Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 26
Lượt truy cập: 1009005
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH

Thời Sự Y Học Số 28
BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ UNG THƯ VÚ Ở ĐÀN ÔNG
Ở đàn ông, tỷ lệ mắc phải ung thư vú là dưới 1% của tất cả các ung thư vú cọng lại (đàn ông và đàn bà). Ngược lại, trái với ung thư vú của phụ nữ, hầu như không có một tiến bộ nào về tỷ lệ sống sót được ghi nhận trong suốt 30 năm qua. Hiện tượng này có lẽ chủ yếu là do ung thư vú ở đàn ông hiếm xảy ra, khiến không có những công trình nghiên cứu có quy mô lớn, vì vậy điều trị ung thư vú ở đàn ông chủ yếu căn cứ trên những kiến thức thu được từ bệnh ung thư vú của phụ nữ. Trên cơ sở những dữ kiện mới, Nahleh và các cộng sự viên gợi ý rằng những dị biệt về sinh học có thể ảnh hưởng lên tỷ lệ tử vong ở nam giới.
Thí dụ các tác giả đã chứng tỏ rằng những bệnh nhân có những khối u tương đối nhỏ hoặc những khối u chưa di căn đến các hạch bạch huyết, có thời gian sống sót ngắn hơn so với các phụ nữ có cùng loại ung thư. Các tác giả giải thích rằng cần phải biết rõ hơn về ung thư vú ở nam giới như vậy mới có thể có những điều trị tốt hơn cho bệnh nhân.
Các tác giả đã rút ra kết luận từ các dữ kiện của Veterans’ Affairs. Các tác giả đã duyệt xét các dữ kiện của 612 đàn ông được điều trị vì ung thư vú và so sánh chúng với các dữ kiện của 2413 phụ nữ được điều trị vì cùng loại ung thư. Các nhà nghiên cứu đã không tìm thấy những khác nhau đáng kể về tỷ lệ tử vong giữa đàn ông và đàn bà đối với các ung thư vú trong giai đoạn muộn. (LE JOURNAL DU MEDECIN 22/5/2007)
2/ NHỮNG NGƯỜI BÉO MẬP ÍT BỊ BỆNH THOÁT VỊ HƠN
Ruhl và các cộng sự viên đã nghiên cứu các yếu tố nguy cơ làm dễ phát sinh thoát vị bẹn (hernie inguinale) nơi những người Mỹ ở tuổi trưởng thành (5316 đàn ông và 8136 phụ nữ). Những người này được tuyển mộ trong công trình nghiên cứu First National Health and Nutrition Examination Survey (1971-1975) và được theo dõi cho đến năm 1992-1993. Các tác giả đã phát hiện mối nguy cơ gia tăng ở đàn ông so với phụ nữ.
Nguy cơ gây bệnh thoát vị cao hơn nơi những người lớn tuổi nhất và những người có tiền sử thoát vị khe (hernie hiatale). Theo nghiên cứu này, các yếu tố bảo vệ chống thoát vị của đàn ông là chủng tộc da đen, sự tăng quá mức thể trọng, chứng béo phì. Đối với phụ nữ các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là cao tuổi, sống ở thôn quê, thân hình to lớn, ho mãn tính và các tiến sử thoát vị rốn (hernie ombilicale). Từ đó, các tác giả đã kết luận rằng ở Hoa Kỳ chứng thoát vị thường xảy ra hơn ở đàn ông, chủ yếu là ở người cao tuổi. Theo các nhà nghiên cứu, nguy cơ gây bệnh thấp hơn được nhận thấy trong trường hợp gia tăng quá mức thể trọng (excès pondéral) là đáng ngạc nhiên và cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về điểm này.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 22/5/2007)
3/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2 : CÀNG NGÀY CÀNG NHIỀU
Các nhà nghiên cứu người Anh đã muốn đánh giá tỷ lệ mắc bệnh đái đường loại 2 ở các trẻ em dưới 17 tuổi và khảo sát mối liên hệ giữa bệnh đái đường và chứng béo phì ngày càng gia tăng ở Vương Quốc Anh và Cọng Hoà Ái Nhĩ Lan. Giữa tháng 10 năm 2004 và tháng 10 năm 2005, các tác giả đã lên danh sách tất cả các trẻ em dưới 17 tuổi được chẩn đoán mắc bệnh đái đường loại 2 và đã ghi nhận được 2.168 trường hợp.
Trong số các trẻ bị bệnh đái đường loại 2, thì 2,95 % trẻ bị thể trọng quá mức (surpoids), 83% bị béo phì (obésité) và 84% có tiền sử gia đình về bệnh đái đường.
Kết luận: Bệnh đái đường loại 2 luôn luôn ít xảy ra hơn bệnh đái đường loại 1 nơi các trẻ em người Anh. Tuy nhiên, Haines và các cộng sự viên, các tác giả của nghiên cứu, đánh giá rằng so sánh với các dữ kiện trước đây thì tần số mắc phải bệnh đái đường tuồng như gia tăng. Như trước đây đã mô tả, ở Hoa Kỳ tỷ lệ mắc bệnh đái đường loại 2 ở dân tộc thiểu số cao hơn nhiều so với dân da trắng. Ở Vương Quốc Anh, chứng béo phì gia tăng và tiền sử gia đình bị bệnh đái đường loại 2 liên kết rất rõ rệt với chẩn đoán bệnh này ở trẻ em.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 23/5/2007)
4/ HỢP CHỨNG STOKES-ADAMS
Hợp chứng Stokes-Adams nhằm chỉ sự ngất xỉu (syncope) xảy ra đột ngột do thiếu máu não. Sự ngất xỉu này chỉ kéo dài vài giây (đôi khi đến 1 phút) và sau đó bệnh nhân tỉnh lại hoàn toàn. Hợp chứng này được đặt tên theo hai vị BS người Ái Nhĩ Lan của thế kỷ thứ XIX.
Tốt nghiệp Trinity College de Dublin (1810-1814), nhà phẫu thuật Robert Adams (1791-1875) đã tạo một sự nghiệp hiển hách với chức vụ chủ tịch của Royal College of Surgeons và của Dublin Pathological Society .Năm 1862, ông được bổ nhiệm làm BS riêng của Hoàng Hậu Ái Nhĩ Lan.
Ở Đại Học Dublin nơi Adams hành nghề với tư cách giáo sư, ông có một người đồng nghiệp tên là William Stokes (1804-1878). Stokes đã học Y Khoa ở Meath Hospital de Dublin trước khi trở thành chuyên khoa trong điều trị bệnh tim và bệnh phổi. Chính dưới ngòi bút của ông mà các tác phẩm tham khảo đã được xuất bản : Chuyên luận về Chẩn đoán và Điều trị Bệnh Ngực (A Treatise on the Diagnosis and Treatment of Diseases of the Chest) (1837) và Bệnh của Tim và Động Mạch Chủ (The Disease of the Heart and Aorta) ( 1854). Ông cũng là một trong những tác giả đã mô tả cách sử dụng và lợi ích của ông nghe (stéthoscope).
Đối với hậu thế, ông được xem là người đã nêu rõ vai trò chủ yếu của khám lâm sàng trước khi xác lập chẩn đoán. Tên của Stokes cũng gắn liền với Nhịp Thở được gọi là Cheyne-Stokes (Respiration de Cheyne-Stokes). Đặc điểm của nhịp thở này là sự luân phiên của những thời kỳ hô hấp có biên độ lớn với những thời kỳ ngừng thở (apnée) xảy ra ngắn ngủi. Nhịp thở Cheyne-Stokes xảy ra là do sự kích thích không đầy đủ các trung tâm hô hấp.
(SEMPER 5/2007)
5/ CÁC ÔNG CHỒNG THAM GIA CÔNG TÁC NỘI TRỢ CÓ CÁC BÀ VỢ HẠNH PHÚC HƠN
Có một mối quan hệ có ý nghĩa giữa sự tham gia của người chồng trong việc nội trợ và sức khỏe về mặt tâm lý xã hội của bà vợ mình. Đây là kết quả nghiên cứu được thực hiện trên những cặp vợ chồng sống trong những khu phố nghèo nàn nhất của Beyrouth (Liban). Marwan và các công sự viên đã phân tích các dữ kiện của 2797 gia đình. Trên cơ sở 25 tiết mục (items) tương quan với công việc nội trợ, các tác giả đã đánh giá sự tham gia của ông chồng vào những công việc này. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã đặt mối tương quan giữa các dữ kiện này với sức khỏe tâm thần do các bà vợ báo cáo, mức độ thỏa mãn trên bình diện lứa đôi, cũng như sự thoải mải nói chung. Các kết quả của công trình này đã được công bố trong Am J Public Health (2007). So với các phụ nữ có chồng tích cực tham gia vào nội trợ gia đình, thì các bà vợ có chồng không hề tham gia sẽ có 1,6 lần nhiều hơn nguy cơ cảm thấy bị stress, 2,96 lần nhiều hơn nguy cơ cảm thấy bất hạnh trong cuộc sống lứa đôi, và 2,69 lần nhiều hơn khả năng cảm thấy bất hạnh nói chung. Các tác giả kết luận rằng có một mối liên hệ có ý nghĩa giữa sự dấn thân của người chồng vào công tác nội trợ và sức khỏe về mặt tâm lý và xã hội của vợ mình (LE JOURNAL DU MEDECIN 8/5/2007)
6/ MỐI QUAN HỆ NÀO GIỮA SỰ Ô NHIỄM VÀ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG?
Theo những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên, các chất gây ô nhiễm (polluants) và mỡ trong cơ thể có thể góp phần làm phát sinh sự đề kháng với insuline và bệnh đái đường. Theo lý thuyết của các tác giả này, sự tích tụ của polychlorophényls (PCBs) vàc các chất hữu cơ gây ô nhiễm kéo dài (POPs=polluants organiques persistants) có tính chất quyết định trong mối liên hệ giữa chứng béo phì và đái đường.
Mối liên hệ giữa trạng thái mập (embonpoint) và nguy cơ mắc bệnh đái đường loại 2 đều đã được biết đến và là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu từ nhiều năm qua.
Hơn 60% trường hợp bệnh đái đường loại 2 là một hậu quả của chứng béo phì (obésité). Ngoài ra, số trường hợp bệnh gia tăng tỷ lệ với chỉ số khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle). Mặc dầu cơ chế sinh lý và phân tử để giải thích bệnh đã phát triển mạnh trong những năm vừa qua, nhưng vẫn còn không ít phỏng đoán về cơ chế sinh lý bệnh chính xác khả dĩ giả thích mối liên hệ giữa chứng béo phì và bệnh đái đường.
MỘT YẾU TỐ CHỦ YẾU : CÁC CHẤT HỮU CƠ GÂY Ô NHIỄM KÉO DÀI.
Vào tháng 9 năm 2006, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã chứng tỏ rằng 6 chất hữu cơ gây ô nhiễm kéo dài (polluants organiques persistants), được gọi là POPs, xuất hiện thường xuyên hơn trong máu của những bệnh nhân đái đường hơn là trong máu của một nhóm kiểm chứng. Chính các PCBs (polychlorophényls) là được tìm thấy nhiều nhất.
Trong một nghiên cứu theo dõi, các nhà nghiên cứu này đã chứng tỏ rằng các chất trừ sâu bệnh (pesticides) nhất định và các PCBs cũng hiện diện với lượng lớn hơn nơi những bệnh nhân đề kháng insuline (insulino-résistance). Mặt khác, những người béo phì có nhiều POPs trong máu tuồng như đề kháng với insuline hơn là những người mảnh khảnh không có nồng độ POPs cao trong máu. Trong khi đó mối liên hệ giữa chứng béo phì và sự đề kháng insuline biến mất hoàn toàn nơi những người không có POPs trong máu.
Điều này là một lý lẽ mạnh mẽ để xác định rằng các PCBs và những POPs tích tụ trong mô là yếu tố chủ yếu khiến nguy cơ bị bệnh đái đường cao hơn, chớ không phải là do bệnh béo phì gây nên mối nguy cơ này như là một yếu tố làm dễ. Duk Hee Lee, nhà nghiên cứu đã phát biểu như vậy. (LE JOURNAL DU MEDECIN 8/5/2007)
7/ TRÊN GIƯỜNG NGỦ, CÁC PHỤ NỮ CŨNG TỰ GIẢI PHÓNG
Đó là một tiến triển lớn về mặt phong hoá (mœurs), nhất là ở các phụ nữ. Một đợt điều tra lần thứ 3 về bản năng giới tính (sexualité) ở Pháp đã chứng tỏ như vậy.
Ngày nay tuổi «lần đầu tiên» của các thiếu nữ rất gần với tuổi «lần đầu tiên» của các thiếu niên: 17,6 tuổi nơi thanh nữ so với 17,2 nơi thanh niên. Thế còn nhịp độ làm tình thì sao? 12 lần giao hợp mỗi tháng đối với những lứa đôi dưới 6 tháng, 8 lần sau 5 năm sống chung. Và 90% phụ nữ trên 50 tuổi tuyên bố mới đây đã có một hoạt động tình dục. Vào năm 1970, tỷ lệ này chỉ có 53%! Về các kỹ thuật làm tình, các phụ nữ cũng bắt đầu thả lỏng. Dục tính bằng đường miệng (sexualité orale) đã trở nên hiện hành trong đời sống tình dục lứa đôi. Nhưng vẫn còn một hố ngăn cách đáng kể: về phía nữ, tình dục được liên kết với hôn nhân và tình cảm trong khi đó ở nam giới thì đó là một nhu cầu và là một khoái lạc. Và số người phối ngẫu được kê khai là 4,4 nơi các bà so với 11,6 nơi các ông. (TOP SANTE 5/2007)
8/ THIẾU SẮT: COI CHỪNG TRÍ NHỚ VÀ KHẢ NĂNG TẬP TRUNG
Một công trình nghiên cứu rộng rải của Hoa Kỳ được tiến hành trên các phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ và như thế ở trong tình huống dễ bị tình trạng thiếu sắt hơn (mất máu trong mỗi kỳ kinh) so với những người cao niên. Kết quả đã cho thấy rằng các khả năng nhận thức như trí nhớ hoặc năng lực tập trung bị giảm ở những phụ nữ bị thiếu máu.
Những nghiên cứu cũng đã cho phép ghi nhận rằng sự suy giảm này có thể được điều chỉnh bằng cách cho thêm sắt bổ sung. (LA LIBRE MATCH 25/4-7/5/2007)
9/ NÃO BỘ CỦA CHÚNG TA TRƯỞNG THÀNH LÚC 11 TUỔI?
Theo một nghiên cứu mới của Hoa Kỳ, vùng não bộ của chúng ta có quan hệ trong sự học tập (apprentissage) hầu như được thành thục lúc 11 hoặc 12 tuổi. Như vậy có một sự gia tốc đột ngột trước tuổi dậy thì.
Khoảng 500 trẻ sơ sinh và thiếu niên có sức khoẻ tốt hiện được chụp IRM não bộ nhiều lần trong thời kỳ chúng đang tăng trưởng, cũng như chịu một loạt xét nghiệm thích ứng với lứa tuổi: thương số thông minh (QI), ngôn ngữ và trí nhớ. Các hình ảnh IRM đo lường sự phát triển và sự tái tổ chức của các phần khác nhau của não bộ trong thời kỳ thơ ấu. Bằng cách so sánh các hình ảnh này với các đường cong về hành vi (comportement) và khả năng trí tuệ được đánh giá ở mỗi lứa tuổi, các nhà khoa học hy vọng vẽ nên bản đồ về sự phát triển bình thường của não bộ trẻ em, điều này đã được mong đợi từ lâu.
Những kết quả đầu tiên được công bố làm sửng sốt. Những công việc khác nhau, trí nhớ tích cực, ngữ vựng, sự định hướng trong không gian, sự suy luận, sự tính toán được cải thiện nhanh chóng từ 6 đến 10 tuổi trước khi xuất hiện một đoạn nằm ngang trên đường biểu diễn. "Chúng tôi không biết tại sao". Deborah Waber, thuộc Bệnh Viện Nhi Đồng Boston đã tuyên bố như vậy. Bài phân tích do ông thực hiện đã được đăng trên Le Journal de La Société de Neuropsychologie .
Các nhà khoa học đã biết rằng trước năm 12 tuổi, não bộ phát triển với tốc độ rất nhanh, tạo nên nhiều nối kết (connections) giữa các tế bào não bộ. Đến lượt các tế bào này lại làm lớn ra các vùng sinh tử. Đó là lúc xảy ra một gia tốc đột ngột và đó là lý do tại sao học một ngoại ngữ lúc còn bé dễ dàng hơn lúc ở tuổi trưởng thành. Sau tuổi dậy thì, quá trình chậm lại, não bộ tập trung vào việc chương trình hoá (programmation) những gì đã được thụ đắc. Một khi các nhà khoa học thêm những kết quả scanner vào các thử nghiệm về khả năng của các trẻ em, họ sẽ có một ý niệm tốt hơn về sự phát triển bình thường của một đứa trẻ. Khi đó họ sẽ có thể cần đến những dữ kiện này để cố tìm hiểu điều gì không ổn trong não bộ của một trẻ bị chứng tự kỷ ( autisme).
10/ NGƯỜI GIÀ HƠI MẬP SỐNG LÂU HƠN VÀ CÓ SỨC KHOẺ TỐT HƠN
Một nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy rằng những người cao niên hơi mập mạp (embonpoint), nhưng không béo phì (obèse), sẽ có nhiều khả năng sống lâu hơn và có sức khỏe tốt hơn những người gầy gò hoặc hoàn toàn vạm vỡ.
Một nhóm các nhà nghiên cứu của Đaị Học Texas vừa công bố trong Archives of Internal Medicine công trình nghiên cứu về sự liên kết giữa chỉ số khối lượng cơ thể (BMI = Body Mass Index) với mức độ tàn phế (invalidité) và tỷ lệ tử vong nơi những người Mỹ cao niên. Họ cũng đánh giá tác dụng của BMI lên tuổi thọ mà không bị tàn phế thể chất.
Để thực hiện điều này, Soham Al Smih và các cộng sự viên đã khảo sát 8359 người Mỹ trắng, 1931 Mỹ đen và 2435 Mỹ latin, tuổi 65 hoặc hơn và không bị tàn phế lúc được tuyển chọn để thực hiện công trình. Các nhà nghiên cứu đo BMI, tình trạng sức khỏe và các hoạt động hàng ngày của những người tham gia.
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi những người tham gia trong vòng 7 năm và các kết quả khá gây kinh ngạc. Thật vậy, các nhà nghiên cứu cho thấy rằng chính những người có trị số BMI từ 25 đến 30 là có ít nguy cơ bị tàn phế nhất. Trái lại, những người có BMI dưới 18,5 hoặc trên 30 vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, có nguy cơ bi tàn phế hơn trong thời gian theo dõi. Sau cùng tuổi thọ cao nhất ở những người có BMI từ 25 đến 30.
Theo các tác giả, "vào lúc tuổi già, sự mập mạp có lợi bởi vì góp phần làm giảm nguy cơ bị gãy xương háng do tác dụng bảo vệ của mỡ và bởi vì những kilo dư thừa là nguồn dự trữ cần thiết lúc bị bệnh".
Kết luận: tốt hơn là già lão với vài kg dư thừa (dĩ nhiên ở đây không phải là béo phì bệnh hoạn) và sự việc hơi mập mạp lúc về già có lẽ không phải là điều nghiêm trọng lắm
(LE JOURNAL DU MEDECIN 8/5/2007)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(25/5/2007)

 

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969