Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 62
Lượt truy cập: 1026955
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ U XƠ TỬ CUNG : NHỮNG PHƯƠNG PHÁP THAY THẾ CẮT BỎ TỬ CUNG.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

TỬ CUNG. Các u xơ tử cung là những khối u hiền tính (không phải ung thư), phát triển ở bề mặt hay ở trong lòng của mô cơ tử cung. Chúng hiện diện, kích thước lớn hay nhỏ, số lượng nhiều hay ít, nơi 40% các phụ nữ trên 40 tuổi. Trong phần lớn các trường hợp, u xơ tử cung không gây nên một triệu chứng nào và không cần phải điều trị hay chịu một sự theo dõi đặc biệt nào.

CÁC TRIỆU CHỨNG. Những triệu chứng thông thường nhất là chảy máu kinh nguyệt dồi dào và kéo dài, chướng bụng với một cảm giác nặng ở hố chậu, những cơn đau ở vùng bụng dưới, muốn tiểu tiện thường xuyên nếu u xơ đè ép lên bàng quang, táo bón nếu u xơ đè ép lên đại tràng hay trực tràng. Cũng có thể đau khi giao hợp.

CÁC LOẠI THUỐC. Thuốc cho phép hạn chế các triệu chứng gây khó chịu, nhưng không cho phép phá hủy các u xơ. Ta có thể sử dụng viên thuốc ngừa thai mà chất cơ bản là các progestatif hay các chất chủ vận của GnRH (gonadolibérine) để làm giảm sự sản xuất oestrogène trong các buồng trứng. Việc sử dụng các progestatif không làm giảm thể tích các u xơ cũng không ngăn cản chúng tăng trưởng.

ĐIỀU TRỊ. Cắt bỏ tử cung (hystérectomie) bằng ngoại khoa là điều trị vĩnh viễn duy nhất của các u xơ tử cung. Trong số 72.000 cắt bỏ tử cung được thực hiện mỗi năm ở Pháp, hơn 60% là do các u xơ tử cung. Trong vài trường hợp, các thầy thuốc ngoại khoa chỉ mổ lấy các u xơ. Những kỹ thuật khác ít xâm nhập hơn. Ví dụ embolisation với nguyên tắc là tước đi nguồn máu đến các u xơ nhờ tiêm các viên bi tổng hợp bé xíu (microbilles) vào trong các động mạch tử cung. Từ vài năm này, một kỹ thuật dùng siêu âm đã được phát triển.


Những kỹ thuật mới cho phép tránh phẫu thuật.

GYNECOLOGIE. “ Các u xơ tử cung là những khối u hiền tính thường xảy ra : chúng hiện diện nơi 40% các phụ nữ trên 40 tuổi, GS Philippe Descamps, thuộc khoa sản phụ khoa của CHU d’ Angers đã nhấn mạnh như vậy. Trong đại đa số các trường hợp, các u xơ tử cung không gây nên một triệu chứng nào và không cần một điều trị hay một theo dõi đặc biệt nào.” Trong dưới 1/3 các trường hợp, các triệu chứng xuất hiện cần một điều trị bởi hệ y tế, thường nhất là bằng một can thiệp ngoại khoa. Mặc dầu phẫu thuật cắt bỏ tử cung (hystérectomie) vẫn là điều trị duy nhất không mang lại nguy cơ tái phát, nhưng những phương pháp khác có thể được đề nghị, nhất là nơi các phụ nữ mong muốn có thai.

Các u xơ tử cung được tạo thành từ một tế bào độc nhất, bắt đầu tăng sinh một cách không kiểm soát được trong cơ tử cung. Những yếu tố di truyền và môi trường dường như đóng một vai trò trong sự phát triển của chúng : các phụ nữ gốc châu Phi, các phụ nữ có mẹ đã từng bị u xơ tử cung và những phụ nữ tăng thể trọng là thường bị mắc phải. Các u xơ tử cung phụ thuộc hormone chỉ xuất hiện sau tuổi dậy thì và thoái biến sau thời kỳ mãn kinh. Trong 70% các trường hợp, chúng tăng trưởng trong lòng của lớp cơ : đó là những u xơ trong thành (fibromes intramuraux). Những khối u khác, những u xơ dưới thanh mạc (fibromes sous-séreux), được tạo thành về phía ngoài của tử cung. Hiếm hơn, những u xơ dưới niêm mạc (fibromes sous-muqueux) tiến triển về phía trong của xoang tử cung

Những triệu chứng chính là đau bụng và xuất huyết âm đạo trong khoảng 60% các trường hợp, triệu chứng này hay triệu chứng kia trong 15% các trường hợp. Kinh kỳ kéo dài hơn, dồi dào hơn. Trong 10% các trường hợp, các phụ nữ có thể cảm thấy một cảm giác nặng, đặc biệt khi có nhiều u xơ hay khối u to lớn. Như thế, các khối u có thể đè lên bàng quang, thường gây những triệu chứng đường tiểu, hay đè trên ruột, dẫn đến táo bón. Đau có thể xuất hiện trong khi giao hợp.

CẮT BỎ U CƠ TỬ CUNG (MYOMECTOMIE) ĐỂ BẢO TOÀN TỬ CUNG.

Việc lựa chọn điều trị tùy thuộc nhiều yếu tố, nhất là loại u xơ, kích thước của chúng, số lượng, tuổi của bệnh nhân và sự mong muốn có thai. Các u xơ dưới niêm mạc (fibromes sous-muqueux) không đáp ứng với các điều trị bằng thuốc và có thể được lấy đi bằng đường nội soi tử cung (hystéroscopie), GS Descamps đã xác nhận như vậy. Can thiệp rất là đơn giản, được thực hiện ngoại trú và bệnh nhân có thể trở về nhà cùng ngày can thiệp.” Đối với những loại u xơ tử cung khác, không có một điều trị bằng thuốc nào cho phép làm biến mất chúng. Những công trình đang được tiến hành để đánh giá lợi ích của các chất điều biến (modulateur) của thụ thể của progestérone nhưng, hiện nay, các điều trị chủ yếu nhằm làm giảm các xuất huyết hay làm chậm sự tiến triển của các u xơ tử cung nhưng không cho phép loại bỏ nguyên nhân của các triệu chứng. Đặc biệt các progestatif càng ngày càng ít được sử dụng bởi vì chúng không được dung nạp về lâu về dài và bởi vì chúng có thể đóng một vai trò lên nguy cơ phát triển ung thư vú. Các chất tương cận của LH-RH, một hormone có liên hệ trong chu kỳ kinh nguyệt, có thể được kê đơn để làm giảm thể tích của các u xơ trước khi can thiệp ngoại khoa.

Cắt bỏ tử cung (hystérectomie) là điều trị vĩnh viễn duy nhất của các u xơ tử cung và vẫn là điều trị lựa chọn khi các phụ nữ không mong muốn có thai. Khi các phụ nữ muốn bảo toàn tử cung, thì có thể thực hiện cắt bỏ u cơ tử cung (myomectomie), để chỉ lấy đi các u xơ mà thôi. Trong trường hợp này, phải thực hiện thai nghén nhanh chóng bởi vì u xơ nhất định sẽ xuất hiện trở lại ”, GS Descamps đã chỉ rõ như vậy.

Những phương cách khác nhau đã được phát triển để gây nên sự hoại tử của các u xơ bằng cách loại bỏ sự cung cấp máu của chúng. Có thể buộc, bằng đường ngoại khoa, các huyết quản nuôi dưỡng u xơ. Từ 15 năm nay, nhiều phụ nữ đã được điều trị bằng embolisation, một kỹ thuật tương tự được hiệu chính ở Pháp, không cần can thiệp ngoại khoa. Qua một cathéter được đưa vào trong một động mạch ở vùng bẹn, những viên bi nhỏ (microbilles) được tiêm vào trong các huyết quản bao quanh khối u.

Mới đây hơn, nhiều bệnh viện được trang bị bởi máy điều trị bằng siêu âm, không cần phải mổ xẻ. “ Ta đã điểm qua những giải pháp ngoại khoa, từ nay được xác định rõ. Tương lai, để điều trị các u xơ, sẽ là bằng thuốc hay những kỹ thuật không xâm nhập ”, BS Mathieu Mezzadri, trưởng bộ môn lâm sàng của khoa Sản Phụ Khoa, bệnh viện CHU d’Angers, đã tóm tắt như vậy.
(LE FIGARO 6/12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 99 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 30/10/2008 )

9/ U XƠ TỬ CUNG (FIBROMYOMES)

Ở phụ nữ, các khối u hiền tính thường xảy ra nhất ở hố chậu là các u xơ tử cung (fibromyomes hay fibromes). Gần một nửa các thai nghén bắt đầu trong một tử cung u cơ (myomateux) và cuối cùng bị sẩy, và 50% các phụ nữ trên 50 tuổi và không ở tuổi mãn kinh có những u xơ tử cung.

Chữ u xơ (fibrome) phát xuất từ nguồn gốc sợi (fibreuse) của khối u khi nhìn bằng mắt trần, còn u cơ (myome) chỉ nguồn gốc cơ của khối u này. Nhưng sự chính xác mô học ưa thích thuật ngữ léiomyome (u của mô cơ trơn) hay fibromyome (u cơ và sợi) hơn. Ở Hoa Kỳ, vô địch thế giới về cắt bỏ tử cung, cứ 3 phụ nữ có 1 phải chịu phẫu thuật này trước năm 60 tuổi và vì ly do bị u cơ trong gần 2/3 trường hợp. Trái lại, ở Châu Âu, cuộc đấu tranh để gìn giữ tử cung được phát động từ 20 năm nay. Ngoài phẫu thuật cổ điển cắt bỏ tử cung bằng đường bụng và bằng đường âm đạo đối với những tử cung bé nhỏ hơn, các kỹ thuật bảo tồn gia tăng để gìn giữ sự vẹn toàn vật lý của các phụ nữ, khả năng sinh đẻ của họ, cũng như để tránh tình trạng són đái sau mổ (cắt bỏ tử cung làm gia tăng nguy cơ bị són đái 5 đến 10%).

Các u cơ dưới thanh mạc (myomes sous-séreux), to lớn nhưng ít gây xuất huyết, hiếm khi làm khó chịu bệnh nhân. Những bệnh nhân này lo ngại hơn trong trường hợp u cơ dưới niêm mạc (myomes sous-muqueux), chịu trách nhiệm rong kinh dồi dào. Không có điều trị thuốc men nào làm biến mất được các u cơ tử cung. Điều trị có tính chất triệu chứng trong lúc chờ đợi tuổi mãn kinh vì vào thời kỳ này, nếu không điều trị bằng hormone thay thế (THS), thì các u cơ này sẽ thu nhỏ lại. Các progestatif làm giảm sự phì đại của nội mạc tử cung, các anti-fibrinolytique cải thiện sự xuất hiện các cục máu đông, và một liều cao oestrogène có thể làm ngưng một đợt xuất huyết cấp tính. Các thuốc điều trị triệu chứng này nhường chỗ cho phẫu thuật dưới mọi dạng thức.

NGOẠI KHOA CÀNG NGÀY CÀNG BẢO THỦ

Chúng ta có sự lựa chọn giữa phẫu thuật cắt bỏ tử cung hay chỉ cắt bỏ các u cơ, hoặc làm tan rã chúng bằng cách hủy bỏ phân bố mạch của chúng hoặc bằng một tác nhân vật lý làm hủy hoại. Sự lấy đi các u cơ trơn tử cung (myomectomie) được thực hiện bằng mở bụng (LAparotomie), nội soi (coelioscopie) hay nội soi tử cung (hysteroscopy), bằng dao điện hay bằng siêu âm và, mới đây hơn, bằng tia laser. Sự làm tiêu cơ (myolyse) có thể được thực hiện bằng cách làm nghẽn mạch (embolisation), dưới sự kiểm soát của rọi quang tuyến, những động mạch tử cung bởi những vi phần tử (microparticules) (polyvinylalcool hay microsphènes). Kỹ thuật này dường như hay hơn cắt bỏ u cơ tử cung (myomectomie) bởi vì với phẫu thuật sau đó cứ hai trường hợp có một trường hợp tái phát. Sự làm nghẽn mạch (embolisation) có thể được thực hiện dưới gây mê tại chỗ, nhưng cần điều trị chống đau sau giải phẫu. Một dạng thức làm tiêu cơ (myolyse) khác : làm tiêu lạnh bằng nội soi (cryolyse sous coelioscopie), cho phép làm đông giá và gây chết mô ở nhiệt độ âm 50 độ C. Một kỹ thuật tốn kém nhưng ít đau đớn sau thủ thuật.
(LE GENERALISTE 16/10/2008)


2/ XUYÊN QUA DA, ĐIỀU TRỊ CÁC U XƠ TỬ CUNG NHỜ SIÊU ÂM.

“ Khoảng 20% các u xơ tử cung có thể được điều trị bằng siêu âm, một kỹ thuật không cần phải mổ xẻ, cũng chẳng cần gây mê, GS Henri Marret, thuộc khoa phụ sản của bệnh viện Bretonneau, Tours đã chỉ rõ như vậy. Được phát triển ở Hoa Kỳ từ một thập niên nay, kỹ thuật này đã đến Pháp vào năm 2007, ở CHU de Tours.

Kỹ thuật nhằm phát, xuyên qua da, những tia siêu âm, được hướng trực tiếp vào các u xơ, khiến chúng bị phá hủy bởi nhiệt được phát ra. Điều trị được thực hiện trong một máy IRM, đặc biệt được chế tạo để sử dụng trong mục đích này. Thật vậy IRM cho phép xác định một cách chính xác vị trí của u xơ cần điều trị nhưng cũng cho phép kiểm soát, en temps réel, sự tăng cao nhiệt độ và tránh gây tổn hại các mô chung quanh.

“ Thật vậy, để tránh nhiệt độ tăng cao quá mức, người ta thực hiện một chuỗi kế tiếp nhau các tia bắn nhỏ siêu âm, với khoảng nghỉ cách nhau một phút để cho nhiệt có thể tan biến đi, GS Marret đã giải thích như vậy. Như thế điều trị kéo dài, phải cần đến 3 giờ để điều trị một u xơ có đường kính 8 cm.” Máy chỉ có để sử dụng một buổi sáng mỗi tuần và kíp thực hiện phải chọn lọc kỹ càng bệnh nhân. Thời gian điều trị không cho phép điều trị những khối u trên 10 cm.

Các bệnh nhân phải có thể chịu được một IRM và phải chấp nhận ý tưởng nằm giam mình trong một máy IRM trong nhiều giờ. “ Các tia siêu âm đi xuyên qua da và tất cả các mô hiện diện giữa da và u xơ, nhưng bị cản lại bởi không khí. Nếu có quá nhiều vết sẹo hay nếu một phần ruột chặn không cho các siêu âm đi qua, thì kỹ thuật không thể áp dụng được ”, viên thầy thuốc đã xác nhận như vậy. Không cần phải gây mê, các bệnh nhân chỉ nhận một thuốc giảm đau và một thuốc an thần nhẹ. Họ có thể hoạt động bình thường trở lại trong 24 đến 48 giờ. U xơ và các triệu chứng giảm bớt trong các tuần lễ sau can thiệp, với một sự cải thiện rõ rệt sau 3 tháng. Sự thành công của can thiệp được xác nhận sau 6 tháng.

MỘT MÁY ĐIỀU TRỊ BẰNG SIÊU ÂM Ớ BORDEAUX.

Trung tâm chỉ có thể tiếp nhận 30 bệnh nhân mỗi năm nhưng thu nhận nhiều hồ sơ thường được gởi đến bởi chính các bệnh nhân. “ Chúng tôi điều trị dưới 10% các u xơ tử cung hội đủ điều kiện. Chúng tôi chậm trễ trong việc thực hiện kỹ thuật này, vả lại không được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tế. Do đó tất cả các bệnh nhân của chúng tôi phải được đưa vào trong những protocole de recherche ”, GS Marret đã lấy làm tiếc vậy .

Một chiếc máy khác hoạt động ở Bordeaux từ năm 2009 và một trung tâm khác theo dự kiến sẽ được mở ở Clermont-Ferrand vào năm 2011. GS Marret ước tính rằng phải cần 15 chiếc máy để điều trị tất cả các u xơ tử cung hội đủ điều kiện và tránh cho các phụ nữ phải di chuyển rất xa để được hưởng tiến bộ công nghệ này.
(LE FIGARO 6/12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 45 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/10/2007 )

1/ SIÊU ÂM CHỐNG U XƠ TỬ CUNG.

Điều trị u xơ tử cung không cần phẫu thuật,và do đó không phải mang sẹo do giải phẫu cũng như không cần phải gây mê, từ nay là điều có thể thực hiện được ở Pháp, nhờ kỹ thuật siêu âm được hướng dẫn bởi IRM (imagerie par résonance magnétique). Nhờ nhiệt phóng xuất ra từ các siêu âm, kỹ thuật mới này, được mệnh danh là Exablate 2000, làm hoại tử các huyết quản của u xơ tử cung vốn có rất nhiều mạch máu. Mặc dầu lành tính, tính đến ngày nay, các u xơ tử cung buộc phải thực hiện phẫu thuật vì không đáp ứng với điều trị nội khoa trong 50% trường hợp. 3000 phụ nữ ở Hoa Kỳ và Anh đã được điều trị bởi siêu âm từ gần 6 năm nay với tỷ lệ thành công 75%. Hiện tại ở Pháp, bệnh viện Tours là bệnh viện duy nhất có thiết bị để điều trị theo kỹ thuật mới này

Với kỹ thuật mới này, bệnh nhân vẫn thức tỉnh, nằm dài trong một máy IRM được thích ứng và cặp với một máy đo siêu âm (une sonde à ultrasons). Sau khi đã định vị một cách chính xác vùng cần điều trị nhờ hình ảnh, «người ta "bắn" vào u xơ bằng các phóng xuất siêu âm với một độ chính xác 0,5 mm. Trong các tuần lễ sau đó, thể tích khối u thu nhỏ lại. Và nhiên hậu các cơn đau đớn và sự băng huyết sẽ biến mất». Giáo Sư François Tranquard, phụ trách phòng siêu âm của bệnh viện Tours đã xác định như vậy. Cùng với các đồng nghiệp, thầy thuốc phụ khoa Henri Marret và chuyên viên quang tuyến thần kinh Denis , ông đã điều trị bệnh nhân đầu tiên vào tháng 7.Thời gian thực hiện kỹ thuật kéo dài (3 giờ) nhưng thời gian bệnh nhân nằm bất động ngắn hơn so với phẫu thuật cắt bỏ tử cung : 24 giờ thay vì 18 ngày !

Exablate 2000 vừa bổ sung hai phép điều trị khác đang được sử dụng : cắt bỏ u cơ (myomectomie : phẫu thuật ngoại khoa nhằm cắt bỏ các u xơ ít lớn) và thủ thuật gây nghẽn mạch (embolisation des vaisseaux : chích vào mạch máu các bi acrylique (billes d’acrylique) để làm tắc các mạch máu. « Ngoài một vài u xơ tử cung, chúng tôi cũng sẽ điều trị các di căn xương gây đau đớn », nhà chuyên gia xác nhận như vậy. Những can thiệp trên các di căn khác và ngay cả trên vài ung thư đã được được dự kiến.Trung tâm bệnh viên đại học Bordeaux chẳng bao lâu cũng sẽ có được kỹ thuật mới này. Kinh phí : 1 triệu Euro. (
SCIENCES ET AVENIR 10/2007)

Thời Sự Y Học Số 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/6/2009 )

6/ PHÁ HUỶ CÁC KHỐI U HIỀN TÍNH KHÔNG CẦN PHẪU THUẬT KHÔNG CẦN GÂY MÊ.

IMAGERIE MEDICALE : Một chiếc máy của Israel, sử dụng các siêu âm được hướng dẫn bởi chụp hình ảnh, cho phép loại bỏ các khối u, đặc biệt là các u xơ tử cung (fibromes utérins), mà bệnh nhân không phải nghỉ việc và không bị biến chứng.

Một chiếc máy chụp hình ảnh bằng IRM, kết hợp với các siêu âm, đang cách mạng hóa việc điều trị các u xơ tử cung, những khối u hiền tính rất thường xảy ra, buộc 70.000 phụ nữ ở Pháp mỗi năm phải chịu phẫu thuật. Công nghệ học mới này cho phép phá hủy các u xơ tử cung mà không cần gây mê, không cần nhập viện và không cần phẫu thuật. Mặt khác, kỹ thuật này đang được đánh giá đối với những bệnh lý khác, như những di căn xương, các ung thư vú, gan…

Ở Pháp, hiện nay, chỉ có CHU de Tours là được trang bị bởi một máy như thế, được gọi là Exablate. Bảng tổng kết của công nghệ học này đã được trình bày bên lề hội nghị của Hiệp hội hình ảnh Pháp-Israel, vừa được tổ chức ở Tel-Avis, ở bệnh viện Tel HaShomer. Kỹ thuật này đã được phát minh bởi một start-up israel InSighttec có trụ sở ở Haifa, được tạo lập bởi các kỹ sư trẻ tuổi đã từng làm việc trong quân đội, và đã nghĩ ra việc kết hợp sự chụp hình ảnh bằng IRM với các siêu âm được điều tiêu, để phá hủy các khối u dưới sự kiểm soát thường trực của thị giác.

63 BỆNH NHÂN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ Ở TOURS.

Các u xơ tử cung là những khối u hiền tính của tử cung, được mồ trong trường hợp có biến chứng như chảy máu, đè ép, đau đớn. Để làm giảm việc phải nhờ đến phẫu thuật, nhóm nghiên cứu Israel đã nghĩ ra một thiết bị đổi mới, cho phép phá hủy u xơ bằng các siêu âm. Các siêu âm này có thể nói là “ nung nóng ” hoàn toàn khối u.

Các bệnh nhân đến vào buổi sáng, chịu một an thần nhẹ nhưng vẫn tỉnh táo, được điều trị và trở về nhà vào buổi chiều. Một cách cụ thể, bệnh nhân được đặt nằm sấp, một nửa dưới của thân mình ở trong một ống trụ (cylindre). “ Dưới sự kiểm soát thường trực của chụp hình ảnh, chúng tôi phát ra một loạt các tia bắn siêu âm (tirs d’ultrasons), chỉ nhắm vào khối u mà thôi, G.S Pata đã giải thích như vậy. Nhờ IRM, chúng tôi có một biểu đồ thường trực về nhiệt độ của các cơ quan lân cận và của da, như thế cho phép chúng tôi một sự kiểm soát hoàn toàn. Bệnh nhân, nếu cảm thấy bị bỏng, thì chính bệnh nhân này có thể làm ngưng các tia bắn siêu âm.”

Như thế, tính đến hôm nay, bệnh viện Tours đã điều trị 63 bệnh nhân bị u xơ tử cung, không có biến chứng, không có phản ứng phụ và với kết quả thành công. Thủ tục kéo dài khoảng 3 giờ, nhưng các nhà nghiên cứu đang thu giảm thời gian can thiệp. Tuy nhiên, một vài khối u rất to tướng hay có vị trí không tốt, không thể hưởng tiến bộ kỹ thuật này.

Tạp chí Obstetrics and Gynevology đã công bố cách nay vài tháng, một tổng kết về 359 bệnh nhân, với những kết quả hoàn toàn đáng lưu ý về mặt hiệu quả và chất lượng sống 2 năm sau thủ thuật và một tỷ lệ tối thiểu xảy ra các biến chứng.

Những nhà phát minh máy ExAblate đã phát động hơn 40 thử nghiệm lâm sàng đối với những bệnh lý khác với u xơ tử cung. Nhiều tài liệu xuất bản báo cáo những kết quả sơ khởi đáng lưu ý trong sự phá hủy các di căn xương gây đau đớn của những bệnh nhân bị ung thư. “ Chúng tôi đã điều trị một bệnh nhân bị tàn phế bởi những con đau đớn này và không còn có thể bước đi được nữa, G.S Pata nói thêm như vậy, và ông ta đã có thể đứng dậy lại và di chuyển. Đó là một bước tiến, mặc dầu căn bệnh ung thư của ông đã không được chữa lành.” Nhiều chục bệnh nhân bị di căn xương đã được điều trị. Những thử nghiệm cũng đang được tiến hành trong ung thư vú, trong ung thư gan và một thủ tục được dự kiến đối với các khối u não bộ. Mặc dầu kỹ thuật có ưu điểm to lớn là có thể nhắm các tia siêu âm một cách rất chính xác vào khối u, mà không làm biến đổi môi trường chung quanh, nhưng còn cần phải chứng tỏ rằng kỹ thuật này phải cho phép phá hủy tất cả, tuyệt đối tất cả mô ung thư.
(LE FIGARO 5/6/2009)


3/ GLIOBLASTOME : HƯỚNG VỀ MỘT VACCIN CHỐNG UNG THƯ NÃO ?

Glioblastome (2500 trường hợp mỗi năm ở Pháp) là khối u thường gặp nhất của não bộ : 20% các trường hợp ung thư. Điều trị chuẩn nhờ đến ngoại khoa (nhưng không phải luôn luôn có thể mổ được, và hiếm khi cắt bỏ hoàn toàn), hóa học liệu pháp và các tia X. Mặc dầu những liệu pháp này, tiên lượng vẫn u tối. Các nhà nghiên cứu thuộc đại học Duke và của MD Anderson Cancer Center, Texas, đã hiệu chính một vaccin nhằm vào một protéine bé nhỏ được gọi là ERFR, hiện diện ít nhất trong một trong ba trường hợp, nơi bề mặt của những tế bào ung thư của glioblastome nhưng không hề hiện diện trên bề mặt của những tế bào lành mạnh. Mục đích của vaccin là kích thích những tế bào miễn dịch của bệnh nhân chống lại EGFR để chúng tấn công một cách đặc hiệu những tế bào ác tính. Ngoài điều trị thông thường, vaccin đã được cho nơi 18 bệnh nhân bị glioblastome, mới được chẩn đoán gần đây và mang protéine bia (protéine cible) EGFR. Những bệnh nhân này đã được so sánh với 17 bệnh nhân khác đã chỉ nhận một điều trị cổ điển. Nơi những bệnh nhân được điều trị bởi vaccin, các kết quả thật đáng phấn khởi, với một hy vọng sống gần như tăng gấp đôi, một độ dung nạp tốt và một khoảng thời gian không tái phát rõ rệt được gia tăng.
(PARIS MATCH 4/11-10/11)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 39 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 25/8/2007 )

4/ THUỐC CHỦNG CHỐNG UNG THƯ NÃO

Được hiệu chính bởi một phòng bào chế Hoa Kỳ NWBT (Northwest Biotherapeutics), thuốc chủng đầu tiên nhằm điều trị chồng một bệnh ung thư não, DCVaxBrain, sẽ được thương mãi hóa ở Thụy Sĩ trong khi những thử nghiệm lâm sàng sẽ được theo đuổi đến cuối năm 2008. Dường như NWBT đã lợi dụng một khe hở pháp lý về quy chế ở Thụy Sĩ để thương mãi hóa thuốc chủng này. NWBT đã đệ trình hồ sơ xin chuẩn y ở Hoa Kỳ và châu Âu. Nét độc đáo là thuốc chủng điều trị glioblastome (một ung thư có tiên lượng xấu) được cá thế hoá. Thuốc chủng sử dụng đồng thời các kháng nguyên từ khối u của bệnh nhân và những tế bào miễn dịch riêng, các tế bào sợi nhánh (cellules dendrtitiques). Theo những kết quả đầu tiên, thời gian sống sót trung bình của bệnh nhân tăng lên gấp đôi, từ 14 tháng lên 33 tháng. (SCIENCES ET AVENIR 8/2007)

Thời Sự Y Học Số 81 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 13/6/2008 )

5/ UNG THƯ NÃO : MỘT VACCIN ĐẦY HỨA HẸN

Được mổ hôm qua vì một glioblastome, một khối u não, Edward Kennedy có thể sẽ được hưởng phép điều trị mới này.

Yves Saint Laurent, qua đời hôm chủ nhật, thượng nghị sĩ đảng dân chủ Hoa Kỳ Edward Kennedy và hàng ngàn người là nạn nhân của các khối u não ác tính, được xem là ít có khả năng điều trị và lại còn có tiên lượng đáng sợ. Ở Pháp, mỗi năm có từ 3.000 đến 5.000 các trường hợp ung thư não mới xảy ra. Thế mà, dạng thường xảy ra nhất của những ung thư này, glioblastome, đã là đối tượng của một tiến bộ khoa học đáng lưu ý : một vaccin thử nghiệm được trình bày ở hội nghị hàng năm lần thứ 44 của Hiệp hội ung thư lâm sàng Hoa Kỳ, vừa họp mới đây ở Chicago.

Thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên 23 bệnh nhân bị một glioblastome có kích thước lớn : trong khi các bệnh nhân bị ung thư này, được điều trị với phép trị liệu chuẩn, sẽ có một tỷ lệ sinh tồn trung bình 14 tháng, thì những bệnh nhân được điều trị bằng một vaccin thực nghiệm, trung bình đã sống được 33 tháng sau khi chẩn đoán. Chính một thụ thể (récepteur) hiện diện trên những tế bào ung thư (mà sự đột biến là nguyên nhân của sự tăng trưởng của ung thư) là cái đích của vaccin thực nghiệm. Yếu tố quan trọng khác : vaccin đã làm chậm lại sự tái phát của khối u sau khi được cắt bỏ bằng phẫu thuật. Khối u này trung bình chỉ tái xuất hiện 16,6 tháng sau giải phẫu nơi các bệnh nhân được tiêm chủng, so với 6 tháng nơi những bệnh nhân khác.

Lúc trình bày với báo chí về thử nghiệm này, B.S Mark Gilbert, thuộc MD Anderson Cancer Center (Texas) đã chỉ rõ rằng Thượng Nghị Sĩ Edward Kennedy, hôm qua được mổ thành công một glioblastome nằm ở phần trên của bán cầu đại não trái, “ông cũng có thể được cho sử dụng vaccin này”. Tại Avant Immunotherapeutic, hãng thuốc sản xuất vaccin, người ta chỉ rõ rằng “không có một tiêu chuẩn loại bỏ vì lý do tuổi tác nào, ngăn cản sự tham dự của Edward Kennedy vào thử nghiệm này, nếu như khối u đúng là do một đột biến (mutation) loại 3 của thụ thể bia (récepteur cible)” (có nhiều loại đột biến khác nhau).

Một vaccin cạnh tranh, Oncophage, được sản xuất bởi phòng bào chế Antigenics, có trụ sở ở Lexington (Maryland), cũng đã ra đời. Các kết quả của một thử nghiệm lâm sàng đã được trình bày năm vừa qua tại hội nghị American Association of Neurological Surgeons ở Washington. BS Andrew Parsa, của Đại Học Californie (San Fransisco) đã cho tham dự một nhóm 12 bệnh nhân bị glioblastome vào một thử nghiệm giai đoạn 1, nhằm xác lập độ an toàn của vaccin và tính hiệu quả sơ khởi của nó. Vaccin này, được chế tạo nhằm chống lại nhiều kháng nguyên đặc hiệu của glioblastome của mỗi bệnh nhân, đã cho phép 6 bệnh nhân sống thêm gần 9 tháng (thời gian trung bình sống sót thường được quan sát trong ung thư này là 6,5 tháng kể từ lần tái phát đầu tiên).

Tại phòng bào chế Antigenics, hôm qua người ta cho biết rằng “ nếu khối u được mổ của Edward Kennedy đã được làm đông lạnh và bảo quản, người ta có thể chế tạo một vaccin chống lại glioblastome của ông ta ” . Những thử nghiệm khác về liệu pháp gène cũng đang được tiến hành.
LE FIGARO (4/6/2008)


4/ ASPIRINE VỚI NHỮNG LIỀU LƯỢNG NHỎ CHỐNG LẠI TẤT CẢ HOẶC HẦU NHƯ TẤT CẢ CÁC LOẠI UNG THƯ.

Một cuộc điều tra được công bố hôm nay tiết lộ rằng sử dụng aspirine 75 mg mỗi ngày làm giảm 20% tỷ lệ tử vong do ung thư.

CANCEROLOGIE. Hơn 100 năm sau khi được thương mãi hóa, aspirine vẫn không ngừng tiết lộ các bí mật và nhất là những lợi ích của nó. Lợi ích mới nhất : một tác dụng phòng ngừa hầu như vạn ứng đối với các ung thư, khi aspirine được sử dụng với những liều lượng nhỏ trong nhiều năm. Mãi cho đến nay, tính chất này chủ yếu đã được nghiên cứu và xác lập một cách vững chắc đối với các ung thư đại trực tràng. Cách nay vài tuần, một công trình của nhóm nghiên cứu Anh của GS Peter Rothwell, thuộc đại học Oxford, đã đánh giá rằng một sự tiêu thụ tối thiểu aspirine (75 mg mỗi ngày), trong một thời gian dài lâu, làm giảm 24% nguy cơ mắc phải ung thư đại trực tràng, và làm giảm 1/3 tỷ lệ tử vong của nó nơi những người đã bị ung thư này.

NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ CỦA ĐƯỜNG TIÊU HÓA.

Cùng nhóm nghiên cứu này công bố hôm nay, vẫn trong tạp chí Anh The Lancet, những dữ kiện mới, theo đó acide acétylsalycilique (aspirine) tác dụng lên nhiều khối u ác tính khác, làm giảm ít nhất 20% tỷ lệ tử vong của chúng. Để nghiên cứu những mối liên hệ mật thiết giữa việc dùng aspirine và các ung thư, Peter Rothwell và các đồng nghiệp đã xem xét lại những công trình nghiên cứu lớn, so sánh aspirine với một placebo hay với một loại thuốc khác như thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégant) hay thuốc kháng đông (anticoagulant) nhằm ngăn ngừa những bệnh tim mạch. Thật vậy, aspirine là một trong những điều trị nền (traitement de fond) cổ điển để làm loãng máu nơi những người có nguy cơ cao bị các tai biến tim. Tổng cộng, 7 thử nghiệm đã được phân tích lại, bao gồm 25.570 bệnh nhân. Trong số những bệnh nhân này, 674 đã chết vì các ung thư. Nhìn toàn bộ, nơi những bệnh nhân dùng aspirine, tỷ lệ tử vong bởi khối u ác tính đã giảm 21% trong thời gian thực hiện các nghiên cứu. Các lợi ích lại còn rõ rệt hơn sau 5 năm, với một sự giảm 34%, nếu tính chung các loại ung thư, và ngay cả giảm 54% nếu đó là những ung thư dạ dày-ruột.

Các tác dụng của aspirine xuất hiện sau khoảng 5 năm đối với các ung thư thực quản, tụy tạng, não và phổi ; và sau khoảng 10 năm đối với các ung thư dạ dày và đại tràng và 15 năm đối với các ung thư của tuyến tiền liệt. Trong những thử nghiệm với sự theo dõi rất lâu dài, các lợi ích được duy trì trong hơn 20 năm, Peter Rothwell đã nhấn mạnh như vậy, đồng thời cũng xác nhận rằng những lợi ích này chỉ được giới hạn đối với vài loại ung thư, nhất là những ung thư thuộc loại adénocarcinome ”.

“ Đó là một công trình được thực hiện rất tốt, vững chắc trên phương diện phương pháp học, và mở đường cho một phương pháp phòng ngừa các ung thư có hiệu quả và có thể thực hiện được, BS Catherine Hill, chuyên gia dịch tễ học thuộc Viện Gustave-Roussy (Villejuif) đã lấy làm phấn khởi. Cho mãi đến nay, trong lãnh vực này, sự phòng ngừa chủ yếu dựa trên việc chống lại các yếu tố nguy cơ, như thuốc lá, rượu. Nhưng còn về thuốc men, thì chẳng có bao nhiêu. Nhiều hướng đã được nghĩ đến, như hướng của tamoxifène để phòng ngừa ung thư vú hay hướng của các anticox (thuốc chống viêm) nhưng những phương pháp này đều thất bại bởi vì có nhiều nguy cơ hơn là lợi ích.” Một cách cụ thể, ta có thể khuyến nghị mỗi người dùng vào mỗi buổi sáng một liều lượng nhỏ aspirine hay không ?

Về các ung thư đại trực tràng, điều đó không còn xa vời lắm. Trong bài báo được đăng tải hôm tháng 10, Peter Rothwell đã gợi ý như vậy đối với những người có nguy cơ cao bị những ung thư này. Nhưng một “ hóa học phòng ngừa ” (chimioprévention) thực hiện rộng rãi trong dân chúng dường như còn quá sớm, đặc biệt do những tác dụng phụ tiêu hóa của aspirine. “ Phải cần đến những công trình nghiên cứu khác ” các nhà nghiên cứu người Anh đã chấp nhận như vậy, đồng thời đặc biệt nhấn mạnh việc thiếu những dữ kiện về các ung thư phụ nữ, đặc biệt là ung thư vú.

Trong lúc chờ đợi, các nhà nghiên cứu cho rằng nơi những người đang được điều trị chống ngưng kết (traitement antiagrégant), thì những kết quả của công trình nghiên cứu của họ làm lệch cán cân về phía aspirine.
(LE FIGARO 7/12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 142 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 9/9/2009 )

4/ ASPIRINE LÀM GIẢM 29% TỶ LỆ TỬ VONG 29%.

Theo JAMA số 12/8 vừa qua, sự sử dụng hàng ngày acide acétylsalicylique làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư đại-trực tràng và tỷ lệ tử vong chung, nhất là nơi những người có khối u siêu biểu hiện COX-2. Từ nay vấn đề phòng ngừa nơi những người trên 50 tuổi được đặt ra.

Theo một vài nhà sử học, aspirine còn xưa hơn cả Hippocrate. Các trích chất của cây dương liễu chứa hoạt chất của nó, đã được sử dụng vào thời đại đồ đá mới (Néolithique), do các tính chất chống đau, kháng viêm và hạ nhiệt. Chính vào năm 1899 mà aspirine được thương mãi hóa lần đầu tiên và từ đó danh sách các lợi ích của nó ngày mỗi dài ra. Lợi ích sau cùng là hoạt tính chống tiểu cầu (activité antiplaquettaire).

Với những liều lượng nhỏ (giữa 75 và 300 mg/ ngày, tùy theo các công trình nghiên cứu), các tính chất chống ngưng kết (propriétés antiagrégantes) của nó ngăn ngừa một cách hiệu quả sự tạo thành những cục máu đông trong các huyết quản mà không gây nên thương tổn đáng kể. Đồng thời, từ nhiều năm nay, một số các công trình nghiên cứu đã muốn chứng tỏ lợi ích về lâu về dài của nó trong vài ung thư như vú, tiền liệt tuyến, miệng, họng, thực quản, đại-trực tràng và dạ dày.

Vì các liều lượng được chỉ định luôn luôn có thể gây nên xuất huyết dạ dày hay ruột, nên sự sử dụng nó đã không bao giờ được chính thức khuyến nghị để phòng ngừa nguyên phát hay thứ phát trong dân chúng nói chung. Nhưng, hôm nay, các dữ kiện thuận lợi tích lũy đến độ vài chuyên gia đặt lại vấn đề. Đứng trước một ung thư phát triển thầm lặng, với một tỷ lệ sống tùy thuộc vào mức độ nhanh chóng của sự can thiệp, thì há không nên sử dụng hay sao một hoá học liệu pháp đơn giản, hiệu quả và ít tốn kem, dầu phải chịu vài tác dụng phụ có thể xử lý được ?

TỶ LỆ TỬ VONG GIẢM 29%.

Mối liên hệ giữa aspirine và ung thư đại-trực tràng không phải mới có từ hôm qua. Ngay vào năm 2005, một công trình nghiên cứu được thực hiện trên 82.911 phụ nữ được đưa vào trong cuộc điều tra dịch tễ học “ Nurses’ Health Study ”, được theo dõi từ 1980 đến 2000, đã cho thấy rằng những phụ nữ uống đều đặn 325 mg aspirine, hai lần mỗi tuần, đã có một sự giảm 23% nguy cơ mắc phải ung thư đại-trực tràng, so với những phụ nữ không uống đều đặn. Vào thời kỳ này, người ta đã nhấn mạnh rằng sự giảm nguy cơ chỉ đáng kể bat đầu từ 10 năm sử dụng và liên kết với liều lượng. Trong những trường hợp thái quá, các phụ nữ đã uống hơn 10 liều aspirine mỗi tuần trong 10 năm có nguy cơ bị ung thư giảm 53%.

Năm 2007, một công trình nghiên cứu của Anh, tiến hành trên 7.500 người giữa năm 1970 và đầu của những năm 80, với một theo dõi 10 năm, tương ứng với một thời gian tối thiểu để một adénome phát triển thành ung thư, gợi ý rằng sự sử dụng mỗi ngày 300 mg aspinrine là một yếu tố bảo vệ chống lại ung thư đại-trực tràng. Những kết quả đã cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại- trực tràng nơi những người có nguy cơ được giảm 73% dưới aspirine, với một tác dụng phụ thuộc vào thời gian điều trị, liều lượng, sự tôn trọng uống thuốc của bệnh nhân.

Trong công trình nghiên cứu mới này, nhôm cửa Andrew Chan (Haward Medical Scholl) đã theo dõi hai nhóm 1.279 bệnh nhân bị ung thư đại-trực tràng ở những giai đoạn trầm trọng khác nhau, được điều trị và được theo dõi trong 12 năm, giữa năm 1980 và 2008 ; 43% trong số những bệnh nhân này uống aspirine mỗi ngày sau khi ung thư được chẩn đoán. Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng aspirine mỗi ngày làm giảm 29% tỷ lệ tử vong gây nên bởi ung thư đại-trực tràng và làm giảm 21% tỷ lệ tử vong toàn thể.

Mối liên hệ giữa aspirine và quá trình sinh ung thư là mối liên hệ nào ? Ngày nay, chúng ta biết rằng aspirine ngăn cản sự tăng trưởng khối u bằng cách ức chế một enzyme (COX-2), chịu trách nhiệm phản ứng viêm và sự tăng sinh của các tế bào và được siêu biểu hiện trong phần lớn của các ung thư đại trực- tràng. Bằng cớ là trong một nhóm phụ gồm những bệnh nhân có cả khối u COX-2 dương tính được nhận diện bởi histochimie, nguy cơ tử vong do ung thư đại-trực tràng là 61% thấp hơn nơi những bệnh nhân uống aspirine so với những người không uống.

GIỮA PHÒNG NGỪA VÀ NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ.

Nhiều công trình nghiên cứu quan sát và các thử nghiệm lâm sàng đã xác lập lợi ích của aspirine trong việc phòng ngừa các adénome và polype có nguy cơ. Tuy nhiên không có những lời khuyến nghị chính thức về sự phòng ngừa này, có lẽ là do những tác dụng phụ được biết của aspirine như kích thích dạ dày-ruột và xuất huyết đường tiêu hóa. Vậy có phải vì thế mà phải bỏ ý tưởng hay theo đuổi nó ?

Đối với G.S André Van Gossum (thầy thuốc chuyên khoa dạ dày-ruột của bệnh viện Erasme, Bỉ), “ Từ nhiều năm nay ý tưởng này đã được tiếp tục theo đuổi nhưng hiện nay, ở bệnh viện Erasme cũng như nơi khác ở Bỉ, aspirine không được đề nghị cho các bệnh nhân để phòng ngừa nguyên phát hay thứ phát. Tuy nói vậy, nhưng sự tích lũy của các dữ kiện khiến một ngày nào đó sẽ phải tự nêu câu hỏi về tỷ suất giữa lợi ích và nguy cơ, trên quy mô dân chúng, theo những gì được thực hiện trong phòng ngừa các bệnh tim mạch. Trước hết, chúng ta có thể hình dung nhắm đến các bệnh nhân có nguy cơ ung thư không có chống chỉ định về tiêu hóa hoặc thận. Trong trường hợp này, việc sử dụng aspirine nơi những người 50 tuổi thật là nhất cử lưỡng tiện ! ”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 28/8/2009)


5/ VIÊM GAN C LỢI DỤNG MỠ.

Một enzyme, can thiệp vào trong sự tích trữ mỡ trong gan, cũng đóng một vai trò chủ chốt trong sự tăng sinh của virus của viêm gan C.

Gần 170 triệu người trên thế giới bị nhiễm bởi virus của viêm gan C (VHC), và nhiễm trùng mãn tính có thể tiến triển thành một bệnh nặng của gan. Điều trị hiện nay chỉ có hiệu quả nơi một nửa các bệnh nhân. Do đó lợi ích phát triển những chiến lược điều trị mới. Một công trình nghiên cứu mới đây, được điều khiển bởi Melanie Ott, thuộc đại học Californie, có thể đưa ra một mục tiêu mới : một enzyme được gọi là DGAT1, có can dự trong việc tích trữ các lipide trong gan.

“ Ta đã biết rằng nhiễm trùng bởi VHC được liên kết chặt chẽ với chuyển hóa của các lipide trong gan ”, Arielle Rosenberg, thuộc nhóm siêu vi trùng học của viêm gan C thuộc đại học Paris-Descartes và là đồng tác giả của công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy. Thật vậy, những công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng những cấu trúc được gọi là những giọt nhỏ mỡ (gouttelettes lipidiques), được tạo thành do sự tích tụ mỡ trong những tế bào gan, đóng một vai trò trong sự sản xuất các phần tử virus mới. Do đó các nhà nghiên cứu đã cố tìm hiểu nhiều hơn về mối liên hệ giữa VHC và những giọt mỡ lipide này. Và điều bất ngờ : trong khi những giọt mỡ nhỏ này được tạo thành nhờ nhiều enzyme, thì chỉ có những giọt mỡ được tạo thành nhờ DGAT1 là được sử dụng bởi virus.

Để chứng tỏ điều đó, các nhà nghiên cứu đã ức chế enzyme này và một enzyme khác có vai trò tương tự, DGAT2. Kết quả : sự sản xuất virus giảm một cách đáng kể khi DGAT1 bị bất hoạt, mặc dầu các giọt nhỏ mỡ tiếp tục được tạo thành, nhờ DGAT2. Ngược lại, sự vắng mặt DGAT2 không ngăn cản sự tăng sinh của virus.

Vào lúc nào enzyme DGAT1 can thiệp vào chu kỳ của virus ? Trước hết, virus đi vào trong tế bào gan, rồi génome (bộ gène) của nó được sản xuất, và những protéine mới của virus được tạo thành. Sau đó, DGAT1 vận chuyển protéine của virus từ capside (vỏ của virus) về phía bề mặt của các giọt nhỏ mỡ mà nó sinh ra . Bề mặt của các giọt nhỏ mỡ khi đó được dùng như là “ plate-forme d’assemblage ” của các phần tử của virus : các génome mới và các protéine mới của virus được tập hợp lại ở đó để phát động sự tạo thành các phần tử của virus. Các phần tử này sau đó được tiết ra và đi vào trong máu, từ đó chúng gây nhiễm những tế bào khác. “ Công trình nghiên cứu này cho phép hiểu rõ hơn giai đoạn lắp ráp. Đó là điều ít được hiểu rõ nhất của chu kỳ của VHC, bởi vì để nghiên cứu nó vào năm 2005 đã phải chờ để có thể cấy virus in vitro ”, Jean Dubuisson, thuộc phòng thí nghiệm viêm gan C thuộc trung tâm nhiễm trùng và miễn dịch Lille đã nhấn mạnh như vậy.
(LA RECHERCHE 12/2010)

6/ SỰ ĐỀ KHÁNG CỦA CÁC VI KHUẨN ĐỐI VỚI CÁC KHÁNG SINH LAN TRÀN NHƯ MỘT BỆNH DỊCH.

“ Các vi khuẩn thâm hiểm khiến làm lo sợ đến một đại dịch bất ngờ ”, Jean-Marc Rolain, chuyên gia về sự đề kháng đối với các kháng sinh thuộc bệnh viện Timone (Marseille) đã phát biểu như thế về những vi khuẩn cực kỳ đề kháng, được khám phá cách nay gần một năm ở New Dehli (Ấn Độ). Bởi vì từ nay ta chắc chắn rằng tất cả các lục địa đã bị ảnh hưởng bởi chúng. Những vi khuẩn đề kháng này, được phát hiện nơi tổng cộng 200 bệnh nhân, phần lớn trước đây đã từng lưu trú trong một bệnh viện ở Ấn Độ hay Pakistan, có tiềm năng đề kháng với tất cả các kháng sinh đã được biết đến.

MỘT VŨ KHÍ DI TRUYỀN.

Tuy vậy, đó không phải là một vi trùng “ mới ”, mà là một gène đề kháng được gọi là NDM-1, hiện diện nói những vi khuẩn thông thường nhưng có khả năng gây nên những nhiễm trùng như Klebsiella pneumoniae hay Escherichia coli. “ Gène đề kháng này cho phép chúng tiêu hủy các kháng sinh được sử dụng ở bệnh viện như là biện pháp sau cùng, Jean-Marc Rolain đã giải thích như vậy. Tất các các vi khuẩn đều trở nên đề kháng đối với tất cả các kháng sinh, trừ một, colistine, ít được sử dụng bởi vì rất độc. Ngoài ra, vài loại vi khuẩn đề kháng một cách tự nhiên với colistine. Thế thì với gène NDM-1, các vi khuẩn này trở nên vô địch.”

Thế mà vũ khí di truyền (arme génétique) lan tràn như một dịch bệnh. “ Gène NDM-1 nằm trên một yếu tố di động của ADN, plasmide, được truyền từ vi khuẩn này qua vi khuẩn khác. Như thế, nếu chỉ một vi khuẩn có gène này, trên một quần thể vi khuẩn 10 triệu con, thì chỉ trong chưa đầy 24 giờ, tất cả các vi khuẩn đều có thể bị “ mắc nhiễm ”, nhà chuyên gia nói tiếp như vậy. Điều tệ hại hơn là gène đề kháng này có thể “ nhảy ” từ loài vi khuẩn này qua loài vi khuẩn khác một cách bùng nổ. Gène NDM-1 đã được tìm thấy nơi khoảng một chục loài vi khuẩn. “ Ở Pháp, người ta tìm kiếm một cách hệ thống các vi khuẩn NDM-1 nơi những bệnh nhân được hồi hương từ một bệnh viện nước ngoài và người ta cách ly những bệnh nhân dương tính với loại vi khuẩn có gène đề kháng này. Nhưng không thể biết bao nhiêu người mang chúng nhưng lại không phát bệnh ”, Jean-Marc Rolain lấy làm lo ngại như vậy.

(SCIENCE ET VIE 12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 60 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 21/1/2008 )

5/ SỰ ĐỀ KHÁNG CỦA CÁC VI KHUẨN ĐỐI VỚI CÁC KHÁNG SINH ĐÃ ĐẠT ĐẾN MỘT QUY MÔ HÀNH TINH

Một công trình nghiên cứu của Thụy Điển xác lập rằng các con chim hiện hiện ở các vùng xa xôi khác nhau của Bắc Cực mang một loại vi khuẩn đã trở nên đề kháng với hầu hết tất các các thuốc kháng sinh.

Phải chăng ngày nay những hiện tượng đa đề kháng (multirésistance) của các vi khuẩn đối với các kháng sinh có thể được quan sát trên quy mô hành tinh ? Đó là điều mà chúng ta có thể quan ngại, theo một công trình của những nhà nghiên cứu Thụy Điển được công bố trong số báo vừa qua của Emerging Infectious Diseases Journal, một tạp chí của những Trung tâm kiểm tra và ngăn ngừa bệnh tật của Hoa Kỳ. Được lãnh đạo bởi BS Bjorn (đại học Uppsala), các nhà khoa học này đã muốn biết xem các vi khuẩn Escherichia coli hiện diện nơi các con chim sống ở Bắc Cực có đề kháng với các kháng sinh hay không, như là điều này thường xảy ra trong các nước công nghiệp.

Được tổ chức trong khung cảnh của Année polaire internationale, công trình điều tra của họ đã được tiến hành trong ba vùng xa xôi : đông bắc Sibérie, Alaska và bắc Groenland. Những mẫu nghiệm sinh học đã được lấy trong các chất phế thải hay ống tiêu hóa của 97 con chim. Các giống gốc vi khuẩn sau đó đã được trắc nghiệm đối với 17 loại thuốc kháng sinh có tác dụng lên toàn bộ khuẩn lạc thường được sử dụng trong y khoa. Các nhà nghiên cứu Thụy Điển giải thích là họ đã có thể phát hiện những hiện tượng đề kháng vi khuẩn đối với 14 trong số 17 kháng sinh. Công trình nghiên cứu này tiếp theo nhiều công trình khác nhau đã làm sáng tỏ một hiện tượng tương tự nơi các loài chim di trú hiện diện ở Bắc Mỹ và Châu Âu.

Nhiều giả thuyết có thể được đưa ra để giải thích sự xuất hiện của một sự đề kháng kháng sinh nơi các loài chim hoang dã trong những vùng mà ở đó con người hầu như vắng bóng. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng hiện tượng này là hậu quả của những biến dị ngẫu nhiên trong bộ gène của vi khuẩn Escherichia coli, hoặc là của sự chuyển gènes đề kháng từ bộ gène của các vi khuẩn khác thường hiện diện trong môi trường (sự truyền được gọi là “ngang”).

Vùng eo biển Béring là một vùng có rất nhiều loài chim đến kiếm ăn. Đó cũng là một vùng đi qua của nhiều chim di trú từ 6 lục địa.Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng hiện tượng đa đề kháng của vi khuẩn đối với các kháng sinh được quan sát ở các loài chim ở Bắc Cực là đã có được dưới các vĩ độ khác, trước khi được truyền cho các loài chim tại chỗ.

“ Công trình nghiên cứu chứng tỏ rõ ràng rằng có một sự phát tán thụ động các vi khuẩn bởi các chim di trú, do đó lý thuyết về sự đốt biến ngẫu nhiên có thể được loại trừ, Patrice Courvalin, giám đốc của đơn vị của các tác nhân kháng khuẩn của Viện Pasteur, đã đánh giá như vậy. Những đề kháng quan sát được cũng là những đề kháng thường được thấy nhất nơi các vi khuẩn sinh bệnh đối với người. Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng sự toàn cầu hóa của các trao đổi, kết hợp tính chất đa dạng và hiệu quả của các đường phát tán các giống gốc vi khuẩn đa đề kháng, làm cho không một ai, dầu ở bất cũ nơi đâu, dầu lối sống và môi trường sống như thế nào, cũng không tránh khỏi hiện tượng đề kháng này.”

Theo ông, tình hình này lại càng đáng quan ngại khi chúng ta càng ngày càng có những dữ kiện chỉ rõ ràng các vi khuẩn bình thường hiện diện trong ống tiêu hóa tạo nên một chỗ chứa các gènes đề kháng đối với các vi khuẩn gây nhiễm trùng nơi người.

“ Một khía cạnh quan trọng được làm sáng tỏ bởi công trình nghiên cứu này là nó xác nhận rằng sự đề kháng rất là ổn định, bởi vì ở Bắc Cực không có áp lực của sự chọn lọc kháng sinh, Patrice Courvalin nói thêm như thế. Trong lúc chọn lọc các giống gốc đề kháng, đặc biệt do sự sử dụng không hợp lý các kháng sinh, chúng ta tạo ra những vấn đề đối với các thế hệ tương lai. Ở đây, đó là một nguy cơ xã hội thật sự với quy mô hành tinh. Một lần nữa phải nói rằng những vấn đề y tế công cộng phải được ưu tiên so với sự toàn cầu hóa của các trao đổi.”
(LE FIGRO 17/1/2008)

Thời Sự Y Học Số 188 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 23/8/2010 )

1/ BÁO ĐỘNG NHỮNG VI KHUẨN MỚI CỰC KỲ ĐỀ KHÁNG.

Đến từ Ân Độ, những vi khuẩn này đề kháng hầu hết các kháng sinh và đã lưu hành trong nhiều nước.

INFECTIONS. Những giống gốc vi khuẩn (souches bactériennes) mới, đề kháng với hầu hết tất cả các kháng sinh, đã được phát hiện từ năm 2003 ở Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Một công trình nghiên cứu được công bố tuần qua nhấn mạnh rằng những vi khuẩn mới cực kỳ đề kháng (bactéries ultrarésistantes) này có thể có mặt khắp nơi trên hành tinh trong những năm tới. Nhóm nghiên cứu, được lèo lái bởi Timothy Wallsh, thuộc đại học Cardiff, kêu gọi một sự giám sát quốc tế (The Lancet on line).

Thật vậy, các công trình của họ cho thấy rằng tỷ lệ lưu hành đã gia tăng rất nhanh ở Ấn Độ : từ chỗ rất hiếm hoi cách nay ba năm, từ nay các vi khuẩn cực kỳ đề kháng này có liên hệ trong gần 3% các nhiễm trùng ruột đề kháng (infections intestinales résistantes). Lại còn đáng lo ngại hơn, những vi khuẩn này đã ra khỏi tiểu lục địa. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy chúng nơi 37 bệnh nhân người Anh đến Ấn Độ vì những phẫu thuật khác nhau : ghép các cơ quan, thẩm tách thận, điều trị thẩm mỹ …nhiều trường hợp đã được ghi nhận trên thế giới, trong đó một ở Pháp.

NHỮNG NGƯỜI LÀNH MANG TRÙNG.

Hiện tượng này rất là đáng quan ngại, nhất là bởi vì các vi khuẩn ruột biến dị (entérobactéries mutantes) này đề kháng với carbapénème, một lớp các thuốc kháng sinh, ngày nay là thành lũy cuối cùng chống lại các vi trùng đa đề kháng khó điều trị nhất. Ở Châu Âu, mỗi năm, gần 25.000 trường hợp tử vong liên quan với những vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes), vì lẽ thiếu các kháng sinh có hiệu quả.

“ Mối đe dọa là có thật ”, Patrice Nordmann, giám đốc của đơn vị Inserm, chuyên về những vi khuẩn mới phát khởi và đa đề kháng, đã xác nhận như vậy. Trước hết, bởi vì các cơ chế đề kháng được quan sát ở Ấn Độ là hiệu quả một cách đáng sợ. Thật vậy, cơ chế này là do một gène đi qua dễ dàng từ vi trùng này qua vi trùng khác. “ Paris sẽ không bị xâm chiếm trong một sớm một chiều ”, tuy nhiên Patrice Nordmann vội vã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, sự khuếch tán của những vi khuẩn này không có liên hệ gì với một dịch bệnh virus, ví dụ như cúm H1N1, đi vòng quanh thế giới trong vài tháng.

Yếu tố khác chẳng thuận lợi chút nào, gène của khả năng cực kỳ đề kháng (ultrarésistance) này, được mệnh danh “ blaNDM-1” (New Dehli métallo-bêtalactamase), hiện diện nơi những loài vi khuẩn, trong điều kiện tự nhiên, có rất dồi dào trong khuẩn chí ruột và hệ hô hấp (Escherichia Coli và Klebsiella pneumoniae), trong đó một vài loài sinh bệnh. Sự chung đụng của chúng với người do đó làm gia tăng các nguy cơ lây nhiễm, nhất là trong một quốc gia có 1,1 tỷ dân, trong đó điều kiện vệ sinh và chất lượng nước uống không được thỏa mãn. Thật vậy, trong tiểu lục địa Ấn Độ, gène blaNDM-1 không bị giam hãm trong các bệnh viện, nơi đây hiện diện phần lớn những bệnh nhân bị những nhiễm trùng đa đề kháng. Gène này lưu hành trong môi trường và trong nước.

Do đó du lịch y khoa (tourisme médical) không phải là đường lây nhiễm khả dĩ duy nhất. Ở Ấn Độ, là nơi hoạt động du lịch chữa bệnh mang lại thu nhập ngoại tệ ngày càng nhiều, giới cầm quyền cực lực phản đối, cho rằng công trình nghiên cứu Ấn Độ là một sự mạ lị vu khống và rằng gène blaNDM-1 vốn có khắp nơi trên quả địa cầu. “ Hiện nay, không gì chỉ rõ rằng các giống gốc đa đề kháng là độc lực hơn những giống gốc khác ”, Patrice Nordmann đã xác nhận như vậy. Noi chung, chúng gây nên những nhiễm trùng đường tiểu và ruột, nhưng vài người bị lây nhiễm có thể không phát triển bệnh, điều mà ta gọi là những người lành mang trùng (porteurs sains).

Vấn đề gay gắt nhất được đặt ra đối với những bệnh nhân yếu ớt và bị thiếu hụt miễn dịch (immunodéficient). Chỉ có hai kháng sinh dường như có hiệu quả : “ colimycine, một kháng sinh xưa khó sử dụng và độc, cũng như một thứ thuốc mới, tigecycline, mà liều lượng chưa được xác lập ”, Jean Carlet, cựu chủ tịch của Ủy ban kỹ thuật quốc gia về những nhiễm trùng bệnh viện và ngày nay là tham vấn của OMS, đã giải thích như vậy. Không có một loại thuốc mới nào hiện nay được dự kiến phát triển. Các kháng sinh không sinh lợi dưới mắt của các hãng bào chế lớn.

Nước Anh, có những trao đổi rất chặt chẽ với cựu thuộc địa của mình, là chịu nhất sự xuất hiện của những vi khuẩn mới này. Gần 4 triệu người có nguồn gốc tiểu lục địa sống ở Anh. Tuy nhiên vài trường hợp đã được ghi nhận ở Hòa Lan, ở Canada, ở Hoa Kỳ, ở Kenya và ở Oman. NMD-1 đã gây nên tử vong cho một người ở Suède cũng như ở Bỉ và Úc đại lợi. Trường hợp duy nhất được ghi nhận ở Pháp có liên quan đến một người được nhập viện vì một vết thương ở bàn tay. “ Người này đã không phát triển một nhiễm trùng nào ”, Patrice Nordmann đã nhấn mạnh như vậy. Dầu sao đó là những người có nguồn gốc Ấn Độ-Pakistan, hoặc là những du khách đơn thuần, hoặc là những người đã lưu trú ở đó trong một bệnh viện.

Mối đe dọa nghiêm trọng nhất trước hết liên quan đến nguy cơ thấy các đề kháng với các kháng sinh gia tăng do sự lạm dụng chúng. “ Rất là nghiêm trọng. Chính những kháng sinh này vốn đã cứu nhiều mạng người nhất cho đến ngày nay. Đó không phải là những loại thuốc như những loại thuốc khác. Chúng tấn công các vi sinh vật biết tự bảo vệ, do đó chỉ nên dùng chúng một cách có ý thức và một cách dè sẻn, Jean Carlet đã giải thích như vậy. Chúng ta đang đứng trước một vấn đề sinh thái y học (écologie médiacle) : phải xem các kháng sinh như là một gia sản điều trị (patrimoine thérapeutique) bị đe dọa.” Cùng với những chuyên gia khác, năm qua, ông đã thảo một kế hoạch hành động khẩn cấp nhằm làm giảm tình trạng đề kháng đối với các kháng sinh ở Pháp. Sự tiêu thụ kháng sinh lại đang tăng cao trong đất nước chúng ta ”, ông đã phàn nàn như vậy. Dầu cho tình hình không có liên hệ gì với tình hình ở Ấn Độ hay các nước khác phía nam, là nơi các kháng sinh có thể được bán không cần toa bác sĩ và không bị kiểm soát, đất nước chúng ta vẫn còn tụt hậu.
(LE FIGARO 16/8/2010)


7/ APHASIE DE BROCA.

Pierre Paul Broca, sinh năm 1824 ở Gironde, là con trai của Benjamin Broca, thầy thuốc ngoại khoa thời Napoléon và Huguenot. Ông theo học nơi thành phố quê ông và trở thành “ Cử nhân văn chương ”(Bachelier des lettres) rồi “ Cử nhân toán học ” (Bachelier des sciences mathématiques). Nhờ sự thông minh sớm này, ông đã vào học tại đại học y khoa Paris vào năm 17 tuổi. Từ ngoại trú sang nội trú. Ông tu nghiệp niệu khoa, da khoa (dermatologie), cơ thể học, ngoại khoa. Vào năm 24 tuổi, ông trở thành trợ lý giải phẫu (prosecteur d’anatomie) (préparateur de dissection) trẻ tuổi nhất từng được bổ nhiệm. Ngay trước khi nhận bằng bác sĩ y khoa, ông đã mô tả trong vòng một năm : chứng loạn dưỡng cơ (dystrophie musculaire) trước Duchesne, bệnh còi xương trước Virchow và sự lan tràn của ung thư theo đường tĩnh mạch trước Von Rokitansky. Là người báo trước dị kỳ, ông đã đề nghị dùng thôi miên đối với gây mê ngoại khoa, áp đặt việc sử dụng kính hiển vi và phát minh một“ couronne thermométrique ” để đo những thay đổi về nhiệt độ của sọ tùy theo hoạt động của não bộ, tiền đề của chụp hình ảnh não bộ chức năng (imagerie cérébrale fonctionnelle). Chưa được 30 tuổi ông đã là giáo sư thạc sĩ (professeur agréé) và chirurgien des hôpitaux. Là nhân vật quan trọng của Assistance Publique, ông cứu được kho bạc trong thời kỳ Công xã, bằng cách dấu nó trong một túi đựng khoai tây. Ông trở nên thành viên của Thượng Viện và chủ trương đào tạo các phụ nữ theo đường thế tục, trái với abbé Dupanloup, nghĩ rằng sự đào tạo này phải được thực hiện “ trên các đầu gối của nhà thờ ”. Ngày nay Paul Broca được biết nhất do việc định vị trí các chức năng não bộ của ông. Chính vào năm 37 tuổi, nhân một cuộc họp của Hiệp hội nhân loại học (Société d’anthropologie), ông đã trình bày quan niệm tính trội của bán cầu trái của não bộ đối với lời nói (discours), và xác định vị trí của trung tâm nói ở phần sau của hồi trán (circonvolution frontale) thứ ba. Trường hợp lâm sàng đã soi sáng ông và đã đi vào hậu thế dưới tên “ tan tan ”. Bệnh nhân này, đã được nhập viện từ 30 năm qua, đã mất sự sử dụng lời nói và chỉ thốt ra một âm tiết (syllabe) “ tan ”, được lặp lại hai lần cho mỗi câu hỏi được đặt ra, kèm theo những động tác biểu hiện khác nhau. Người bệnh này sau đó bị chết vì bệnh hoại thư và giải phẫu tử thi mang lại những bằng cớ cơ thể học cần thiết về cái điều vẫn còn được gọi là “ aphémie ”. 3 năm sau, vào năm 1864, thuật ngữ “ aphasie ” (chứng mất ngôn ngữ) được Trousseau đề nghị. Còn về tên gọi “ hồi não Broca ” (circonvolution (hay aire) de Broca) chỉ xuất hiện sau khi nhà khám phá đã qua đời, nhất là vai trò được giả định của nó đã gây nên một sự chống đối kịch liệt trong một thời gian lâu. Từ năm 25 tuổi, Broca cũng được mời điều hành những công cuộc khai quật của nghĩa địa Célestins và điều này khiến ông nghiên cứu sọ học (craniologie) và dân tộc học (ethnologie). Nhân loại học (anthropologie) làm ông say mê và ông thách thức sự chống đối chính trị và tôn giáo, tố cáo môn khoa học này là phản loạn. Sau đó ông thành lập phòng thí nghiệm nhân loại học (laboratoire anthropologique) đầu tiên cũng như một hội gồm những nhà tư tưởng tự do và phủ nhận tính bất biến của loài và giống. Ông đã dám xác nhận : “ Tôi ưa thích là một con khỉ được biến hóa thành người, hơn là một đứa con thoái hóa của Adam ” ! Dĩ nhiên ông bị tố cáo bởi nhà cầm quyền như là một nhân vật lật đổ, một người theo chủ nghĩa duy vật và một kẻ làm hư hỏng thanh niên, nhưng ông chẳng bận lòng và lúc 35 tuổi, ông thành lập hội nhân loại học đầu tiên trên thế giới, mặc sự chống đối của giáo hội, của ông Tỉnh trưởng và các chính trị gia, nhưng với điều kiện một cảnh sát viên mặc thường phục tham dự tất cả các cuộc họp, mặc dầu không hơn 19 người. Broca phát minh khoảng hơn hai mươi dụng cụ để nghiên cứu sọ chính xác hơn, ông bác bỏ mối liên hệ giữa trí thông minh và kích thước lớn của não bộ và công bố 223 bài báo dành cho nhân loại học và dân tộc học. Vào năm 44 tuổi, Broca được bổ nhiệm làm thành viên của Viện Hàn lâm Y Khoa và năm 55 tuổi, ông được bầu làm thượng nghị sĩ trọn đời. Tuy vậy ông thấy ở đó một điềm xấu. Linh tính ? Vài tháng sau, ông qua đời chỉ trong vòng vài phút đồng hồ và giải phẫu tử thi không xác định được nguyên nhân. Được mô tả như là người có lòng nhân từ, một người kể chuyện rất hay, một người hào phóng và đồng cảm, Broca là bố của một người con gái và hai người con trai, sẽ là những thầy thuốc và giáo sư như ông.
(LE GENERALISTE 9/12/2010)

Chú thích :
  • Aphasie (chứng mất ngôn ngữ) : rối loạn hay sự mất khả năng diễn đạt và hiểu ngôn ngữ thụ đắc, nói hay viết, độc lập với mọi tình trạng sa sút trí tuệ hay thương tổn giác quan hay loạn năng hệ cơ hầu-thanh quản (dysphonie : chứng khó phát âm).Chứng mất ngôn ngữ thường nhất là do một tai biến mạch máu não, ảnh hưởng lên bán cầu não trội (trái nếu đó là người thuận tay phải), nhưng nó cũng có thể là hậu quả của một khối u, một chấn thương, một nhiễm trùng hay một quá trình thoái hóa.

    Aphasie motrice (chứng mất ngôn ngữ vận động) hay aphasie de Broca : nổi bật bởi những rối loạt diễn đạt nói và viết, trong khi sự hiểu nói chung là tốt.

  • Dystrophie musculaire : bệnh cơ gia đình và di truyền gây nên một sự thoái hóa dần dần các sợi cơ.


8/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG : LEPTINE THAY THẾ INSULINE ?

Trên thế giới, bệnh đái đường ảnh hưởng lên 200 triệu người, trong đó 10 triệu phải chịu mỗi ngày những mũi tiêm insuline. Các nhà nghiên cứu của đại học Dallas, được điều khiển bởi BS Roberto Coppari, vừa xác nhận lợi ích của leptine, kích thích tố của sự no nê (hormone de la satiété), đã được gợi ý bởi các công trình của một nhóm nghiên cứu Texas. Đó là một kích thích tố cắt-đói (hormone coupe-faim), được sản xuất bởi những tế bào mỡ, tác động lên những neurone của một vùng dưới đồi (hypothalamus), mang vài thụ thể đặc hiệu đối với leptine. Ở mức tế bào, leptine có nhiều cơ chế tác dụng giống với insuline. Trên một mô hình chuột bị bệnh đái đường phụ thuộc insuline, các nhà nghiên cứu Texas đã cho thấy rằng sự đưa vào trong các khoang não bộ những liều lượng thấp leptine, cũng như insuline, bình thường hóa những bất thường sinh học của bệnh đái đường. Leptine đã cho phép đảm bảo 100% tỷ lệ sống còn nơi những động vật được điều trị, so với những người chứng không được điều trị, và cho phép ổn định nồng độ cholestérol. Cần có những công trình nghiên cứu bổ sung, bởi vì đó là một đường hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn.
(PARIS MATCH 9/12-15/12/2010)

9/ PREMIERE MONDIALE : SỰ TÁI TẠO KHÍ QUẢN.

Sau sự loan báo chính thức kỳ công ngoại khoa này, GS Philippe Dartevelle (trưởng bộ môn giải phẫu ngực, huyết quản và ghép tim-phổi, bệnh viện Marie-Lannelongue, Plessis-Robinson) và BS Frédéric Kolb (trưởng khoa giải phẫu tạo hình, Viện Gustave-Roussy, Villejuif) giả thích chi tiết thành tích đầu tiên trên thế giới này.

Hỏi : Những căn bệnh nào thường nhất gây nên một sự tắc của khí quản ?
GS Philippe Dartevelle :: Có nhiều bệnh lý gây tắc, tôi kể theo thứ tự thường xảy ra.
  • Các khối u ung thư nguyên phát.
  • Các di căn xâm nhập khí quản, phát xuất từ một ung thư tuyến giáp.
  • Những di chứng của một thủ thuật nội thông khí quản quá kéo dài (đôi khi nơi những bệnh nhân trong tình trạng choáng).
  • các bệnh lý viêm đã phá hủy khí quản, như bệnh Wagener.


Hỏi : Những hậu quả của những xâm nhập này là gì ?
GS Philippe Dartevelle :: Khi bệnh lý ngày càng tiến triển, người bệnh tiến dần đến chỗ bị ngạt thở. Lúc ban đầu, chẩn đoán khó xác lập bởi vì những triệu chứng lâm sàng đầu tiên (ho, khó thở...) có thể được gán cho bệnh hen phế quản hay những bệnh thông thường và trước hết bệnh nhân được kê đơn một thuốc giảm ho. Chỉ có nội soi phế quản (endoscopie bronchique) mới cho phép phát hiện nguồn gốc thật sự của các triệu chứng.

Hỏi : Điều trị quy ước của những bệnh lý gây tắc này là gì ?
GS Philippe Dartevelle :: Khi thương tổn xâm chiếm dưới 50% chiều dài của khí quản, ta thực hiện một cắt bỏ ngoại khoa phần khí quản bị bệnh rồi may lại (bằng cách mở đáy cổ). Kỹ thuật này cho phép thu được những kết quả rất tốt. Nhưng khi thương tổn vượt quá một nửa chiều dài của khí quản, tiếc thay khi đó ta không còn có thể dự kiến phẫu thuật này được nữa. Đã quá muộn rồi ! Thế mà lại xảy ra cho hơn một nửa các bệnh nhân. Các triệu chứng quan trọng xảy ra khi lỗ khí quản bị hẹp lại hơn 50%, khi đó bệnh nhân thở một cách khó khăn. Vào giai đoạn này ta phải đưa một ống vào trong khí quản để cho phép bệnh nhân có thể thở đuợc.

Hỏi : Ông hãy mô tả kỹ thuật ngoại khoa mới mà ông đã hiệu chính với BS Kolb ?
GS Philippe Dartevelle :: Trong thì mổ đầu tiên, đó là lấy đi một mảnh hình chữ nhật gồm có da và mô dưới da (lambeau), được trích lấy ở nơi cẳng tay, với động mạch và tĩnh mạch quay. Trong thì mổ thứ hai, ta biến hóa mảnh da này thành một ống có cùng kích thước với khí quản. Giai đoạn thứ ba ta làm cứng lại mảnh da này để cho phép nó, một khi được đặt tại chỗ, đề kháng chống lại những áp lực gây nên bởi không khí đi vào phối. Để chế tạo implant cứng này, ta trích lấy sụn nơi các xương sườn rồi sau đó ta đưa vào trong thành ống đã được biến hóa, giữa da và mô dưới da. Vào giai đoạn này, sau cùng, ta đã thành công hiệu chính một implant có thể thay thế khí quản.

Hỏi : Giai đoạn cuối cùng của protocole tái tạo này ?
GS Philippe Dartevelle :: Ta lấy đi khí quản bị bệnh và ta ghép vào mảnh da và mô dưới da đã được biến hóa thành ống cứng có khả năng chống lại các áp suất. Sau đó, để nuôi dưỡng cái “ khí quản tân tạo ”(néotrachée) này, ta nối, bằng các đường may, động mạch và tĩnh mạch quay vào những huyết quản nhỏ của vùng cổ. Phải cần khoảng 12 giờ để thực hiện cuộc phẫu thuật này.

Hỏi : Những kết quả của kỹ thuật ngoại khoa mới này là gì ?
GS Philippe Dartevelle :: Nơi 5 bệnh nhân được mổ để thay thế một phần hay toàn bộ khí quản, chúng tôi đã thu được những kết quả rất tốt với một thời gian nhìn lại từ 6 năm đến 6 tháng. Vào những thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi, bất hạnh thay, chúng tôi đã bị những thất bại.

Hỏi : Giai đoạn sắp đến là gì ?
GS Philippe Dartevelle :: Các thất bại thường nhất là do da không có các tiêm mao như trong các phế quản. Thế mà nhờ các tiêm mao này các chất tiết được đưa lên để tống xuất ra ngoài. Do đó xảy ra các nhiễm trùng. BS Frédéric Kolb và phụ tá của tôi, BS Dominique Fabre, hiện đang nghiên cứu một kỹ thuật nhằm thay da bằng một canh cấy các tế bào biểu mô hô hấp. Mục đích là có được một lớp phủ tương tự với mô phế quản được trang bị bởi các tiêm mao. Những kết quả đầu tiên đầy hứa hẹn.
(Paris Match 9/12-15/12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 104 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 4/12/2008 )

8/ SỰ THÀNH CÔNG CỦA PHẪU THUẬT GHÉP KHÍ QUẢN ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI

Thérapie cellulaire : Những nhà nghiên cứu đã chế tạo, từ một cơ quan của người cho (un organe de donneur), một khí quản mới, bằng những tế bào của chính người bệnh.

Claudia, một người mẹ gia đình còn trẻ, 30 tuổi, người Columbia, trong 4 năm trời đã trải qua một cơn ác mộng y khoa vì bị bệnh lao khí quản và phế quản. Cô vừa có được một kết cục may mắn và vĩnh viễn (chúng ta hy vọng), nhờ một nhóm nghiên cứu và các nhà phẫu thuật người Anh, Tây Ban Nha và Ý. Thật vậy họ đã thực hiện trên người phụ nữ này phẫu thuật ghép một khí quản của người cho (une trachée de donneur), được cấy bởi những tế bào của chính người bệnh. Đây là phẫu thuật ghép khí quản thành công đầu tiên mà bản báo cáo đã được công bố trong The Lancet. Chiến lược đầy hứa hẹn chế tạo một khí quản trong tương lai có thể mang lại lợi ích cho những bệnh nhân bị ung thư họng hay kể cả những dị tật bẩm sinh. Khí quản, chiếc ống dẫn mảnh dẻ này cần thiết cho sự trao đổi khí và cho sự hô hấp. Khí quản có thể bị xâm lấn bởi các khối u ung thư, bị làm biến dạng bởi những thủ thuật thông nội khí quản lúc hồi sức hay gây mê, hay là nơi xảy ra những rò đáng sợ giữa khí quản và thực quản (fistule trachéo-oesophagienne).

Thiên nhiên đã trang bị cho khí quản các vòng sụn cứng, mà các biểu mô hô hấp che phủ bằng các lông mao có tác dụng bài xuất bụi bặm và niêm dịch. Chính tính cứng (rigidité) tự nhiên này giữ khí quản luôn luôn được mở, khi hít vào và khi thở ra. Và cho mãi đến ngày nay, không có một phẫu thuật thay thế khí quản bằng các ống được cấu tạo bởi những vật liệu khác nhau, hay các stents, đã đạt được sự thành công.

Trường hợp của Claudia đặc biệt khó khăn. Cô thiếu nữ người Columbia này bị một bệnh lao phổi thâm nhiễm khí quản nơi phần cổ và làm tắc nghẽn hoàn toàn cuống phổi bên trái. Sau khi được điều trị và chữa lành bệnh phổi, Claudia vẫn giữ các di chứng mãn tính do các sẹo lao phổi, không thể loại bỏ nếu không can thiệp ngoại khoa. Trong thì đầu tiên của cuộc phẫu thuật, các nhà phẫu thuật đã cắt bỏ một khúc cuống phổi bị trít nghẽn và thay thế nó bằng một ống được cấu tạo bằng silicone. Kết quả rất tồi : Bệnh nhân ho thường trực, bị nhiều viêm phổi nặng. Ống bằng silicone này phải được lấy đi. Người phụ nữ trẻ được tái nhập viện tháng 3 năm 2008, vì suy hô hấp cấp tính. Không thể quyết định cắt bỏ một lá phổi vẫn còn sinh lực của Claudia, G.S Martin Birchall (đại học Bristol) và các đồng nghiệp của ông của bệnh viện Barcelone khi đó đi đến một quyết định dứt điểm : làm lại toàn bộ khí quản, từ một cái cốt khí quản của người cho, nhưng được phủ bởi những tế bào của chính người bệnh. Các nhà phẫu thuật đã lấy một đoạn khí quản với độ dài 7 cm, trên một người cho, 51 tuổi, trong tình trạng chết não. Trước hết, tất cả các mô liên kết đã được lấy bỏ ra khỏi khí quản của người cho và đoạn khí quản này đã được tưới rửa dài lâu sau đó.

” BIOREACTEUR ”

Sau đó người ta trích lấy những tế bào phế quản nơi Claudia. Những tế bào này được chọn lựa, làm tinh khiết và cấy. Sau đó, những chế phẩm gồm những tế bào biểu mô và những tế bào sụn này được gieo mầm trong khí quản của người cho rồi tất cả được thiết đặt trong một “ bioréacteur ”, trong đó mảnh ghép khí quản được xoay tròn trong 96 giờ, trong một môi trường cấy. Các chế phẩm lấy từ người bệnh sẽ lót cái cốt khí quản của người cho để bảo vệ cái “tân khí quản” (néotrachée) chống lại mọi hiện tượng thải bỏ.

Chính cái khí quản được tái tạo này đã được ghép thành công trong ngực của Claudia. Mãi đến ngày nay, phẫu thuật thử nghiệm duy nhất tái tạo một khí quản, đã được thực hiện thành công trên nhiều bệnh nhân, ở bệnh viện Marie-Lannelongue, bởi G.S Philippe Dartevelle và B.S Frédéric Kolb. Để thực hiện cuộc giải phẫu này, các phẫu thuật viên đã cắt trên bệnh nhân một mảnh da có động mạch và tĩnh mạch, và sau đó may vào khí quản bị bệnh, rồi đưa vào trong bề dày của mảnh da ghép này những mẫu sụn sườn.
(LE FIGARO 19/11/2008)


10/ CHẾ ĐỘ ĂN CHAY CÓ NÊN ĐƯỢC KHUYẾN NGHỊ ?

Mặc dầu liên quan với những lựa chọn đạo đức, những cấm kỵ tôn giáo hay những nguyên tắc về dinh dưỡng, nhưng chế độ ăn chay (végétarisme) càng ngày càng quyến rũ. Khoảng 3% những người Pháp từ nay không dùng những thức ăn nguồn gốc động vật. Và một số càng ngày càng gia tăng các thầy thuốc thấy đó là một hướng để phòng ngừa các bệnh tim mạch hay ung thư. Sự thực hành này có những hiệu lực y khoa thật sự hay không ? Không nhất thiết là như vậy.

Chế độ ăn chay (végétarisme), được định nghĩa như là sự loại bỏ thịt hay cá, đồng thời, nói chung, đưa vào các sản phẩm sữa và trứng, khác với chế độ ăn toàn chay (régime végétalien), kiêng cử mọi thức ăn có nguồn gốc động vật. Điểm chung của hai chế độ ăn uống này : dành một vị trí quan trọng cho trái cây và rau xanh cũng như cho ngũ cốc (céréales) và bộ đậu (légumineuses), nguồn protéine. Thế mà các protéine thực vật lại thiếu một hay nhiều những acide aminé thiết yếu, như lysine trong ngũ cốc (céréales) hay méthionine trong các bộ đậu (légumineuses). Vậy điều quan trọng là kết hợp chung, với một menu gồm có, thí dụ, gạo và đậu lăng (lentilles) : khi đó co thể có thể tổng hợp một cách bình thường các protéine cần thiết cho sự tái tạo tế bào và cho nhiều quá trình sinh học.

Chế độ ăn chay cải thiện sức khỏe tim mạch, theo một nhóm nghiên cứu Brésil, đã so sánh nơi 67 người ăn chay và 134 động vật ăn tạp (omnivore) nhiều yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch (huyết áp, đường huyết lúc nhịn ăn, cholestérol toàn thể...) Kết quả : toàn bộ các chỉ dấu đều tốt hơn nơi những người ăn chay. Lý do ? Các nguồn cung cấp acide béo bảo hòa được giảm bớt (được chứa chủ yếu trong thịt) và các nguồn cung cấp acide béo poly- và mono-insaturé (hiện diện trong dầu thực vật, trái cây khô, các hạt). Cũng can thiệp vào là sự dồi dào các sợi thức ăn (fibres alimentaires) : chúng làm phát sinh trong đại tràng những acide béo chuỗi ngắn, có tác dụng kềm hãm sự tổng hợp cholestérol bởi gan…Sau cùng, có những hiệu lực tim mạch của một đời sống vệ sinh lành mạnh (không thuốc lá, không rượu, hoạt động vật lý), mà đại đa số các người ăn chay đều tuân theo.

Chế độ ăn chay làm giảm 11% tỷ lệ mắc phải các ung thư theo một công trình nghiên cứu về các hành vi ăn uống của 63.500 đàn ông và phụ nữ người Anh từ năm 1990. Ngoại trừ (đáng ngạc nhiên) ung thư của đại tràng. “ Kết quả này đi ngược lại với những dữ kiện hiện nay, liên kết ung thư này với một sự tiêu thụ quá mức thịt đỏ và đồ thịt lợn. Tuy nhiên, tất cả những người ăn chay không ăn một cách giống hệt nhau. Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu này, những người ăn chay đã được so sánh với những người có một chế độ ăn uống lành mạnh. Do đó khó xác lập một mối liên hệ rõ ràng ”, Isabelle Romieu, thuộc Circ (Centre international de recherche sur le cancer) (Lyon) đã phát biểu như vậy. Vấn đề còn lại là biết xem những kết quả dương tính toàn bộ này có phải là do sự không tiêu thụ những sản phẩm động vật hay do sự tiêu thụ gia tăng trái cây, rau tươi và ngũ cốc hoàn toàn. Vì lẽ những công trình nghiên cứu mới đây đã gợi ý rằng lợi ích của một sự tiêu thụ hàng ngày 200 gam trái cây và rau xanh là thấp hơn so với dự kiến: “ chỉ ” làm giảm 3% nguy cơ bị ung thư.

Chế độ ăn chay có thể làm dễ bị những thiếu hụt (carences), đặc biệt là sắt. Bởi vì, trong thực vật, sắt hiện diện dưới dạng được gọi là fer non héminique. Hậu quả : fer non héminique được hấp thụ 4-5 lần ít hơn so với fer héminique, phát xuất từ những sản phẩm động vật.

Chế độ ăn chay có thể gây nên một sự bất quân bình giữa các axit béo oméga-3 và oméga-6, do thiếu các oméga-3 (không ăn cá) và do quá thặng dư oméga-6 (qua các hạt và dầu thực vật). Ngoài ra sự thặng dư này có hại cho việc sử dụng tối ưu các oméga-3 bởi cơ thể, do đó có hại cho tác dụng có lợi của chúng, nhất là tim mạch. Để bù lại, các người ăn chay có thể tìm một phần oméga-3 trong dầu và các graine de lin.

LỜI KHUYÊN CỦA LEON GUEGUEN

Directeur de recherches honoraire de l’Inra

Tránh ăn thịt không tạo vấn đề quan trọng, nếu các protéine được mang lại bởi các sản phẩm sữa và trứng. Chỉ tồn tại một nguy cơ gia tăng bị thiếu hụt sắt và vitamine B12. Chế độ ăn chay có lợi so với vài chế độ ăn tạp (régime omnivore) được kiểm soát kém. Nhưng những kết quả thuận lợi được quan sát cũng có thể được quy cho tinh thần cảnh giác của những người ăn chay về sức khỏe và lối sống của họ. Tôi thận trọng hơn nhiều về các chế độ ăn chay loại bỏ các sản phẩm sữa. Trừ phi tiêu thụ một cách hệ thống những thức ăn hiếm hay nước khoáng giàu calcium, những chế độ ăn chay này không thể cung cấp hơn 500mg calcium mỗi ngày, hoặc ít hơn nhiều những cung cấp được khuyên nhằm phòng ngừa chứng loãng xương.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Ghi chú :
  • Végétalisme (chế độ ăn toàn chay) : Chế độ ăn uống loại bỏ mọi thức ăn nguồn gốc động vật. Végétalisme, khác với végétarisme, loại bỏ không những tất cả các loại thịt mà còn tất cả những sản phẩm nguồn gốc động vật (trứng, sữa, mật...).

  • Végétarisme (chế độ ăn chay) : Chế độ ăn uống loại bỏ mọi thịt động vật (thịt, cá), nhưng nói chung chấp nhận sự tiêu thụ những thức ăn có nguồn gốc động vật như trứng, sữa và những sản phẩm sữa (frommage, yaourts).


Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 90 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/08/2008 )

7/ THỊT LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ BỊ UNG THƯ

Theo công trình nghiên cứu Epic, những người ăn hơn 160 g thịt đỏ (viande rouge) mỗi ngày có nguy cơ bị ung thư đại trực tràng gia tăng 30% so với những người tiêu thụ ít hơn 20g. Những người này cũng có nhiều nguy cơ hơn bị ung thư thực quản, tụy tạng, phổi và gan. Những tác dụng này là do fer héminique, khi quá nhiều có thể làm tổn hại mật mã di truyền (code génétique) và làm dễ, bằng một cơ chế khác, sự xuất hiện các hợp chất nitrés sinh ung thư.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2008)

Thời Sự Y Học Số 112 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/2/2009 )

10/ NHỮNG NGƯỜI ĂN CHAY ÍT BỊ CAO HUYẾT ÁP VÀ ĐÁI ĐƯỜNG

Nutrion : Những lợi ích được quan sát không những chỉ được gán cho chế độ ăn uống không có thịt, mà nhất là còn do một lối sống lành mạnh hơn.

Ở Pháp, theo Trung tâm thông tin về thịt, có 1% đến 2% người ăn chay. Trái với các thành kiến, ăn chay không phải là xấu đối với sức khỏe. Đó là điều được đánh giá bởi Bernard Guy-Grand, phó chủ tịch của viện dinh dưỡng Pháp, và Fernand Lamisse, giáo sư dinh dưỡng. Theo họ sự loại bỏ các thức ăn phát xuất từ thịt của các động vật trên đất dưới biển không có hậu quá về mặt thiếu dinh dưỡng (carence), nếu chúng ta “ liên kết các ngũ cốc với bộ đậu (légumineuses) trong một bữa ăn hay trong một ngày ” .Vào lúc đó, các protéine thực vật có một chất lượng có thể so sánh với các protéine động vật. Thật vậy, trong khung cảnh một chế độ ăn chay (régime végétarien) được theo dõi tốt, chính các ngũ cốc và bộ đậu mang lại phần lớn các protéines.

Về vitamine B12, hiện diện độc nhất trong các thức ăn nguồn gốc động vật, sự tiêu thụ sữa và trứng tránh cho người ăn chay bị thiếu vitamine này. Ngược lại, những người ăn chay không tiêu thụ các sản phẩm sữa và trứng bị nguy cơ thiếu vitamine B12 và thiếu máu. Không kể đến những cung cấp calcium không đầy đủ gây nên bởi loại dinh dưỡng này. Do đó những người ăn chay phải ăn các rau xanh và các trái cây giàu calcium như cải xoong (cresson), rau bi na (épinard), quả hạnh (amande), quả phỉ (noisettes) hay quả đào lạc (pistache).

Mặt khác, về phương diện sức khỏe, những công trình nghiên cứu dịch tễ đã cho thấy rằng những người ăn chay ít bị cao huyết áp và bị bệnh động mạch vành hơn. Theo Fernand Lamisse, đó không những “số lượng và tính chất của các mỡ được ăn vào, nghĩa là ít các axit béo bảo hòa hơn, mà còn là những thói quen đời sống (không hút thuốc, không uống rượu và một hoạt động vật lý có mức độ quan trọng hơn) giải thích những tác dụng có lợi này lên sức khỏe”. Ông cũng nhận xét rằng trong đại tràng, các sợi được ăn vào sinh ra các axit béo chuỗi ngắn, làm kềm hãm sự tổng hợp cholestérol bởi gan.

Về mặt béo phì và bệnh đái đường loại 2, những người ăn chay cũng có lợi. Số lượng quan trọng các sợi trong chế độ ăn của người ăn chay có một tác dụng làm no nê hơn, do đó những người ăn chay ăn với số lượng ít hơn. Nếu sự giảm tỷ lệ của vài ung thư đúng là được quan sát nơi những người ăn chay, thì sự giảm này chủ yếu được giải thích bởi sự tiêu thụ trái cây và rau xanh. Đó là chưa kể đến rằng sự hiện diện trong các cây thực vật nhiều chất chống oxy-hóa có đặc tính chống gây ung thư, ngay cả điều đó đã không bao giờ được chứng minh.

LÝ LẼ MÔI TRƯỜNG

Nói tóm lại, chính lối sống ảnh hưởng lên sức khỏe hơn là sự việc ăn chay. “ Lợi ích được quan sát không thể được quy cho việc không ăn thịt ” , Fernand Lamise đã đánh giá như vậy. Điều này có nghĩa là những “ động vật ăn tạp ” (omnivores), ăn từ 400 đến 800 gam trái cây và rau xanh mỗi ngày, cũng có thể thu được những lợi ích của một lối sống lành mạnh hơn.

Ở Pháp, ăn chay thường thuộc về một lựa chọn ý thức hệ hay triết lý, mặc dầu lý lẽ môi trường thường được đưa ra. Theo một nghiên cứu của Tổ chức lương nông của Liên Hiệp Quốc, sự sản xuất thịt trên thế giới là nguồn gốc của 20% của các khí có effet de serre được phát ra. Sản xuất một ki lô thị bò gây nên sự phát ra tương đương 36,4 kg thán khí (C02).
(LE FIGARO 14/1/2009)

Thời Sự Y Học Số 121 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/4/2009 )

8/ NHỮNG NGƯỜI ĂN CHAY ÍT BỊ UNG THƯ

ALIMENTAION. Tỷ lệ ung thư giảm 11% nơi những người không ăn thịt. Tất cả các bệnh lý đều có liên quan, ngoại trừ các bệnh lý đại tràng và tuyến tiền liệt.

Chế độ ăn chay sẽ là một thành lũy chống lại ung thư. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu, được công bố bởi một nhóm các nhà dịch tễ học của đại học Oxford (Vương quốc Anh) trong American Journal of Clinical Nutrttion. Tác giả chính, giáo sư Timothy Key, đã sàng lọc các hành vi ăn uống (comportement alimentaire) của 63.500 đàn ông và phụ nữ người Anh, từ những năm 1990. Từ đó họ rút ra kết luận là tỷ lệ ung thư nói chung ít cao hơn (khoảng dưới 11%) nơi những người không ăn thịt. Tất cả các ung thư, dầu chúng định vị ở đâu, vú, phổi, não bộ, gan, họng..., đều có liên hệ bởi sự thu giảm này, ngoại trừ, thật nghịch lý, các ung thư của đại tràng (đối với cả hai giới) và của tuyến tiền liệt nơi đàn ông.

“Điều đó là bình thường, Bernard Guy-Grand, phó giám đốc của Viện dinh dưỡng của Pháp đã nói như vậy. Nói chung, những người ăn chay không hút thuốc, không uống rượu và tập thể dục, chừng đó yếu tố được biết có tác dụng bảo vệ chống ung thư.” Một phân tích được xác nhận bởi Marina Touilaud, bác sĩ y tế công cộng ở Inserm, chuyên khoa dinh dưỡng, hormone và ung thư. Nếu tỷ lệ mắc phải ung thư phổi được chia 3 đối với những người ăn chay, đơn giản đó là bởi vì họ không hút thuốc!”, nhà nữ nghiên cứu đã nhận xét như vậy.

Cái mới của công trình nghiên cứu này, đó là cho thấy rằng, dầu sao các người ăn chay có nhiều nguy cơ bị ung thư đại trực tràng hơn những người khác, trong khi từ lâu người ta đã nghĩ rằng loại ung thư này đặc biệt là do một sự tiêu thụ quá mức thịt đỏ (viande rouge).

[bTHIÊN LỆCH THÔNG KỂ[/b]

“Những kết quả này ít nhất cũng đáng ngạc nhiên, BS Nadia Slimani, của Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (Lyon) đã tuyên bố như vậy. Theo bà, số trường hợp ung thư đại tràng của dân chúng được khảo sát là quá thấp (62 trường hợp) nên không thể suy đoán rằng những người ăn chay ít bị hơn những người khác loại ung thư này. Như thế những kết quả này có thể được quy cho một thống kê thiên lệch. “Đó là chưa kể rằng công trình nghiên cứu không xét đến những yếu tố như rượu hay tập thể dục, trong khi người ta biết đích xác rằng chúng có thể đóng một vai trò đối với ung thư đại trực tràng”.

Một lập trường được chia sẻ bởi Marina Touillaud, thuộc Inserm, nhấn mạnh: “Chúng ta biết rằng sự tiêu thụ thịt đỏ làm gia tăng nguy cơ mắc phải ung thư đại trực tràng, rằng ăn cá làm hạ nguy cơ này và rằng ăn thịt trắng (viande blanche) không làm biến đổi nguy cơ.”

Cần theo đúng điều mà chúng ta đã biết về thịt đỏ (viande rouge). Năm 2007,Viện quốc gia ung thư (Inca) và Cơ quan an toàn y tế các thực phẩm (Afssa) nêu lên rằng sự tiêu thụ thịt đỏ và đồ lợn (charcuterie) được liên kết với sự gia tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.

Inca đánh giá rằng nguy cơ ung thư đại trực tràng được gia tăng 29% với mỗi suất 100g thịt đỏ được tiêu thụ mỗi ngày và 21% với mỗi suất 50g đồ thịt lợn được tiêu thụ mỗi ngày. Nhiều cơ chế có thể giải thích hiện tượng này: vài đồ thịt lợn mang lại muối nitrite; sự sản sinh các hợp chất N-nitrosés sinh ung thư trong dạ dày và bởi các vi khuẩn của khuẩn chí ruột; sự sản sinh các gốc tự do (radicaux libres) và các cytokines pro-inflammatoires...

Có phải vì thế mà phải trở thành những người ăn chay cả sao? Có lẽ là không phải vậy. Vài cách ăn uống có thể được liên kết với những tình trạng thiếu dinh dưỡng (carences). Có thể bảo vệ chống ung thư trong một chừng mực nào đó bằng cách theo vài hành vi ăn uống từ nay được quy tắc hóa.
(LE FIGARO 17/3/2009)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (13/12/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969