Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 73
Lượt truy cập: 1008389
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH

Thời Sự Y Học Số 24
B.S NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ CAO HUYẾT ÁP : NGUYÊN NHÂN NẰM TRONG NÃO BỘ.
Một nhóm nghiên cứu các nhà khoa học người Anh đã nhận diện trong não bộ một protéine được xem là nguyên nhân của cao huyết áp, trong khi đó nói chung nguyên nhân của chứng cao huyết áp thường được quy cho do thận hoặc các động mạch. Đây là kết quả của một công trình nghiên cứu được đăng tải trên báo Hypertension.Các nhà nghiên cứu của Đại Hoc Bristol đã phân lập protéine JAM-1 trong não bộ và đã khám phá rằng protéine này giam hãm các bạch cầu, gây phản ứng viêm làm trở ngại tuần hoàn máu và làm giảm tiếp vận oxygène đến não bộ. Theo các nhà nghiên cứu, cao huyết áp là một bệnh viêm mạch máu của não bộ, hay nói đúng hơn là một bệnh có nguồn gốc huyết quản.
“ Hiện nay các nghiên cứu cơ bản này sẽ mở ra khả năng điều trị những bệnh nhân cao huyết áp không đáp ứng với các thuốc chống cao áp cổ điển, bằng những thuốc làm giảm viêm huyết quản và làm gia tăng lưu lượng máu đến não bộ. Giáo sư Julian Paton, người điều khiển dự án, đã giải thích như vậy.” Thách thức mới là cần hiểu loại viêm nào là nguyên nhân để biết cần sử dụng những loại thuốc nào”. Ông nói thêm như thế và nhấn mạnh rằng JAM-1 có thể chỉ ra những hướng mới để điều trị bệnh cao huyết áp.
Giáo sư Jeremy Pearson, phụ trách British Heart Foundation, đã chào đón khám phá này: “Công trình nghiên cứu gây ấn tương này thật là quan trọng bởi vì đã đưa ra những nguyên nhân bất ngờ của cao huyết áp”.
Tuy nhiên, đối với Giáo sư MacGregar, chủ tịch Hiệp Hội Cao Huyết Áp Anh, thì những công trình này còn rất sơ bộ và cần phải được xác nhận. Cao huyết áp đặc biệt có thể đưa đến nhồi máu cơ tim và gây tổn hại thận. Yếu tố nguy cơ tim mạch này gia tăng với tuổi tác. Ở Pháp cứ 3 người thì có một người bị cao huyết áp và trên thế giới có hơn 600 triệu người bị chứng bệnh này.
(LE FIGARO 16/4/2007)
2/ NHỮNG HẠN CHỀ CỦA TIÊM CHỦNG CHỐNG BỆNH THỦY ĐẬU

Ở Hoa Kỳ, chính quyền đã khuyên tiêm chủng đại trà chống bệnh thủy đậu (varicelle).
Ngày nay, họ khám phá rằng thời gian miễn dịch sau khi chủng ngắn và khuyên cần được tái tiêm chủng cho tất cả mọi người. Thuốc chủng chống bệnh thủy đậu ở Hoa Kỳ đã được khuyên sử dụng triệt để cho tất cả các nhũ nhi bắt đầu từ năm 1995.
Trái lại ở Pháp, việc chủng ngừa chỉ được đề nghị cho một vài nhóm có nguy cơ, như các trẻ bi suy giảm miễn dịch hay bệnh tật và các thiếu niên đã không bao giờ bị bệnh này.
Một công trình nghiên cứu vừa được công bố mới đây trong New England Journal of Medi - cine tiết lộ rằng tính miễn dịch có được với thuốc chủng này không hẳn sẽ là vĩnh viễn vì lẽ sau 10 năm, một số người được tiêm chủng cuối cùng vẫn mắc phải bệnh thủy đậu.
Điều này không phải là không có hậu quả. Thật vậy,khi ban thủy đậu phát ra trong thời kỳ thơ ấu thì bệnh hiền tính hơn nhiều so với lúc phát bệnh ở tuổi trưởng thành. Sự tiêm chủng đại trà làm chậm lại tuổi xuất hiện của bệnh thủy đậu, do đó có nguy cơ gây bệnh nặng hơn.
Công trình nghiên cứu này của New England Journal of Medicine đã khiến cho giới phụ trách y tế Hoa Kỳ khuyên kể từ nay cần phải được tái tiêm chủng chồng bệnh thủy đậu cho các trẻ từ 4 đến 6 tuổi.
387 TỬ VONG 20 NĂM
Bệnh thủy đậu là một bệnh thông thường, có nguồn gốc siêu vi khuẩn và rất phổ biến, gây bệnh cho 700.000 người mỗi năm ở Pháp, chủ yếu trong những năm đầu của đời sống.
Bệnh thủy đậu gây sốt vừa, nổi ban ngứa ở da và mệt mỏi trong khoảng 8 ngày. Một khi lành bệnh, bệnh nhân được miễn dịch chống lại nhiễm trùng nhưng sự nhiễm trùng này có thể được phục hoạt và đôi khi gây bệnh zona.
Trong vài trường hợp hiếm hoi, các biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra. Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 9/2003 trong Thông Báo Dịch Tể Hàng Tuần, tỷ lệ nhập viện phòng hồi sức trước 14 tuổi là 2,6 trường hợp trên 100.000 trẻ em bị bệnh thủy đậu và tỷ lệ tử vong khoảng 0,4 trên 100.000 trường hợp mỗi năm.
Mặt khác, một nghiên cứu được thực hiện bởi trung tâm theo dõi các tử vong của Inserm tiết lộ rằng trong suốt 20 năm qua, 387 trường hợp tử vong gây nên bởi thủy đậu và các nạn nhân chủ yếu là những người trưởng thành.
Việc tiêm chủng có hệ thống các nhũ nhi ở Hoa Kỳ ngay từ năm 1995 trước hết đã cho phép ghi nhận một sự giảm sút rõ rệt số trường hợp bị thủy đậu, số các biến chứng và các phí tổn do bệnh này gây ra. Mặc dẩu sự thành công của chương trình tiêm chủng, các vụ dịch thủy đậu vẫn đều đặn xảy ra, điều nghịch lý là lại xảy ra trong các trường học, nơi tỷ lệ chủng ngừa đạt mức rất cao. Điều này có thể được giải thích như sau: cần phải có một sự tiếp xúc với siêu vi trùng thủy đậu để nâng cao đều đặn tính miễn dịch. Những nồng độ kháng thể đặc hiệu đã chứng tỏ rằng 15% trẻ mặc dầu được tiêm chủng đã không được bảo vệ đầy đủ và có thể bị nhiễm trùng.
Để đánh giá thời gian miễn dịch sau khi tiêm chủng, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, trong công trình Varicella Active Surveillance Project, đã quyết định quan sát 350.000 trẻ ở California (được tiêm chủng hay không) trong vòng 10 năm (từ 1995 đến 2004) và lập danh sách tất cả các trường hợp thủy đậu có triệu chứng lâm sàng xảy ra nơi các trẻ này.
Các kết quả được công bố ngày 15 tháng 3 vừa rồi trong New England Journal of Medicine thật là đặc biệt lý thú. Một mặt, sự giảm sút quan trọng số trường hợp thủy đậu ở các trẻ được chủng ngừa và không được chủng ngừa. Năm 2003 và 2004, 420 bệnh nhân đã được nghi nhận, so với 2.794 trường hợp xảy ra vào năm 1995. Tuy nhiên cũng có vẻ như là vào những năm 2002,2003 và 2004, số trường hợp thủy đậu không giảm trong khi đó số trẻ được tiêm chủng lại gia tăng.
Năm 1996, 1% các trường hợp thủy đậu xảy ra nơi các trẻ được tiêm chủng, so với 60% vào năm 2004. Mặt khác, theo công trình nghiên cứu này, tỷ lệ gây bệnh thủy đậu đạt mức cao nhất xảy ra vào khoảng 5 tuổi năm 1995, từ nay xuất hiện chậm hơn, vào khoảng 10 tuổi Đối với trẻ không được tiêm chủng, mức cao nhất này xảy ra vào khoảng 12 tuổi, còn đối với trẻ được tiêm chủng thì khoảng 6-7 tuổi. Sau cùng, bệnh thủy đậu xảy ra ở trẻ được tiêm chủng cũng như không được tiêm chủng, vào năm 2004 nghiêm trọng hơn là vào năm 1995, bởi vì bệnh xảy ra lúc bệnh nhân ở lứa tuổi cao hơn.
“Người Mỹ từ nay khuyên tái tiêm chủng. Nhưng không ai có thể nói là sự bảo vệ miễn dịch thu được có vĩnh viễn hay không, dầu cho có tái tiêm chủng chăng nữa. Cần phải tiền hành những nghiên cứu khác để giải quyết vấn đề này.”Bs Michel Rosenheim (chuyên viên dịch tễ của Bệnh Viện Pitié-Salpetrière) đã giải thích như vậy. Điều này một lần nữa chứng tỏ rằng cần phải suy nghĩ nhiều trước khi phát động chủng ngừa đại trà. Cần phải dự kiến các hiệu quả tai hại và tất cả tình huống trước khi có một quyết định như vậy”
(LE FIGARO 11/4/2007)
3/ HAI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN KẾT VIỆC SỬ DỤNG HORMONE VỚI GIA TĂNG NGUY CƠ UNG THƯ

ATLANTA. Các nghiên cứu từ hai lục địa đã ghi nhận nhiều tin xấu hơn về việc điều trị thay thế bằng hormone (hormone replacement therapy) và đưa ra bằng chứng chắc chắn nhất đến nay có được là điều trị thay thế bằng hormone có thể làm gia tăng nguy cơ bị ung thứ vú và liên kết với tỷ lệ bị ung thư buồng trứng hơi cao hơn so với người không sử dụng.
Các con số mới do chính phủ Mỹ đưa ra cho thấy tỷ lệ ung thư vú đã ổn định năm 2004 sau khi giảm rõ năm 2003 (là năm sau khi hàng triệu phụ nữ ngưng dùng hormone vì một công trình nghiên cứu quy mô lớn đã liên kết việc sử dụng thuốc này với các tỷ lệ mắc phải bệnh tim, đột quy và ung thư vú cao hơn). Các chuyên gia đã nói rằng tỷ lệ ung thư vú ổn định chứng tỏ rằng sự giảm sút tỷ lệ ung thư năm 2003 là điều có thật chứ không phải do tình cờ.
Từ năm 2001 đến 2004, tỷ lệ ung thư vú giảm hầu như 9%, một sự giảm đột ngột, các nhà nghiên cứu đã báo cáo trong The New England Journal of Medicine. Khuynh hướng này lai càng rõ nét hơn đối với dạng ung thư thường xảy ra nhất: các ung thư mà sự tăng trưởng được duy trì bởi các hormones.Tỷ lệ này giảm 15% nơi các phụ nữ tuổi từ 50 đến 69,nhóm bệnh nhân chủ yếu được điều trị thay thế bằng hormone. Đồng thời, một nghiên cứu trên khoảng 1 triệu phụ nữ ở Anh cho thấy rằng 20% trong số những người sử dụng hormone sau tuổi mãn kinh có khả năng phát triển và chết vì ung thư buồng trứng hơn là những phụ nữ không bao giờ sử dụng hormone thay thế. Công trình nghiên cứu này được công bố on-line trên The Lancet
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 20/4/2007)
4/ MÃN KINH : ĐIỀU TRỊ LÀM GIA TĂNG UNG THƯ BUỒNG TRỨNG

Một công trình nghiên cứu rộng rãi của người Anh chứng tỏ rằng điều trị thay thế bằng hormone (THS=traitement hormonal substitutif) làm gia tăng nhẹ nguy cơ bị ung thư buồng trứng. Hầu như mỗi tuần đều có một công trình khoa học phát hiện một lợi ích hay một nguy cơ mới của điều trị chứng mãn kinh bằng các hormone thay thế kết hợp oestrogènes và progestérone. Tuần này, chính tạp chí Anh, The Lancet, công bố trên site Internet những kết quả của một điều tra phát hiện rằng điều trị thay thế bằng hormone làm gia tăng nguy cơ ung thư buồng trứng. Đặc biệt các tác giả tính toán rằng ở Anh điều trị mãn kinh là nguyên nhân của thêm 1300 trường hợp ung thư buồng trứng và của 1000 tử vong trong vòng 15 năm (theo một phân tích mới của MWS (Million Women Study).
Điều trị thay thế bằng hormone, nhằm chống lại các cơn bừng (bouffées để chaleur) và ngăn ngừa chứng loãng xương (ostéoporose), đã được chỉ định rộng rãi cho đến năm 2002, là năm một thử nghiệm điều trị ở Hoa Kỳ đã kết luận rằng các nguy cơ cao hơn là lợi ích trong việc điều trị thay thế bằng hormone. Nguy cơ chủ yếu được đưa ra là nguy cơ ung thư vú.
Công trình nghiên cứu MWS đã theo dõi trong hơn 6 năm, 948.575 phụ nữ mãn kinh ở Vương Quốc Anh, không có tiền sử ung thư hay cắt bỏ 2 bên buồng trứng (trong đó 30% sử dụng THS vào lúc thực hiện công trình nghiên cứu và 20% là những người trước đây đã sử dụng). Trong quá trình theo dõi, 2.273 trường hợp mới ung thư buồng trứng xuất hiện và 1.591 tử vong do ung thư buồng trứng đã được thống kê. Phân tích thống kê đã cho phép thấy rằng nguy cơ ung thư buồng trứng 20% cao hơn ở những người sử dụng THS so với những người không sử dụng; nguy cơ tử vong 20% cao hơn.
Sử dụng càng lâu thì nguy cơ càng đáng kể. Trên 10 năm sử dụng, nguy cơ này gia tăng 31% Nhưng loại điều trị dường như không có ảnh hưởng, mặc dầu sự kết hợp progestatifs với oestrogènes có vẻ như làm giảm một ít mối nguy cơ này. Ngoài ra nguy cơ này sẽ biến mất ngay khi dừng sử dụng hormone.
Trong vòng 5 năm, số những trường hợp mới ung thư buồng trứng là 2,6 trên 1000 phụ nữ điều trị với THS và 2,2 đối với các phụ nữ khác, hoặc thêm một ung thư trên 2.500 phụ nữ được điều trị thay thế bằng hormone. Mặc dầu nguy cơ tính theo trị số tuyệt đối là khiêm tốn, nhưng các tác giả đưa ra một lời cảnh cáo toàn bộ chống lại việc sử dụng THS.
Thật vậy các nhà nghiên cứu đánh giá rằng loại điều trị này sẽ làm gia tăng toàn bộ 63% nguy cơ của 3 loại ung thư (vú,buồng trứng và nội mạc tử cung). Nguy cơ ung thư buồng trứng do sử dụng THS đã là đối tượng của những nghiên cứu rất mâu thuẫn cho đến ngày hôm nay. Công trình này nếu được xác nhận, sẽ làm sáng tỏ một nguy cơ vẫn còn rất thấp”. Christian Jamin, BS chuyên khoa phụ khoa đã phát biểu như vậy.
CÁC NGUY CƠ BỊ ĐÁNH GIÁ THẤP
Trong nhiều năm, điều trị thay thế bằng hormone đã được đề nghị cho hầu hết các phụ nữ đi khám bệnh vào lúc mãn kinh. Các lợi ích đã được đánh giá quá cao và ngược lại các nguy cơ lại bị đánh giá thấp. Từ năm 2002, các thầy thuốc có khuynh hướng uyển chuyển trong chỉ định đối với các bệnh nhân, tùy theo tầm quan trọng của các cơn bừng và nguy cơ của chứng loãng xương. Đặc biệt ở Pháp, các thầy thuốc sử dụng nhiều hơn những hormone gọi là thiên nhiên (hormone naturelle) (các oestrogènes được sử dụng bằng đường qua da và progesté -rone micronisée). Điều trị theo cách này ít có tác dụng có hại hơn so với lối điều trị ở Hoa Kỳ Nhưng thiếu những công trình nghiên cứu lớn để xác nhận điều này
(LE FIGARO 24/4/2007)
5/ MỐI LIÊN HỆ GIỮA BỆNH TRẦM CẢM VÀ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG ĐƯỢC PHÁT HIỆN NƠI NGƯỜI GIÀ

Một nhóm nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã phát hiện ở người già một mối liên hệ giữa sự hiện diện của các triệu chứng của bệnh trầm cảm và sự xuất hiện bệnh tiểu đường loại 2.
Mercedes Carnethon (Northwestern University để Chicago) và các cộng sự viên đã công bố hôm thứ hai 23/4 các kết quả theo dõi của hơn 4.500 người tham dự vào một công trình nghiên cứu được gọi là “cardiovascular Health Study”.
Mỗi năm, từ năm 1989 đến 1999, các nhà nghiên cứu đã cho trắc nghiệm tình trạng trầm uất ở những người trên 65 tuổi. Ở những người này lúc đầu không có triệu chứng nào của bệnh tiểu đường đã được phát hiện. Như vậy các nhà nghiên cứu đã có thể chứng tỏ rằng những người có những dấu hiệu của bệnh trầm cảm (dẫu là không thường xuyên hay dai dẳng) đã phát sinh một cách khá rõ một bệnh tiểu đường phải cần điều trị bằng thuốc.
Nguy cơ trở nên bệnh tiểu đường là 50% đến 60% cao hơn đối với những người có các dấu hiệu của bệnh trầm cảm. Cơ chế liên kết chứng trầm cảm và sự phát sinh bệnh tiểu đường đến nay vẫn không giải thích được.
(LE MONDE 26/4/2007)
6/ CẮT BỎ TÚI MẬT BẰNG ĐƯỜNG ÂM ĐẠO

Một nhóm phẫu thuật của New York-Presbyterian/Columbia University Medical Center đã áp dụng một kỹ thuật mới để cắt bỏ túi mật. Kỹ thuật này được gọi là NOTES (Natural Orifice Translumenal Endoscopic Surgery: giải phẫu nội soi qua một lỗ tự nhiên).
Phẫu thuật được thực hiện với một ống nội soi (endoscope) được đưa vào bằng đường âm đạo và dưới sự kiểm soát của nội soi ở bụng (laparoscopie abdominale).
Kỹ thuật mới này được đề nghị nhằm làm giảm sự đau đớn hậu phẫu và thu nhỏ các sẹo giải phẫu cũng như đảm bảo sự hồi phục nhanh hơn sau mổ. Tuy nhiên kỹ thuật vẫn còn trong giai đoạn thí nghiệm. Lúc trình bày kỹ thuật này ở Hội Nghị hàng năm của Society of American Gastrointestinal Endoscopic Surgeons tại Las Vegas vào weekend tuần vừa rồi, bác sĩ Marc Bessler đã tuyên bố rằng những phẫu thuật qua một lỗ tự nhiên là một bước tiến bộ cuối cùng của kỹ thuật ngoại khoa xâm nhập tối thiểu (techniques chirurgicales minimalement invasives). Kỹ thuật này sẽ loại bỏ một phần lớn các khó chịu do kỹ thuật cổ điển gây nên.”
Ngoài phẫu thuật cắt bỏ túi mật, kỹ thuật NOTES cũng thích hợp để cắt bỏ ruột thừa, thăm dò ổ bụng và làm sinh thiết”
(LE GENERALISTE 26/4/2007)
7/ CHOCOLAT LÀM GIẢM HUYẾT ÁP

Ăn chocolat đen có thể có hiệu quả trong việc hạ huyết áp như các thuốc giảm áp thông thường. Một xem xét lại các công trình nghiên cứu đã nhận thấy như vậy.
Mặt khác, trà có vẻ không có hiệu quả trong tác dụng này. Bài báo nói rằng một chế độ ăn uống giàu trái cây và rau xanh có lợi cho sức khỏe một phần là do thực vật chứa những chất hoá học được gọi là polyphenols giúp kiểm soát huyết áp.
Từ hơn 3000 bài báo, các nhà nghiên cứu đã chọn những công trình nghiên cứu rộng rải nhất và sử dụng các kỹ thuật thống kê để phối hợp các dữ kiện.
4 trong 5 nghiên cứu về chocolate đã nhận thấy huyết áp bị giảm lúc ăn chocolat đen.
Bài báo này được công bố vào số tháng 4 của The Archives of Internal Medicine.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 26/4/2007)
8/ KHUYÊN TẬP THỂ DỤC ĐỂ CHỐNG VIÊM KHỚP NƠI PHỤ NỮ

SYDNEY. Theo một nghiên cứu mới của Úc, tập thể dục không những bảo vệ tim và giữ gìn những đường nét thân thể lúc lớn tuổi mà còn đảm bảo sự phòng ngừa chống lại bệnh viêm khớp nơi các phụ nữ. Một phụ nữ cao tuổi tập thể dục càng nhiều thì khả năng tránh đau khớp càng lớn. Viêm khớp là một trong những bệnh lý phổ biến nhất ở các nước phương Tây
Theo nghiên cứu này, chỉ cần tập thể dục 1 giờ 15 phút mỗi tuần cũng đủ để tạo ra sự khác nhau trong 3 năm tiếp theo sau đó.
"Tôi không nghĩ rằng những kết quả này có nghĩa là phải trở nên một kẻ cuồng say tập thể dục”. Kristiann Heesch của Đaị Học Queenland ở Úc đã giải thích như thế.
Điều được gợi ý là ta có thể rút ra một mối lợi lớn bằng cách tản bộ và theo đuổi một hoạt động hàng ngày có mức độ. Các thầy thuốc đã luôn luôn khuyến khích những người già tập thể dục để duy trì sự mềm dẻo của các khớp xương, sự phát triển của hệ cơ và tránh khỏi bị lên cân. Mặc dầu sự tương quan trực tiếp giữa luyện tập vật lý và sự giảm đau khớp dường như là điều có thật, nhưng những lý do của mối liên hệ này vẫn chưa được rõ ràng.
Có thể là hoạt động vật lý tác dụng dương tính lên các khớp.
Có thể là tập thể dục làm giảm sự nhạy cảm của các thụ thể giác quan (capteurs sensoriels) nơi người cảm nhận ít đau đớn hơn bác sĩ John Hardin thuộc văn phòng khoa học của Fondation pour l’arthrite đã đưa ra ý kiến như vậy.
(METRO 20/4/2007)
9/ CÚM GIA CẦM : TAMIFLU CẢI THIỆN TỶ LỆ TỬ VONG HƠN CÁC CORTICOIDES

Các bệnh nhân nạn nhân của bệnh cúm gia cầm được điều trị sớm với thuốc chống siêu vi Tamiflu để chống lại suy hô hấp có nhiều khả năng sống còn hơn là những bệnh nhân được điều trị bằng corticoides. Đó là kết luận sơ khởi của một hội nghị các chuyên viên quốc tế theo sáng kiến của Tổ Chức Y Tế Thế Giới. O.M.S nhấn mạnh rằng các corticoides đã không chứng tỏ được hiệu quả, căn cứ trên các kết quả được quan sát ở các bệnh nhân ở Việt Nam và Nam Dương.
« Cứ 9 bệnh nhân được điều trị với corticoides thì có 8 trường hợp tử vong » Frédérick Hayden, một chuyên gia của OMS đã nhấn mạnh như vậy.
Ông nói thêm: « Các bệnh nhân được điều trị với những liều lượng corticoides cao và kéo dài đã chịu những tác dụng phụ nghiêm trọng ».
Trong khi đó những bệnh nhân được điều trị sớm với Tamiflu đã có thể được cứu sống như có thể thấy ở Ai Cập, là nơi 20 bệnh nhân trên 34 đã sống sót. Tính đến hôm nay, trên 291 người bị nhiễm bởi virus cúm gia cầm trên thế giới, đã có 172 trường hợp tử vong.
Tất cả các nước phương Tây đã tích trữ thuốc chống siêu vi trùng Tamiflu để đối phó với một trận dịch toàn cầu cúm gia cầm có thể xảy ra.
(LE FIGARO 24/4/2007)
10/ SIDA : MỘT THUỐC MỚI TRONG TRƯỜNG HỢP THẤT BẠI ĐIỀU TRỊ

Một dược phẩm antirétroviral mới, RALTEGRAVIR của Hãng Bào Chế Merck, nếu kết hợp với các thuộc chống siêu vi khác, có thể đóng một vai trò quan trọng đối với các bệnh nhân bị thất bại trong điều trị (Lancet 14/4).
Đó là thuốc đầu tiên của một loại thuốc mới, các inhibiteurs d’intégrase. Thật vậy, có 3 loại enzymes (transcriptase réverse, protéase, intégrase) cần thiết cho sự tăng sinh của virus.
Trừ phi xuất hiện những phản ứng phụ bất ngờ hoặc những vấn đề đề kháng virus; Raltegravir có thể đóng một vài trò lớn trong những trường hợp các bệnh nhân gặp khó khăn trong điều trị.
(LE FIGARO 14-15/4/2007)

B.S NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/4/2007)

 

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969