Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 103
Lượt truy cập: 1026998
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG HƯỚNG MỚI ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG NHÃN ÁP.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

THỊ GiÁC. Bệnh tăng nhãn áp là một bệnh của mắt, gây nên một sự giảm không vãn hồi được của thị trường. Đó là hậu quả của những thương tổn của dây thần kinh thị giác, thường nhất là là do sự tăng cao của áp suất bên trong mắt (nhưng không phải là luôn luôn). Nếu không được điều trị, người bị bệnh trở nên mù lòa. Mặt khác bệnh glaucome là nguyên nhân thứ hai gây mù lòa sau bệnh đục thủy tinh thể. Khoảng 500.000 người đã được theo dõi và điều trị bệnh glaucome nhưng vẫn còn chừng ấy những người Pháp bị bệnh nhưng không được phát hiện.

NHỮNG NGUY CƠ. Những người có nguy cơ là những người có tiền sử gia đình bị bệnh glaucome, những người trên 60 tuổi, những người Mỹ nguồn gốc châu Phi và những người châu Phi nói chung. Vài bệnh cũng làm dễ sự xuất hiện bệnh glaucome như bệnh đái đường hay bệnh giảm năng tuyến giáp, hạ huyết áp hay cao huyết áp và những rối loạn tim. Cũng được xem là có nguy cơ, những người có một vấn đề khác về mắt, như cận thị nặng, bệnh đục thủy tinh thể, bệnh viêm màng mạch nho mãn tính (uvéite chronique) ... hay những người đã bị một vết thương nặng ở một mắt.

PHÒNG NGỪA. Những người được xem như là có nguy cơ bị glaucome nên được thăm khám thị giác hoàn chỉnh mỗi hai hoặc ba năm, ngay ở tuổi 40 hoặc sớm hơn nếu cần. Bởi vì bệnh glaucome là một bệnh lý im lặng lâu dài. Sự tăng cao áp suất trong nhãn cầu càng được phát hiện sớm, ta càng giảm thiểu những năng lực thị giác bị mất.

ĐIỀU TRỊ. Không có điều trị chữa lành bệnh glaucome. Thị giác bị mất không có thể tìm lại được. Các thuốc nhỏ mắt được sử dụng cho phép làm chậm hay trì hoãn tiến triển của bệnh.

CẤP CỨU. Có một dạng glaucome có khả năng dẫn đến sự phá hủy của dây thần kinh thị giác trong vòng vài giờ. Trong trường hợp này, phải thăm khám càng nhanh càng tốt.


Sau cùng, việc điều trị sự lão hóa tăng nhanh của dây thần kinh thị giác có thể được đơn giản hóa trong những năm đến.

MẮT. Nhãn cầu là một cái vỏ không giãn được, trong đó một chất dịch thường xuyên được tiết ra : thể dịch (humeur aqueuse). Khi mọi sự diễn ra tốt đẹp, chất dịch này được bài xuất qua một bộ phận lọc (bè : trabéculum), do đó tạo nên một sự cân bằng giữa quá trình tiết và bài xuất. Nhưng chỉ cần một trở ngại nhỏ đối với sự bài xuất thì áp suất trong nhãn cầu gia tăng và các sợi của dây thần kinh thị giác bị thương tổn : đó là điều mà ta gọi là bệnh tăng nhãn áp (glaucome).

Vấn đề : ngoài những trường hợp hiếm hoi trong đó sự gia tăng áp suất rất đột ngột (glaucome cấp tính), không có gì, tuyệt đối không có gì báo động các bạn, bởi vì sự mất thị giác ban đầu hoàn toàn được bù trừ bởi những gì còn lại của thị giác.

Sau đó, khi một đám sương mù hay một tấm màn xuất hiện trước mắt, đó là khi dây thần kinh thị giác đã bị thương tổn nhiều. Thế mà những thương tổn này sẽ không có thể hồi phục được. Tệ hại hơn, nếu ta vẫn không làm gì hết, tiến triển sẽ hướng về một sự giảm thị lực, một sự cắt ngắn tầm nhìn (amputation du champ visuel) và, sau cùng, mất thị giác của mắt hay, trong trường hợp tốt nhất, sự tồn tại của một đảo nhỏ thị giác ở vùng trung tâm, như thể ta nhìn xuyên qua một lỗ khóa. Thật là đáng tiếc vì trong khi đó lại có những điều trị.

NHỮNG THUỐC NHỎ MẮT MỖI NGÀY.

“ Các thuốc nhỏ mắt (collyre), hiện được chỉ định en première intention, làm hạ áp suất trong mắt. Còn Laser, mang lại một khả năng thẩm thấu nào đó cho trabéculum, qua đó thể dịch bình thuờng được bài xuất : khá hiệu quả vào lúc đó, nhưng thường tác dụng chỉ tạm thời. Về ngoại khoa, tùy theo trường hợp, có thể chọc thủng trabéculum, thiết đặt một ống dẫn lưu hay lại nữa, điều này là mới, implanter một van ở trabéculum, van này sẽ chỉ được mở ra khi áp suất tăng cao ”, BS Valérie, thầy thuốc chuyên khoa mắt thuộc CHU de Bordeaux đã giải thích như vậy. “ Nếu cần, mắt kia có thể được điều trị, nhưng không phải cùng lúc (để tránh mọi biến chứng nhiễm khuẩn của hai mắt). Còn về theo dõi áp suất trong mắt, đó là việc suốt đời ! ”, bà ta đã xác nhận như vậy.

Mặc dầu kho vũ khí này, cần phải chứng thực rằng nhiều bệnh glaucome đề kháng lại. Trong số các nguyên nhân là sự tuân thủ kém đối với việc dùng thuốc. “ Để có được những kết quả tốt, nhất thiết phải dùng thuốc mỗi ngày. Thế mà những điều tra được thực hiện đã rõ ràng cho thấy rằng nhiều bệnh nhân“ quên thuốc " hay chỉ dùng thuốc ngay trước khi trở lại thăm khám thầy thuốc nhãn khoa của mình, do đó có một áp suất nội nhãn tốt vào ngày hôm đó (nhưng điều đó không ngăn cản dây thần kinh thị giác đã bị thương tổn) ” GS Frédéric Chiambaretta (khoa Mắt, CHU Clermont-Ferrand) đã phát biểu như vậy.

IMPLANT THUỐC.

Thái độ ngập ngừng theo đuổi điều trị này có thể được giải thích như sau. “ Vì glaucome không gây nên một triệu chứng nào (ít nhất trong những năm đầu) nên người bệnh không có động cơ lắm để nhỏ thuốc mỗi ngày bởi vì đôi khi điều này gây nên những tác dụng khó chịu tức thời : đỏ mặt, ngứa mắt, chóng mặt..”, GS Chiambaretta đã nhận xét như vậy.

Vậy đó là tất cả tầm quan trọng của sự nghiên cứu hiện nay : tìm ra những phương thức thay thế có thể được chấp nhận hơn. Và tin vui, đó là khoa học bắt đầu hướng về phía đó. Những thuốc nhỏ mắt có tác dụng kéo dài (collyre à forme retard) đầu tiên (chỉ cần một lần nhỏ mỗi ngày) đã có bán trên thị trường. Nhưng các nhà nghiên cứu còn muốn đi xa hơn, bằng cách hiệu chính những implant (viên cấy), được đặt bên trong nhãn cầu, để phóng thích chất thuốc trong nhiều tháng.

Một hướng khác cũng đang được nghiên cứu : con đường bảo vệ thần kinh (neuroprotection) : thật vậy, khi những tế bào thần kinh (những tế bào của dây thần kinh thị giác) bị chết đi, chúng tiết ra những độc chất đối với những tế bào lân cận, do đó một effet boule de neige (trái banh tuyết càng lăn càng lớn, ý nói tác dụng to dần lên, mở rộng qui mô ra). Độc tính tại chỗ này được thêm vào vấn đề ban đầu của tăng nhãn áp và một loại thuốc hiện nay đang được trắc nghiệm, với hy vọng làm ngưng lại vòng luẩn quẩn này.

Cũng có những dạng thuốc được dung nạp tốt hơn đang được thử nghiệm, để làm giảm sự tiết thể dịch hay làm gia tăng sự bài xuất chúng, cũng như những cố gắng để làm giảm sự tiết này nhờ một điều trị bằng laser, với tác động trực tiếp vào các tế bào tiết thể dịch ”, BS Esther Blumen-Ohana, thầy thuốc thực hành bệnh viện thuộc trung tâm bệnh viện quốc gia nhãn khoa Quinze-Vingts, Paris, đã xác nhận như vậy.
(LE FIGARO 13/12/2010).

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 157 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 18/1/2010 )

7/ BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOME) : NHỮNG THUỐC MỚI VÀ NHỮNG CÔNG NGHỆ HỌC CAO CẤP BẰNG LASER.

Nguy cơ hư hại của dây thần kinh thị giác (nerf optique).

“ Nếu bệnh tăng nhãn áp (glaucome) mang lại sự lo âu, đó là bởi vì khi nó làm hư hại dây thần kinh thị giác, thì căn bệnh đe dọa đến thị lực, GS Christophe Baudouin đã giải thích như vậy. Không điều trị, bệnh tăng nhãn áp sẽ làm bệnh nhân mù lòa. Mặc dầu có những phương tiện để làm ngưng sự tiến triển của căn bệnh, nhưng ta không thể nào đi ngược trở lại. Hiện nay, 60 triệu người trên thế giới mắc phải bệnh lý này.” Có hai dạng : bệnh tăng nhãn áp góc đóng (glaucome à angle fermé) và bệnh tăng nhãn áp góc mở (glaucome à angle ouvert). Trong dạng đầu tiên, áp lực bên trong nhãn cầu tăng lên đột ngột (nhất là ban đêm), gây nên những cơn đau dữ dội. Mống mắt (iris) dính vào giác mạc (cornée) và ngăn cản các chất dịch của nhãn cầu đến ống bài xuất (canal d’évacuation), được gọi là trabéculum. Những triệu chứng được thể hiện bởi một sương mù thị giác (brouillard visuel) và sự xuất hiện những quầng có màu sắc (halos colorés) chung quanh một ánh sáng, như một ngọn đèn. Trong dạng thứ hai, chính trabéculum bị hỏng. Các chất dịch bài xuất kém tốt hơn và nhãn áp (tension oculaire) tăng lên dần dần. Trong trường hợp này, bệnh nhân không cảm thấy một đau đớn nào nhưng thị giác ngoại biên giảm dần, rồi sự mất thị giác này tiến dần về phía trung tâm của mắt, làm thu hẹp thị trường lại. “ Ngày nay, GS Christophe Baudouin nói rõ như vậy, nhờ một bước tiến quan trọng, kỹ thuật hình ảnh nhờ quét tia laser (technique d’imagerie par balayage laser), người ta có thể phát hiện những biến đổi sớm của dây thần kính thị giác. Những máy công nghiệp học cao cấp cực kỳ hiệu năng, từ trước đến nay chỉ dành cho nghiên cứu, từ này được sử dụng trong các trung tâm nhãn khoa. ”

MỘT KHÁM PHÁ : MỘT SỰ BIẾN ĐỔI THẦN KINH NÃO BỘ ĐI TRƯỚC SỰ XUẤT HIỆN BỆNH TĂNG NHÃN ÁP.

Hai dây thần kinh thị giác (nerf optique) dẫn các thông tin thị giác lên não bộ, chéo nhau ở giao thị (chiasme). Và bên trong dây thần kính thị giác, chính nhiều trăm ngàn sợi dẫn truyền đảm bảo sự truyền của các thông tin này. “ Mãi đến nay, BS Marie-Thérèse Iba-Zizen đã giải thích như vậy, người ta nghĩ rằng bệnh glaucome là do một sự tăng áp lực trong nhãn cầu, nhưng từ một khám phá gần đây, người ta cho rằng sự tăng nhãn áp này có lẽ không phải là hiện tượng chính, mà đúng hơn là một hậu quả. Nhờ một thăm khám IRM cực kỳ hiệu năng (ít nhất với một công suất 1,5 tesla), được tập trung một cách đặc biệt vào lộ trình của các đường thị giác, ta có thể quan sát thấy rằng một sự thu giảm kích thước của dây thần kinh thị giác sau nhãn cầu, nơi giao thị nằm trong não bộ, đã xảy ra trước khi bệnh tăng nhãn áp xuất hiện. Lợi ích chủ yếu của khám phá này có thể là để điều trị rất sớm các bệnh nhân với vài loại thuốc bảo vệ thần kinh nhằm ngăn chặn căn bệnh. Ta nên khuyên thăm khám IRM ngay tuổi 30 nơi những người có một di truyền gia đình, Điều đó thật sự bỏ công ! Xét nghiệm chụp hình ảnh này đã có thể được thực hiện nơi bệnh viện công và nơi trung tâm quang tuyến.” Đối với GS Christophe Baudouin, sự tiến bộ trong lãnh vực chẩn đoán này, nếu được xác nhận, sẽ có ưu điểm cho phép nhận diện những bệnh nhân có nguy cơ 10 hay 20 năm trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của một bệnh bệnh tăng nhãn áp, và theo dõi họ rất sát. “ Hiện nay, ông đã nhấn mạnh như thế, ta chỉ có thể điều trị họ bằng cách làm hạ áp lực trong nhãn cầu, như thế có hai giải pháp được dự kiến. 1. Đối với những bệnh nhân có một áp suất nội nhãn giới hạn, hãy điều trị bằng thuốc nhỏ mắt có chất căn bản, ví dụ, prostaglandines. 2. Đối với những bệnh nhân có một áp suất bình thường, chỉ cần theo dõi sát là đủ.”

NHỮNG THUỐC NHỎ MẮT MỚI VÀ LASER ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG NHÃN ÁP GÓC MỞ (GLAUCOME A ANGLE OUVERT).

“ Tiến bộ thật sự đối với các bệnh bệnh tăng nhãn áp này là kết quả của một sự nhận thức, GS Baudouin đã công nhân như vậy. Mặc dầu ta có những thuốc có hiệu quả mà 80% được cho dưới dạng thuốc nhỏ (như là prostaglandines), nhưng một nửa các bệnh nhân dung nạp rất kém. Những tác dụng phụ (khô mắt, chảy nước mắt, đỏ mắt, ngứa ngáy) làm ảnh hưởng đáng kể chất lượng của đời sống. Người ta đã suy nghĩ và nhận thức rằng điều bất tiện quan trọng này thường nhất là do chất bảo quản (produit conservateur) liên kết với thuốc. Do đó, mới đây, các phòng bào chế đã chế tạo những thuốc nhỏ mắt mới không có chất bổ trợ có hại này, vừa làm hạ áp suất nhãn cầu, vừa làm dễ sự bài xuất của các chất dịch.”

TIẾN BỘ KHÁC ĐỐI VỚI NHỮNG BỆNH NHÂN ĐỀ KHÁNG ĐỐI VỚI NHỮNG ĐIỀU TRỊ NÀY : HIỆU CHÍNH MỘT KỸ THUẬT BẰNG LASER (LASER SLT).

Kỹ thuật này nhằm vào cơ quan lọc bị hư hỏng, cho phép một sự bài xuất tốt hơn. “ Nhìn toàn bộ, với tất cả những phương pháp không xâm nhập này, trung bình ta thu được 90% những kết quả tốt, GS Christophe Baudouin đã xác nhận như vậy. ” Còn 10 % những bệnh nhân còn lại ? Họ sẽ được hướng về phẫu thuật ngoại khoa, được thực hiện với gây mê tại chỗ bằng các kính hiển vi ngày nay có công suất rất mạnh. Một phương thức giải phẫu mới đây cho phép thầy thuốc nhãn khoa “ quét sạch ” ống bài xuất (canal évacuateur) một cách hết sức an toàn và với một mức độ hiệu quả lớn hơn. Với phẫu thuật này, trong 90% các trường hợp, bệnh bệnh tăng nhãn áp được chữa lành.

LASER YAG HIỆU QUẢ TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG NHÃN ÁP GÓC ĐÓNG (GLAUCOME A ANGLE FERME).

Để điều trị loại bệnh bệnh tăng nhãn áp này, “ laser YAG là một tiến bộ lớn ”, GS Christophe Baudouin đã nhấn mạnh như vậy. Những kỹ thuật chụp hình ảnh bằng quét laser (techniques d’imagerie par balayage laser) ngày nay cho phép phát hiện một cách rất sớm các bệnh tăng nhãn áp góc đóng và điều trị chúng sớm nhất có thể được để tránh một cơn đau đớn và một sự tổn hại của dây thần kinh thị giác. Điều trị thực hiện bằng một laser YAG. Với laser loại này, người ta trổ một lỗ rất bé xíu ở mống mắt (iridectomie), nhằm ngăn cản góc mà mống mắt tạo với giác mạc khỏi bị đóng lại, vì tình huống này làm cho sự lọc của các chất dịch bị phong bế không bài xuất được, làm áp lực nội nhãn tăng cao đột ngột. Sự xuất hiện của laser YAG đã cho phép tránh rất nhiều phẫu thuật ! Những kết quả rất là ngoạn mục : thành công 90%. Nhưng, GS Christophe Baudouin xác nhận, điều trị phải được thực hiện sớm bởi vì loại bệnh tăng nhãn áp góc đóng này có thể dẫn đến nhanh hơn là bệnh tăng nhãn áp góc mở, những thương tổn không hồi phục được.
(PARIS-MATCH 5/11-11/11/2009)


GHI CHÚ :

Trabéculum (Bè) : mô trong suốt được tạo bởi các sợi đan kết nhau, có nhiệm vụ lọc thể dịch (humeur aqueuse) khi chất dịch này chảy ra ngoài mắt. Trabéculum phủ góc giác-củng mạc (angle cornéoscléral), được tạo ra do sự dính của viên chu mống mắt vào lớp sâu của giác mạc

Trabéculotomie (cắt bè) : phẫu thuật cắt bè (trabéculum), được thực hiện để điều trị vài bệnh glaucome bẩm sinh. Phẫu thuật cắt bè (trabéculotomie) nhằm đưa một ống thông đi xuyên qua lớp củng mạc (sclérotique), ở chỗ tiếp nối của mống mắt và giác mạc, rồi đưa nó đi xuyên qua kênh Schlemm, nhằm dẫn lưu thủy dịch về phía tuần hoàn tĩnh mạch sau khi đi qua trabéculum.

Humeur aqueuse (thủy dịch) : chất dịch sinh lý được chứa trong tiền phòng của mắt (giữa giác mạc và thủy tinh thể).Thể dịch góp phần điều hòa áp suất nội nhãn đồng thời nuôi dưỡng các cấu trúc của mắt và bài xuất các chất phế thải. Một sự gia tăng của quá trình tiết thể dịch hay một sự trở ngại cho sự bài xuất của nó có thể gây nên sự tăng cao của áp suất nội nhãn. Để có thể làm hạ áp suất nội nhãn ta có thể tác động bằng cách hoặc làm giảm sự tiết nhờ các thuốc nhỏ mắt bêta-bloquant hoặc làm dễ sự bài xuất nhờ phẫu thuật hay laser.

Implant (viên cấy) : mọi chất liệu tự nhiên hay nhân tạo được đưa vào trong cơ thể. Các implant nhằm thay thế một cơ quan bị bệnh hay nhằm cải thiện chức năng của nó, để điều trị vài loại bệnh, để làm phân tán các loại thuốc (implant médicamenteux) hay các hormone hay để điều biến hình dáng


2/ 500.000 NGƯỜI BỊ BỆNH TĂNG NHÃN ÁP MÀ KHÔNG HAY BIẾT.

“ Ta có thể bị bệnh tăng nhãn áp trong nhiều năm mà không có một triệu chứng nào. Vì không được điều trị thích đáng, những thương tổn không đảo ngược của dây thần kinh thị giác được tạo nên. Khi khoảng 40% các sợi thị giác bị thương tổn, những déficit đầu tiên xuất hiện, nhưng chúng không được cảm thấy bởi người bị bệnh. Để có thể cảm nhận, phải đợi khoảng 90% các sợi thần kinh thị giác bị thương tổn. Than ôi vào giai đoạn này, sự cắt cụt của thị trường (amputation du champ visuel) đã là nghiêm trọng và không thể hồi phục được, GS Chiambareta, BS Blumen-Ohana và BS Dale đã cảnh cáo như vậy. 16% những người Pháp bị bệnh glaucome sẽ mất thị giác của một mắt, vì không được phát hiện sớm. Vì lẽ tuổi thọ đang gia tăng, vì một glaucome phải cần đến hai mươi năm mới biểu hiện bằng những triệu chứng và vì hiện nay bệnh glaucome không có được một chương trình điều tra phát hiện hệ thống, nên số những người Pháp lớn tuổi với một phế tật thị giác nặng lại còn có nguy cơ gia tăng trong những năm đến.

NHÃN ÁP VÀ GIÁC MẠC.

Để tránh kịch bản tai họa này, tuy vậy cách tránh thật là đơn giản : chỉ cần một thăm khám phát hiện bệnh vào khoảng năm 45 tuổi, sau đó lấy hẹn hai hay ba năm một lần.Thật vậy, có cả một loạt các thăm khám để phát hiện bệnh glaucome. “ Được biết đến nhất là đo áp lực trong nhãn cầu, nhưng mức độ tin cậy của nó tùy thuộc vào bề dày của giác mạc (màng nông của mắt). Nếu giác mạc có bề dày bình thường, nhãn áp phải dưới 21 mmHg ”, BS Dale đã xác nhận như vậy. Với một giác mạc quá dày, ta gặp những con số lớn hơn nhưng không nhất thiết bị bệnh tăng nhãn áp.

Ngược lại, với một giác mạc quá mảnh, nhãn áp bị đánh giá thấp, với nguy cơ bỏ sót một bệnh glaucome thật sự. “ Điều này làm yên lòng một cách giả tạo, trong khi một giác mạc mỏng một cách bất thường có thể chứng tỏ một sự mong manh lớn hơn của dây thần kinh thị giác và như thế chứng tỏ một nguy cơ lại còn gia tăng, GS Chiambaretta đã nhấn mạnh như vậy.

Và nếu trong quá khứ bạn đã được phẫu thuật khúc xạ (chirurgie réfractive) để điều chỉnh một chứng cận thị, một viễn thị hay một loạn thị, thí dụ, thì giác mạc của bạn đã bị “ điều biến ” (remodelé) trong lúc giải phẫu : điều này không làm dễ sự tạo thành glaucome, tuy nhiên làm sai lạc những kết quả lúc đo nhãn áp. Chính vì thế thầy thuốc nhãn khoa của bạn phải được thông báo, nếu không phải vị thầy thuốc này đã mổ cho bạn trước đây.

“ YẾU TỔ DI TRUYỀN ”

Vì việc đo nhãn áp không đáng tin cậy nên thầy thuốc nhãn khoa phải dựa trên những thăm khám khác. Khám đáy mắt mang lại một cái nhìn đại thể về tình trạng của dây thần kinh thị giác. Và khám thị trường cho phép tìm kiếm những điểm mù chứng tỏ sự thương tổn của nó.

Còn về xét nghiệm OCT (tomographie en cohérence optique), biểu hiện một trong những tiến bộ lớn trong 5 năm qua, nó cho phép đánh giá bề dày của các sợi thần kinh thị giác, bề dày càng nhỏ thì bệnh glaucome càng tiến triển.

“ Với một kho vũ khí như vậy, mọi bệnh tăng nhân áp có thể được phát hiện ở một giai đoạn sớm. Thế mà một bệnh tăng nhãn áp được phát hiện kịp thời, được điều trị một cách đúng đắn và được theo dõi tốt, có tất cả các cơ may sau cùng không gây nên phế tật thị giác. Chính vì thế, tất cả những ai được chẩn đoán bệnh glaucome đều được yêu cầu nói điều đó với gia đình mình : yếu tố di truyền có thể đóng một vài trò, điều thiết yếu là những người thân cũng phải được thăm khám phát hiện bệnh ! ”, BS Dale đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 13/12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 66 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 29/2/2008 )

6/ CHIẾN DỊCH PHÒNG BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOME)

NHÃN KHOA. 400.000 người không hề hay biết rằng họ đang bị bệnh tăng nhãn áp. Một trung tâm điều tra phát hiện lưu động sẽ đi khắp nước Pháp trong vòng một tháng.

Nhân dịp ngày thế giới đầu tiên bệnh tăng nhãn áp vào ngày 6/3 sắp đến, và trong khung cảnh của chiến dịch điều tra phát hiện miễn phí lần thứ tư của căn bệnh này, hai xe tải, trong đó một chiếc mang một máy phỏng lái xe hơi (stimulateur de conduite automobile) sẽ đi khắp mọi miền của nước Pháp cho đến ngày 12/4. Một cuộc tuần du kéo dài sẽ lần lượt đi qua theo thứ tự thời gian Paris, Strasbourg, Toulouse, Lyon, Grenoble, Clermont-Ferrand, Bordeaux, Nice, Nantes, Brest và Lille. Một trong hai chiếc xe tải sẽ đề nghị khám nhãn khoa nhằm đo áp lực nhãn cầu và thị trường (champ visuel). Còn chiếc xe tải kia sẽ được trang bị một máy phỏng (simulateur), được sử dụng bởi công nghiệp xe hơi và được cải tạo lại nhằm phát hiện sự thu giảm dần dần của thị trường nơi những người bị chứng tăng nhãn áp. Bởi vì việc lái xe đòi hỏi thị giác ngoại biên (vision périphérique). Như vậy, máy phỏng này sẽ cho dân chúng khả năng ý thức về những hậu quả của bệnh tăng nhãn áp lên công việc hàng ngày, với một thị trường nhìn bên bị thu giảm .

MỘT KHÁM TỔNG KẾT NGAY Ở TUỔI 45

Ở Pháp, năm 2006, một triệu người bị bệnh tăng nhãn áp đã được điều trị, nhưng 400.000 người mắc bệnh mà không hay biết gì về điều đó. Bởi vì căn bệnh của dây thần kinh thị giác này vẫn không gây đau đớn và không gây một khó chịu gì đặc biệt trong một thời gian dài, nên nhiều người không biết rằng họ có áp lực nội nhãn tăng quá mức (nói chung trên 21 mm) có thể dẫn đến mù lòa. Điều này nói lên tầm quan trọng của việc thăm khám tổng kết nhãn khoa ngay ở tuổi 45, thậm chí ở tuổi 40 trong trường hợp có tiền sử gia đình về bệnh tăng nhãn áp. Ở Pháp, bệnh tăng nhãn áp chịu trách nhiệm 10 đến 15% những trường hợp mù lòa hay giảm thị lực, hoặc khoảng 15.000 trường hợp. Đó là nguyên nhân gây mù lòa đứng hàng thứ hai trong các nước công nghiệp hóa. Nguy cơ phát triển bệnh gia tăng với tuổi : 10% những người trên 70 tuổi mắc phải chứng bệnh này, nhưng sự di truyền cũng đóng một vai trò quan trọng (20 đến 30% các trường hợp là do di truyền).

Suốt trong những năm dài (từ 10 đến 20 năm), những người với bệnh tăng nhãn áp không có một triệu chứng nào, không đau đớn cũng như không mất thị giác. Chỉ có một khám nghiệm nhãn khoa kiểm tra mới cho phép phát hiện bệnh này. Mặt khác những tiến bộ về điều tra phát hiện đã có những trắc nghiệm cực kỳ nhanh.

Nếu bệnh tăng nhãn áp không được phát hiện đúng lúc và không được điều trị (bằng thuốc nhỏ mắt để ổn định áp lực nội nhãn, dùng laser và nếu cần, phẫu thuật trong trường hợp thất bại hai phương pháp trước), thị trường dần dần bị thu nhỏ lại. Vùng nhìn bị thu giảm được cảm nhận như một vết mờ, được mô tả rõ bởi bệnh nhân. Khi đó thì đã quá muộn, “ thị giác đã mất đi không thể kiếm trở lại được”, các chuyên gia đã xác định như thế. “ Nhiều bệnh nhân lái xe mà không nhận thức về nguy cơ, bởi vì thị giác trung tâm “thẳng phía trước” vẫn còn tốt trong thời gian lâu, Giáo sư Jean-Philippe Nordmann, trưởng khoa mắt ở bệnh viện Quinze-Vingts, Paris và chủ tịch của Hiệp hội bệnh tăng nhãn áp Pháp đã nêu nhận xét như vậy. Theo chuyên gia này, sự lái xe trở nên không thể thực hiện được khi bệnh tăng nhân áp đã rất tiến triển. Năm qua, 14.000 người đã được thăm khám trong chiến dịch điều tra phát hiện, 5.930 trường hợp đã được chẩn đoán và 1990 trường hợp nghi ngờ đã được kiểm kê.
(LE FIGARO 25/2/2008)

Thời Sự Y Học Số 172 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 03/5/2010 )

1/ MỘT THẤU KÍNH (LENTILLE) ĐỂ PHÁT HIỆN BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOME).

Tăng nhãn áp (hypertension oculaire), nguyên nhân quan trọng của mù lòa, có thể được phát hiện tốt hơn nhờ đeo liên tục trong 24 giờ, một “ thấu kính thông minh ” (lentille intelligente).

Chậm chạp, âm ỉ và không đau đớn. Đó là những đặc điểm của bệnh tăng nhãn áp, nguyên nhân thứ hai gây mù lòa trên thế giới, mà người ta ước tính rằng cứ hai người bệnh thì có một người không hay biết là mình bị bệnh. May mắn thay, bệnh này từ nay có thể được phát hiện rất sớm nhờ đeo một thấu kính tiếp xúc (lentille de contact) “ thông minh ”, được hiệu chính bởi công ty quốc tế STMicroelectronics. Được đặt bởi thầy thuốc và được đeo trong 24 giờ, thấu kính này ghi liên tục nhưng trị số của nhãn áp. Hãy nhắc lại rằng bệnh glaucome được gây nên bởi sự đóng lại dần dần của trabeculum, bộ phận lọc có nhiệm vụ bài xuất thủy dịch (humeur aqueuse), được sản xuất bởi mắt. Sự tích tụ của chất dịch này gây nên một sự gia tăng áp lực, đè ép động mạch của mắt và gây nên sự teo của các sợi của dây thần kinh thị giác với hậu quả thu hẹp thị trường và gây mù lòa.

Hôm nay, việc phát hiện dựa trên sự đo áp lực nhãn cầu, được thực hiện bởi thầy thuốc nhãn khoa với một nhãn áp kế (tonomètre). Thế mà, như GS Philippe Denis, trưởng khoa mắt của bệnh viện Edouard-Herriot (Lyon) và là hội viên của Hiệp hội của bệnh glaucome ở Pháp, đã giải thích, “ Áp lực nội nhãn thường chịu những thay đối sinh lý trong ngày, do đó sự tăng nhãn áp có thể không được phát hiện bởi một lần đo duy nhất ”. Được đặt tên là Sensimed, lăng kính mới cho phép truyền một cách liên tục những trị số được đo nhờ một thiết bị được nối với một máy thu (récepteur) mà bệnh nhân đeo quanh cổ. Nếu được phát hiện kịp thời, bệnh tăng nhãn áp có thể được điều trị bằng thuốc nhỏ mắt, các buổi laser hay ngoại khoa. Được trắc nghiệm ở Thụy Sĩ và ở Đức, các thử nghiệm đang được tiếp tục và sự thương mãi hóa ở châu Âu được dự kiến vào tam cá nguyệt thứ hai của năm nay.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2010)


3/ VÀO LỨA TUỔI NÀO PHẢI BẮT ĐẦU KIỂM TRA THỊ GIÁC CỦA CÁC TRẺ EM ?

Professeur Dominique Brémond-Gignac
Ophtalmologiste pédiatrique
CHU d’Amiens


Sự tăng trưởng của mắt bắt đầu ở thai nhi. Kiểm tra đầu tiên hết có thể được thực hiện trên mắt thai nhi trong khi làm siêu âm vào tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba của thai kỳ. Vào lúc sinh, thị giác được thiết đặt từ từ. Thật vậy, vì đứa trẻ không phải là người lớn thu nhỏ, nên hệ thị giác của nó không hẳn đã thành thục và thị lực của nó khoảng 1/20 vào lúc sinh, chỉ có thể phân biệt các hình dáng và những cử động. Tuy nhiên, vào tuần lễ đầu tiên sau khi trẻ sơ sinh ra đời, một kiểm tra thị giác phải được thực hiện một cách hệ thống bởi thầy thuốc nhi khoa và thăm khám này thường nhất được thực hiện ở khoa sản.

Sau đó, đôi mắt hoàn chỉnh sự thành thục, điều này là chủ yếu để cho các tia sáng được hội tụ trên võng mạc và như thế chính võng mạc được hoàn thiện. Thật vậy, nhũ nhi dần dần thụ đắc được vài chức năng thị giác như thị giác về màu sắc, thị giác về hình nổi (vision du relief), về sự tương phản (contraste), cũng như thị giác trung tâm, còn gọi là thị giác điểm vàng (vision maculaire). Chỉ cần một thiếu hụt nhẹ cũng đủ cho sự phát triển thị giác của đứa bé bị phương hại. Sự phát hiện sớm những bất thường này khi đó rất là quan trọng, bởi vì một điều trị nhanh chóng cho phép một sự hồi phục thị giác, sẽ khó khăn hơn nhiều khi đứa bé đã lớn tuổi.

ĐIỀU TRỊ THÍCH ỨNG.

Những bất thường thị giác hiện diện nơi 15 đến 20% các trẻ em dưới 6 tuổi và chúng biến thiên từ những bất thường nhẹ như những bất thường khúc xạ (cận thị, viễn thị và loạn thị) đến những bất thường nghiêm trọng hơn như chứng giảm thị lực (amblyopie) (thị giác của một mắt kém hơn) hay chứng lé (strabisme) (mất sự song song của hai mắt). Những bất thường khúc xạ có thể được điều chỉnh bằng kính đeo. Chứng lé và chứng giảm thị lực (amblyopie) được điều trị trong một thời gian dài hơn, thường liên kết với sự chỉnh thị (rééducation orthoptique). Vài bất thường hiếm như một phản chiếu trắng nơi đồng tử phải khiến thăm khám khẩn cấp một thầy thuốc nhãn khoa. Ai phát hiện ? Hiện nay, công tác phát hiện các bất thuờng thị giác được thực hiện bởi những người chuyên ngành y tế. Ở tuyến đầu là các thầy thuốc nhi khoa, chuyển cho thầy thuốc nhãn khoa nếu thấy hơi nghi ngờ. Thầy thuốc chuyên khoa mắt được giúp đỡ bởi kỹ thuật viên chỉnh thị (orthoptiste), trợ lý y khoa được đào tạo để phát hiện, phục hồi chức năng, để làm thích nghi lại và thăm dò chức năng những rối loạn thị giác, từ nhũ nhi đến người già.

Thầy thuốc nhãn khoa thực hiện một thăm khám lâm sàng nhằm trắc nghiệm thị giác của đứa trẻ tương quan với tuổi và sau khi giãn đồng tử, thực hiện khám đáy mắt để thăm khám võng mạc. Ông đánh giá thị lực, ngay cả nơi những trẻ rất nhỏ, kiểm tra sự điều chỉnh quang học. Ở lứa tuổi học đường, một thăm khám kiểm tra hàng năm phải được thực hiện. Nếu có chút nghi ngờ về thị giác của đứa trẻ, bố mẹ hay các thầy giáo sẽ hướng về một ý kiến y khoa.

NHIỀU BẤT THƯỜNG THỊ GIÁC HƠN NƠI CÁC TRẺ SINH NON.

Nhằm phát hiện những bất thường phát triển thị giác, những kiểm tra bắt buộc được quy định bởi pháp luật được thực hiện tùy theo những khuyến nghị của sổ sức khỏe trong tuần lễ đầu, rồi vào tháng 2, 4, 9 và 24. Sau đó, một kiểm tra học đường được thực hiện bởi Bảo vệ bà mẹ và trẻ em ở lớp mẫu giáo, thường là khoảng năm 3 hay 4 tuổi. Những trắc nghiệm lâm sàng đơn giản, phát hiện thị giác, được thực hiện. Những trắc nghiệm này khi đó cho phép , trong trường hợp bất thường, một sự điều trị đủ sớm các rối loạn mắt, nhằm cải tạo và phục hồi thị giác.

Tất cả các trẻ em phải được thăm khám phát hiện, với một sự chú ý đặc biệt đối với những trẻ em sinh non, chiếm gần 6% những trường hợp sinh ở Pháp, và bị ảnh hưởng hơn nhiều bởi những bất thường thị giác này.

Sự kiểm tra thị giác của sổ sức khỏe phải được tôn trọng. Nhưng, nếu có chút ít nghi ngờ về một bất thường thị giác, đứa trẻ phải được khám bởi một thầy thuốc nhãn khoa. Vị thầy thuốc này sẽ chuyển, nếu cần thiết, cho một thầy thuốc nhãn khoa nhi đồng (un ophtalmologiste pédiatrique) chuyên môn hơn. Để phát hiện những bất thường này, các kỹ thuật viên chỉnh thị (orthoptiste) ở bện cạnh người thầy thuốc và thực hiện nếu cần sự phục hồi chức năng, đặc biệt đối với chứng lé và chứng giảm thị lực (amblyopie). Như thế việc nghiên cứu và hiểu những cơ chế sinh lý của mắt cho phép một sự điều trị thích ứng đứa trẻ trong quá trình phát triển thị giác của nó.
(LE FIGARO 27/9/2010)

4/ CÁC VÕNG MẠC NHÂN TẠO VƯỢT QUA MỘT CHẶNG ĐƯỜNG MỚI.

Một implant mới đã cho phép một người mù đọc được những mẫu tự và những chữ.

OPHTALMOLOGIE. Cho phép những người mù tìm lại một thị giác đủ để nhận biết những vật thông thường và đọc những chữ lớn. Đó là kết quả từ nay có thể thu được với những implant võng mạc thuộc thế hệ mới nhất. Nhóm của Eberhart Zrenner (đại học Tubingen, Đức) một trong những nhóm tiên tiến nhất thế giới trong lãnh vực này, công bố hôm nay những dữ kiện ngoạn mục trong Proceedings of the Royal Society B.

Võng mạc chứa một lớp tế bào cảm thụ ánh sáng (cellules photoréceptrices), bắt các tín hiệu ánh sáng và biến hóa chúng thành những xung động điện. Những xung động này sau đó được truyền qua dây thân kinh thị giác cho đến tận các vùng thị giác của não bộ. Khi những tế bào võng mạc rất biệt hóa này bị hủy hoại, khi bị một bệnh thoái hóa như viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) hay DMLA (thoái hóa điểm vàng do tuổi tác), thì sự mất thị giác không còn có thể sửa chữa được nữa. Ý tưởng thay thế chúng bằng một võng mạc nhân tạo đã nẩy mầm cách nay nhiều thập niên. Từ đó, nhiều nhóm nghiên cứu đã bắt tay vào thách thức công nghệ học này với những phương cách khác nhau.

Nhờ những tiến bộ của điện tử học, những võng mạc mới gồm hàng trăm điểm kích thích, điều này cho phép hoàn lại một thị giác tinh tế hơn nhiều. Nhóm của Tubingen đã chế tạo một implant có cạnh 3 mm với 1500 diode, điều này tương ứng với một hình ảnh 38x40 điểm hay pixel. Theo các công trình nghiên cứu, cần ít nhất 600 pixel để cho phép đọc được, 1.000 để nhận diện một gương mặt.

5 TRẮC NGHIỆM THỊ GIÁC.

Võng mạc nhân tạo (rétine artificielle) này đã được ghép vào dưới võng mạc, ở chỗ của các tế bào cảm thụ ánh sáng (photorécepteurs), cho 3 bệnh nhân ở tuổi 40, bị mù từ lâu vì bệnh viêm võng mạc sắc tố. Sau đó những bệnh nhân được ghép võng mạc nhân tạo này đã chịu 5 trắc nghiệm thị giác. Tất cả đã có thể thấy những vật sáng được đặt trên một chiếc bàn sẫm màu. Các hiệu năng đã rõ rệt cao hơn nơi một trong những người tình nguyện, đã thành công nhận biết một cách chính xác các đồ vật, và sau khi được huấn luyện, đã thành công ngay cả đọc được các mẫu tự và các chữ.

“ Mặc dầu những thách thức còn tồn tại về mặt sinh học và kỹ thuật, những kết quả của chúng tôi cho thấy rằng các prothèse võng mạc điện tử có thể là một thay thế để phục hồi thị giác cho những người mù không có thể hưởng được những phương pháp khác như liệu pháp gène hay các thuốc bảo vệ thần kinh (médicaments neuroprotecteurs) ”, các tác giả của bài báo đã ghi nhận như vậy. “Khi những kết quả này được trình bày cách nay vài tháng nhân một hội nghị, chúng đã có tác dụng như một trái bom nhỏ, Serge Pocaud, nhà nghiên cứu của Viện thị giác (Paris) đã kể lại như vậy. Từ đó, một loại implant khác, được phát triển bởi công ty Hoa Kỳ Second Sight và được trắc nghiệm đặc biệt ở Pháp, đã thu được những hiệu năng tương đương ”.

Các nhà nghiên cứu người Đức đã đặt implant võng mạc cho khoảng một chục bệnh nhân khác, mà không bị vấn đề dung nạp. Và hệ thống dây và bình điện đã trở nên kín đáo hơn. Về phần mình, nhóm nghiên cứu của Serge Picaud đang nghiên cứu một prototype de prothèse trên cơ sở các nanoparticule kim cương. “ Vật liệu này đáng lưu ý bởi những tính chất điện tử và tính sinh tương hợp (biocomptabilité) ”, nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy. Những thử nghiệm đang được tiến hành nơi động vật, nhưng sự phát triển bị làm chậm lại do thiếu nguồn tài trợ.
(LE FIGARO 3/11/2010)

5/ VÕNG MẠC NHÂN TẠO : THÀNH CÔNG CỦA NHỮNG IMPLANT MỚI NƠI NHỮNG NGƯỜI MÙ.

GS José-Alain Sahel, giám đốc Viện thị giác, trưởng khoa mắt Hôpital des Quinze-Vingts, giải thích những công trình của nhóm nghiên cứu của ông, đã cho phép 4 người mù nhận biết lại môi trường của họ.

Hỏi : Những bệnh nào có nguy cơ dẫn đến sự mù lòa một phần hay hoàn toàn ?
GS José-Alain Sahel : Thường xảy ra nhất là thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Đó là một rối loạn trong sự đổi mới của các tế bào cảm thụ ánh sáng (cellules photoréceptrices) với sự tích tụ của những mảnh vỡ tế bào dưới võng mạc. Sau đó phải kể đến hai bệnh :
  • bệnh tăng nhãn áp (glaucome) (800.000 người) làm gia tăng áp suất của nhãn cầu và cuối cùng làm thương tổn dây thần kinh thị giác.
  • bệnh đái đường (400.000 đến 500.000 trường hợp) làm thương tổn các huyết quản của võng mạc.

Tiếp theo sau đó là vài bệnh lý nguồn gốc di truyền như bệnh viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) (40.000 trường hợp).

Hỏi : Trong những trường hợp nào ta có thể tránh sự mất thị giác nhờ một điều trị ?
GS José-Alain Sahel : Về bệnh đái đường và bệnh tăng nhãn áp, nếu ta chẩn đoán chúng sớm, ta có thể tránh được những biến chứng mắt nơi võng mạc cũng như sự phá hủy của dây thần kính thị giác. Để điều trị vài dạng của DMLA , ta có những thuốc chống sinh mạch máu (anti-angiogénique), ức chế sự tăng sinh của các huyết quản của võng mạc, nguyên nhân của sự giảm thị lực. Về những bệnh di truyền, một liệu pháp gène đang được thử nghiệm. Đối với những bệnh nhân đã mất hoàn toàn thị giác, ngày nay hy vọng quan trọng là ghép những võng mạc giả (prothèse rétinienne).

Hỏi : Để hiểu cách tác dụng của những võng mạc giả này, xin ông có thể giải thích cho chúng tôi vai trò của võng mạc ?
GS José-Alain Sahel : Võng mạc gồm có một lớp tế bào nhận cảm (cellules réceptrices) bắt các tín hiệu ánh sáng và biến đổi chúng thành những xung động điện (impulsions électriques). Sau đó những xung động điện này được truyền đến các vùng thị giác (aire visuelle) của não bộ bởi dây thần kinh thị giác. Khi những tế bào cảm quan (cellules photoréceptrices) của võng mạc bị tiêu hủy, sự mất thị giác là hoàn toàn.

Hỏi : Protocole ghép (implantation) được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của ông ở Viện Mắt là gì ?
GS José-Alain Sahel : Trước hết, vào lúc một can thiệp ngoại khoa, ta đặt trên võng mạc một puce điện tử (một implant) bao gồm một loạt các điện cực bằng kim loại thay thế những tế bào cảm quang bị phá hủy. Một caméra nhỏ xíu được gắn trên kính đeo bắt hình ảnh và xử lý nó nhờ microprocesseur được đặt trong một chiếc bọc. Microprocesseur này truyền các thông tin nhận được đến implant võng mạc, rồi implant này truyền chúng đến các vùng thị giác của não bộ qua dây thần kinh thị giác. Vậy để thực hiện kỹ thuật này, dây thần kinh thị giác không được bị phá hủy.

Hỏi : Những kết quả nào đã thu được với sự tái tạo võng mạc này ?
GS José-Alain Sahel : Từ hai năm rưỡi nay, 4 bệnh nhân bị mù lòa do viêm võng mạc sắc tố đã được mổ (30 trường hợp trên thế giới). Ngày nay 4 người đàn ông này có thể di chuyển, thấy các cánh cửa, các cửa sổ và các đồ vật. 3 trong 4 các bệnh nhân này có thể đọc cả những chữ gồm 3 hay 4 mẫu tự !

Hỏi : Nhóm của ông hiện đang nghiên cứu công trình nghiên cứu khác nào ?
GS José-Alain Sahel : Chúng tôi đang phát triển trong phòng thí nghiệm hai loại điện cực, lần này được bọc bởi kim cương. Những vật liệu tương hợp sinh học (matériaux biosensibles) này cho phép hạn chế những phản ứng mô.

Hỏi : Sự hồi phục một phần thị giác này có thể có được nơi những người bị mù khi sinh ra đời hay không ?
GS José-Alain Sahel : Chúng ta chưa biết bởi vì để được như vậy não bộ “ đã phải học thấy ” trong những năm đầu của đời sống.

Hỏi : Giai đoạn kế tiếp sẽ là gì ?
GS José-Alain Sahel : Để cải thiện những kết quả thu được, chúng tôi sẽ mổ một loạt những bệnh nhân khác với những protocole được tập trung hơn vào những khả năng nhận biết chính xác. Nhưng ta sẽ không bao giờ thay thế một cách hoàn hảo hàng triệu các tế bào cảm quan của võng mạc lành mạnh, nghĩa là cho trở lại một thị giác bình thường. Trong hai năm nữa, chúng tôi dự định vượt qua một chặng đường mới bằng cách gia tăng số các điện cực trên implant, lần này được bọc bằng kim cương.
(PARIS-MATCH 16/12-22/12/2010)

6/ NHỮNG HIỆU QUẢ CHỐNG ĐAU CỦA CHÂM CỨU ĐƯỢC CHỨNG TỎ.

Một nhóm nghiên cứu Đức của đại học Duisburg-Essen, được điều khiển bởi BS Nina Theysohn, đã nghiên cứu bằng IRM chức năng (cộng hưởng điện từ) những hiệu quả của châm cứu lên sự đau đớn. IRM chức năng có khả năng phát hiện, en temps réel, những biến đổi rất nhỏ của chuyển hóa của các neurone khi chúng được hoạt hóa, và thể hiện chúng bằng một hình ảnh màu. Các nhà nghiên cứu trước hết gây nên một sự đau đớn bằng dòng điện ở mắt cá chân trái của 18 người để quan sát những vùng não bộ được kích thích. Cùng thao tác đã được lập lại với các chiếc kim châm cứu được đặt về phía phải, giữa các ngón chân, dưới đầu gối và trên ngón cái. Các hình ảnh của tất cả những người tham dự khi đó bị biến đổi với những tín hiệu bị giảm một cách đáng kể. Hai cơ chế dường như can thiệp : một tác dụng placebo trực tiếp do làm giảm các kích thích phát xuất từ não bộ và tác dụng khác, thần kinh hóa học, làm giảm những tín hiệu phát xuất từ vỏ não cảm giác. Công trình nghiên cứu của Đức cho thấy rằng châm cứu, nếu được thực hiện đúng đắn, có khả năng làm biến đổi tín hiệu đau đớn.
Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 179 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 21/6/2010 )

2/ CHÂM CỨU KÍCH THÍCH SỰ TIẾT CỦA MỘT CHẤT CHỒNG ĐAU.

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ phát hiện tác dụng chống đau của y học cổ truyền này.

NEUROSCIENCE. Châm cứu làm cho đỡ đau trong các cơ bởi vì nó làm dễ sự phóng thích một phân tử tự nhiên, adénosine, có những tác dụng giảm đau, theo một công trình nghiên cứu được công bố mới đây trên site Internet của tạp chí Anh Nature Neuroscience.

Thầy thuốc chuyên khoa thần kinh Hoa Kỳ Malken Nedergaard, thuộc Trung tâm y khoa của Đại học Rochester và nhóm nghiên cứu của ông, đã thực hiện khám phá tuyệt vời này lúc tiến hành một thí nghiệm trên các con chuột bị đau ở một cẳng chân.

Các động vật gặm nhấm đã chịu một điều trị châm cứu cổ điển trong 30 phút, bằng những chiếc kim mảnh, được cắm vào trong một điểm gần đầu gối, điểm Zusanli và những người làm thí nghiệm quay nhẹ những chiếc kim này mỗi 5 phút.

Các tác giả của công trình nghiên cứu sau đó đã chứng thực rằng sự đau đớn được làm giảm 2/3 và rằng nồng độ adénosine trong các mô chung quanh các mũi kim là 24 lần tăng cao hơn so với trước khi điều trị. Đảo lại, châm cứu không có tác dụng trên các con chuột mà người ta đã lấy đi các thụ thể đối với adénosine. Ngoài ra, một sự gia tăng nồng độ adénosine nơi vùng đau đớn cho phép làm giảm sự đau đớn của các động vật, ngay cả không châm cứu. Sau cùng, các con chuột được cho deoxycoformycine, thứ thuốc có khả năng làm chậm lại sự biến mất của adénosine trong cơ, đã được hưởng các hiệu quả của châm cứu 3 lần lâu hơn.

MỘT NỀN Y HỌC 4000 NĂM.

“Từ 4000 năm nay, châm cứu là cơ sở của y học của vài nơi trên thế giới nhưng vì ta không hiểu hoàn toàn châm cứu hoạt động như thế nào nên nhiều người vẫn tỏ ra hoài nghi”, BS Nedergaard đã giải thích như thế.

Những công trình nghiên cứu này, trong khi chứng tỏ tác động của châm cứu lên hệ thần kinh ngoại biên, bổ sung điều mà chúng ta đã biết về những tác dụng của nó lên hệ thần kinh trung ương, ở đây châm cứu kích thích não bộ sản xuất hàng loạt các endorphine, những chất chống đau tự nhiên. “Rõ ràng là châm cứu có thể hoạt hóa cả một loạt các cơ chế khác nhau”, Josephine Briggs, giám đốc của Trung tâm quốc gia y học bổ sung và thay thế (Centre national de médecine complémentaire et alternative) ở National Institute of Health (NIH) đã ghi nhận như vậy. Công trình nghiên cứu này, được trình bày nhân hội nghị khoa học, Purines 2010, đã kết thúc hôm qua ở Barcelone.
(LE FIGARO 3/6/2010)


7/ CÁC KHÁNG SINH : NHỮNG VI KHUẨN PHẢN CÔNG.

Việc khám phá một gène đề kháng làm mất hiệu quả các dẫn xuất pénicilline, làm lo sợ một cuộc khủng hoảng quan trọng. Giới hữu trách y tế cố kềm chế mối đe dọa này.

Kịch bản rất xấu, được tiên đoán bởi các thầy thuốc từ 20 chục năm nay, đã trở thành hiện thực. Một cách chính xác, từ hôm một người bệnh đái đường 59 tuổi đã được cho hồi hương về Thụy Điển sau khi đã được mổ ở Ấn Độ. Một thăm khám thường quy phát hiện trong nước tiểu của bệnh nhân này một vi khuẩn rất đặc biệt : nó đề kháng với tất cả các dẫn xuất của pénicilline được biết đến, và ngay cả đối với các pénicilline của lớp carbapénème, những dẫn xuất của thiénamycine được sử dụng như là kháng sinh sau cùng ở bệnh viện. Được báo động, một nhóm được điều khiển bởi Tim Walsh, thuộc đại học Cardiff (Vương quốc Anh), chứng thực quy mô của vấn đề : Klebsiella pneumoniae có được sự đề kháng đặc biệt này là do thụ đắc được một gène mã hóa cho một enzyme, NDM-1 (New-Dehli métallo-beta-lactamase 1).

Từ đó, những ngạc nhiên bất ngờ không ngừng nối tiếp nhau. Ngạc nhiên đầu tiên là gène đề kháng này mã hóa cho một enzyme cho đến lúc đó hoàn toàn không được biết đến, một pénicillinase có khả năng tiêu hủy nhân beta-lactam của tất cả các kháng sinh được hiệu chính từ pénicilline từ 50 năm qua. Điều bất ngờ thứ hai là ở trong phân của bệnh nhân, nơi đây một vi khuẩn khác của ruột thường gặp hơn nhiều, Escherichia coli, cũng đã sát nhập một gène đề kháng mới. Chỉ dấu này, chứng tỏ một khả năng di động lớn của gène NDM-1, tức thời làm lo sợ một sự phát tán rất tích cực trong số các vi khuẩn và trong môi trường. Điều tra của Tim Walsh và của các cộng sự viên trong các phòng xét nghiệm phân tích ở Vương Quốc Anh và trên khắp tiểu lục địa xác nhận những điều được nghi ngờ : được công bố vào tháng 8 trong tạp chí The Lancet Infectious Diseases, kết quả điều tra cho thấy rằng gène đề kháng này hiện diện khắp nơi. Ở Vương Quốc Anh, vi khuẩn này được phân lập trong không dưới 6 loài vi khuẩn, tất cả đều Gram âm, trong đó có E.coli, K.pneumoniae và Enterobacter sp. Chỉ có một kháng sinh cũ, colistine, vẫn còn có hiệu quả in vitro, nhưng không hiệu quả đối với vài phân lập của K.pneumoniae. Những kết quả này, các nhà nghiên cứu loan báo, không khác gì hơn là báo hiệu “ sự chấm hết khả dĩ của các bêta-lactamine, fluoroquinolone và aminoside, những lớp kháng sinh chính để điều trị những nhiễm trùng gây nên bởi các vi khuẩn đa đề kháng (BMR : bactéries multirésistantes) Gram âm ”. Việc loan báo vào giữa tháng 8, về trường hợp tử vong ở Bỉ của một bệnh nhân được hồi hương từ Pakistan khiến không còn nghi ngờ gì nữa : sự nhiễm trùng của bệnh nhân này bởi một vi khuẩn sản sinh NDM-1 đã đề kháng với tất cả các kháng sinh, kể cả colistine.

Hội họp nhân hội nghị thế giới về vi trùng học ở Boston, Tim Walsh , người Pháp Patrice Nordmann, trưởng khoa vi khuẩn-siêu vi trùng học của bệnh viện Bicêtre, gần Paris, và người Canada Johann Pitout, giáo sư của Khoa Vi trùng học và các bệnh truyền nhiễm của đại học Calgary, nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng của tình hình : gène NDM-1 đã lan tràn trong một phần lớn của thế giới như đã chứng tỏ điều đó những trường hợp nhiễm trùng nhập vào châu Âu, Nhật Bản, Úc, Đông Nam Á hay Phi châu, tiếp theo sau những nhiễm trùng Ấn Độ-Pakistan. Sự phát hiện nó đòi hỏi những xét nghiệm tốn kém, không thể tiếp cận được đối với nhiều nước. Ngoài ra, tất các các điều kiện được hội đủ ở Ấn Độ để duy trì lâu dài sự đề kháng mới này. Bởi vi đất nước này đã trở nên cao điểm của du lịch y khoa giá rẻ, nhất là đối với ngoại khoa thẩm mỹ. Ngoài ra Ấn Độ đã lao mình vào sự sản xuất hàng loạt các générique d’antibiotique nhưng không có những cơ sở hạ tầng để kiểm soát việc sử dụng. Những kháng sinh này xuất hiện trong môi trường, nhất là do ỉa chảy mà nó gây ra, như thế duy trì qua trình chọn lọc của sự đề kháng (sélection de la résistance). Những điều kiện vệ sinh kém của địa phương lại còn làm dễ sự lan tràn của các vi khuẩn trong phân như E.coli. Do vậy, các nhà nghiên cứu kêu gọi giới hữu trách của đất nước họ thực hiện một bilan vi trùng học nơi tất cả những người được hồi hương vì lý do y tế và thiết lập một sự giám sát quốc tế đối với tất cả những trường hợp lâm sàng mới gây nên bởi NDM-1. Dĩ nhiên họ khuyến nghị tránh mọi cuộc giải phẫu ở Ấn Độ và nhắc lại rằng sự phòng ngừa sẽ có tính chất quyết định chống lại tai ương mới này. Bởi vì không có một chất ức chế được biết nào chống lại métallo-beta-lactamase, loại enzyme mà NDM-1 là một thành phần. Nhất là trong một tương lai gần, không có một kháng sinh có hiệu quả nào được đưa ra thị trường. “ Vấn đề có tầm quan trọng ”, Patrice Courvalin, giám đốc của Đơn vị các chất kháng khuẩn thuộc Viện Pasteur đã công nhận như vậy.

Tuy thế, tất cả đã được loan báo từ hai mươi năm qua ! Ngay năm 1992, trong tạp chí Science, chuyên gia Hoa Kỳ về bệnh truyền nhiễm Harold Neu đã tiên đoán cơn khủng hoảng, do việc sử dụng không được kiểm soát của các kháng sinh. Bởi vì sự đề kháng lan tràn dưới tác dụng của một sự sử dụng rất tích cực và không được kiểm soát của những sản phẩm này. Sự đề kháng này có thể là “ thụ động ” khi thành của tế bào trở nên ít để kháng sinh đi qua hơn, khi đích (cible) của nó bị biến đổi, hay khi sự bài xuất nó ra khỏi tế bào được gia tăng. Hay sự đề kháng này có thể là “ chủ động ” khi vi khuẩn thu hồi lại trong môi trường gène của một enzyme có khả năng làm thoái biến nó. Những gène đề kháng này đã hiện diện trong môi trường, như phần lớn các kháng sinh phát xuất từ vài loại vi khuẩn hay nấm.

Với dòng thời gian, vài giống gốc của những vi khuẩn gây nhiễm chính đã tích lũy những bộ gène đề kháng trên các dây vòng của ADN, được gọi là plasmide. Một sự tích lũy đã buộc phải chạy đua thường trực để tìm những kháng sinh mới. Thế mà, tần số đưa vào thị trường của những kháng sinh đã sụt giảm từ 30 năm qua. Vào năm 2004, Hiệp hội Hoa Kỳ về những bệnh truyền nhiễm đã tiết lộ rằng những phòng thí nghiệm dược phẩm chính không có những lớp kháng sinh mới trong giai đoạn phát triển. Hiện nay, chỉ có 5 trong số những phòng bào chế này là còn có những chương trình nghiên cứu trong lãnh vực này (GSK, Novartis, Astra Zeneca, Merck, Pfitzer). Những lý do của sự cải dụng (désaffection) được phân tích một cách rõ ràng. Trước hết, công nghiệp dược phẩm đã được hướng về một thị trường sinh lợi hơn, đó là thị trường của những loại thuốc điều trị, nhưng không chữa lành bệnh, những bệnh lý mãn tính đang gia tăng với sự lão hóa của dân chúng. Sau đó, những phương pháp truyền thống sàng lọc các chất tự nhiên để tìm những tính chất kháng sinh của chúng đã không còn tìm thấy relais có hiệu quả. Sau cùng, các kháng sinh có thể nhanh chóng bị vô hiệu bởi những đề kháng mới, điều này không làm phấn khởi bao nhiêu những nhà đầu tư tư nhân.

Do đó giới hữu trách y tế chủ trương thiết đặt một chính sách nhà nước khuyến khích về mặt tài chánh và hành chánh để phát động trở lại sự nghiên cứu trước khi “ một tai họa xảy ra ”. Một lời kêu gọi đã được đưa ra năm 2009, lúc nhắm vào 5 vi khuẩn ưu tiên, trong đó có E.coli và K.pneumoniae. Bởi vì trong thời gian đó những vi khuẩn này được trang bị bởi một BLSE (beta-lactamase à spectre étendu), một enzyme làm thoái hóa tất cả các céphalosporine và làm thu giảm kho vũ khí kháng sinh chỉ còn lại carbapénèmes, những dẫn xuất mới nhất của pénicilline. Thế mà những kháng sinh này chỉ có thể được sử dụng bằng đường tĩnh mạch ở bệnh viện trong khi E.coli lại là nguyên nhân của những nhiễm trùng thường xảy ra nhất ở thành phố, những nhiễm trùng của đường tiểu.Từ năm 2002, Mạng lưới báo động và theo dõi những nhiễm trùng bệnh viện (réseau d’alerte et de surveillance des infections nosocomiales), được thiết đặt trong những bệnh viện Pháp, đã ghi nhận một sự tiến triển mạnh mẽ của các E.coli sản xuất BLSE, một hiện tượng được cho là “ rất đáng lo ngại ”.

Đứng trước sự gia tăng mạnh mẽ của các vi khuẩn này, vốn đã rất hiện diện ở Hy lạp, Thổ nhĩ kỳ hay Israel, Hội đồng cao cấp y tế cộng đồng một lần nữa đã khuyến nghị vào tháng hai năm nay hạn chế việc sử dụng các kháng sinh, nhất là các carbapénèmes, và đã đưa vào ý niệm mới về sự kiểm soát những đối tượng phát xuất từ những người bệnh bị nhận diện như là mang mầm bệnh. Nhiều yếu tố can thiệp bên ngoài bệnh viện từ nay có can dự vào trong công cuộc đấu tranh. Bởi vì một công trình nghiên cứu mới đây đã tiết lộ rằng 2/3 các lây nhiễm bởi các vi khuẩn BLSE được phát hiện ở các phòng hồi sức ở Pháp là xảy ra trước khi vào bệnh viện, sẵn sàng phát triển nơi những bệnh nhân được điều trị bởi các kháng sinh. Từ tháng hai năm 2009, châu Âu đã phát động một chương trình Trocar, chỉ đạo các phòng thí nghiệm của 9 nước châu Âu để theo dõi tốt hơn và xác định tính chất của sự phân tán của các BMR bằng những phương tiện sinh học phân tử. Vào tháng 11 năm 2009, tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã quyết định cùng với Liên hiệp châu Âu thành lập một lực lượng công tác hỗn hợp để tổ chức cuộc đấu tranh , không những trong sự phòng ngừa và sử dụng hợp lý hơn các kháng sinh, mà còn trong sự thiết đặt các phương tiện để khuyến khích sự nghiên cứu trở lại trong lãnh vực này. Sự khẩn trương chưa bao giờ mãnh liệt đến thế. Nhất là với sự nhập viện của bệnh nhân trở về từ Ấn Độ vào tháng 8 năm 2009, nạn nhân cùa một nhiễm trùng đường tiểu đề kháng với tất cả các dẫn xuất của pénicilline và với carbapénèmes, nhiễm trùng đầu tiên do NDM-1 đã đến ở Pháp. Vào cuối năm nay, Trung tâm châu Âu phòng ngừa và kiểm soát các bệnh tật sẽ thiết lập một bảng tổng kê đầu tiên về mối de dọa dịch bệnh mới này. Trong thời gian đó, 3 trường hợp mới đã được nhận diện.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2010)

8/ AMBROISE PARÉ.

Sinh vào khoảng năm 1510 ở Boug-Hersent, gần Laval, Ambroise Paré, thầy thuốc phẫu thuật của các chiến trường, là cha đẻ của nền ngoại khoa hiện đại. Ông là nhà phát minh ra nhiều dụng cụ. Việc sử dụng hỏa khí gây nên những vết thương mới, được đốt bằng sắt nung đỏ hay dầu đun sôi, với nguy cơ giết chết người bị thương. Trong thủ thuật cắt cụt chi, ông dùng phương pháp thắt các động mạch thay thế cho phương cách đốt cháy (cautérisation). Ta chịu ơn ông một công thức nổi tiếng : “ Je le pansay, Dieu le guarist ” (Tôi băng bó người bị thương, còn Thượng đế chữa lành ông ta ”.

Vào năm 1529, ông trở lại bệnh viện Hôtel-Dieu với tư cách bạn phẫu thuật (compagnon chirurgien) và tuyên bố : “ Lật từng trang sách chẳng ích lợi gì, nếu bàn tay không đem ra áp dụng điều mà lý trí ra lệnh ”.

Maitre barbier-chirurgien năm 1536, ông được tuyển dụng bởi thống chế Montjean và theo ông ta trong chiến dịch Italie. Vào năm 1537 ông nhận lễ ra trận lần đầu ở chiến trường Pas de Suse. Ở đây ông thực hiện phẫu thuật tháo khớp (désarticulation) cùi tay đầu tiên và khám phá ra rằng bột của súng hỏa mai (arquebuse) không làm nhiễm độc các vết thương như người ta hằng tưởng. Vào năm 1542, ông tham gia trận vây thành Perpignan. Thống chế Brissac bị một viên đạn vào vai và Ambroise Paré có ý tưởng đặt lại thương nhân trong tư thế ban đầu vào lúc bị đạn để tìm lại viên đạn bị lạc.

Vào năm 1545, ông công bố “ Phương pháp điều trị những vết thương được gây nên bởi súng hỏa mai và những vết thương do thuốc súng đại bác ”.

Trong trận vây thành Danvilliers, ông phải cưa cụt một trong những nhà quý tộc của quân đội của bá tước Rohan. Thay vì dùng sắt nung đỏ để tránh xuất huyết, ông thử phương pháp mới của ông và thắt các động mạch của người bị thương và ông này bình phục sau đó. Vào năm 1557, trong trận vây thành St Quentin ở Picardie, ông ghi nhận rằng các con dòi (asticot) của một giống ruồi nào đó giúp làm sẹo các vết thương của thương nhân.

Vào ngày 30 tháng sáu năm 1559, ông được gọi đến bên giường bệnh Henri II, bị thương ở mắt trong một trận thi đấu. Lời nói thẳng thừng của ông trở thành huyền thoại. Cuộc trao đổi với Charles IX, về chủ đề này là một thí dụ : “ Trẫm hy vọng rằng nhà ngươi sẽ săn sóc các vị vua tốt hơn là săn sóc các người nghèo khổ ? Không thưa ngài, không thể như thế được. Thế thì tại sao ? Bởi vì tôi săn sóc những người nghèo cũng như các vị vua ”.

Ở Saint-Barthélémy, ông được che chở bởi famille des Guise. Ông mất ở Paris vào năm 1590 và được an táng ở nhà thờ Saint-André-des Arts de Paris.
(URGENCES PRATIQUES 3/2008)

9/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC ĐIỀU TRỊ HORMONE VÀ NGUY CƠ UNG THƯ VÚ ĐÃ ĐƯỢC TÌM THẤY.

Một trong những hormone tổng hợp được chứa trong những điều trị thay thế hormone và trong một vài viên thuốc đã được biết là làm dễ ung thư vú. Từ nay ta biết tại sao. Médroxyprogestérone acétate, progestérone tổng hợp, gây nên sự tăng sinh vô tổ chức của những tế bào tuyến vú qua sự hoạt hóa của một protéine : RANKI. Do đó một nguy cơ bị ung thư vú gia tăng khoảng 25% nơi những phụ nữ đã theo trong 5 năm hoặc hơn một điều trị hormone thay thế những với œstrogène và progestérone tổng hợp. Việc khám phá này của nhóm nghiên cứu của Joseph Penninger, thuộc Viện công nghệ sinh học Vienne (Institut de biotechnologie de Vienne) (Áo), có thể nhanh chóng dẫn đến một điều trị chống lại chính ung thư này. Bởi vì, đồng thời, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã cho thấy nơi loài chuột rằng có thể ức chế sự tạo thành các ung thư vú và các di căn bằng cách phong bế hoạt tính của protéine RANKI này, nhờ một thứ thuốc. Thế nhưng những mà loại thuốc này, dénosumab, vừa được cho phép để điều trị bệnh loãng xương (ostéoporose), cũng được gây nên do một hoạt tính quá mạnh của protéine RANKI, nhưng lần này xảy ra trong những tế bào xương.
(SCIENCE ET VIE 12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 114 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/2/2009 )

1/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA HORMONE VÀ UNG THƯ VÚ ĐƯỢC XÁC NHẬN

MÃN KINH : Một công trình nghiên cứu mới xác nhận rằng điều trị mãn kinh bằng hormone làm gia tăng nguy cơ bị ung thư vú.

Ngăn ngừa sự lão hóa của da, chống lại chứng loãng xương, chống lại các bệnh tim-mạch : điều trị chứng mãn kinh bằng hormone (oestrogène và progestérone), đã được tô điểm bởi tất cả các tính chất tốt bắt đầu từ những năm 1960-1970. Phải cần đến 20 năm mới có thể làm chấp nhận rằng không những phép điều trị này đã không đáp ứng với tất cả các mong chờ, mà ngoài ra nó còn làm gia tăng ung thư vú. Tuy vậy những điều tra được công bố vào cuối những năm 1980 đã cho thấy một mối nguy cơ như thế. Dầu sao đi nữa, ở Pháp, vẫn luôn luôn có nhiều bàn cãi để biết xem loại hormone nào ảnh hưởng lên mức độ nguy cơ ; để xem có phải sự gia tăng của ung thư vú được quy cho điều trị, thật ra đó chỉ là do một hiệu quả “phát hiện” bởi chụp tuyến vú (mammographie), được thực hiện thường xuyên hơn nơi các phụ nữ được điều trị bởi hormone; để biết xem phải chăng các hormone chỉ đóng một vai trò làm dễ trong sự phát triển một ung thư vốn đã có sẵn ...Vài thầy thuốc vẫn còn khó mà tin được những mối nguy hiểm của các hormone, và những thầy thuốc khác vẫn tin chắc rằng những lợi ích dùng hormone để điều trị chứng mãn kinh vượt quá những nguy cơ gặp phải.

Năm 2002, sau những năm tranh cãi, những kết quả đầu tiên của một công cuộc điều tra rất rộng lớn của Hoa Kỳ, được gọi là “Women Health Initiative” (WHI), so sánh những phụ nữ mãn kinh được điều trị bằng hormone với các phụ nữ không được điều trị, đã cho thấy một cách không tranh cãi được, một nguy cơ bị ung thư vú gia tăng nơi các phụ nữ dùng hormone thay thế. Sự công bố này được thể hiện bởi nỗi thất vọng và sự mất hứng thú đối với điều trị chứng mãn kinh bằng hormone khắp nơi trên thế giới. Các phụ nữ phần lớn đều từ bỏ điều trị hormone, ở châu Âu, Hoa Kỳ và ở Úc đại lợi. Ngay những năm 2005-2006, các thống kê trong nhiều nước, đặc biệt ở Pháp, ở Hoa kỳ, ở Úc đã cho thấy một sự giảm không phải là ít những tỷ lệ mắc phải ung thư vú sau khi ngừng điều trị hormone thay thế.

Ý nghĩ đầu tiên cho rằng sự giảm tỷ lệ mắc phải ung thư vú chỉ là hậu quả của việc giảm sử dụng rõ rệt các hormone. Những ý tưởng này nhanh chóng bị tranh cãi bởi các chuyên gia, lập luận rằng không phải do việc ngừng dùng hormone, mà chính do việc ngừng xét nghiệm điều tra phát hiện bằng chụp tuyến vú (mammographie), nơi những phụ nữ đã không cần thăm khám các thầy thuốc phụ khoa nữa mới có đơn thuốc hormone, đã giải thích tiến triển này.

NGUY CƠ THAY ĐỔI TÙY THEO LOẠI ĐIỀU TRỊ

Hôm nay trong New England Journal of Medicine, các thầy thuốc Hoa Kỳ của WHI công bố một phân tích sâu những dữ kiện của họ, chỉ rõ rằng chính đúng là sự giảm sử dụng điều trị hormone chứ không phải là sự ít dùng đến chụp tuyến vú (mammographie) để điều tra phát hiện, giải thích sự giảm các ung thư vú này. Để đi đến kết quả đó, các tác giả đã sử dụng không chỉ điều tra WHI mà cả một công trình nghiên cứu khác, tiến hành trên 25.000 phụ nữ mãn kinh được theo dõi trong 10 năm từ 1994 đến 2005

Họ đã xem xét các tỷ lệ ung thư tùy theo sự sử dụng hay không các hormone (oestradiol gốc ngựa và acétate de medroxyprogestérone) và tùy theo tần số chụp tuyến vú được thực hiện “ Sự gia tăng nguy cơ ung thư vú liên kết với œstrogène và progestérone đã giảm một cách đáng kể, nhanh chóng sau khi ngừng hormone, nhưng không liên quan với những thay đổi trong tần số chụp tuyến vú được thực hiện. ”

Ở Pháp, một công trình nghiên cứu đang được tiến hành đã chứng tỏ rằng nguy cơ mắc phải ung thư vú thay đổi tùy theo loại điều trị hormone được sử dụng. Một vài loại thuốc có một ảnh hưởng ít hơn, nhưng có thể có những vấn đề khác, theo những công trình nghiên cứu sẽ được công bố. Hiện nay, những điều trị này được cho trong một thời gian giới hạn, đặc biệt là trong trường hợp bị những cơn bừng mặt không chịu đựng nổi.
(LE FIGARO 5/2/2009)


10/ MỘT CHẤT CHỈ DẤU VẠN ỨNG CỦA UNG THƯ ?

Thụ thể (récepteur) của một kích thích tố sinh dục chỉ được biểu hiện trong những khối u ung thư.

Ung thư được đánh dấu bởi sự tích tụ của các bất thường di truyền trong một tế bào. Tế bào này khi đó tăng sinh một cách hỗn loạn đến độ tạo thành một khối u (tumeur). Khối u này chỉ sống sót nếu tìm được những chất dinh dưỡng và năng lượng cần thiết cho sự tăng trưởng của nó : vậy khối u phát triển với mạng mạch máu của riêng mình, độc lập với hệ mạch máu của cơ thể. Nicolae Ghinea, thuộc nhóm INSERM Viện Mondor nghiên cứu sinh y học, Đại Học Paris-Est de Créteil, và các đồng nghiệp của ông ta đã nhận diện một phân tử đặc hiệu của các ung thư, hiện diện trên thành trong của các huyết quản của khối u ung thư.

Phân tử này là thụ thể của FSH (hormone folliculostimulante, kích thích tố kích thích noãn nang), cần thiết cho quá thành thục của các noãn (ovule) và cho sự sản xuất của các tinh trùng. Bình thường các thụ thể của hormone này chỉ hiện diện trên những tế bào đích (cellules cibles) của các buồng trứng và của các tinh hoàn, và với lượng rất nhỏ trong các huyết quản của các cơ quan này.

Các nhà sinh học đã nghiên cứu thụ thể này trong các mẫu sinh thiết của các khối u, được thực hiện nơi 1336 bệnh nhân. 11 loại ung thư đã được khảo sát ở những giai đoạn khác nhau (tuyến tiền liệt, vú, đại tràng, tụy tạng, bàng quang, thận, phổi, gan, dạ dày, các tinh hoàn và các buồng trứng). Kết quả : thụ thể cua FSH hiện diện trên bề mặt của các tế bào phủ thành trong của các huyết quản ung thư nhưng vắng mặt nơi phần còn lại của cơ quan. Và điều chứng thực này đúng với tất cả những ung thư được khảo sát. Các nhà nghiên cứu ngoài ra đã tiêm vào một con chuột một phân tử gắn một cách đặc hiệu vào chất “ chỉ dấu ” này và do đó đã phát hiện khối u mà nó mang. Có lẽ với chất chỉ dấu này ta sẽ có được một công cụ mới chẩn đoán, thậm chí điều trị nếu ta có thể phá hủy ung thư bằng những tác nhân chống ung thư gắn vào thụ thể của FSH.
(POUR LA SCIENCE 12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 197 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 25/10/2010 )

2/ SỰ KHÁM PHÁ MỘT CHẤT CHỈ DẤU VẠN ỨNG CỦA UNG THƯ.

Một phân tử, được tìm thấy ngay ở giai đoạn sớm trong 1 loại ung thư thường gặp, mở ra những triễn vọng mới.

ONCOLOGIE. Từ nhiều thập niên qua, các nhà nghiên cứu tìm kiếm một phân tử duy nhất dễ phát hiện (thí dụ từ một xét nghiệm máu), chỉ rõ sự hiện hữu của một ung thư ở giai đoạn sớm để có thể thực hiện một điều trị nhanh chóng, mà ta biết rằng nó gần như luôn luôn cải thiện tiên lượng của bệnh này. Nhưng tuần này, trong tạp chí có uy tín của Hoa Kỳ The New England Journal of Medicine, một nhóm các nhà nghiên cứu của Inserm, được điều khiển bởi Nicolae Ghinea (Đơn vị 955) cộng tác với nhóm của Aurelian Radu, thuộc trường y Mont Sinai, Nữu ước, báo cáo những kết quả rất đáng lưu ý về vấn đề này.

Từ 1300 bệnh nhân bị 11 loại ung thư khác nhau ở những giai đoạn tiến triển khác nhau, các nhà khoa học này đã có thể cho thấy rằng tất cả đều mang một dấu sinh học chung (marque biologique). Các khối u của tất cả những bệnh nhân này đều có một protéine trên thực tế là thụ thể đối với FSH, một hormone nguồn gốc não thùy. Không bị ung thư, protéine này chỉ có độc nhất ở những cơ quan sinh sản (noãn sào, tinh hoàn).

Trong các công trình của họ, các nhà nghiên cứu của Inserm đã phát hiện sự hiện diện của những thụ thể đối với FSH trên các thành trong của các mạch máu nuôi dưỡng khối u. Ngược lại, chúng hoàn toàn không bao giờ xuất hiện trong các mô lành mạnh, ngoại trừ các cơ quan sinh sản.

Hướng khám phá này rất đáng lưu ý vì hai lẽ : nó có thể tạo nên một chất chỉ dấu vạn ứng (un marqueur universel) của ung thư về lâu về dài và hữu ích để phát hiện hay chẩn đoán. Nó cũng có thể là cơ sở của những hướng điều trị mới : hệ mạch máu là cần thiết cho sự tăng trưởng của các khối u và sự duy trì chúng trong cơ thể. Một phân tử được điều khiển chống lại những thụ thể này có thể phong bế sự tăng trưởng của khối u, như những nghiên cứu được tiến hành với những loại thuốc được gọi là “ angiogénique ” (chống lại sự tăng sinh của huyết quản) đã chứng tỏ điều đó.

PHÁT HIỆN BẰNG HÌNH ẢNH.

Nicolae Ghinea và các cộng sự viên của Inserm đã khảo sát các mẫu sinh thiết được lấy nơi 1.136 bệnh nhân bị ung thư sau một phẫu thuật. Sự hiện diện của thụ thể đối với FSH đã được phát hiện trong những khối u đi từ một giai đoạn rất sớm đến những giai đoạn muộn hơn đối với 1 loại ung thư (tiền liệt tuyến, vú, đại tràng, tụy tạng, bàng quang, thận, phổi, gan, dạ dày, tinh hoàn và buồng trứng). Những kết quả thu được chứng minh sự hiện diện của thụ thể trong toàn bộ các mẫu nghiệm, dầu cho loại và giai đoạn của khối u ung thư như thế nào. Trái lại, thụ thể này hoàn toàn vắng mặt trong toàn bộ các mô bình thường khác của cơ thể, kể cả mô bình thường của cơ quan mang khối u.

“ Hiện nay, chúng tôi đang nghiên cứu khả năng tìm ra dấu vết của chất chỉ dấu này trong máu, Nicolae Ghinea đã giải thích như vậy. Nhưng chúng tôi đã xác định được vị trí thụ thể này nơi những tế bào bao phủ thành của các huyết quản. Điều này tạo nên một mục tiêu đáng lưu ý đối với những tác nhân chẩn đoán và những thuốc điều trị được tiêm vào mạch máu.” Những thí nghiệm nhằm phát hiện bằng chụp hình ảnh để thấy khối u bằng cách làm thấy được thụ thể đối với FSH, đã được thực hiện một cách thành công bởi các nhà nghiên cứu trên chuột. Mặt khác, có khả năng rằng thụ thể này có thể trở nên một các đích chung đối với những thuốc chống ung thư hay đối với những tác nhân có tác dụng phá hủy hay phong bế những huyết quản của các khối u và điều đó dầu cho loại ung thư cần phá hủy thuộc loại nào. Hiện nay, đó là một công trình cơ bản rất đáng lưu ý, thật sự mở ra những triễn vọng mới. Đây là lần đầu tiên người ta nhận diện được một phân tử chung cho tất cả các loại ung thư.

Rất mới đây nhất, các nhà nghiên cứu Israel đã phát hiện những hợp chất hữu cơ bay hơi, khi thu được ở khí thở ra, chứa các chất chỉ dấu ung thư trong trường hợp bị bệnh. Phạm vi nghiên cứu này hiện nay đang phát triển một cách lũy tiến.
(LE FIGARO 21/10/2010)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/12/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969