc điều tra này, 121 thiếu niên khoảng 14 tuổi (trong đó 90% là con gái) đã được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất được điều trị theo liệu pháp cổ điển dành cho các thiếu niên và nhóm kia được điều trị theo liệu pháp Maudsley. 12 tháng sau điều trị, người ta đã chứng thực rằng 40% những người được điều trị theo liệu pháp gia đình có một sự thuyên giảm hoàn toàn, so với chỉ 18% nơi những người được điều trị theo liệu pháp cá nhân (thérapie individuelle) (và những kết quả này vẫn được duy trì trong những tháng sau đó). Công trình nghiên cứu này của Hoa Kỳ đã chứng minh tính ưu việt của liệu pháp gia đình, vốn đã được sử dụng ở Pháp.
(PARIS MATCH 2/12-8/12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 185 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 02/8/2010 )

1/ LÀM SAO ĐƯƠNG ĐẦU VỚI CHỨNG CHÁN ĂN TÂM THẦN (ANOREXIE MENTALE) ?

NHỮNG ĐIỂM MỐC

CÁC CON SỐ. Trong tất cả các nước phương Tây, bệnh chán ăn tâm thần (anorexie mentale) gây bệnh 0,5 đến 2% các thiếu niên. 9 trường hợp trên 10 liên quan đến các thiếu nữ. Về chứng ăn quá độ (boulimie), căn bệnh này ảnh hưởng, với một tần số gia tăng, 3 đến 4% các thiếu nữ. Nói chung, các triệu chứng của chứng ăn quá độ bắt đầu chậm hơn so với chứng chán ăn, khoảng 19 đến 20 tuổi. Theo Brigitte Remy, thầy thuốc tâm thần trong một trung tâm của MGEN, những rối loạn hành vi ăn uống là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trong tâm thần học. Những người bị chứng chán ăn chủ yếu ngã gục vì bị ngừng tim.

NHỮNG YẾU TỐ LIÊN KẾT. Những công trình nghiên cứu dịch tễ học cho phép nhận diện nhiều tham số liên kết với chứng chán ăn, bắt đầu là những yếu tố văn hóa. Những người chán ăn sống trong những nước kỹ nghệ. Không có một trường hợp nào đã được báo cáo ở châu Phi, và những công trình đã chứng minh rằng, nơi những người di dân châu Á ở Hoa Kỳ, chỉ thế hệ thứ hai mới bị mắc bệnh. Những tiền sử có những rối loạn ăn uống xảy ra trong gia đình, một sự bất hòa với bố mẹ, những kỳ vọng cao của gia đình đối với con mình, sự lạm dụng các thuốc ma túy, một nhân cách “ borderline ” hay những lạm dụng tình dục cũng tương quan với sự xuất hiện của chứng chán ăn.

DI TRUYỀN. Những trường hợp gia đình và những công trình trên các người sinh đôi đã xác nhận vai trò của di truyền trong chứng chán ăn, nhưng các gène de susceptibilité vẫn còn không được biết rõ. Một công trình nghiên cứu nơi những người sinh đôi thật (vraies jumelles) đã cho thấy rằng khi một người bị chứng chán ăn, thì người kia có 55% nguy cơ là như vậy, trong khi tỷ lệ chỉ là 5% nơi những người sinh đôi giả (fausses jumelles).

Tâm lý liệu pháp (psychothérapie), vật lý trị liệu (kinésithérapie)...Điều trị phải nhắm đến tất cả các khía cạnh của căn bệnh.

CÁC RỐI LOẠN ĂN UỐNG (troubles alimentaires). Theo các thầy thuốc tâm thần, đó là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trong tâm thần học. Các rối loạn của thái độ ăn uống (trouble du comportement alimentaire), chứng chán ăn (anorexie) và chứng ăn vô độ (boulimie), gây tàn phá nơi các thiếu niên, nhưng cũng nơi những người trưởng thành (chiếm ½ các trường hợp). Đứng trước bệnh lý phức tạp là sự chán ăn này, bố mẹ và các thầy thuốc rất thường bị bối rối. Sự điều trị thường quá muộn và không hẳn là tối ưu, các chuyên gia đã nhấn mạnh như vậy, nhưng chẳng bao lâu sẽ được cải thiện, nhờ các sáng kiến.

Institut mutualiste de Montsouris (Paris) điều khiển một công trình nghiên cứu quy mô lớn nhiều trung tâm cho phép đánh giá những lợi ích của nhập viện, cần thiết trong những trường hợp nghiêm trọng nhất của chứng chán ăn.

Còn Haute autorité de santé (HAS) sẽ công bố trước cuối hè này những điều khuyến nghị để điều trị căn bệnh này.

BỆNH NHÂN KHÔNG KÊU CA.

Vì sự điều trị chứng chán ăn càng có hiệu quả khi rối loạn được phát hiện càng sớm, nên những điều khuyến nghị sẽ cho phép những người chuyên môn tiếp xúc với các thiếu niên, nhận biết tốt hơn những dấu hiệu đầu tiên phát hiện bệnh lý này. Ở Pháp, cũng như trong tác cả các nước tây phương, từ 0,5 đến 2% các thiếu niên bị ảnh hưởng bởi những rối loạn hành vi ăn uống này, và chủ yếu là những thiếu nữ trẻ, chiếm 95% các trường hợp.

Khởi đầu của rối loạn có thể âm ỉ. Với tuổi dậy thì, các cô thiếu nữ thấy thân hình bị biến đổi và những bộ phận tròn trặn xuất hiện. “ Cô ta hơi phát phì, và một hôm, ông anh hay ông bố nêu nhận xét với cô ta về điều đó. Cô thiếu nữ lo lắng, hỏi các cô bạn ở trường ; các cô này xác nhận là đúng như vậy, bởi vì các cô gái thường khó tính với nhau, GS Bruno Falissard, phụ trách một đơn vị nghiên cứu Inserm ở khoa tâm thần trẻ em thuộc bệnh viện Paul-Brousse, đã kể lại như vậy. Đó là khởi đầu cổ điển của lịch sử của bệnh chán ăn.

Đối với vài cô thiếu nữ, mà profil tâm lý xoay quanh việc kiểm soát, đó là một tình huống không thể chịu được. Các cô phải tự kềm chế, theo chế độ kiêng khem và để mặc sự kích động do sự thiếu dinh dưỡng gây nên. Thế là các cô tự làm chủ lấy mình và gầy ốm đi. Vậy thì trên quan điểm của các cô gái này, mọi việc sẽ tốt đẹp hơn.

Như thế bệnh chán ăn đúng là một bệnh lý nói riêng, bởi vì bệnh nhân không than vãn, bệnh nhân không muốn chữa lành. Bệnh nhân có thể che dấu lâu dài căn bệnh của mình và một khi được chẩn đoán, từ chối các điều trị. Tuy vậy các dấu hiệu là rõ ràng : các bệnh nhân chán ăn tâm thần muốn gầy ốm, tự thấy mình quá béo phì, trong khi không phải là như vậy và sợ lên cân.

Vậy các bố mẹ phải chú ý ngay khi con em mình có một hành vi không như lệ thường vào các bữa ăn và mặc dầu mảnh khảnh hay gầy ốm, vẫn cứ cho là mình bị béo phì. “ Thật vậy, các bố mẹ thường là những người đầu tiên thấy những thay đổi, bởi vì các thầy thuốc khám càng ngày càng ít các bệnh nhân thuộc loại này, nhất là các cô gái lại tỏ ra dè dặt ”, GS Falissard đã nhấn mạnh như vậy.

Khi chứng chán ăn được phát hiện rất sớm, vài can thiệp đơn giản lên sự hoạt động của gia đình nói chung cũng đủ để khai thông tình hình.

Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, khi chứng chán ăn đã xuất hiện từ lâu hơn, các bệnh nhân phải được nhập viện. Một vài bệnh nhân trong tình trạng bi thảm, với một sự mất cân có thể đạt đến 50%. “ Ở giai đoạn này, làm các bệnh nhân căng phồng trở lại về phương diện vật lý không đủ, điều này thường được thực hiện trong những đơn vị không chuyên môn, BS Xavier Pommereau, giám đốc của đơn vị y khoa-tâm lý của thiếu niên thuộc centre Abadie de Bordeaux lấy làm tiếc như vậy. Cần phải điều trị bệnh nhân trên tất cả mọi phương diện. Các nhóm đa khoa (équipe pluridisciplinaire) thu được những kết quả tốt hơn, nhất là nếu có thể theo dõi các bệnh nhân trong một thời gian đầy đủ.”
(LE FIGARO 7/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH TRẦM CẢM (Depression) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây


10/ PROZAC TIẾT LỘ CÁC BÍ MẬT.

Phải cần 3 tuần để có thể cảm thấy tác dụng của các thuốc chống trầm cảm, và đặc biệt là Prozac. Một nhóm nghiên cứu Pháp vừa hiểu tại sao. Tình trạng trầm cảm được liên kết với một sự thiếu hụt sérotonine. Thế mà Prozac ngăn cản sự bắt giữ bởi những neurone à sérotonine chất dẫn truyền thần kinh của chứng trầm cảm và góp phần làm gia tăng nồng độ của sérotonine trong não bộ. Nhưng Prozac cũng phát động một loạt các tín hiệu, mang lại cho các neurone à noradrénaline một khả năng mới tiết sérotonine. Ngoài ra, đến lượt những neurone này trở nên nhạy cảm với Prozac và góp phần làm gia tăng thêm nồng độ sérotonine. Con đường thứ hai này, được thiết lập chậm hơn, có tính chất quyết định đối với việc cảm thấy được tác dụng của thuốc chống trầm cảm.
(SCIENCE ET VIE 11/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 68 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 14/3/2008 )

7/ PROZAC, THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM CÓ NGUY CƠ ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN

Một công trình nghiên cứu trên các chuột nhỏ chứng tỏ các tác dụng có hại của Prozac lên sự tăng trưởng. Cơ quan an toàn các dược phẩm y tế của Pháp (Afssaps) rung chuông báo động về việc kê toa các thuốc chống trầm cảm cho các thiếu niên. Fluoxétine (Prozac) được Cơ quan dược phẩm châu Âu (Agence européenne du médicament) cho phép sử dụng nơi trẻ trên 8 tuổi bị chứng trầm cảm nặng, không đáp ứng dương tính với tâm lý trị liệu pháp.Thế mà một công trình nghiên cứu tiền lâm sàng nơi chuột non, đã tiết lộ rằng fluoxétine có thể có những tác dụng độc hại lên sự tăng trưởng cũng như lên sự trưởng thành sinh dục của động vật. Mặt khác, trong những thử nghiệm lâm sàng nơi người, nguy cơ có hành vi tự tử (comportement suicidaire), nhất là ở giai đoạn đầu của điều trị, đã được báo cáo. “Do đó, Cơ quan dược phẩm châu Âu đã yêu cầu những nghiên cứu bổ sung nơi động vật, Marie-France le Heuzy, bác sĩ chuyên khoa tâm thần trẻ em, thuộc khoa bệnh lý tâm thần trẻ em của bệnh viện Robert-Debré Paris và uỷ viên của nhóm chuyên viên Afsaps đã xác nhận như thế. Trong lúc chờ đợi để biết nhiều hơn, chúng tôi khuyến nghị sử dụng các thuốc chống trầm cảm một cách hết sức thận trọng”

Afssaps chỉ rõ rằng các trẻ em được điều trị bởi Prozac phải được theo dõi sát và sự tăng trưởng phải được kiểm tra.Việc kê toa phải do một bác sĩ chuyên khoa tâm thần đã chẩn đoán bệnh trầm cảm. Bởi vì chẩn đoán bệnh này ở trẻ em là khó. Ở một đứa trẻ, “các triệu chứng là dần dần tự rút mình lại, đạt điểm thấp ở lớp học, không thích thú luyện tập thể thao, v...v., tất cả mọi điều khó chẩn đoán”. Ở các thiếu niên, chứng trầm cảm thường được che dấu bằng một tâm trạng bực bội, cáu kỉnh, hung bạo.

Do khó khăn trong chẩn đoán và các nguy cơ do fluoxétine mang lại, nên việc cho toa cần phải thận trọng. “ Ở Pháp, chúng tôi đã có phương thức xử lý tốt, Marie-France Le Heuzy đã xác nhận như thế.Thuốc chống trầm cảm không được xem như là phương thức điều trị được chọn đầu tiên và không bao giờ được cho trong trường hợp cấp cứu. Đứa bé bị trầm cảm có thể được chữa lành bằng cách thay đổi môi trường và bằng những biện pháp tâm lý. Các nguy cơ của thuốc phải được cân nhắc với mối lợi mong muốn”.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2008)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (6/12/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969