Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 40
Lượt truy cập: 1028467
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ VIRUS A (H1N1) KÉM ĐỘC LỰC HƠN DỰ KIẾN.

EPIDEMIE. Việc không có những trường hợp tử vong ngoài Mexico và sự phân tích virus khiến người ta nghĩ rằng tác nhân gây nhiễm có thể chỉ gây nên một bệnh cúm hiền tính.

Đứng trước mối đe dọa của một trận đại dịch mới, những biện pháp phòng ngừa nghiêm túc phải được thực hiện, ngay cả khi không có sự chắc chắn về mức độ độc lực thật sự của tác nhân gây nhiễm mới phát khởi. Nhiều thông tin virus học và dịch tễ học, trong những ngày qua, khiến người ta phỏng đoán rằng virus của bệnh cúm A (H1N1) mới, đã gây bệnh cho gần 800 người trên thế giới đến nay, ít gây lo ngại hơn điều mà chúng ta đã tưởng.

Chuỗi di truyền hoàn toàn được giải mã, được đặt dưới quyền sử dụng của các nhà khoa học trên toàn thế giới cuối tuần qua, đã mang lại một loạt thông tin rất quý giá về độc lực của virus này. “ Vào khi virus của cúm gia cầm H5N1 xuất hiện cách nay vài năm, chúng ta đã nghiên cứu nhiều để nhận diện các chỉ dấu của độc lực của virus cúm, G.S Bruno Lina, giám đốc của trung tâm nghiên cứu bệnh cúm ở miền nam nước Pháp (Lyon) đã giải thích như vậy. Điều đó cho phép chúng ta hiểu rằng, virus H1N1 mới, không có những trang bị cần thiết để chúng trở nên đặc biệt có độc tính. ”

Ví dụ như protéine bề mặt, được gọi là hémagglutinine (H), phải được tách đôi để có khả năng gây bệnh. Trong trường hợp H5N1, điều này được thực hiện một cách ngẫu nhiên. Đối với H1N1, thì khó khăn hơn nhiều. Cũng vậy, protéine bề mặt kia, neuraminidase (N), có một cấu trúc “ hình que ” khá dài trong H1N1, trong khi những que ngắn (như trong H5N1) là một chỉ dấu của độc lực. Mặt khác, tất cả các virus cúm có một hoạt tính kháng interféron, phong bế những phòng ngự miễn dịch.

SỐ TRƯỜNG HỢP TỬ VONG HẠ XUỐNG.

Hoạt tính này càng quan trọng thì chúng càng có độc lực. Đó không phải là trường hợp của H1N1. “ Dưới ánh sáng của những thông tin mới này, virus H1N1 có vẻ không có những yếu tố độc lực đặc biệt. Nhưng đó là một phân tích được thực hiện trên một virus hôm nay. Mọi chuyện có thể thay đổi trong những tuần đến ”, G.S Lina đã xác nhận như vậy.

Ở Hoa Kỳ, nước thứ hai bị ảnh hưởng nhất bởi cúm mexico, Richard Besser, giám đốc của CDC, hôm qua đã đánh giá là đáng phấn khởi, khi chứng thực rằng virus mới này, đến nay đã không có vẻ nghiêm trọng hơn một giống gốc của cúm mùa.

Cũng trên bình diện dịch tễ học, hôm nay tình hình dường như ít đáng lo ngại hơn cách nay một tuần. Thật vậy có vẻ như số các trường hợp tử vong đã hạ xuống ở Mexico, vì lẽ, trái với điều đã được loan báo, số các trường hợp tử vong đã sụt giảm, từ 100 cách nay 8 ngày xuống còn 20 ngày hôm nay ! Những trường hợp cúm khác đã không được xác nhận với phân tích virus học. Mặt khác, không có trường hợp tử vong nào đã được quan sát trong 18 nước khác, đã khai báo những trường hợp cúm xảy ra nơi người. Những bệnh nhân này có một bệnh cúm cổ điển, với mệt mỏi, sốt, đau cơ, ho, không có khó thở. Tỷ lệ tử vong ở Mexico khó có thể giải thích được, trừ phi nghĩ rằng các bệnh nhân đã không được điều trị đúng đắn.
( LE FIGARO 4/5/2009)

2/ MỘT XÉT NGHIỆM CHO PHÉP PHÁT HIỆN VIRUS TRONG 12 GIỜ.

Viện Pasteur vừa hiệu chính một xét nghiệm cho phép phát hiện virus A H1N1 giống mới, trong vòng 12 giờ. Trắc nghiệm này chẳng bao lâu sẽ được đặt dưới sự sử dụng của các phòng xét nghiệm. Trắc nghiệm gồm 3 thao tác đồng thời : xác nhận việc phát hiện một virus loại A, loại bỏ sự hiện diện của virus cúm mùa và phát hiện sự hiện diện của virus mới.
( LE FIGARO 6/5/2009)

3/ H1N1 : PROFIL ĐIỂN HÌNH CỦA NHỮNG NGƯỜI BỆNH Ở MỄ TÂY CƠ.

EPIDEMIE. Những nạn nhân chính là những thanh niên gốc Mexico và vùng phụ cận.

Ở Mễ Tây Cơ, trung tâm điểm của dịch cúm heo, bilan của các nạn nhân hôm qua vẫn không thay đổi với 24 người chết. Nhà cầm quyền ước tính rằng từ nay dịch bệnh đang thoái trào trên đất nước. Trường hợp tử vong cuối cùng được xác nhận là ngày 29/4. Tổng số bệnh nhân là 866 người, trong đó có 64 trường hợp mới. “ Đỉnh cao của trận dịch nằm giữa 23 và 28 tháng tư và virus đã gây nhiễm cho đàn ông cũng như phụ nữ ”, hôm qua bộ trưởng y tế Mễ tây cơ đã nhấn mạnh như thế. Hầu hết các nạn nhân gốc Mexico và ở lứa tuổi từ 20 đến 39. Những dữ kiện dịch tễ học chính xác hơn sẽ được công bố trong một tạp chí khoa học.

Trong thủ đô, các tiệm buôn sẽ lần lượt mở cửa lại bắt đầu từ hôm nay sau khi đã đóng cửa trong hơn một tuần để tránh sự lan tràn của virus. Hậu quả của cúm đã là rất nặng nề đối với đất nước Mễ tây cơ, lên đến 2,3 tỷ dollars, theo bộ trưởng tài chánh. Tuy nhiên OMS vẫn giữ báo động đại dịch ở mức độ 5. “ Ở Châu Âu vẫn không có ổ gây nhiễm tự trị, Keiji Fukuda, phó tổng giám đốc của OMS, hôm qua đã ghi nhận một cách thỏa mãn như vậy. Tuy nhiên, ông xác nhận rằng tổ chức y tế thế giới đang theo dõi rất sát tình hình ở Tây Ban nha và Vương Quốc Anh.

Hôm qua ở phi trường Roissy (Pháp), việc bố trí tiếp đón các hành khách đến từ Mễ Tây Cơ đã được thiết đặt, với các thầy thuốc và một nhóm Hồng Thập Tự, được tập hợp lại trong một vùng được quy định. Tất cả các đôi mắt giờ đây đều hướng về các nhà virus học để biết những kịch bản nào chúng ta sẽ phải trông chờ trong những tháng tới. Tạp chí Hoa Kỳ Science đã phỏng vấn BS Yi Guan. Năm 2003, nhà nghiên cứu gốc Hong Kong này đã cho phép dập tắt nhanh chóng trận dịch SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng : syndrome respiratoire aigu sévère) sau khi đã phân lập nơi một con mèo nhỏ (civette), một siêu vi trùng rất gần giống với coronavirus, nguyên nhân của căn bệnh.

THEO DÕI CÁC BIẾN DỊ.

“ Chúng ta đã chưa nhận được một yếu tố nào cho phép chúng ta nói virus H1N1 mới, một ngày nào đó sẽ trở nên độc lực. Chúng ta cũng không biết ngay cả tại sao sự lan truyền của virus giữa người và người đã có thể xảy ra ”, B.S Yi Guan đã công nhận như thế.

Tuy nhiên dưới mắt ông, sự việc phần lớn con người không có đề kháng miễn dịch chống lại virus mới, tạo nên điều kiện chính yếu để phát khởi một trận đại dịch. Khi hè đến, bình thường, virus H1N1 sẽ tạm thời nằm yên trong Bắc bán cầu, Vincet Enouf, người phụ trách của trung tâm quốc gia bệnh cúm đã xác nhận như vậy. Ngược lại, virus có thể gặp những điều kiện thuận lợi trong Nam bán cầu.

Trong những vùng mà cơ sở hạ tầng y tế bị thiếu hụt như trong vài vùng châu Phi, đảm bảo một công tác theo dõi để biết xem H1N1 có biến dị bằng cách tái phối hợp với những virus người khác của bệnh cúm hay không là điều quan trọng. Sự gặp gỡ giữa H1N1 và H5N1 của cúm gia cầm, có khả năng gây bệnh hơn nhiều đối với người, là một kịch bản tai họa khả dĩ nhưng ít có xác suất xảy ra, theo BS Yi Guan.
( LE FIGARO 6/5/2009)

4/ CHỨNG BÉO PHÌ = NGHIỆN THUỐC LÁ.

Những thiếu niên béo phì có cùng nguy cơ chết sớm ở tuổi trưởng thành như những người hút thuốc lá. Nhận xét này, đã được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu của Viện Karolinska, Thụy Điển, đã căn cứ trên quá trình theo dõi y khoa, trong 38 năm, nơi 45.000 thiếu niên ở tuổi 18 lúc bắt đầu công trình nghiên cứu. Chỉ dấu khối lượng cơ thể (index de masse corporelle), đơn vị đo lường của sự gia tăng thể trọng, đã được đánh giá, cũng như chứng nghiện thuốc lá. Chứng béo phì (obésité), cũng như sự tiêu thụ hơn 10 điếu thuốc mỗi ngày, gia tăng gấp đôi nguy cơ chết sớm, so với một thiếu niên không hút thuốc và có một trọng lượng bình thường.
( LA RECHERCHE 5/2009)

5/ UNG THƯ VÚ : BIPHOSPHONATE CHỐNG TÁI PHÁT ?

BS Marc Spielmann (trưởng khoa ung thư học, bệnh học vú của Viện Gustave-Roussy) bình luận những kết quả dương tính của một thử nghiệm điều trị rộng rãi để ngăn ngừa tái phát ung thư vú.

Hỏi : Một công trình nghiên cứu mới đây, được công bố trong tạp chí khoa học “ New England Journal of Medicine ”, báo cáo những lợi ích của một loại thuốc, zolédronate, để ngăn ngừa sự tái phát của những ung thư vú phụ thuộc hormone (cancers du sein hormono-dépendants). Trước hết, ông có thể giải thích cho chúng tôi những đặc điểm của những khối u ung thư này ?
B Marc Spielmann : Có hai loại ung thư vú : loại phụ thuộc hormone (hormono-dépendants) (60-70% các ung thu vú) và loại không phụ thuộc hormone (non hormono-dépendants). Trong loại phụ thuộc hormone, các ung thư này có những thụ thể (récepteurs, một loại antenne) oestrogène, mà hormone sẽ gắn vào đó để xâm nhập vào trong nhân của tế bào. Và một khi đã vào trong tế bào, các oestrogène này làm dễ sự tăng sinh tế bào, nghĩa là một quá trình ung thư. Vậy, loại ung thư phụ thuộc hormone này có thể được chống lại bằng một điều trị kháng hormone (traitement anti-hormonal), sẽ làm phong bế các thụ thể oestrogène. Trong công trình nghiên cứu này của Áo, tất cả các phụ nữ đều đã có một ung thư phụ thuộc hormone (cancer hormono-dépendant) và sau khi được phẫu thuật, đã nhận một liệu pháp kháng hormone (và một vài bệnh nhân cũng đã nhận hóa học liệu pháp). Ngoài những điều trị này, công trình nghiên cứu nhằm cấp cho các bệnh nhân một điều trị bởi biphosphonate, mà được sử dụng trong trường hợp này là zolédronate.

Hỏi : Thường thường sau phẫu thuật, một điều trị kháng hormone có đủ để ngăn ngừa sự tái phát xuất hiện hay không ?
BS Marc Spielmann : Mặc dầu những tiến bộ đáng kể đã đạt được trong 20 năm qua, một bộ phận nhỏ các bệnh nhân đã tái phát. Do đó lợi ích cần hiệu chính những trị liệu phòng ngừa mới.

Hỏi : Công trình nghiên cứu của Áo đã diễn biến như thế nào ?
BS Marc Spielmann : Thử nghiệm rộng lớn này đã được thực hiện trên 1803 bệnh nhân không ở trong thời kỳ mãn kinh và đang được điều trị kháng hormone (hoặc bởi tamoxifène, hoặc bởi anti-aromatase + huỷ bỏ buồng trứng bằng hoá học). Cứ hai bệnh nhân có một đã nhận, mỗi 6 tháng, một tiêm truyền tĩnh mạch zolédronate. Những kết quả đầu tiên, ghi nhận được sau 4 năm, đã cho phép nhận xét rằng, nơi những bệnh nhân đã được tiêm truyền biphosphonate, người ta nhận thấy nguy cơ tái phát giảm nơi một phụ nữ trên ba ! Thế là nhiều. Và người ta đã nhận thấy rằng, thuốc này, được cho là chỉ tác dụng độc nhất trên xương, cũng đã tránh được sự tạo thành các di căn nơi những cơ quan khác.

Hỏi : Thật ra tác dụng của biphosphonate là gì ?
BS Marc Spielmann : Điều trị bởi biphosphonate có mục đích là làm giảm sự phá hủy xương. Zolédronate mặt khác đã được sử dụng để chống lại bệnh loãng xương (ostéoporose) bằng cách làm giảm nhiều hoạt tính của những tế bào xương : các hủy cốt bào (ostéoclastes) (xương, cơ quan sống, ở trong tình trạng đổi mới liên tục do sự hoạt động của hai loại tế bào : các tạo cốt bào xây dựng xương và các hủy cốt bào phá hủy xương). Để trả lời câu hỏi của ông, zolédronate có một tác dụng chống di căn bằng cách ngăn cản những tế bào ung thư lưu thông trong máu xâm nhập xương hay những cơ quan khác. Mặt khác, người ta đã khám phá ra rằng, thuốc này, trong những trường hợp di căn xương, tăng cường tác dụng của hóa học liệu pháp. Người ta cũng cho rằng (đó là một giả thuyết) zolédronate ngăn cản ung thư tiến triển bằng cách phong bế các huyết quản nuôi dưỡng nó : hiện tượng kháng sinh huyết quản (phénomène d’anti-angiogenèse).

Hỏi : Trong công trình của Áo này, những tác dụng phụ được nêu lên là những tác dụng nào ?
BS Marc Spielmann : [/b]Người ta chỉ ghi nhận hai trường hợp hoại tử xương (ostéonécrose) của xương hàm và không có một biến chứng nào khác (trên bình diện thống kê, những trường hợp này được xem là ngoại lệ). Phải ghi nhận rằng đó là những phụ nữ trẻ, có thể có ít nguy cơ hơn những phụ nữ mãn kinh lớn tuổi hơn.

Hỏi : Những nguy cơ hoại tử xương này của xương hàm đã không được nêu lên thường xuyên với các điều trị di căn xương hay sao ?
BS Marc Spielmann : Vâng, nhưng đó là một tỷ lệ thấp được quan sát khi các tiêm truyền tĩnh mạch được thực hiện mỗi 3 hay 4 tuần, chứ không phải mỗi sáu tháng. Do đó trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân cần được thăm khám miệng-răng hoàn chỉnh.

Hỏi : Ông có nghĩ rằng những lợi ích được quan sát trong công trình nghiên cứu này của Áo có thể cũng tương tự nơi các phụ nữ mãn kinh hay không ?
BS Marc Spielmann : Vâng, bởi vì nó xác nhận những kết quả của 4 thử nghiệm khác, được thực hiện cách nay vài năm với các biphosphonate khác (được cho bằng đường miệng hay tiêm truyền), trên một số lượng ít quan trọng hơn các bệnh nhân, mãn kinh hay không. Điều trị tỏ ra có lợi trong nhóm nhận biphosphonate.

Hỏi : Hiện nay có những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành với các biphosphonate trên các phụ nữ đã bị ung thư hay không ?
BS Marc Spielmann : Vâng, 3 công trình nghiên cứu (mỗi công trình được thực hiện trên hàng ngàn bệnh nhân), được tiến hành từ nhiều năm nay trên những phụ nữ mãn kinh hay không. Những công trình nghiên cứu này nhằm so sánh tác dụng phòng ngừa của 3 loại thuốc của họ biphosphonates : clodronate (mỗi ngày, bằng đường miệng), ibandronate (bằng đường miệng) và zolédronate (bằng đường tĩnh mạch). Những thử nghiệm này sẽ đánh giá sự dung nạp, những nguy cơ gây những tác dụng phụ và hiệu quả của mỗi điều trị. Những kết quả đầu tiên (những kết quả của công trình nghiên cứu với clodronate) sẽ được công bố vào năm 2010, những kết quả khác có lẽ một hay hai năm sau.
( PARIS MATCH 16/4-22/4/2009)

Đọc thêm :


6/ TÔI NHÌN, VẬY THÌ TÔI BƯỚC.

Hãy giữ đứng một trẻ mới sinh ra được vài ngày, đôi chân bé nhỏ đặt trên mặt đất, và hãy quan sát : nó bước ! Mãi đến ngày nay, người ta gọi điều đó là “ phản xạ bước nguyên thủy ” (réflexe de la marche primitive ), được cho là một vết tích của một bước đi cổ (marche archaique ), không được điều khiển bởi não bộ nhưng được phát khởi bởi kích thích xúc giác của đất dưới đôi bàn chân.

Không chắc như vậy, các nhà nghiên cứu của CNRS và của đại học Paris- V-René-Descartes, liên kết với các nhà nghiên cứu của đại học Californie, đã đánh giá như vậy : Họ đã chứng minh rằng khả năng bước này có thể được kích thích bằng thị giác !

Bằng cớ : 48 trẻ sơ sinh đã được nâng lên 50 cm khỏi một mặt phẳng. Rồi thì, lại được nâng lên khỏi một tấm thảm có in hình những hạt đậu đen và trắng, mà em bé có thể phân biệt được. Nếu tấm thảm bất động , em bé không động một ngón chân nào. Trái lại, nếu tấm thảm chuyển động, khi đó em bé bắt đầu đạp chân trong khoảng không !

“ Như thế, lần đầu tiên, người ta chứng tỏ rằng sự nối kết giữa các hệ thị giác và vận động, cần thiết cho cử động bước, được thiết đặt ngay từ lúc sinh ra đời ”, Marianne Barbu-Roth, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.

“ Vậy thì, theo những kết quả này, những rối loạn của hệ thị giác-vận động của đứa bé có thể được phát hiện sớm hơn nhiều so với hiện nay, nhà nữ nghiên cứu đã đảm bảo như vậy. Rồi thì người ta có thể quyết định một điều trị sớm căn cứ trên những kích thích thị giác.”
( SCIENCES ET AVENIR 5/2009)

7/ GHÉP TẾ BÀO GỐC ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

Phương thức tự ghép (autogreffe) các tế bào gốc lấy trong tủy xương của những bệnh nhân bị bệnh đái đường phụ thuộc insuline (loại 1) đã cho phép những bệnh nhân này tái sản xuất insuline.

Hy vọng mới trong điều trị của bệnh đái đường loại 1. Nhờ một phương thức tự ghép những tế bào gốc (autogreffe de cellules souches), lấy trong tủy xương của chính mình, 23 bệnh nhân đái đường tự nguyện, đã có thể không cần phải nhận các mũi tiêm insuline mỗi ngày, trong 14-50 tháng liên tiếp. Một trong những bệnh nhân đái đường, đã đứng vững trong hơn 4 năm không cần tiêm insuline, 4 bệnh nhân trong 3 năm liên tiếp và 3 bệnh nhân khác trong hai năm. 15 bệnh nhân mới được tuyển mộ nhất, đã được hưởng những cải thiện mới nhất về kỹ thuật do nhóm của G.S Richard Burt, của Northwestern University de Chicago, Illinois, đã luôn luôn không cần đến insuline 19 tháng sau khi can thiệp.

Sau các phương thức ghép những tế bào tụy tạng (greffe de cellules pancréatiques) sản xuất insuline, được thí nghiệm vào đầu những năm 2000, các kỹ thuật ghép tế bào gốc tủy xương (greffe de cellules souches de la moelle osseuse) đã đánh dấu một bước ngoặt mới. Richart Burt công bố trong Journal of the American Medical Association (JAMA) công trình nghiên cứu, được theo dõi trong 3 năm, trên một nhóm 23 bệnh nhân đái đường, tất cả đều đã nhận một kỹ thuật ghép những tế bào gốc.

Ưu điểm đầu tiên của kỹ thuật ghép này : vì bệnh nhân nhận các tế bào của chính mình, nên không cần phải theo đuổi một điều trị nhằm hủy bỏ miễn dịch (traitement immunosuppresseur), trái với điều đã xảy ra với phương pháp ghép những tế bào tụy tạng, điều này cho phép tránh mọi tác dụng phụ. Công trình nghiên cứu hoàn toàn tiền phong và nhiều câu hỏi vẫn chưa được trả lời.

Thí dụ, người ta không biết những tế bào nào của tủy xương có thể được biệt hóa thành những tế bào tụy tạng và có khả năng sản xuất insuline. Có thể đó là những tế bào gốc sinh huyết (cellule souche hématopoiétique) của tủy xương, được biết là biến hóa thành tế bào gan. Một ứng viên khác là một tế bào vừa mới được khám phá, MAPC (cellule progénitrice adulte multipotente) : tế bào này có thể cho những tế bào con của hầu hết tất cả các mô và cơ quan của cơ thể. Người ta cũng không biết những tế bào gốc này sẽ nằm ở đâu.

Đối với những bệnh nhân bị bệnh đái đường loại 1 (số bệnh nhân lên đến khoảng 150.000 người ở Pháp), bệnh được đặc trưng bởi một sự thiếu hụt sản xuất insuline, hormone đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý các chất sinh năng lượng, trong đó có glucose của cơ thể. Nói chung, chính sự phá hủy của các tế bào bêta của tụy tạng (trong các đảo nhỏ Langerhans) giải thích sự sụt giảm sản xuất insuline, đôi khi ngay từ tuổi ấu thơ. Nhưng bệnh đái đường cũng có thể do sự đề kháng của các tế bào đối với insuline như trong trường hợp bệnh đái đường loại 2.

CÁC CHẤT CHỈ DẤU ĐẶC HIỆU.

Tụy tạng phải luôn luôn giữ số lượng tế bào bêta không thay đổi, nếu không sẽ xảy ra bệnh đái đường. Do đó vấn đề chủ yếu là sự đổi mới những tế bào này. Thế mà, ngay năm 2003, Markus Stoffel (Rockfeller University, Nữu ước) trong Journal of Clinical Investigation đã đưa ra khả năng rằng trong tủy xương có một nguồn các tế bào tiền bối của những đảo nhỏ Langerhans. Thật vậy, một vài trong những tế bào phát xuất từ tủy xương này biểu hiện các chất chỉ dấu đặc hiệu (marqueurs spécifiques) của các tế bào Langerhans : một gène vận chuyển (Glut-2) và nhiều protéine đặc hiệu của những tế bào tụy tạng này (giúp “ sao chép lại ” ADN thành ARN trong tế bào).

Kết quả của thử nghiệm lâm sàng, được thực hiện bởi G.S Richart Burt có thể làm đảo lộn hoàn toàn việc nghiên cứu trong lãnh vực này. Thật vậy, từ năm 1988, hơn 500 trường hợp ghép những tế bào tụy tạng của những người cho trên những bệnh nhân đái đường phụ thuộc insuline, đã được thực hiện trên thế giới. Nhưng việc giữ gìn và chọn lọc những tế bào được ghép vẫn rất là tế nhị, và các kết quả lâm sàng vẫn ở mức tầm thường : khoảng 11% những bệnh nhân được ghép không cần chích insuline một năm sau khi được ghép. Và tất cả bệnh nhân phải được điều trị hủy bỏ miễn dịch suốt đời, đây không phải là trường hợp của kỹ thuật tự ghép mà Richart Burt đã cổ xướng.
( LE FIGARO 15/4/2009)

8/ NGƯỜI TA TÌM RA NGUYÊN NHÂN CỦA TÓC BẠC.

Thủ phạm gây nên sự bạc trắng mái tóc của chúng ta đã được vạch mặt : đó là peroxyde d’hydrogène (H2O2), cũng còn được gọi là eau oxygénée !.

Các nhà nghiên cứu của đại học Mainz (Đức) và của đại học Bradford (Anh) đã chứng tỏ rằng eau oxygénée, được sử dụng bởi phụ nữ để làm mất màu tóc của họ, được tiết tự nhiên bởi cơ thể con người, và ức chế sự tổng hợp các sắc tố màu, trong đó có mélanine. Bình thường chất này được trung hòa bởi các enzyme, biến đổi nó thành nước và oxy. “ Nhưng với tuổi tác, nồng độ của những enzyme này bị giảm, và do đó nồng độ H2O2 gia tăng ”, Karin Schallreuter, một trong những nhà khoa học của nhóm nghiên cứu đã giải thích như vậy. Peroxyde d’hydrogène khi đó tấn công tyrosinase, một enzyme khác làm phát khởi quá trình tổng hợp mélanine, và ngăn cản nó hoạt động. Đó là điều mang lại hy vọng cho những người bị bệnh bạch biến (vitiligo) (sự mất sắc tố của da), và cho những ai sợ sự xuất hiện của những sợi tóc bạc !
( SCIENCE ET VIE 5/2009)

Đọc thêm :


9/ GHÉP HAI BÀN TAY : BÀN TAY TRÁI PHỤC HỒI NHANH HƠN.

NEUROSCIENCES. Sau khi ghép, não bộ thích nghi và nhận biết các vật ghép (greffons) như là một bộ phận của cơ thể. Những người nhận (receveur) tỏ ra khéo léo tay trái hơn, mặc dầu anh ta thuận tay phải.

Week-end tuần rồi, một bệnh nhân 30 tuổi, bị bỏng nặng sau một tai nạn, đã được ghép mặt và hai bàn tay bởi giáo sư Laurent Lantiéri ở bệnh viện Henri-Mondor de Créteil.

Ngày hôm sau, một công trình nghiên cứu, được đăng tải trong tạp chí của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, và được công bố bởi một nhóm nghiên cứu do Angela Sirigu lãnh đạo, thuộc trung tâm khoa học thần kinh nhận thức (neurosciences cognitives) của CNRS ở Lyon, giải thích làm sao não bộ của người nhận (receveur) có thể hội nhập các chi đã được ghép cho ông ta.

Các nhà nghiên cứu đã khảo sát vỏ não vận động (cortex moteur), nghĩa là vùng não bộ kiểm soát những cử động và biểu hiện bình diện của cơ thể của chúng ta. Giáo sư Jean-Michel Dubernard, người đã thực hiện ở Lyon, vào tháng giêng năm 2.000, phẫu thuật ghép đôi hai bên (greffe double bilatérale) của các bàn tay và cẳng tay đầu tiên, trên Denis Chatelier, cũng đã tham dự vào những công trình này. Kết quả cho thấy rằng, khi một bệnh nhân bị cắt cụt, phần não bộ liên kết với các cơ của bàn tay bị biến mất, dần dần được tái phân phối cho các cơ của cánh tay. Nói một cách khác, các neurone nguyên thủy điều khiển bàn tay, một khi bị cắt cụt, sẽ phụ trách những cử động của cánh tay. Vậy có thể nói có một sự tái phối trí (réaffectation) của các neurone.

KỸ THUẬT KÍCH THÍCH ĐIỆN TỪ XUYÊN SỌ

Khám phá khác : khi một bệnh nhân được ghép một bàn tay, các neurone, không còn phụ trách bàn tay nữa bởi vì bàn tay đã không còn hiện hữu, sẽ được tái hoạt hóa dần dần và phụ trách bàn tay được ghép. “ Những kết quả này rất là gây ấn tượng, Jean-Michel Dubernard đã giải thích như vậy, Tôi nhớ rằng trước phẫu thuật ghép bàn tay đầu tiên vào cuối những năm 1990, các nhà sinh lý thần kinh đã nói rằng bàn tay biến mất khỏi não bộ sau khi bị cắt cụt và rằng nó không thể tái xuất hiện trong vỏ não ! ”. Thế mà, các nhà nghiên cứu đã cho thấy các neurone đã tái hội nhập những bàn tay mới như thế nào.

Nhưng điểm đáng chú ý nhất của công trình nghiên cứu, đó là hai bệnh nhân được ghép, cả hai nguyên thủy thuận tay mặt, lại phục hồi tay trái nhanh hơn nhiều. Đối với bệnh nhân trẻ hơn, việc ưu tiên tay trái này kèm theo một sự hoạt hóa các cơ được ghép sớm hơn nhiều (10 tháng sau khi ghép) trong vỏ não vận động bên phải so với sự hoạt hóa được quan sát trong vỏ não vận động bên trái (26 tháng sau ghép). Đối với bệnh nhân kia, tất cả các cơ được ghép của bàn tay trái đã xuất hiện trong vỏ não vận động bên phải 51 tháng sau phẫu thuật ghép nhưng không như thế trong bàn tay phải (ít khéo léo hơn). Các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật kích thích điện từ xuyên sọ (stimulation magnétique transcrânienne), nhằm gởi những kích thích điện từ vào trong vỏ não vận động của bệnh nhân.

“ Những kết quả này cho thấy những khả năng tạo hình của não bộ (capacité plastique). Hoạt động vỏ não báo trước những năng lực vận động của bàn tay ”, Angela Sirigu đã giải thích như vậy. Tính chất tạo hình (plasticité) khác nhau, được nhận thấy sau ghép, giữa vỏ não vận động bên phải và bên trái, có lẽ là do sự kiện rằng các bệnh nhân sau khi bị cắt cụt đã sử dụng một bàn tay giả (prothèse) đặc biệt là cho bàn tay phải. Việc mang bàn tay giả này có lẽ gây nên khả năng tạo hình ít hơn sau phẫu thuật ghép, các nhà nghiên cứu đã đề xuất ý kiến như vậy. Nhưng lại càng đáng ngạc nhiên khi bàn tay giả cho phép các neurone kiểm soát bàn tay phải tiếp tục hoạt động.

Nhưng nói rằng những bệnh nhân được ghép này đã thay đổi bên thuận tay là hơi nhanh. “ Họ sử dụng bàn tay đã phục hồi nhanh nhất và có hiệu năng nhất ”, Angela Sirigu đã phân tích như vậy. Kết luận của những công trình nghiên cứu này vượt quá phạm vi ghép và có thể giúp thiết lập tốt hơn những phục hồi chức năng, ví dụ đối với những bệnh nhân bị tai biến mạch máu não. Hoạt động vỏ não có thể tiên đoán một bệnh nhân sẽ phục hồi như thế nào. Tính đến ngày hôm nay, người ta đếm được 16 ghép đôi (greffes doubles) và 22 phẫu thuật ghép cho chỉ một bàn tay
(LE FIGARO 11/4-12/4/2009)

Đọc thêm :

10/ KHI THAI NGHÉN LÀM RỐI LOẠN GIẤC NGỦ.

Có thai không luôn luôn ăn nhịp với ngủ ngon. Tỷ lệ mắc phải hội chứng ngừng thở (syndrome d’apnées), liên kết những đợt ngừng hô hấp xảy ra nhiều lần và chứng ngáy về đêm (ronflements nocturnes), với những rối loạn thức tỉnh (troubles de la vigilance) và chứng ngủ gà ban ngày (somnolence nocturne), ảnh hưởng lên khoảng 5% các phụ nữ có thai. Sự lên cân, sự đẩy cơ hoành về phía ngực và sự sung huyết mũi, liên kết với những biến đổi hormone, là bấy nhiêu yếu tố khiến cho những bà mẹ tương lai dễ bị loại rối loạn này.

Ngoài ra, những dữ kiện hiện có gợi ý rằng hội chứng ngừng thở với chứng ngáy về đêm này làm dễ cao huyết áp trong thời kỳ thai nghén. Tuy nhiên, vấn đề nguy cơ chậm tăng trưởng trong tử cung (retard de crossance intra-utérin), có thể là do một quá trình tiếp vận oxy cho thai nhi thiếu hụt, không được xác lập.

Một chế độ ăn uống và kiêng rượu và những thuốc an thần là hữu ích nhưng điều trị chuẩn vẫn là thông khí dưới áp lực dương liên tục (ventilation en pression positive), nhờ một máy sử dụng về đêm, nhất là trong trường hợp được liên kết bởi chứng béo phì.
( SCIENCES ET AVENIR 5/2009).


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (8/5/2009)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969