Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 93
Lượt truy cập: 1026988
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ SIDA : CÓ THỂ THẮNG ĐƯỢC DỊCH BỆNH NÀY TỪ NAY ĐẾN 20 NĂM NỮA.

Chúng ta đang ở vào năm 2030.Vẫn không có vaccin, nhưng dịch bệnh sida được trừ diệt. Dưới 40 triệu người, trên một dân số thế giới 7 hay 8 tỷ người, sống với VIH, điều này hơi nhiều hơn năm 2010. Và người ta hầu như không còn đếm thêm một nhiễm trùng mới nào nữa : nhiễm trùng (bệnh sida) này đã trở thành một bệnh mãn tính và dưới vài chục ngàn người chết mỗi năm. Không còn nghi ngờ gì nữa, trận dịch gây chết người nhất trên thế giới sau cùng có vẻ đã bị đánh bại ! Bằng phép diệu kỳ nào ? Một sự thay đổi triệt căn chiến lược phòng ngừa, trong vòng 20 năm, đã hoàn toàn làm thay đổi dữ kiện..

Vì chúng ta chưa phải ở vào năm 2030 nên kịch bản này vẫn là giả tưởng. Nhưng có lẽ không phải là phi hiện thực ! Vì một lý do đúng đắn : thập niên 2000 chấm dứt và chưa bao giờ khả năng một coup d’arrêt đối với dịch bệnh lại gần kề đến thế. Bởi vì, từ ba năm qua tất cả đã thay đổi.

Ta đang chứng kiến một thay đổi paradigme thật sự. Sự thay đổi này có thể được tóm tắt bằng 4 chữ : TASP (Treatment as prevention), nghĩa là điều trị để phòng ngừa. Một cách rõ nét, điều trị được theo đuổi bởi những người bị nhiễm trùng có một tác dụng phòng ngừa chống lại sự lan truyền của VIH…và điều đó mở cửa cho một sự kiểm soát dịch bệnh. Trong khi đó, mãi cho đến nay, ta vẫn nghĩ rằng chỉ có sự xuất hiện của một vaccin mới có thể dứt điểm căn bệnh và rằng chiến dịch duy nhất chống lại sự bành trướng của dịch bệnh dựa trên túi dương vật (préservatif). Vậy với TASP, đó là một bài diễn văn được nghe rất mới. Đến độ nhân Hội nghị quốc tế tháng 7vừa qua về bệnh sida, quy tụ khoảng 20.000 chuyên gia ở Vienne, người ta đã chỉ nói về điều đó ! Và nhất là, các chuyên gia dịch tễ học và các thầy thuốc hôm nay không e ngại khi xác nhận rằng : từ nay họ có những phương tiện kỹ thuật để dứt điểm virus bằng cách phối hợp những kỹ thuật phòng ngừa cổ điển với phương pháp mới của TASP. Theo họ, chỉ còn việc thực hiện chúng, với điều kiện là phải vượt qua vài chướng ngại vật, đặc biệt là tài chánh.

Cũng như điều thường xảy ra trong khoa học, các tư tưởng mới phải đi qua một chặn đường trong một thời gian nào đó trước khi được công nhận và ý tưởng “ điều trị để phòng ngừa ” (traitement comme prévention) cũng không ra ngoài quy luật đó. Bởi vì, chính vào đầu năm 2008 mà quan niệm này đã xuất hiện, qua một bài báo được công bố trong một tập sách y học khó hiểu, Le Bulletin des médecins suisses, được công bố bởi một nhóm nhỏ các chuyên gia về VIH, được kính nễ, nhưng không được công chúng biết đến. Thế mà, điều mà bài báo này đưa ra lại hoàn toàn chưa từng có. “ Những người huyết thanh dương tính không bị một bệnh nhiễm trùng bằng đường sinh dục nào khác, nếu theo một điều trị antirétroviral hiệu quả, sẽ không truyền VIH bằng đường sinhdục ”. 3 năm sau, sau khi đã gây nên một cuộc tranh luận kéo dài, cái ngòi nhỏ được đốt cháy này không ngừng khích động niềm hy vọng : ngày nay, tất cả các chuyên gia trên thế giới đều nhất trí về sự khẩn trương xem xét lại những chiến lược chống lại bệnh sida dưới ánh sáng của TASP.

Phải nói rằng các con số thật hùng hồn. “ Nguy cơ lây truyền tùy thuộc vào lượng virus (charge virale) lưu hành trong cơ thể. Các ARV (antirétroviraux), bởi vì chúng kiểm soát sự tăng sinh (réplication) của virus đến độ làm cho charge virale không còn có thể phát hiện được, sẽ làm giảm một cách đáng kể nguy cơ lây truyền. Trong các kết quả của một công trình nghiên cứu mới đây, sự điều trị gây nên một sự thu giảm 92% nguy cơ lây truyền trong các cặp huyết thanh khác nhau (couple sérodifférent). Một mức độ hiệu quả tương tự với mức độ hiệu quả khi dùng bao dương vật (préservatif) ! ”, Willy Rozenbaum, thầy thuốc chuyên bệnh truyền nhiễm thuộc bệnh viện Saint-Louis (Paris) và chủ tịch của Conseil national du sida đã mô tả như vậy. Hội đồng này, vào tháng tư năm 2009, đã công bố một ý kiến thuận lợi đối với việc sử dụng những điều trị như là một công cụ “doi mới ”. Như thế chiến lược mới nhằm điều trị một số lượng rất lớn những người bị nhiễm trùng để làm giảm lượng virus lưu hành trong cộng đồng, cũng được gọi là “charge virale communitaire” và do đó hạn chế, thậm chí dập tắt hoàn toàn những lây nhiễm mới. Bernard Hirschel, thành viên của nhóm Thụy Sĩ nổi tiếng này, nói thêm : “ Vào năm 1996, việc đưa những thuốc antirétroviraux vào điều trị trùng hợp với một sự hạ những lây nhiễm mới. Nếu không có những điều trị này, sẽ có 50 đến 100% các lây nhiễm nhiều hơn trên thế giới vào năm 2000 ”. Theo ông ta, sự bành trướng của điều trị bởi những thuốc antirétroviraux và tính hiệu quả gia tăng của nó như thế đã làm giảm số những người có khả năng gây lây nhiễm. Và điều này, mặc dầu khoảng chỉ 5 triệu người bị nhiễm trùng trên 33 triệu người trên thế giới thật sự được hưởng điều trị bởi các thuốc antirétroviraux.

SỰ CẦN THIẾT PHÁT HIỆN NHANH VÀ TỐT.

Và đúng như vậy : để thật sự có hiệu quả, chiến lược TASP phải liên hệ đến tối đa những người bị nhiễm trùng. Điều này hàm ý phải phát hiện họ ! Điều đó xảy ra đúng lúc : những công cụ phát hiện mới hiện có sẵn. Đặc biệt, những trắc nghiệm nhanh cho những kết quả trong không đầy 30 phút. Một trong những xét nghiệm mới nhất, được trắc nghiệm từ một năm nay trong nhiều khoa cấp cứu, cho phép ngay cả thu được một kết quả đáng tin cậy trong một phút ! Tuy nhiên một bémol nhỏ, những xét nghiệm nhanh này chỉ phát hiện những kháng thể xuất hiện trung bình 3 tuần sau khi bị lây nhiễm, chứ không phải những kháng nguyên p24, chúng mới thể hiện sự hiện diện của virus ngay vào tuần lễ thứ hai. Thế mà, chính trong thời kỳ nhiễm trùng sơ cấp (primo-infection) này, ngay tuần lễ thứ hai và cho đến tuần lễ thứ tám, trong đó VIH, lợi dụng sự vắng mặt của đáp ứng miễn dịch, đã tăng sinh một cách dễ dàng nhất và do đó nguy cơ lây truyền cao nhất. Trong khi người ta nói chung còn không hay biết tình trạng huyết thanh của mình... “ Người ta nghĩ rằng trung bình, chỉ riêng thời kỳ ngắn ngủi này chịu trách nhiệm 30% các lây nhiễm ”, Geoffrey Garnett, thuộc Imperial College (Luân Đôn) đã đánh giá như vậy. Một con số, theo nhiều công trình nghiên cứu, sẽ lên hơn 50% trong những nhóm người có dịch bệnh rất năng động : nơi những người đồng tính luyến ái hay trong vài nước Châu Phi dưới Sahara, nơi đây tỷ lệ những người trưởng thành bị nhiễm trùng (tỷ lệ lưu hành) xoay quanh 20 đến 25%. “ Các phòng thí nghiệm do đó làm việc cật lực để chế tạo những xét nghiệm nhanh hiệu năng hơn trong việc phát hiện các primo-infection, François Simon, giám đốc của phòng xét nghiệm virus học thuộc bệnh viện Saint-Louis đã giải thích như vậy. Và những xét nghiệm này sẽ được thương mãi hóa trong những năm rất gần đây ”.

Cuối cùng, việc xuất hiện những phương pháp phát hiện mới này hẳn cho phép phổ cập chiến lược “ trắc nghiệm và điều trị ” (test and treat). Đó là một sự phát hiện được đề nghị một cách hệ thống và những điều trị được cấp càng sớm chừng nào tốt chừng đó cho một số tối đa những người bị nhiễm trùng. Theo Tổ chức y tế thế giới, chiến lược “ phát hiện và điều trị ” này làm giảm rất tích cực số những lây nhiễm mới, thậm chí làm chúng biến mất hoàn toàn.

ĐIỀU TRỊ NGAY CẢ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG BỊ NHIỄM TRÙNG !

Vâng, nhưng việc phổ cập các điều trị này liệu thật sự có thể dự kiến khi chúng có tiếng là nặng nề về mặt các tác dụng phụ (bệnh thần kinh, các rối loạn phân bố mỡ) ? Đừng quên là “ từ 3 hay 4 năm nay, những điều trị antirétroviraux đã trở nên đơn giản hơn, hiệu quả hơn và, nhất là, chúng được dung nạp tốt hơn nhiều, chuyên gia virus học Christine Rouziuox đã nhấn mạnh như vậy. Vậy không những có lợi ích tập thể mà còn cả cá nhân khi được điều trị rất sớm ”. Trong những nước phát triển, những điều trị mới này đã có sẵn, đó là liệu pháp đầu tiên ba thứ thuốc trong một viên thuốc mỗi ngày, Atripla, được thương mãi hóa từ năm 2009 ở Pháp. Còn hơn thế, chất lượng của các điều trị được cải thiện đến độ một ý nghĩ cách mạng đang nảy mầm nơi các chuyên gia về bệnh sida : không những chỉ cho những thuốc điều trị này cho những người bị lây nhiễm, mà cũng cho chúng nơi những người không bị nhiễm trùng nhưng có nguy cơ bị lây nhiễm nhằm tránh cho họ khỏi bị nhiễm trùng ! Ở đây, các antirétroviraux trở nên những “ boucliers anti-contamination ” (khiên chống lây nhiễm). Chỉ cần uống chúng dưới dạng viên hay sử dụng chúng qua một gel đặt tại chỗ.

Gel này ngày nay là phương pháp tiên tiến nhất. Với sự loan báo tác dụng bảo vệ một phần bằng một gel được đặt trong âm đạo, vào tháng 7 vừa qua, sau hơn 15 năm nghiên cứu không có kết quả. Sản phẩm chứa một antirétroviral, ténofovir, và phải được đặt, tối đa 12 giờ trước đó, rồi 12 giờ sau khi giao hợp. “ Tỷ lệ bảo vệ trung bình là 39%, nhưng tỷ lệ này lên đến 54% khi gel được sử dụng : hơn 8 trên 10 ”, những tác giả chính của công trình nghiên cứu, Quarrhaisha và Salim Abdool, thuộc Centre pour le programme de recherche sida ở Nam Phi, đã giải thích như vậy. Tuy nhiên, trước khi được đưa ra cho dân chúng sử dụng, gel sẽ phải được cải thiện, nhất là bằng cách làm gia tăng nồng độ antirétroviral được sử dụng (ở đây 1%) hay bằng cách sử dụng một coctail các thứ thuốc. Một sự cải thiện khả đĩ khác nhằm sử dụng các “ vòng khuếch tán ” (anneaux diffusants), mà sự thương mãi hóa được dự kiến vào năm 2015. Những vòng này sử dụng một antirétroviral thí nghiệm, dapivitrine, và ưu điểm của chúng là một khi được đặt trong một tháng, chúng sẽ tránh việc quên thuốc.

Về viên thuốc uống mỗi ngày để tránh nhiễm trùng, hay chiến lược “Prep” (prophylaxie pré-exposition : dự phòng trước khi bị tiếp xúc với virus bệnh Sida), những kết quả đầu tiên hiện có là những kết quả của thử nghiệm quốc tế iPrex. Trong thực tiễn ? Những người có nguy cơ cao tiếp xúc với VIH, nhưng không bị lây nhiễm, uống mỗi ngày một viên thuốc Truvada, phối hợp ténofovir và một thuốc antirétroviral thông thường khác, emtricitabine. Thử nghiệm được thực hiện trên 3000 người đồng tính luyến ái, ở Brésil, ở Equateur, ở Pérou, ở Nam Phi, ở Thái lan và ở Hoa Kỳ. Những phân tích đầu tiên là đáng phấn khởi, với một khả năng bảo vệ gần 40 đến 60%. Vấn đề còn lại là phải làm rơi hàng rào ngăn cản về mặt tâm lý trước khi có thể thấy những người huyết thanh âm tính chấp nhận dùng các antirétroviral như aspirine hay thuốc ngừa thai.

Bằng một cách nào đó hàng rào tâm lý này có thể vượt qua nhờ ý tưởng một Prep orale “ đoạn hồi ” (prophylaxie intermittente : uống thuốc phòng bệnh không phải mỗi ngày mà chỉ vào lúc cần đến), được phát triển bởi vài nhà nghiên cứu. Hoặc uống một viên thuốc vào lúc các giao hợp, ngay trước và ngay sau đó. Jean-Michel Molina, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện Saint-Louis, Paris, đang chuẩn bị một thử nghiệm sẽ bao gồm nhiều trăm người đồng tính luyến ái nam người Pháp và người Québec. “ Prep đoạn hồi tương ứng tốt hơn với các nhu cầu của người ta, nó có thể làm dễ sự tuân thủ điều trị, được dung nạp còn tốt hơn và có một phí tổn thấp. Thử nghiệm sẽ được bắt đầu chẳng bao lâu nữa. ”

“ MỘT KỶ NGUYÊN MỚI TRONG ĐẤU TRANH CHỒNG BỆNH SIDA ”

Tất cả những chiến lược này phải chăng một ngày nào đó sẽ được áp dụng khắp nơi trên thế giới ? Vâng, “ có thể bảo đảm một sự tiếp cận điều trị bệnh sida cho toàn thể trong các nước có lợi tức thấp hay trung gian ”, theo báo cáo hàng năm mới đây của Tổ chức y tế thế giới, của Onusida và của Unicef, được công bố ngày 28 tháng 9 vừa qua. 8 nước (Botswana, Cambodge, Croatie, Cuba, Guyanan, Oman, Roumanie và Rwanda), đã đạt được sự tiếp cận điều trị cho toàn thể dân chúng, trong khi 21 nước khác tiến gần đến khả năng này, với một tỷ lệ bảo vệ đi từ 50% đến 80%. Sự gia tăng mạnh nhất được ghi nhận đối với Châu Phi dưới Sahara, với gần 1 triệu bệnh nhân bổ sung được điều trị trong một năm, hoặc một sự gia tăng 1/3. Ngoài ra, một trong những cách lan truyền của VIH hầu như được loại bỏ : sự truyền virus VIH từ mẹ sang con, nhờ điều trị người mẹ. Trong những nước mà sự phòng ngừa này đã được thực thi, tỷ lệ trẻ em huyết thanh dương tính được làm giảm xuống chỉ còn 1%.

Đối với chủ tịch của hiệp hội Aides, Bruno Spire, “ ta có tất cả các phương tiện để làm ngừng dịch bệnh. Cách nay 10 năm, không ai nghĩ được rằng việc cho phép tiếp cận với điều trị ở các nước Phương Nam là có thể dự kiến được. Thế mà từ nay, hon 5 triệu người nhận được điều trị antirétroviral này. ” Đối với Michell Warren, giám đốc của Liên minh thế giới phòng ngừa VIH, chúng ta “ đang dứt khoát ở trong một kỷ nguyên mới chống lại bệnh sida ”. Dịch bệnh sẽ chấm dứt trong 20 năm nữa ? Tất cả chỉ còn là một vấn đề ý chí chính trị và tài chánh. Điều này không phải là không có nghĩa gì.
(SCIENCE ET VIE 12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 183 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 19/7/2010 )

6/ TA CÓ PHẢI THỰC HIỆN MỘT XÉT NGHIỆM PHÁT HIỆN BỆNH SIDA ?

Professeur Yazdan Yazdanpanah
Service universitaire des maladies
infectieuses et du voyageur.
Centre hospitalier de Tourcoing.


Chính sách phát hiện HIV ở Pháp và trong nhiều nước phát triển dựa trên đề nghị, bởi những người điều trị, xét nghiệm cho nhóm người có nguy cơ : những người đàn ông đồng tính luyến ái, những người sử dụng thuốc ma túy bằng đường tĩnh mạch và những người dị tính luyến ái (hétérosexuels) có nhiều bạn đường phối ngẫu. Chính sách này, được thiết lập vào cuối những năm 1980, ngày nay không còn thích ứng với dịch tễ học cũng như tiến triển của bệnh ở kỷ nguyên của các điều trị antirétroviraux.

Ngày nay, ở Pháp, số những người bị nhiễm bởi HIV nhưng không biết là mình bị nhiễm trùng, được ước tính là 40.000. Giữa ¼ đến 1/3 các bệnh nhân phát hiện căn bệnh mình vào một giai đoạn muộn. Những người dị tính luyến ái có nguy cơ hai lần nhiều hơn, và những người trên 60 tuổi có bốn lần nguy cơ cao hơn, không được phát hiện và điều trị. Một mặt, bởi vì họ tự xem là không phải diện có nguy cơ và mặt khác bởi vì nhiều thầy thuốc không xếp loại họ trong nhóm người bị tiếp xúc HIV.

Thế mà, sự điều tra phát hiện, có thể cho phép thiết đặt sớm một điều trị, sẽ làm giảm một cách đáng kể những nguy cơ bệnh tật và tử vong. Mặt khác, sự điều trị sớm có một tác dụng hữu ích đối với cộng đồng. Thật vậy, do làm giảm lượng virus trong cơ thể, các antirétroviraux làm giảm nguy cơ truyền cho những người khác. Sau cùng, việc biết được tình trạng huyết thanh (statut sérologique) của mình mang lại một sự biến đổi của những hành vi sinh dục có nguy cơ (comportememnt sexuel à risque).

Trong khi phải duy trì và tăng cường sự phát hiện nhắm đích và đều đặn những nhóm người có nguy cơ, giờ đây ta phải mở rộng công tác phát hiện bệnh. Đó là điều được khuyến nghị bởi Haute Autorité de Santé, vào tháng 10 năm 2009, đối với toàn bộ những người tuổi từ 15 đến 70. Một cách cụ thể, mỗi người sẽ được đề nghị một xét nghiệm hay yêu cầu được hưởng xét nghiệm này trong một cơ sở y tế. Ngoài ra, việc đề nghị phát hiện mở rộng (dépistage généralisé) sẽ là cơ hội để minh định rõ rằng, mỗi cá nhân, dầu thuộc cộng đồng nào, đều có khả năng bị nhiễm bởi HIV.

Tuy nhiên, xét nghiệm chỉ được thực hiện bởi những người điều trị trong bối cảnh này không đủ. Nhất là để phát hiện những người trong tình trạng bấp bênh không hay ít thường xuyên lui tới các cơ sở điều trị, hay vài nhóm “ cộng đồng ”. Phải đi đón lấy những nhóm người này ! Sự sử dụng mới đây các xét nghiệm phát hiện có kết quả nhanh, được thực hiện chỉ với một giọt máu lấy nơi đầu ngón tay, mang lại cho chúng ta một khả năng đổi mới tuyệt vời. Ngày nay, với những trắc nghiệm này, việc phát hiện bệnh có thể được thực hiện ở nơi khác với phòng xét nghiệm.

Dầu cho chiến lược phát hiện bệnh là gì, médicalisé hay không, chúng ta hãy nhắc lại rằng công tác phát hiện này vẫn là một phương pháp tiến hành tự nguyện. Điều chủ yếu là các quyền của con người, đặc biệt là tính cách kín mật phải được tôn trọng. Chính trên những nguyên tắc này mà nền dân chủ y tế hoạt động. Hay dân chủ nói chung.
(LE FIGARO 5/7/2010)

Thời Sự Y Học Số 184 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 26/7/2010 )

2/ SIDA : TIẾN ĐẾN SỰ THANH TOÁN VIRUS VÀO NĂM 2050 ?

Liệu pháp ba loại thuốc (trithérapie) điều trị các bệnh nhân, nhưng cũng làm giảm khả năng gây nhiễm. Từ đó nảy ra ý tưởng điều trị để phòng ngừa.

EPIDEMIE. Nếu như tất cả những người bị nhiễm bởi virus sida được phát hiện và nhận các thuốc kháng virus, có lẽ dịch bệnh có thể biến mất trong vài thập niên. Thật vậy, mặc dầu các thuốc hiện nay không cho phép tiêu hủy virus, nhưng, đối với bệnh nhân được điều trị, chúng làm giảm nhiều nguy cơ truyền virus cho một đệ tam nhân, bằng đường sinh dục hay bằng tiêm chích.

“ Phát hiện và điều trị ” (Test and treat). Từ nay, đó là triết lý hành động của các cơ quan lớn chống bệnh sida và đặc biệt là Onusida, xác định cho mình mục tiêu điều trị các bệnh nhân, đồng thời ngăn cản những lây nhiễm mới. Trong khi Hội nghị quốc tế lần thứ 18 về bệnh sida đã khai mạc hôm qua với hơn 20.000 người tham dự (các nhà nghiên cứu, các thầy thuốc, các hiệp hội), càng ngày càng có nhiều chuyên gia ủng hộ một chiến lược như thế. Ngay cả Tổ chức y tế thế giới nghĩ đến, ở chân trời năm 2050, sự triệt căn của virus VIH, chịu trách nhiệm 25 triệu trường hợp tử vong kể từ đầu đại dịch, vào năm 1892.

“ Chiến lược này dựa trên sự kiện là, khi ta làm giảm trọng tải virus (charge virale) của các bệnh nhân bằng điều trị, thì nguy cơ truyền bệnh có vẻ thấp hơn, GS Jean-François Delfraissy (giám đốc của Cơ quan quốc gia nghiên cứu về bệnh sida, Paris) đã giải thích như vậy. “ Người ta cho rằng việc đảm bảo một sự tiếp cận điều trị cho tất cả những ai cần đến, có thể cho phép làm giảm 1/3 những trường hợp lây nhiễm mới mỗi năm ”, bản báo báo mới nhất của Onusida, được công bố cách nay vài ngày, đã xác nhận như vậy.

Cho mãi đến nay, đó chủ yếu là những mô hình, liên kết với những công trình nghiên cứu quán sát, cho phép dự kiến, nhờ một phương pháp như thế, một khả năng thanh toán virus sida. Hôm qua, nhân Hội nghị quốc tế thế giới về sida, tạp chí Anh The Lancet đã công bố những kết quả của công trình nghiên cứu Canada ít nhất cũng phù hợp phần nào những giả thuyết này. Công trình chứng minh rằng chỉ cần điều trị những người huyết thanh dương tính (séropositifs) cũng cho phép chia đôi số những trường hợp mới nhiễm trùng bởi VIH.

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHÁC ĐANG ĐƯỢC TIẾN HÀNH.

Nhóm nghiên cứu của GS Julio Montaner (giám đốc của Trung tâm chống bệnh sida ở Vancouver và chủ tịch của International Aids Society, tổ chức hội nghị quốc tế ở Vienne) đã tập trung vào tỉnh Colombie-Britanique (Canada), nơi đây, từ năm 1996, tất các các bệnh nhân bị nhiễm bởi virus sida đều được hưởng một sự tiếp cận điều trị miễn phí. Nhóm nghiên cứu đã có thể quan sát thấy rằng giữa năm 1996 (lúc bắt đầu liệu pháp 3 thứ thuốc, trithérapie) và 2009, số những người được điều trị trong vùng này đã chuyển từ 837 lên 5.413. Trong cùng thời gian, suốt trong 13 năm này, số những trường hợp chẩn đoán huyết thanh dương tính mới mỗi năm đã chuyển từ 702 xuống còn 338, hoặc một sự giảm 52%. “ Cứ thêm 100 người được điều trị bởi liệu pháp 3 thứ thuốc, số những trường hợp mới hạ 3% ”, các tác giả đã tóm tắt như vậy.

Ngược lại, các tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục đã gia tăng trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu, điều này chứng tỏ rằng những kết quả của nó không phải là do một sự giảm các hành vi sinh dục có nguy cơ (conduite sexuelle à risque), mà đúng là do hiệu quả phòng ngừa của các điều trị. Sự giảm số các nhiễm trùng mới đã có thể nhận thấy đối với các cách lây nhiễm và đặc biệt là đối với những người tiêu thụ thuốc ma túy bằng đường tiêm chích. “ Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi xác nhận lợi ích thứ hai của các điều trị, đó là làm giảm sự lan truyền của VIH. Những kết quả này khiến phải xem xét lại sự lưỡng phân được xác lập giữa sự phòng ngừa và sự điều trị của VIH ”, các tác giả đã kết luận như thế. Nhiều công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành để đánh giá tốt hơn ảnh hưởng của điều trị lên sự phòng ngừa. “ Còn có nhiều nghi vấn, GS Delfraissy đã xác nhận như vậy. Trước hết phải cố đạt được sự chấp thuận để được phát hiện bệnh và sự tuân thủ các điều trị. Cũng cần phải theo dõi những đề kháng của virus đối với các loại thuốc. Sau cùng, vấn đề phí tổn của một điều trị đối với tất cả không thể không được nói đến. Hiện nay, trên 33 triệu người bị nhiễm trùng trên thế giới, chỉ 12 triệu được phát hiện và 5 triệu được điều trị. ”

Trong lúc chờ đợi một sự triệt căn khả dĩ của virus VIH trong 40 năm đến, những chiến dịch phòng ngừa bệnh sida bằng bao dương vật được tiếp tục khắp nơi trên thế giới. Các chuyên viên đang nôn nóng chờ đợi những kết quả của một công trình nghiên cứu, được trình bày ngày mai, nhằm đánh giá hiệu quả của một gel âm đạo chứa một chất kháng virus, để phòng ngừa sự lây nhiễm đối với các phụ nữ.
(LE FIGARO 19/7/2010)


2/ MỘT NỒNG ĐỘ THẤP VITAMINE B6 CÓ THỂ ẢNH HƯỞNG CHỨC NĂNG NHẬN THỨC.

Vitamine B6 có thể là một yếu tố quan trọng, mặc dầu thường bị bỏ quên, của chức năng nhận thức (fonction cognitive) trong thời kỳ lão hóa.

Những nồng độ tăng cao của homocystéine trong huyết thanh được liên kết với một thiếu hụt nhận thức (déficit cognitif) quan trọng hơn nơi những người già lành mạnh và những bệnh nhân sa sút trí tuệ. Vai trò của các vitamine B tương quan với homocystéine không được rõ ràng trong sự liên kết này, và ít công trình nghiên cứu đã được dành cho các vitamine B. Các nhà nghiên cứu Ái Nhĩ lan đã thăm dò sự liên kết giữa tình trạng của homocystéine và của các vitamine B và sự suy dồi của chức năng nhận thức, trong một công trình nghiên cứu.

Những người trưởng thành 60 tuổi hoặc hơn, trước đây đã được trắc nghiệm chức năng nhận thức trong một công trình nghiên cứu, đã được tiếp xúc trở lại. Chức năng nhận thức của họ đã được đánh giả nhờ MMSE (Mini-Mental State Examination). Những mẫu nghiệm máu đã được phân tích để định nồng độ của homocystéine, folate hồng cầu, và các vitamine B12, B6 và riboflavine.

Lúc khởi đầu của công trình nghiên cứu, 3% những người tham gia bị thiếu hụt folate, 1% bị thiếu vitamine B12.

Sau 4 năm, nhng người tham gia tuổi trung bình 73,4 + hoặc – 7,2 tuổi, đã có một sự suy sút đáng kể của chức năng nhận thức so với lúc khởi đầu.

Sau khi phân tích, người ta đã nhận thấy rằng những người với nồng độ vitamine B6 thấp đã có 6 lần nhiều hơn bị một sự tăng nhanh của sa sút nhận thức. Người ta đã không quan sát thấy một mối liên hệ đáng kể giữa sự suy đồi nhận thức và homocystéine hay những chất chỉ dấu sinh học của folate, vitamine B12 hay riboflavine.

“ Trong công trình nghiên cứu của chúng tôi, một nồng độ thấp đối với vitamine B6 lúc khởi đầu được liên kết mạnh với một sự gia tốc của sự suy đồi nhận thức trong 4 năm. Vitamine B6 có thể là một yếu tố quan trọng, mặc dầu thường bị lãng quên, của chức năng nhận thức trong quá trình lão hóa. Cần những công trình nghiên cứu bổ sung để xác nhận những kết quả này ”, các tác giả đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 3/12/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 192 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/9/2010 )

8/ VITAMINE B CÓ THỂ LÀM GIẢM SỰ TEO NÃO.

Những liều lượng cao vitamine B có thể làm giảm 30 đến 50% sự teo não (atrophie cérébrale) nơi những người bị sa sút nhận thức (déclin cognitif) mức độ trung bình, như thế làm chậm lại tiến triển về phía bệnh Alzheimer, theo một công trình nghiên cứu của Anh, được công bố trên internet PLOS one.

Teo não xảy ra một cách tự nhiên khi tuổi tác gia tăng, nhưng quá trình teo này được đẫy nhanh trong trường hợp sa sút nhận thức mức độ trung bình, một tình trạng được đánh dấu bởi sự mất trí nhớ nghiêm trọng ảnh hưởng lên cuộc sống hàng ngày và có thể là một dấu hiệu báo trước của bệnh Alzheimer nơi những người già.

Một nhóm nghiên cứu của đại học Oxford đã khảo sát tác dụng của một nhóm vitamine B lên trên 168 người trên 70 tuổi, được chẩn đoán là bị sa sút nhận thức mức độ trung bình. Trong hai năm, một nửa trong số những bệnh nhân này đã nhận những liều lượng cao acide folique, B6 và B12. Nửa kia đã nhận một placebo. Trung bình, nhịp độ tiến triển cua teo não được chậm lại 30% trong nhóm dùng các vitamine B, và đối với vài bệnh nhân tỷ lệ này lên đến 53%. Vài vitamine B (acide folique, B6 và B12) kiểm soát nồng độ homocystéine (acide aminé) trong máu. Những nồng độ cao homocystéine được liên kết với một sự teo não gia tăng và bệnh Alzheimer.

Trong trạng thái tự nhiên, vitamine B hiện diện trong nhiều thức ăn (thịt, trứng, cá, rau xanh). Trên thế giới, 37 triệu người bị chứng sa sút trí tuệ (démence), phần lớn các trường hợp là do Alzheimer, theo OMS.
(LE SOIR 10/9/2010)


3/ SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA NÃO BỘ TỪ NAY CÓ THỂ THẤY ĐƯỢC NHỜ CHỤP HÌNH ẢNH.

Cho mãi đến nay, việc nói rằng một đứa trẻ là “ rất chín mùi so với tuổi của nó ” chỉ là sự đánh giá có tính cách cá nhân. Từ tháng chín vừa qua, không còn như thế nữa : từ nay một scanner có thể nói, chỉ trong vòng 5 phút, não bộ thuộc lứa tuổi nào. Thật vậy, những nhà nghiên cứu của đại học Washington đã thực hiện một mối liên hệ giữa cách thức phân bố hoạt động của các neurone trong các vùng của não bộ và tuổi tác của các cá thể. Để đạt được điều đó, họ đã ghi, nhờ một scanner cộng hưởng từ, hoạt động não bộ lúc nghỉ ngơi của 238 người, tuổi từ 7 đến 30, và để cho những người tham gia này tha hồ suy tưởng. Tuy nhiên, mặc dầu không có công tác đặc biệt gì phải thực hiện, não bộ vẫn hoạt động. Như thế scanner đã theo dõi, trong 5 phút, hoạt động của 150 vùng não bộ. Kết quả : trong hơn 90% các trường hợp, các “ động cơ ” hoạt động này cũng đủ phân biệt một cách đúng đắn hoạt động của các trẻ em (7 đến 1 tuổi), với hoạt động của những người lớn (24 đến 32 tuổi). Trung bình, não bộ có những đặc điểm điển hình của sự tổ chức của người lớn vào khoảng năm 22 tuổi : những nối kết giữa các vùng xa của não bộ gia tăng, và những nối kết giữa những vùng gần bị giảm. Mối liên hệ mới giữa tuổi tác và mức độ nối kết (connectivité) của não bộ có thể giúp chẩn đoán sớm các căn bệnh, tự kỷ (autisme), tâm thần phân liệt, trầm cảm, làm rối loạn hoạt động của não lúc nghỉ ngơi.
(SCIENCE ET VIE 1/2011)

4/ GIẢM AXIT URIC TRONG MÁU (HYPOURICEMIE) : MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ ?

Acide urique là một base purique và với danh nghĩa này, cũng như caféine, có thể là một chất kích thích thần kinh (neurostimulant) đánh thức trí thông minh, một chất oxy hóa (antioxydant), một chất làm cao huyết áp và một chất bảo vệ thần kinh (enuroprotecteur), như những mô hình động vật đã gợi ý như vậy. Một công trình nghiên cứu của VUB (tháng 3/ 2010) nghiên cứu động học (cinétique) của các nồng độ của acide urique trong huyết thanh ở giai đoạn cấp tính, bán cấp tính và mãn tính của tai biến mạch máu não do thiếu máu cục bộ (AVC ischémique) và mối liên hệ của nó với mức độ nghiêm trọng của những thương tổn ban đầu. Một sự giảm quan trọng của acide urique trong tuần lễ đầu tương quan với một tai biến mạch máu não nghiêm trọng hơn, tiến triển rất không thuận lợi về lâu về dài. Cũng chính stress oxydatif này gia tăng trong bệnh Parkinson và góp phần vào sự thoái hóa của các neurone dopaminergique. Acide urique, chất kháng oxy hóa (antioxydant), hiện diện tự nhiên trong máu và mô não, có nồng độ thấp nơi những bệnh nhân bị bệnh Parkinson. Nồng độ của acide urique càng thấp nhất trong máu thì nguy cơ bị bệnh Parkinson càng cao. Đối với các tác giả của điều chứng thực này, acide urique được tiêu thụ và cố định, có lẽ một phần bởi điều trị dopaminergique. Theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, gia tăng nồng độ acide urique có khả năng là một điều trị để làm chậm lại sự tiến triển của bệnh. Vẫn luôn luôn ở Hoa Kỳ, nồng độ acide urique quá thấp được đề nghị như là yếu tố nguy cơ gây tử vong nơi những bệnh nhân đuợc thẩm tích máu (hémodyalisé) và ở Áo, chính nồng độ thấp của acide urique trong thể dịch (humeur aqueuse) và nước mắt phụ nữ được liên kết với bệnh đục thủy tinh thể.
(LE GENERALISTE 9/12/2010)

5/ PARACETAMOL VÀ HEN PHẾ QUẢN TRẺ EM : KHÔNG CÓ MỘT LUẬN CỨ NÀO TÁN TRỢ CHO MỘT MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ.

Những công trình nghiên cứu quan sát được thực hiện gợi ý rằng việc sử dụng paracétamol trong những năm đầu sau khi sinh có thể được liên kết với sự xuất hiện hen phế quản, chàm hay viêm mũi[*] kết mạc trong thời kỳ thơ ấu. Tuy nhiên không một công trình nghiên cứu nào đã có thể xác định sự liên kết được quan sát giữa việc dùng paracétamol và nguy cơ gia tăng bị hen phế quản có phải là do tác dụng thật sự của paracétamol hay phải chăng sự liên kết này được giải thích bởi những bệnh mà vì chúng paracétamol đã được cho. Thật vậy, người ta đã xác lập rằng những tiền sử nhiễm trùng hô hấp, nhất là phần dưới, là một yếu tố nguy cơ của hen phế quản, và những nhiễm trùng này thường được điều trị bởi paracétamol.

Một công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện nơi những trẻ em có một nguy cơ cao phát triển một atopie (vì lý do gia đình), đã phân tích để biết sự sử dụng paracétamol trước 2 tuổi có ảnh hưởng lên sự phát triển sau này của bệnh hen phế quản hay không. Các kết quả của công trình nghiên cứu này đã không cho thấy mối liên hệ giữa việc sử dụng paracétamol và nguy cơ phát triển bệnh hen phế quản về sau này. Một mối liên kết như thế cũng đã không được quan sát nơi những trẻ em đã không dùng paracétamol trong những chỉ định khác với nhiễm trùng đường hô hấp. Công trình nghiên cứu quan sát này, một lần nữa với tất cả những hạn chế của nó, không mang lại một luận cứ nào tán trợ cho một mối liên hệ nhấn quả giữa việc sử dụng paracétamol trong thời thơ ấu và sự xuất hiện về sau này của bệnh hen phế quản. Vậy paracétamol vẫn là lựa chọn đầu tiên trong điều trị sốt nơi trẻ em.
(FOLIA PHARMACO-THERAPEUTICA 12/2010)

6/ GIÁC MẠC NHÂN TẠO : MỘT TIA HY VỌNG

Một prototype, được chế tạo từ collagène người, đã thu được những kết quả đáng phấn khởi nơi 10 bệnh nhân.

OPHTALMOLOGIE. Đó là một bước tiến mới trong thách chức của các giác mạc nhân tạo (cornée artificielle). Sau khi ghép một mô hinh giác mạc sinh tổng hợp (un modèle de cornée biosynthétique) cho 10 bệnh nhân, một nhóm các nhà nghiên cứu Canada và Thụy Điển đã cải thiện thị giác của 6 trong những bệnh nhân này, với hai năm nhìn lại. Những kết quả này, mặc dầu vẫn còn sơ khởi, đã được công bố hôm nay trong tạp chí Science Translational Medicine.

Là màng trong suốt nằm ở phía trước mắt, để cho ánh sáng đi qua hướng về phía võng mạc, giác mạc có thể bị thương tổn bởi nhiều bệnh lý : nhiễm trùng, thoái hóa. Những thương tổn có thể do chấn thương, khi bị tai nạn hay do một can thiệp ngoại khoa, nhất là để mổ đục thủy tinh thể. Dầu cho nguyên nhân là gì, sự mờ đục của giác mạc dẫn đến một sự giảm thị giác. Trên thế giới, những trường hợp mù lòa do giác mạc ảnh hưởng lên 10 triệu người, theo Tổ chức y tế thế giới, đó là nguyên nhân thứ tư gây mù lòa trên hành tinh.

Những trường hợp nghiêm trọng cần phải được ghép, từ một người hiến đã chết. Được thực hiện từ năm 1887 (đó là những ghép mô thành công đầu tiên trên người), các phẫu thuật ghép giác mạc thu được những kết quả tốt trong 50% đến 90% các trường hợp, tùy theo chỉ định. Vì giác mạc gần như không có huyết quản và các tế bào, nên nguy cơ bị thải bỏ tương đối thấp. Nguy cơ này được ngăn ngừa nhờ những điều trị tại chỗ. “ Vấn đề căn bản của những phẫu thuật ghép này, đó là sự thiếu hụt nghiêm trọng những người hiến, khiến khoảng 10 triệu người không được điều trị, và 1,5 triệu trường hợp mù lòa mới mỗi năm ”, May Griffith và các đồng nghiệp trong Science translational medicine đã nhấn mạnh như vậy. Nếu sự thiếu hụt này là quan trọng trong vài nước, nó tương đối tha miễn nước Pháp trong những năm qua. Khoảng 3000 phẫu thuật ghép giác mạc được thực hiện ở Pháp mỗi năm, “ với một thời gian chờ đợi dưới 6 tháng ”, GS Gilles Renard, trưởng khoa mắt của Hôtel-Dieu (Paris) đã đánh giá như vậy. Mặt khác các tác giả của bài báo vạch rõ những nguy cơ nhiễm trùng do virus và do các prion, phát xuất từ người hiến.

Để tránh những điều trở ngại này, các nhà nghiên cứu đang tìm những giải pháp thay thế cho những ghép giác mạc người, hoặc với những prothèse, hoặc với những mô sinh tổng hợp giống với một hay nhiều lớp của võng mạc. Chính nhóm của May Griffith và các đồng nghiệp đã chọn đường hướng này. Ông đã làm việc từ một chục năm nay về chủ đề này. Trong phòng thí nghiệm, nhỏm nghiên cứu đã tái tạo một lớp giác mạc được cấu tạo bởi collagène người. Các prototype đã được ghép cho 10 bệnh nhân, trong đó chín bệnh nhân bị kératocône, một sự thoái hóa, được thể hiện bởi sự mỏng đi của giác mạc và sự biến dạng dần dần của giác mạc thành hình nón.

Với thời gian nhìn lại hai năm, không có trường hợp thải bỏ nào được quan sát mặc dầu không có một điều trị nào. Và những tế bào thần kinh mọc trở lại trong implant, dẫn đến “ một giác mạc được tái sinh giống với mô bình thường ”. Một cách cụ thể, thị giác được cải thiện nơi 6 bệnh nhân, với một thị lực sau 24 tháng khoảng 2/10 với kính đeo, 4,8/10 với lentille de contact. “ Thị giác của họ với lentille tương đương với thị giác của những bệnh nhân được hưởng một ghép giác mạc quy ước ”, các tác giả, đang tiếp tục hoàn thiện prototype của họ trong khi những thử nghiệm mới được dự kiến, đã nhấn mạnh như vậy. “ Các nhà nghiên cứu này đã chọn những bệnh nhân với kératocône, là trong số những chỉ định dễ dàng nhất. Về các kết quả, chúng vẫn rõ rệt thua những kết quả của ghép người truyền thống, GS Reanrd đã phát biểu như vậy. Đó là một hướng nghiên cứu thú vị, nhưng vẫn còn có chặng đường phải vượt qua. ” Một phân tích được chia sẻ bởi BS Louis Hoffart, khoa mắt của CHU de là Timone (Marseille). “ Đó là một bước đầu tiên, nhưng ta chưa biết những giác mạc sinh tổng hợp này có thể được dành cho những chỉ định nào. ”

Về phần mình, thầy thuốc chuyên khoa mắt này đang thăm dò một con đường bổ sung, con đường các giác mạc giả (prothèse cornéenne) hoàn toàn được tổng hợp. Nhóm của Marseille là nhóm duy nhất ở Pháp đang trắc nghiệm mô hình của Hoa Kỳ, được gọi là Alphacor, nơi những bệnh nhân mà ghép giác mạc cổ điển bị chống chỉ định. Từ tháng 4 năm 2009, 12 bệnh nhân (trong đó có một đã có đến 7 lần ghép bị thải bỏ) đã hưởng được các giác mạc giả hoàn toàn tổng hợp này. Giác mạc giả đã phải bị lấy đi nơi 4 trong số những bệnh nhân này. “ Một sự cải thiện đã được nhận thấy nơi những bệnh nhân khác, với một thị lực từ 1 đến 3/10 ”, Louis Hoffart đã xác nhận như vậy. Một kết quả đáng phấn khởi nơi những người vốn không còn phân biệt được ánh sáng bao nhiêu. Giác mạc giả này đã được ghép cho 400 bệnh nhân trên thế giới. Những mô hình khác đang được thử nghiệm.

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/6/2009 )

9/ GHÉP GIÁC MẠC NHÂN TAỌ ĐẦU TIÊN Ở PHÁP.

Đó là một niềm hy vọng đối với những chứng bệnh mù lòa nguồn gốc giác mạc, ảnh hưởng hơn 10 triệu người trên thế giới. Ghép giác mạc nhân tạo (greffe de cornée artificielle), một can thiệp được thực hiện bởi các nhóm phẫu thuật hiếm hoi trên thế giới, trong đó chỉ có 3 ở châu Âu, vừa được thực hiện lần đầu tiên ở Pháp, ở bệnh viện Timone, Marseille, nơi một người đàn ông 42 tuổi, mà một mẫu ghép người (greffon humain) không thể thực hiện được. Sau khi bị bỏng bởi HCl xảy ra cách nay hai năm, các huyết quản đã bắt đầu xâm chiếm giác mạc bị bỏng. Vậy mà, sự tạo mạch mới (néo-vascularisation) này là một yếu tố làm gia tăng đáp ứng miễn dịch, và như vậy làm gia tăng nguy cơ bị thải bỏ. Trong trường hợp bệnh nhân này, giác mạc nhân tạo (cornée artificielle) là giải pháp duy nhất.

Các thầy thuốc nhãn khoa đã chọn lựa một giác mạc giả (kératoprothèse) được mệnh danh là AlphaCor. Đó là một đĩa có đường kính 7 mm, gồm một phần trung tâm trong suốt và một viền mờ đục, có tính xốp, được cấu tạo bởi một vật liệu sinh tương hợp (matériau biocompatible), Phema (poly2-hydroxyéthyl méthacrylate). Được ghép vào giác mạc bị bỏng, giác mạc giả này có thể được tăng trưởng bởi những tế bào của bệnh nhân. 9 cuộc giải phẫu ghép khác sẽ được thực hiện ở Marseille từ nay đến 2010.
( SCIENCE ET AVENIR 6/2009)

Thời Sự Y Học Số 180 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 28/6/2010 )

1/ MỘT GIÁC MẠC NHÂN TẠO MANG LẠI THỊ GIÁC VÀ HY VỌNG.

Ghép các giác mạc sinh tổng hợp (cornée biosynthétique) có khả năng cải thiện một cách rõ rệt thị lực, đó là thách thức được nhận lãnh bởi May Griffith, thuộc Viện nghiên cứu của bệnh viện Ottawa. Công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Science Translational Medicine, mở ra những triễn vọng đáng phấn khởi trong lãnh vực của các giác mạc nhân tạo (cornée artificielle).

Trên thế giới, hơn 10 triệu người bị những vấn đề về thị giác do một sự biến đổi hay một căn bệnh của giác mạc (cornée), tấm màn mảnh trong suốt nằm ở phía trước nhãn cầu. Và khi những rối loạn thị giác này đã trở nên quá quan trọng, các thầy thuốc không có lựa chọn nào khác là dự kiến ghép giác mạc.

Được thực hiện từ nhiều năm nay, các ghép giác mạc cổ điển, nghĩa là trên cơ sở một mẫu ghép (greffon) được lấy từ một tử thi, nói chung thu được những kết quả tốt. Và điều đó cũng dễ hiểu, vì giác mạc rất ít các tế bào và các mạch máu, nên nguy cơ bị thải bỏ rất là giới hạn. “ Vấn đề cơ bản của những loại ghép này, đó là sự thiếu hụt nghiêm trọng những người cho (donneur) ”, May Griffith đã giải thích như vậy. Nếu ở Bỉ không bị tình trạng thiếu các mẫu ghép, thì đó không phải là trường hợp đối với Trung Quốc.

Một sự thiếu hụt thúc đẫy các nhà khoa học tìm kiếm những phương pháp thay thế cho các mẫu ghép người này. Trên ghế thử nghiệm : các giác mạc giả (prothèse) và những giác mạc sinh tổng hợp (cornée biosynthèse). Chính phương pháp thứ hai đã gây sự chú ý của nhóm của BS Griffith. Một cách chính xác hơn, các nhà nghiên cứu Canada và Thụy Điển đã tái tạo một lớp giác mạc nhờ collagène người. Sau đó họ đã ghép giác mạc loại này nơi một người bị bệnh thoái hóa giác mạc và nơi chín người khác bị keratocon (tật giác mạc hình nón), một bệnh thoái hóa của mắt, được đặc trưng bởi sự mất dạng hình cầu của giác mạc. Khi đó giác mạc trở nên hình nón và có thể gây nên những biến đổi thị giác.

THỊ GIÁC ĐƯỢC CẢI THIỆN.

2 năm sau ghép, các nhà nghiên cứu rất là phấn khởi : “ Không một giác mạc nào được ghép bị thải bỏ. Chúng vẫn hoàn toàn hoạt động và đã góp phần làm tái sinh những tế bào của giác mạc và của những dây thần kinh bị thương tổn trong lúc giải phẫu. Ngoài ra, 6 trong số 10 người được ghép đã thấy thị lực của mình được cải thiện. Công trình nghiên cứu này lần đầu tiên cho thấy rằng một giác mạc được tạo nên một cách nhân tạo có thể hội nhập vào trong mắt người và kích thích sự tái sinh các mô. Với nhiều nghiên cứu hơn, phương pháp này có thể cho phép phục hồi thị giác của hàng triệu người.

Một sự phấn khởi được chia sẻ bởi Minh-Tri Hua, một thầy thuốc chuyên về mắt của CHR de la Citadelle (Liège, Bỉ), tuy nhiên vẫn tỏ ra thận trọng : “ Đó là một công trình rất đẹp. Tuy nhiên, kỹ thuật này phải được cải thiện trước khi có thể được áp đúng nơi những bệnh nhân của chúng tôi. Ngoài ra, kỹ thuật này không cho phép phục hồi một giác mạc chức năng nơi những bệnh nhân bị dystrophie endothéliale de Fuchs, chỉ định ghép giác mạc đầu tiên ở Bỉ ”.
(LE SOIR 27/8/2010)


7/ HOẠT ĐỘNG THỂ THAO GIÚP CHỐNG LẠI CẢM MẠO

Những người, thực hiện 5 lần mỗi tuần một hoạt động vật lý ít nhất 20 phút, thường ít bị mắc phải chứng cảm mạo hơn so với những người nhàn rỗi không hoạt động. Theo một công trình nghiên cứu, được tiến hành bởi David Nieman và các cộng sự thuộc đại học Bắc Caroline (Hoa kỳ), trung bình số ngày bị cảm mạo nơi những người thể thao là dưới 5 trong một thời kỳ 12 tuần, so với hơn 8 nơi những người thực hiện một hoạt động vật lý dưới một lần mỗi tuần. Còn hơn thế nữa, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng cũng sẽ giảm 41%. Theo các nhà nghiên cứu, hoạt động vật lý hoạt hóa sự tuần hoàn của những tế bào miễn dịch chịu trách nhiệm phát hiện và tổ chức sự chống lại những tác nhân gây bệnh và làm giảm tác dụng có hại của các hormone de stress lên tính miễn dịch. Một cách lạ kỳ hơn, nhóm nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng niềm tin cho rằng mình khỏe mạnh cũng làm giảm nguy cơ mắc phải một trong 200 virus can dự vào trong những nhiễm trùng của bộ máy hô hấp trên này. Những kết quả này là thành quả của quá trình quan sát trong 12 tuần trong suốt mùa thu và mùa đông, của một mẫu nghiệm 1002 người tuổi từ 18 đến 85.
(SCIENCE ET VIE 1/2011)

8/ TA CÓ THỂ CHỮA LÀNH MỘT RUNG NHĨ TÁI PHÁT ?

Professeur Antoine Leenhardt
Service de cardiologie et Centre de référence des
maladies cardiaqueshéréditaires.
Hopital Lariboisière
Université Paris-VII.


Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường xảy ra nhất. Tỷ lệ lưu hành của nó gia tăng một cách đều đặn với sự lão hóa của dân chúng và rung nhĩ được liên kết với một sự gia tăng của tỷ lệ tử vong, khi các bệnh nhân có một bệnh tim tiềm tàng.

Rung nhĩ sinh ra, đối với bệnh nhân, nhiều loại triệu chứng khác nhau như hồi hộp, tim nhịp nhanh và không đều, một mức độ khó thở nào đó và đôi khi những biến chứng nghiêm trọng như một tai biến mạch máu não, một cục máu đông làm tắc một động mạch của não bộ, hay suy tim, tim sau cùng “ mệt mỏi ” vì đập quá nhanh và không đều.

Điều trị của một rung nhĩ tái phát có mục đích tránh những biến chứng bằng cách làm loãng máu nhờ những chất kháng đông và làm tim chậm lại bằng những thuốc thích ứng. Sự duy trì một nhịp tim bình thường (nhịp xoang) cũng là một mục tiêu. Cho đến cuối những năm 1990, để đạt mục đích này chủ yếu ta dùng những thuốc được gọi là chống loạn nhịp (antiarythmique), mà giờ đây ta biết được là tính hiệu quả chỉ tương đối vừa phải và những tác dụng phụ đôi khi quan trọng, làm việc sử dụng chúng trở thành tế nhị. Những loại thuốc này không cho phép chữa lành rung nhĩ như ta có thể chữa lành một bệnh nhiễm trùng nhờ những kháng sinh. Chúng cho phép hạn chế những hậu quả và vai trò của chúng có thể nói là “ kềm hãm ” trái tim. Nếu ta ngừng điều trị, các triệu chứng tái xuất hiện như thể không có gì đã được thực hiện cả.

Một cuộc cách mạng đã xuất hiện vào cuối những năm 1990 với sự cắt bỏ rung nhĩ bằng catheter. Thuật ngữ hơi thô lỗ cắt bỏ (ablation) thật ra chỉ một sự đốt (bằng nóng hay hiếm hơn bằng lạnh) một phần nhỏ của mô cơ nơi các tâm nhĩ, nguồn gốc của rung nhĩ, bằng một ống thông (cathéters) được đưa vào trong tim qua tĩnh mạch ngoại biên, trong một thủ thuật được thực hiện bởi một thầy thuốc tim chuyên về những rối loạn nhịp tim (rythmologue), dưới gây mê tại chỗ.

VI PHẪU THUẬT TRONG TIM.

Đó là một thủ thuật, hiện nay rất được tiêu chuẩn hóa và thời gian thực hiện tương đối dài (từ 1 giờ 30 đến 3 giờ), cần một trình độ chuyên môn cao của kíp y khoa và trợ lý. Nó có thể tương tự với ngoại khoa vi thể trong tim (microchirurgie intracardiaque) mà không cần phải mở tim cũng không gây nên sẹo mổ. Thủ thuật cắt bỏ cho phép nhịp tim trở lại bình thường (nhịp xoang) trong khoảng 70% các trường hợp rung nhĩ tái phát. Thời gian nhìn lại, do vẫn còn hạn chế đối với những thủ thuật này, nen không cho phép đưa ra những con số trong một khoảng thời gian rất kéo dài và một công trình nghiên cứu Pháp, được mệnh danh Evablaf, trong những tháng đến sẽ cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin hơn trên một nhóm gần 400 bệnh nhân được theo dõi trong 4 năm.

Thế thì nơi những bệnh nhân đã được hưởng một sự cắt bỏ thành công, ta có thể nói là chữa lành được bệnh rung nhĩ tái phát hay không ? Nếu thuật ngữ chữa lành phải được hiểu theo đúng định nghĩa là sự biến mất vĩnh viễn của bệnh lý được điều trị, thì câu trả lời là không. Một mặt, thời gian nhìn lại còn quá ngắn để có thể xác nhận rằng những bệnh nhân này được loại bỏ vĩnh viễn khỏi loạn nhịp tim. Mặt khác, rung nhĩ là một quá trình gồm nhiều nguyên nhân. Rất có thể rằng một bệnh nhân được xem như “được chữa lành” bởi thủ thuật cắt bỏ trong thì đầu, có thể, trong suốt cuộc đời và đặc biệt, do sự kiện lão hóa, do sự xuất hiện một bệnh cao huyết áp hay những bệnh lý khác, lại phát triển rung nhĩ, qua một cơ chế khác.

CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG.

Nếu sự định nghĩa chữa lành rộng rãi hơn và bao gồm chất lượng sống và sự biến mất của các triệu chứng, đây là vấn đề quan trọng đối voi những bệnh nhân này, khi đó câu trả lời chông tranh cãi được là dương tính. Biết là bao nhiêu các bệnh nhân đã thấy đời sống của họ trở lại bình thường, với sự biến mất của mọi khó chịu ! Dĩ nhiên, vài người thỉnh thoảng cảm thấy một sự gia tăng nhẹ của nhịp tim, chứng tỏ rằng “ vẫn còn có cái gì đó nho nhỏ ”, nhưng cuộc sống của họ được cải thiện đến độ tất cả điều này được quên đi nhanh chóng. Khi đó ta có thể nói là chữa lành mặc dầu vẫn còn phải thận trọng và tiếp tục được theo dõi đều đặn. Thuật ngữ cách mạng đã được sử dụng, bởi vì thủ thuật cắt bỏ đúng là một cuộc cách mạng. Trước đây chưa bao giờ có thể nghĩ rằng một ngày nào đó, một bệnh nhân bị bệnh rung nhĩ lại có thể được chữa lành. Tuy nhiên, thủ thuật này không có thể và không được đề nghị cho tất cả các bệnh nhân mang một rung nhĩ. Thật vậy, ngoài những tỷ lệ thành công còn xa với lý thưởng, thủ thuật bao gồm những nguy cơ do kỹ thuật, điều này bien minh cho một sự đánh giá rõ ràng tương quan lợi ích/nguy cơ được thực hiện cho mỗi bệnh nhân, bởi các thầy thuốc chuyên về nhịp tim (rythmologue), làm việc trong những trung tâm được chuẩn nhận cho thủ thuật này.

Những trung tâm này và những thầy thuốc chuyên về nhịp tim học được đào tạo cho những kỹ thuật này, hiện quá ít ở Pháp. Những điều suy nghĩ này không phải để làm lo ngại các độc giả bởi vì một đại đa số các trường hợp rung nhĩ không có chỉ định cắt bỏ. Một sự cải thiện rất rõ rệt chất lượng sống, nếu không là một sự chữa lành, có thể có được nhờ sự sử dụng, thích ứng cho mỗi trường hợp, những thứ thuốc mà chúng ta hiện có và tùy thuộc vào những thứ thuốc sẽ có trong những tháng rất gần đây, bởi vì, cũng trong lãnh vực này, một sự thay đổi lớn đang được trông chờ, vì lợi ích lớn nhất cho các bệnh nhân của chúng ta.
(LE FIGARO 29/11/2010)

9/ LÀM SAO DỨT ĐIỂM CHẤY RẬN ?

Hiện có những điều trị có hiệu quả chống lại những ký sinh trùng này, có thể gây nên những bội nhiễm.

SANTE PUBLIQUE. Với ngày tựu trường, các cửa kính của các hiệu thuốc bị xâm chiếm bởi những quảng cáo cho các thuốc chống chấy rận. Thật khó cho các bố mẹ không biết loại thuốc nào thật sự có hiệu quả, bởi vì các ký sinh trùng này đã trở thành đề kháng. Trái với các thành kiến, sự hiện diện của chấy rận không thể quy cho một tình trạng vệ sinh kém. Ta có thể gội tóc 3 lần mỗi tuần mà vẫn có chí rận !

Ở Pháp, người ta ước tính, theo những công trình nghiên cứu, rằng giữa 2% và 20% các trẻ em, vào một lúc nào đó, bị nhiễm bởi các ký sinh trùng này. Việc khám phá chúng không được xem nhẹ bởi vì sự hiện diện của chúng có một ảnh hưởng tâm lý xã hội quan trọng. Những ấn bản khoa học đã cho thấy rằng những trẻ em mang chí khi ngủ bị nhiều ác mộng hơn những trẻ em khác.“ Đó là một bệnh ký sinh trùng, giáo sư Olivier Chosidow, trưởng khoa da của bệnh viện Henri-Mondor (Créteil, Val-de-Marne) đã tóm tắt như vậy. Nếu các trẻ gãi quá, ta có thể thấy xuất hiện các bội nhiễm.”

Các loại thuốc được sử dụng để phòng ngừa phải được cấm chỉ bởi vì chúng không có hiệu quả. Tệ hại hơn, ngay cả những sản phẩm này bị cáo buộc là làm dễ sự đề kháng của các con chí. Vậy tốt nhất là thực hiện một công tác điều tra phát hiện một lần mỗi tuần bằng cách xem xét kiểm tra ti mỉ đầu của các con mình. Trong trường hợp có ký sinh trùng, khuyên nên báo nhà trường để điều trị được thực hiện cho tập thể các em. “ Trước hết tôi khuyến nghị thử một chất diệt côn trùng, GS Chosidow đã tâm sự như vậy. Sau đó nên thử một sản phẩm thuộc một lớp dược liệu khác. ”

Nhiều bố mẹ chống lại các thuốc diệt côn trùng. Họ cáo buộc các sản phẩm này gây độc, và thay vì chúng, họ ưa thích tinh dầu (huile essentielle) hơn cũng như những thiết bị y khoa khác. Nhưng những thiết bị này đã không mang lại bằng cớ hiệu quả và không phải là vô hại. Cũng được khuyên sử dụng loại lược đặc biệt để lấy đi các con chí. Sự lây truyền gián tiếp, đặc biệt qua quần áo lót, là ngoại lệ. Nhưng trong trường hợp này, cần phải rửa khăn trải giường trên hơn 50 phút. Sau hết, nếu mặc dầu đã sử dụng hai loại thuốc thuộc những lớp dược lý khác nhau (và cách nhau 8 ngày bởi vì trứng chí cần khoảng thời gian này để nở), ta vẫn không trừ khử được các con ký sinh trùng này, cần thăm khám một thầy thuốc. Khi đó ông ta sẽ kê đơn một điều trị bằng đường miệng có hiệu quả hơn.

ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐƯỜNG MIỆNG.

Vào tháng ba vừa qua, một nhóm những nhà nghiên cứu của Inserm đã trắc nghiệm những hiệu quả của ivermectine, một loại thuốc được cho bằng đường miệng (đã được sử dụng để chống lại ghẻ và và bệnh nhiệt đới) và tác dụng nhờ phong bế sự dẫn truyền thần kinh trong hệ thần kinh trung ương của côn trùng. Công trình nghiên cứu này, được lèo lái bởi GS Chosidow, đã công bố những kết quả trong tạp chí Hoa Kỳ The New England Journal of Medicine. Theo kết quả này, 95% trong số 398 người đã được điều trị bằng ivermectine bằng đường miệng đã trừ khử được chí 15 ngày sau khi bắt đầu điều trị, so với 85% trong số 414 bệnh nhân được điều trị với malathion, một chất chống ký sinh trùng.

Mặt khác, “ 78% các bệnh nhân đã ưa thích uống thuốc viên hơn (chia làm hai lần cách nhau 15 ngày), so với 13% thích nước thuốc (lotion) hơn, Bruno Giraudeay, nhà nghiên cứu thuộc trung tâm nghiên cứu lâm sàng của Inserm, đã báo cáo như vậy. Dầu sao uống thuốc đơn giản hơn là giữ trên đầu một sản phẩm trong 10 giờ. Hiện nay, ivermectine không có giấy phép đưa ra thị trường, BS kê toa phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.

GS Chosidow cho rằng chấy rận có khả năng gây nguy hại quan trọng. Thật vậy, ở Hoa Kỳ năm nay, người ta vừa tìm thấy nơi những người vô gia cư, các con vi khuẩn trên các con chí (poux de tete), mà thường là được mang bởi các con rận (poux de corps). Thế mà những vi khuẩn này lại là nguyên nhân của những bệnh nghiêm trọng như bệnh typhus (bệnh sốt chấy rận). “ Hiện nay không có gì phải hớt hãi, nhà chuyên gia đã nói như vậy, nhưng không loại trừ khả năng trong vài năm nữa, người ta sẽ tìm thấy loại vi khuẩn này trong các con chí của các trẻ em ”.Vậy cần phải điều trị một cách hiệu quả, ở mỗi cá nhân và tập thể, những người mang các con ký sinh trùng này.
(LE FIGARO 20/9/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 168 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 5/4/2010 )

10/ CHỐNG CHÍ RẬN, MỘT ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐƯỜNG MIỆNG

Hiệu quả của thuốc uống cao hơn hiệu quả của các thuốc thoa cổ điển.

DERMATOLOGIE. Tất cả mọi gia đình hay hầu như tất cả đã trải qua những giây phút trong đó mỗi người phải chịu xoa trên da đầu một thuốc chống ký sinh trùng và phải bắt đầu lại tất cả 15 ngày sau, vì lẽ điều trị không có hiệu quả. Ở Pháp, theo các công trình nghiên cứu, từ 2 đến 20% các trẻ em học tiểu học, vào một lúc nào đó, bị xâm nhập bởi các con chí (poux de tête). Các trẻ từ 3 đến 11 tuổi đặc biệt dễ bị thương tổn, do các hành vi xã hội của chúng (các trò chơi), làm dễ sự lan tràn của các ký sinh trùng.

Trong những năm 1990, giáo sư Olivier Chosidow, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc bệnh viện Henri-Mondor, Créteil (Val-de-Marne), và nhóm nghiên cứu của ông đã nhận thức được rằng các khả năng đề kháng chống lại các thuốc xức (lotions) cổ điển phát triển nhanh chóng, đặc biệt là do áp lực của sự chọn lọc liên kết với sự sử dụng gia tăng của chúng. Vài trong những ký sinh trùng này khi đó không nhạy cảm với các thuốc diệt côn trùng, malathion hay pyréthrine, được chứa trong những sản phẩm này.

Giáo sư Chosidow, cộng tác với Bruno Giraudeau, nhà nghiên cứu của trung tâm điều tra lâm sàng của Inserm, đã quyết định đánh giá, trong bối cảnh một nghiên cứu lâm sàng, tính hiệu quả chống chí của ivermectine, một thứ thuốc được cho bằng đường miệng (đã được sử dụng chống ghẻ) với liều lượng 400 mg mỗi kg thể trọng và ông đã so sánh điều trị bởi thứ thuốc này với một điều trị tại chỗ cổ điển (malathion, thuốc xức 0,5%). Tổng cộng, 812 người bị nhiễm chí xuất phát từ 376 gia đình (ở Pháp, Anh, Ái Nhĩ Lan, Israel) đã được điều trị hai lần cách nhau 7 ngày với một trong những thứ thuốc này. Những kết quả, được công bố hôm qua trong tạp chí có uy tín của Hoa Kỳ, The New England Journal of Medicine, hoàn toàn có sức thuyết phục : 95% trong số 398 người đã nhận ivermectine bằng đường miệng đã khử được các con chí 15 ngày sau khi bắt đầu điều trị, so với 86% của 414 bệnh nhân được điều trị với malathion.

CHƯA CÓ TRÊN THỊ TRƯỜNG.

Đối với giáo sư Olivier Chosidow, người điều hành công trình nghiên cứu này, không còn nghi ngờ gì nữa : “ Trong khi các điều trị cổ điển chống chí không có hiệu quả, việc sử dụng ivermectine hai lần cách nhau 7 ngày mang lại những kết quả rất tốt và là một thay thế thật sự đối với các thuốc thoa chống chí cổ điển.”. Hiện nay, thuốc này không có giấy phép cho lưu hành trên thị trường, mặc dầu hãng bào chế đã yêu cầu. “ Tuy nhiên, Olivier Chosidow nói thêm, thuốc này sẽ chỉ được sử dụng ưu tiên hai, thậm chí ưu tiên ba, nếu ta muốn tránh các con chí thích nghi và cũng trở nên đề kháng đối với ivermectine.”

Không có tác dụng phụ nào liên kết với thuốc đã được quan sát trong khung cảnh của thử nghiệm điều trị này. Nhưng số người được tuyển mộ vẫn còn thấp và cần những công trình khác để đảm bảo tính vô hại hoàn toàn của dược phẩm.
(LE FIGARO 12/3/2010)

Thời Sự Y Học Số 169 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/4/2010 )

9/ NHỮNG CON CHÍ LÀ NGUỒN GỐC CỦA CÁC CON RẬN.

Các con rận (poux de vêtements), chịu trách nhiệm các trận dịch rất giết người (sốt các chiến hào, typhus, borréliose récurrente) khởi đầu là những con chí (poux de tête). Thật vậy, về phương diện di truyền chúng giống hệt nhau. Chính đó là điều mà một nhóm nghiên cứu Pháp-Mỹ vừa mới phát hiện (Đại học Địa trung hải, CNRS, Marseille và các đại học của Floride và Illinois, Hoa Kỳ).

Các con chí (Pediculus humanus capitis), nuôi sống nhờ da đầu và đẻ trứng trong các sợi tóc, và các con rận (Pediculus humanus humanus), dinh dưỡng trên phần còn lại của cơ thể và sống trong những nếp gấp của các quần áo bẩn, mãi đến nay được xem như những loài khác nhau. Bằng phân tích di truyền các chuỗi rất biến thiên của bộ gène (génome) của các con chí rận, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng không có thể phân biệt được con chí với con rận trên bình diện di truyền (ADN ty lạp thể và nhân).

Wenjun Li và các đồng nghiệp đưa ra giả thuyết cho rằng những khác nhau về sinh lý và kiểu hình (phenotype) giữa hai loại chí rận được kiểm soát bởi một số biến dị rất giới hạn. Trong những điều kiện vệ sinh kém, con chí có thể lan tràn nhanh chóng và vài trong số những con chí này có thể định cư trên quần áo và sinh ra một loại rận có khả năng làm nảy sinh một dịch bệnh nhiễm khuẩn.

Nếu giả thuyết này được kiểm chứng, nó sẽ cho phép giải thích tại sao khi những điều kiện vệ sinh suy thoái nhanh chóng, điều đó trùng hợp với những đợt dịch bệnh rận. “ Hơn nữa, nếu các con chí là những nơi tàng trữ cho các con rận và nếu mọi sự suy thoái của những điều kiện y tế và xã hội của các dân cư gây nên sự tạo thành những quần thể rận mới, khi đó các quần thể chí quả là một mối đe dọa tiềm tàng đối với con người lớn hơn điều mà tưởng hiện nay ”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy.

Những kết quả này cho thấy rằng vậy các con chí ở trong một tình trạng thường trực gây dịch tại chỗ và rằng cần phải trừ khử chúng. Đáng tiếc thay, người ta biết rằng trong các nước phát triễn, các con chí càng ngày càng trở nên đề kháng với các thuốc diệt côn trùng..
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/4/2010)


10/ CÁC TẾ BÀO CỦA CÁC LỢI RĂNG CÓ THỂ SỬA CHỮA CÁC ĐỘNG MẠCH.

Một cuộc gặp gỡ bất ngờ làm nảy sinh một hướng điều trị độc đáo. Một mặt : một thầy thuốc chuyên khoa tim của bệnh viện Georges-Pompidou (Paris), Antoine Lafont, chứng thực rằng các động mạch của các bệnh nhân của ông rộng ra để tạo thành những phình động mạch (anévrisme), trong khi thành của chúng thoái hóa và mất tính đàn hồi. Mặt khác : một thầy thuốc khoa răng (odontologue) của CHU Henri-Mondor (Créteil), Bruno Gogly, quan sát rằng niêm mạc của các lợi răng, chịu những tấn công thường trực, có những khả năng làm thành sẹo lạ thường. Từ đó nảy sinh ra ý tưởng : sử dụng các nguyên bào sợi (fibroblaste) của lợi răng, những tác nhân chính của quá trình, để sửa chữa thành động mạch bị thương tổn của phình động mạch. “ Những kết quả thu được nơi thỏ đã cho phép xác nhận quan niệm về liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) này, Antoine Lafont đã xác nhận như vậy. Các nguyên bào sợi bám chặt vào trong thành của động mạch chủ và tham dự vào quá trình điều biến (remodelage) của cấu trúc ngoài tế bào ”. Ngày nay các thầy thuốc bất lực khi phải đối diện với sự phát triển của các phình động mạch : vậy những công trình này là một hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn. Những áp dụng khác được dự kiến để sửa chữa những thương tổn của da và các dây chằng.

(SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (27/12/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969