Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 67
Lượt truy cập: 1008383
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128

Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ “ TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẠI DỊCH TOÀN CẦU, CÓ PHƯƠNG TIỆN KHÔNG THÔI VẪN KHÔNG ĐỦ ”.

Đối với G.S Jean-Philippe Derenne, nước Pháp đã khá được trang bị để đương đầu với một cuộc khủng hoảng y tế quy mô lớn. Nhưng người ta vẫn chưa biết những hậu quả xã hội của một biến cố như thế.
Trưởng khoa phổi và hồi sức của bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Jean-Philippe Derenne ngày nay là thầy thuốc tham vấn của bệnh viện này.

Hỏi : Vào năm 2005, khi ông cùng với François Bricaire, xuất bản “ Pandémie, la grande menace ” (Đại dịch, mối đe dọa lớn) (Fayard), ông đã khá gây lo sợ về chủ đề cúm gia cầm. Ông có vẫn như vậy hay không với cúm A (H1N1)?
G.S Jean-Philippe Derenne : Chúng tôi đã không gây lo sợ, 90% các chuyên gia virus chuyên về bệnh cúm đều đã nói rằng virus A (H5N1) sẽ biến dị. Khi đó chúng tôi là các trưởng khoa của một trong hai bệnh viện Paris, phải chịu làn sóng đầu tiên những bệnh nhân trong trường hợp đại dịch. Trách nhiệm của chúng tôi là có thể điều trị các bệnh nhân và bảo vệ các nhân viên điều dưỡng. Nếu hôm nay chúng ta có được các phương tiện để chống lại cúm A (H1N1), đó chính là nhờ sự huy động này. Nhiều người đã rất là tích cực : Xavier Bertrand, khi đó là Bộ trưởng y tế, Jacques Chirac, khi đó là tổng thống của nước cọng hòa. Chính sách này đã được kế tục bởi tổng giám đốc y tế hiện nay, Didier Houssin. Trận dịch cúm A (H1N1) hiện nay dường như ít nghiêm trọng hơn điều mà chúng ta đã có thể e sợ trong trường hợp biến dị của virus A (H5N1).

Hỏi : Thế thì tại sao trận dịch lại làm sợ hãi đến thế ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Trước hết là bởi vì lứa tuổi bị bệnh : 60% các bệnh nhân ở tuổi 18 hoặc ít hơn. Điều này giống với trường hợp cúm Tây Ban Nha đã giết chết 70 triệu người giữa năm 1918 và 1920. Mặt khác, những công bố đầu tiên chỉ rõ rằng, ở Hoa Kỳ, 5% các bệnh nhân đã phải bị nhập viện. Nếu như thế, trong trường hợp đại dịch, ta phải e sợ rằng các bệnh viện sẽ bị tràn ngập. Sau cùng,
Margaret Chan, nữ giám đốc OMS, vừa bày tỏ các lo sợ về một sự tương tác khả dĩ giữa virus A (H1N1) biến dị và vius A (H5N1).

Hỏi : Người ta sợ điều gì với loại cúm A này ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Nói chung, cúm giết người là do các biến chứng hô hấp, các viêm phổi do virus và nhất là những viêm phổi do vi khuẩn bội nhiễm. Các nước phương tây có nguy cơ thấy các cơ sở điều trị gặp khó khăn. Trong các nước nghèo, nơi các cơ sở điều trị thường trong tình trạng bấp bênh, phải sợ rằng có nhiều bệnh nhân tử vong mà những bệnh nhân này nếu được điều trị có thể được cứu sống. Chúng ta không thể chấp nhận điều đó. Chính trách nhiệm của nước Pháp, một trong những nước được chuẩn bị tốt nhất, là phải thuyết phục các nước khác của Liên Hiệp Châu Âu về một sự hợp tác thật sự và một sự giúp đỡ hậu cần có hiệu quả dành cho các nước ít được chuẩn bị nhất.

Hỏi : Tamiflu có hiệu quả chống lại cúm A (mà bây giờ ta không còn gọi là cúm heo nữa).
G.S Jean-Philippe Derenne : Virus mới A (H1N1) nhạy cảm với Tamiflu và với Relenza, trong khi ở Hoa Kỳ virus cúm mùa A (H1N1) đã trở nên đề kháng với chúng.

Cúm này không phải là cúm heo bởi vì nó không phải là một bệnh cúm của heo được truyền bởi heo. Virus mới A (H1N1) là một bệnh cúm của người được truyền bởi người. Có lẽ virus đã được kết hợp nơi heo, bởi vì dường như nó liên kết với sự tái phối hợp của hai virus heo vốn lưu hành trước đây.

Một virus là một sinh vật không thể tự sinh sản. Do đó nó phải đi vào trong một tế bào. Phần lớn các virus có một enzyme có nhiệm vụ sao chép lại cấu trúc của những thành phần khác nhau của chúng và như tất cả các người sao chép, enzyme này cũng phạm những lỗi lầm. Ngoài ra chúng có một enzyme đọc lại (enzyme de relecture), nhằm sửa chữa những sai sót vừa nói đến. Trong virus cúm, enzyme có nhiệm vụ đọc lại này bị thải hồi. Do đó virus thay đổi thường trực. Nhưng ngoài ra, khi hai virus cùng hiện diện, có thể có sự tái phối hợp (recombinaison) của một virus mới, lấy một phần bộ gène của virus thứ nhất và một phần của virus thứ hai. Chính như thế mà virus A (H1N1) dường như xuất phát từ năm nguồn gốc khác nhau.

Hỏi : Vào lúc này, ở Pháp, việc tiến hành dự trữ Tamiflu như người Mỹ đang làm, có ích lợi hay không ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Ở Hoa Kỳ, cấu trúc tổ chức y tế khiến cho điều này có thể không vô ích. Ở Pháp, nếu thêm vào Relenza, chúng ta sẽ có 33 triệu liều điều trị. Tuy nhiên, có các phương tiện không thôi không đủ. Cần hành động rất nhanh trong trường hợp đại dịch cúm. Tôi nghĩ chính để buộc các quốc gia xem trọng mối đe dọa đại dịch mà OMS đã chuyển qua mức 5.

Hỏi : Nhưng như thế người ta không làm đúng nguyên tắc thận trọng hay sao ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Tôi không thích nguyên tắc thận trọng, dẫn đến ý niệm nguy cơ zéro. Tôi thích nguyên tắc lợi ích so với nguy cơ hơn. Trong trường hợp này, đó không phải là nguyên tắc thận trọng. Câu hỏi là : chúng ta đã được trang bị để chống lại một đại dịch, mà bản chất đó là một cuộc tấn công trực tiếp chống lại một xã hội ? Ngoài ra, sự lây nhiễm cúm được thực hiện qua những giọt nhỏ, được phát ra lúc ho và lúc hách xì : người bị cúm nguy hiểm cho những người ở gần anh ta. Lịch sử của các đại dịch luôn luôn cho thấy những hiện tượng tan vỡ trong gia đình, trong những nhóm xã hội và, sau khi tai ương đã qua, còn lại những câu chuyện tội lỗi là đã không săn sóc người thân, là đã làm lây nhiễm họ ,…

Không ai đã chuẩn bị để đối phó với cúm Tây Ban Nha, những đại dịch đã đến với Tây Phuơng ngay sau chiến tranh 1914-1918. Cúm Tây Ban Nha đã gây bệnh cho các người trẻ tuổi, trong đó có các quân nhân, và những người chết vì cúm như thể lại được thêm vào trong những tổn thất chiến tranh. Ngoài ra, lúc đó phần lớn dân chúng trên thế giới sống ở vùng nông thôn. Do đó, những tiếp xúc ít mật thiết như ngày nay trong các thủ phủ, là nơi, đặc biệt trong những nước nghèo, dân chúng sống dính kết với nhau. Sau cùng, ngoài những nước phương tây, không ai biết điều gì đã xảy ra trong nước ở cạnh bên. Ngày nay chúng ta có một trình độ thông tin đi trước hẳn trình độ y tế, và mọi người đều biết rằng những người giàu đã cố ý để chết hàng triệu người nghèo.

Hỏi : Vài người nói rằng sự ồn ào được tạo nên chung quanh dịch cúm A là một cách để làm cho dân chúng lãng quên nỗi lo sợ về cuộc khủng hoảng kinh tế hiện đang diễn ra ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Cái vĩ đại của chế độ dân chủ là ở chỗ mọi người đều có quyền nói ra những điều ngu xuẩn. Ông hẳn nhớ cái thời kỳ người ta đã nói rằng sida chỉ là một mối đe dọa được giương ra để nhằm chống lại những người đồng tính luyến ái, nhân danh trật tự đạo đức.

Hỏi : Khuyên dân Pháp đừng đi Mễ tây Cơ và Hoa Kỳ phải chăng là thích đáng, trong khi đã có 30 nước bị lây nhiễm ?
G.S Jean-Philippe Derenne : 3 nước thật sự bị lây nhiễm, Mễ tây Cơ, Hoa Kỳ và Canada. Ổ bệnh Hoa Kỳ rất là quan trọng, bởi vì chỉ có 18% những người bệnh là đã trở về từ Mễ Tây Cơ. Tất cả các tiểu bang Hoa Ky đều bị lây nhiễm, ổ bệnh lớn nhất là trong Illinois, rất xa Mễ Tây Cơ.

Hỏi : Người ta sẽ hiệu chính một vaccin chứ ?
G.S Jean-Philippe Derenne : OMS đã loan báo hôm 18/5 rằng kể từ tháng chín, 4,9 tỷ liều đơn vị vaccin chống virus A (H1N1) có thể được chế tạo trong 12 tháng. Vậy khoảng 400 triệu liều mỗi tháng, và phải đợi thêm 3 tuần để có được một miễn dịch tốt. Giả sử rằng công nghiệp dược phẩm có khả năng sản xuất với năng suất tối đa ngay từ tháng chín, như thế sau đó sẽ phải còn lựa chọn những nhóm dân nào cần được tiêm chủng đầu tiên.

Hỏi : Ông có nghĩ rằng người Pháp ngay từ bây giờ phải có những chuẩn bị đặc biệt, ví dụ mang mặt nạ ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Không, nếu không hãy theo những lời khuyên thông thường, như rửa tay, v..v…. Nếu các phương tiện cần phải thiết đặt, thì phải suy nghĩ điều đó một cách tập thể, chứ đừng rơi vào tình trạng mọi người vì mình như ở Hoa Kỳ.

Các mặt nạ, ít nhất là những mặt nạ ngoại khoa đang được sử dụng bởi dân Mễ, chỉ hữu ích để tránh không cho bệnh nhân truyền bệnh, khi họ ho hay hách xì. Các mặt nạ không dùng cho những người lành mạnh để tránh bệnh. Chỉ có những mặt nạ FFP2 hay FFP3 là hữu ích, nhưng khó chịu đựng được và chỉ hiệu quả trong 4 giờ.

Nhất là không nên mua Tamiflu trên Internet : các thuốc giả đầy dẫy, và những thuốc không đủ liều làm bệnh nhân đề kháng với virus. Ngoài ra không nên mua bất cứ thuốc nào trên internet.
(LE MONDE 23/5/2009)

2/ AI SẼ ƯU TIÊN ĐƯỢC TIÊM CHỦNG CHỐNG CÚM MEXICO ?

G.S Yves Van Laethem là chuyên gia về các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện Saint-Pierre, Bruxelles.

Hỏi : Trong khi vaccin cúm mùa (vaccin saisonnier) (chứa 3 giống gốc đã được chọn lọc từ nhiều tuần nay), hiện đang được sản xuất để có sẵn sử dụng vào mùa thu đến, ta có thể thêm vào vaccin này giống gốc mexico hay không ?
G.S Yves Van Laethem : Đúng là khó có thể được. Bởi vì các hãng bào chế hiện đã tiến rất xa trong việc chế tạo vaccin cúm mùa và rằng OMS đang sửa soạn gởi đến các hãng bào chế khác nhau, chủng virus mới vừa được phân lập. Các hãng sẽ có một chủng được làm thanh khiết trong khoảng 10 ngày nữa. Vậy ngoài vaccin cúm mùa, sẽ cần phải chế tạo một vaccin đặc hiệu (chống cúm mexico) để chủng.

Hỏi : Sẽ cần phải tiêm bao nhiêu mũi ?
G.S Yves Van Laethem : Khó có thể trả lời được : không ai đã có thể trắc nghiệm cũng như cấy loại virus mới này của cúm. Có lẽ cần đến hai mũi tiêm, như thường là như vậy trong trường hợp của một kháng nguyên mới. Người ta cũng chẳng biết là “ nó có mọc tốt ” hay không, đôi khi chúng ta có những bất ngờ.

Hỏi : Khi nào thì chủng ?
G.S Yves Van Laethem Nếu một làn sóng dịch bệnh thứ hai xảy đến, điều này rất là khả dĩ, vì lẽ đó là điều gần như đã xảy ra trong lịch sử của các virus, thì sẽ phải tiêm chủng những bệnh nhân trước khi làn sóng dịch có thể đến giữa tháng 10 và tháng 11, hoặc sớm hơn đợt tiêm chủng thường lệ được thực hiện hàng năm vào tháng 11, để được chuẩn bị cho tháng giêng và tháng hai. Vậy phải tiêm chủng vaccin mexico hai tháng sớm hơn.

Hỏi : Sẽ có khả năng sản xuất đủ hay không, nhất là đối với trứng gà, luôn luôn cần thiết trong quá trình sản xuất vaccin ?
G.S Yves Van Laethem : Chỉ có những hãng bào chế mới có thể trả lời câu hỏi này. Lý tưởng là họ có thể sản xuất xong vaccin cúm mùa sớm hơn, vào cuối tháng 6, và rằng họ có thể bắt đầu sản xuất ngay vaccin đặc hiệu này. Tuy nhiên đừng có mang ảo tưởng : hàng trăm triệu liều vaccin sẽ được sản xuất, sẽ dành ưu tiên cho những ai sẽ gởi đơn đặt hàng và sẽ thanh toán tiền, nghĩa là các nước phát triển.

Hỏi : Vì virus này tấn công những người trẻ tuổi có sức khoẻ tốt, đó là điều không phải bình thường, vậy có phải ưu tiên dành vaccin cho những đối tượng này ?
G.S Yves Van Laethem : Sẽ đúng là hữu ích khi dành vaccin cho những bệnh nhân từ 35 đến 50 tuổi, những người theo lệ thường không chết vì bệnh cúm. Nhưng những người có tình trạng miễn dịch bị suy giảm, với một bệnh mãn tính hay lớn tuổi hơn, là những nhóm ưu tiên theo lệ thường, cũng sẽ bị tiếp xúc với virus không thua kém gì. Nếu không có đủ vaccin, công việc trọng tài về mặt đạo đức sẽ là khó khăn.
( LE SOIR 5/5/2009)

3/ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT : RỐI LOẠN NỔI KẾT GIỮA CÁC NEURONE ?

Các kết quả của nhiều công trình nghiên cứu (có tính chất cơ thể học, di truyền học và chức năng) chứng minh rằng bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh trong đó những nối kết liên não (connexions intercérébrales) bị thương tổn. Hậu quả là những loạn năng trong sự trao đổi thông tin của những vùng khác nhau của não bộ, những khiếm khuyết trong việc phát tín hiệu giữa các neurone và sự thiếu đồng bộ trong hoạt động của chúng. Điều này giải thích triệu chứng ảo giác (hallucination) và những triệu chứng khác.
(PARIS MATCH 20/5-27/5/2009)

4/ CHỨNG LÃO THỊ CÓ THỂ ĐƯỢC PHẪU THUẬT MÀ KHÔNG GÂY BIẾN CHỨNG ?

OPHTALMOLOGIE. Một thầy thuốc người Pháp loan báo đã hiệu chính một kỹ thuật mới “ cực kỳ nhanh ”. Nhưng ngoại khoa của chứng rối loạn thị giác này vẫn chưa chứng minh được khả năng điều trị.

Vào lứa tuổi 50, khi chúng ta bị lão thị (presbythie), cái khuyết tật điều tiết làm cho chúng ta thấy mờ khi nhìn gần, chúng ta có nên giao phó đôi mắt mình cho con dao của các thầy thuốc ngoại khoa ? Câu hỏi cần những câu trả lời đáng tin cậy khi chúng ta biết rằng 80% đàn ông và phụ nữ hơn 45 tuổi bị liên quan bởi vấn đề này. Ngoài ra, chứng lão thị được thêm vào những khuyết tật đã có từ trước (cận thị, viễn thị, loạn thị), đòi hỏi những phương thức điều trị rất khác nhau !

Nhân hội nghị của Hiệp hội Nhãn khoa Pháp, đã kết thúc hôm qua ở Paris, một chuyên gia người Pháp, BS Alain Telandro, đã loan báo ầm ĩ là đã hiệu chính được một kỹ thuật ngoại khoa mới bằng laser “ cực nhanh, giác mạc được để nguyên vẹn ”. 4 bệnh nhân người Pháp đã được mổ ở Cannes tuần vừa qua, theo kỹ thuật “ đang được nghiên cứu ở Colombie từ hai năm nay ” này.

HAC (Haute autorité de santé) đã giải thích rằng, về loại giải phẫu này, “ ngoài một công trình nghiên cứu cũ về trị liệu điều chỉnh các rối loạn chiết quang bằng laser Excimer ”, cho đến nay, vẫn không có một hội nghị nhất trí nào, cũng như không có một khuyến nghị nào nhằm đả thông các thầy thuốc và các bệnh nhân của họ về các hạn chế, các chống chỉ định, các ưu điểm hay những biến chứng của phẫu thuật.

Mặc dầu như thế, yêu cầu được phẫu thuật vẫn không suy giảm : “ Điều trị lão thị được toàn thể nghề y mong muốn ”, một thầy thuốc nhãn khoa Paris đã thú nhận như vậy.

CON MẮT CŨNG NHƯ MỘT CAMERA.

Để hiểu rõ rối loạn chiết quang này, phải tưởng tượng con mắt như là một camera có một hệ thống các vật kính (buồng trước, giác mạc, thủy tinh thể), một buồng đen và một phim nhạy cảm, võng mạc. Để tạo nên một hình ảnh rõ ràng trên võng mac, thủy tinh thể, nơi các tia sáng đi xuyên qua, được phát ra và được phản chiếu bởi các vật kính, khum lên nhờ các cơ bám vào nó và tạo nên hình ảnh rõ nét trên võng mạc. Nói chung chính thủy tinh thể này, do một sự lão hóa bình thường của mắt, cứng lại và dày lên khi lớn tuổi. Thường thường, người bị như thế khó điều tiết đầy đủ để đọc gần.

Những giải pháp cổ điển vẫn luôn luôn được sử dụng : các kính có độ tăng dần khôi phục lại toàn bộ thị trường ; các lentille mềm hay dễ uốn nhiều tiêu điểm (multifocal), được sử dụng để nhìn một mắt, nhìn luân phiên, hay đồng thời, đã mang lại nhiều thành công : hon 30 mẫu lentille dành cho những người lão thị đang được bán trên thị trường Pháp.

Ngoại khoa cũng đã xuất hiện. Đó chủ yếu là một ngoại khoa không xâm nhập bằng laser. Dẫu dùng laser Excimer hay Lasik (các năng lượng được phát ra khác nhau), các phẫu thuật, đến nay, nhằm tạo lại hình dáng giác mạc nhờ tạo nên nhiều vùng cắt bỏ. “ Theo chỗ tôi biết, không có một công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh nào đã chứng minh tính hiệu quả được so sánh của phẫu thuật này ” , BS Eric Gabison (thầy thuốc tham vấn của Cơ quan Rorhschild, Paris) đã công nhận như thế.

“ MỘT NGOẠI KHOA TIỆN NGHI ”

Các bệnh nhân bị đục thủy tinh thể (cataracte) kết hợp với lão thị có thể hưởng phẫu thuật thay thủy tinh thể bị lão hóa bằng một implant mềm nhiều tiêu cự, cho phép nhìn xa và gần như với các kính đeo có độ tăng dần.

G.S José-Alain Sahel, chủ tịch của Viện thị giác, cho rằng “ đến nay, đó là một ngoại khoa tiện nghi (chirurgie de confort), chưa được chấp nhận và nhất là không có gì là cần thiết. Đôi khi, nhân một cuộc phẫu thuật trị bệnh đục thủy tinh thể, các phẫu thuật viên lợi dụng để lấy bỏ thủy tinh thể. Nhưng việc mổ những người lão thị ở lứa tuổi 50 đối với tôi dường như không thích đáng. Chúng ta biết rằng 1/3 những người lớn tuổi sẽ bị chứng thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Sự tương tác giữa ngoại khoa lão thị và bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác có thể tạo ra các vấn đề ”.
(LE FIGARO 12/5/2009)

5/ LÀM VIỆC VỀ ĐÊM CÓ HẠI CHO PHỤ NỮ.

Sau khi công bố một bài báo cáo của Trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung thư, chỉ rõ rằng sự làm việc về đêm không phải tạm thời, về lâu về dài có thể là một nguyên nhân của ung thư vú. 40 phụ nữ Đan Mạch đã nhận một số tiền bồi thường. Lý do giải thích : những phụ nữ lao động về đêm, sản xuất ít mélatonine (hormone được sản xuất ban đêm) hơn những phụ nữ khác, điều này làm gia tăng nơi họ lượng oestrogène lưu thông trong máu. Thế mà, những hormone này lúc quá thặng dư, làm dễ sự tăng trưởng của các ung thư vú.
( PARIS MATCH 30/4-6/5/2009)

6/ NGĂN NGỪA CÁC TAI BIẾN TIM MẠCH : HƯỚNG VỀ MỘT VIÊN THUỐC DUY NHẤT ?

G.S Nicolas Danchin, trưởng khoa ở bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, bình luận một công trình nghiên cứu mới được thực hiện với “ polypill ” chứa 5 loại thuốc.

Hỏi : Thường thường những ai có nguy cơ bị những tai biến tim-mạch ?
G.S Nicolas Danchin : Thật vậy, có nhiều yếu tố làm dễ, mà sự phối hợp sẽ làm gia tăng nguy cơ một cách đáng kể. Đó là tuổi tác (trên 40 tuổi), thặng dư cholestérol, cao huyết áp, nghiện thuốc lá, bệnh đái đường, di truyền, chứng béo phì bụng, cũng như tình trạng nhàn rổi không hoạt động, stress tâm lý. Ở Pháp, người ta kiểm kê gần 100.000 trường hợp nhồi máu cơ tim mỗi năm và cùng một số lượng như thế đối với tai biến mạch máu não.

Hỏi : Hiện nay người ta làm sao để ngăn ngừa các tai biến tim-mạch này ?
G.S Nicolas Danchin : Phương thức thứ nhất là tìm những yếu tố nguy cơ đe dọa...Điều đó đôi khi khó, bởi vì vài yếu tố không gây nên một triệu chứng nào. Do đó sự cần thiết phải làm xét nghiệm máu kể từ tuổi 40, để đo nồng độ cholestérol và đường (glucose-huyết), và sự hữu ích cần đo huyết áp mỗi lần thăm khám. Khi các kết quả bình thường, những xét nghiệm này cần phải được lập lại mỗi 3 hay 5 năm, cho đến năm 60 tuổi, và sau đó cứ mỗi năm một lần.

Hỏi : Trong trường hợp nào thì cần điều trị phòng ngừa ?
G.S Nicolas Danchin : Khi một yếu tố nguy cơ được phát hiện, như tăng cholestérol-huyết hay bệnh đái đường, mà một điều trị duy nhất thường là đủ (như statine để làm hạ cholestérol). Đối với cao huyết áp, ta thường cần phải phối hợp nhiều loại thuốc nhằm làm giảm huyết áp. Khi nhiều yếu tố nguy cơ liên kết với nhau, ta thường kê đơn 3 hay 4 loại thuốc khác nhau và đôi khi hơn thế. Việc uống nhiều thứ thuốc như vậy có thể tạo nên một sự bó buộc làm phương hại đến sự tuân thủ điều trị.

Hỏi : Với những phương pháp phòng ngừa này, những kết quả có được là gì ?
G.S Nicolas Dachin : Trong 25 năm, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch đã giảm 50% ! Thành quả thu được này một nửa là do sự phòng ngừa và nửa kia là nhờ những tiến bộ được thực hiện trong điều trị, lúc bị nhồi máu hay sau đó.

Hỏi : Công trình nghiên cứu Ân Độ, trong đó điều trị phòng ngứa những tai biến tim-mạch với một viên thuốc duy nhất, được thực hiện như thế nào ?
G.S Nicolas Dachin : G.S Salim Yusuf đã tiến hành công trình nghiên cứu này trên khoảng 2000 người tuổi từ 45 đến 80, tất cả không bị bệnh nhưng mang một trong những yếu tố nguy cơ. Trong 3 tháng, tất cả đã uống mỗi ngày một viên polypill (chứa aspirine, một chất kháng cholestérol và 3 loại thuốc chống cao huyết áp), hoặc một thứ thuốc duy nhất, hoặc một phối hợp của vài trong những thứ thuốc họp thành polypill.

Hỏi : Những kết quả thu được là gì ?
G.S Nicolas Dachin : Hiệu quả đã tỏ ra tốt : viên thuốc polypill này đã cho phép làm hạ cholestérol gần giống như với một statine dùng đơn độc, cho phép làm giảm huyết áp còn hơn một thuốc chống cao áp cổ điển và làm gia tăng độ lỏng (fluidité) của máu giống như với một aspirine dùng đơn độc. Trên bình diện dung nạp thuốc, hơn 8 bệnh nhân trên 10 đã không có một tác dụng phụ nào.

Hỏi : Theo ý kiến ông, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ có thể hưởng viên thuốc polypill này ?
G.S Nicolas Dachin : Lợi ích đầu tiên của công trình nghiên cứu này là đã chứng minh rằng người ta có thể đơn giản hóa một điều trị để cải thiện sự tuân thủ nó. Mặt khác, đó là một kỳ công kỹ thuật học vì đã thành công hiệu chính một viên thuốc chứa 5 thứ thuốc ! Những thách thức thật sự sẽ được diễn ra trong công trình nghiên cứu sắp đến, với thời gian thực hiện dài hơn nhiều, khi đó nguoi ta sẽ có thể kiểm chứng rằng polypill thật sự làm giảm nguy cơ tim mạch mà không gây nên các biến chứng. Một mục đích khác, xa vời hơn, của công trình nghiên cứu này, là cho toàn thể dân chúng khả năng làm giảm một nửa nguy cơ, chỉ với một viên thuốc mà thôi.
( PARIS MATCH 7/5-13/5/2009)

7/ VITAMINE D CÓ MỘT TÁC ĐỘNG LÊN NGUY CƠ TIM MẠCH.

ENDOCRINOLOGE. Một công trình nghiên cứu của Anh phát hiện một mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và bệnh đái đường hay những bệnh tim mạch.

Vitamine D hiện nay là trọng tâm của nhiều nghiên cứu khoa học, và không chỉ về những tác dụng đã được biết từ lâu của nó lên mật độ xương (densité osseuse). Như là, những công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các thầy thuốc người Anh khiến nghĩ rằng một cung cấp bổ sung vitamine D có thể giúp những người lớn tuổi làm giảm nguy cơ phát triển những vấn đề tim hay đái đường của họ. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời làm giảm những sự thiếu hụt vitamine D gây nên do tuổi tác hay do thay đổi lối sống. Vấn đề được đặt ra, đó là những người lớn tuổi hấp thụ vitamine D ít tốt hơn so với những người nhỏ tuổi hơn. Vitamine D được tổng hợp nhờ các tia nắng mặt trời, và những người lớn tuổi thì lại ít tiếp xúc hơn với ánh nắng.

Những công trình được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của đại học Anh Warwick, mà B.S Oscar Franco tiến hành, và được công bố tuần này trong Diabetes Care, kết luận rằng sự thiếu hụt vitamine D được liên kết, một cách đáng kể, với “ hội chứng chuyển hóa ” (syndrome métaboliqe). Hội chứng này là sự phối hợp của những rối loạn khác nhau (tăng cholestérol-huyết, chứng béo phì, bệnh đái đường), làm gia tăng nguy cơ phát triển những bệnh tim mạch.

NHỮNG LÝ LẼ VỮNG CHẮC.

Công trình nghiên cứu, được thực hiện trên 3.262 người tuổi từ 50 đến 70, tất cả đều thường trú ở Trung Quốc (Bắc Kinh và Thượng hải), đã phát hiện rằng những người có một nồng độ thấp vitamine D đã bị hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) nhiều hơn. “ Dường như sự thiếu hụt vitamine D là nguồn gốc của nhiều bệnh tật trên thế giới, đặc biệt là nơi các người già ”, Oscar Franco, tác giả của tài liệu được công bố, đã giải thích như thế. Trong công trình nghiên cứu này, cũng dường như rằng những nồng độ thấp vitamine D được liên kết một cách đáng kể với một sự đề kháng đối với insuline, nghĩa là một tình trạng tiền đái đường hay đái đường (état prédiabétique ou diabétique). “ Đó là một hướng nghiên cứu, nhưng những kết quả rất là sơ khởi, G.S Serge Hercberg, chuyên khoa về dinh dưỡng đã nhận xét như vậy, nhiều yếu tố, khác với những yếu tố được nghiên cứu trong tài liệu này, có thể can thiệp vào, như chế độ ăn uống,” Theo ông, dầu sao, cộng đồng khoa học ngày nay có những lý lẽ vững chắc để nói rằng vitamine D đóng một vai trò trong chuyển hóa. “ Công trình nghiên cứu này mở ra những hướng nghiên cứu mới về vitamine D ”, Serge Hercberg phát biểu như vậy.

“ Sự thiếu hụt vitamine D liên kết với bệnh đái đường loại 2, đã được biết từ lâu ”, G.S Philippe Chauveau, thầy thuốc khoa thận thuộc CHU de Bordeaux, về phần mình, đã đánh giá như vậy. “ Ở đây, điều đáng quan tâm, đó là số người được nghiên cứu. Ở Pháp, người ta thu được cùng các kết quả, nhưng với những công trình nghiên cứu quy mô nhỏ hơn.” GS Marc Bonnefoy, thầy thuốc chuyên về người già thuộc CHU de Lyon chia xẻ quan điểm này. Một công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện cho một luận án, cho thấy rằng trên 100 người già tuổi 80, 82% có một thiếu hụt vitamine D. “ Đó là một vấn đề quan trọng và việc cho bổ sung vitamine D một cách hệ thống là điều cần thiết, G.S Marc Bonnefoy đã nhận xét như vậy. Trái lại, từ đó xác lập một quan hệ nhân quả giữa sự thiếu hụt vitamine D cà các rối loạn chuyển hóa là hơi nhanh. Mặc dầu có một mối liên kết giữa hai hiện tượng, nhưng việc xác lập một mối liên hệ như thế đối với tôi dường như còn sớm ” Sẽ phải cần những thử nghiệm điều trị để xác nhận điều đó.

ĐƯỢC TỔNG HỢP DO DA.

Dầu thế nào đi nữa, vitamine D được các nhà nghiên cứu chú ý. “ Rõ ràng là có một mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và tỷ lệ tử vong ”, Marc Bonnefoy đã nhấn mạnh như vậy. Cái đặc điểm lớn của vitamine này, đó là nó được tổng hợp phần lớn bởi da dưới tác dụng của những tia nắng mặt trời. Các cung cấp dinh dưỡng chiếm dưới 1/3 nguồn vitamine D. Nồng độ lớn nhất hiện diện trong cá và dầu gan morue. Các công trình nghiên cứu mới đây cũng đã cho thấy rằng vitamine D có thể đóng một vai trò trong sự ngăn ngừa vài loại ung thư, như ung thư đại tràng. Một tài liệu được công bố trong Archives of Internal Medicine vào tháng ba, xác nhận rằng vitamine D, được cho với liều lượng cao, làm giảm một cách đáng kể nguy cơ gãy xương nơi các người già.
( LE FIGARO 13/5/2009)

Đọc thêm :
http://www.yduocngay...h_News_nr60.htm (TSYH 60, bài số 8)
http://www.yduocngay...h_News_nr43.htm (TSYH 43, bài số 1)

8/ CÁC TẾ BÀO GỐC : SỰ SẢN XUẤT VỚI SỐ LƯỢNG LỚN.

Các nhà nghiên cứu Canada đã thành công làm tăng sinh các tế bào gốc máu (cellules souches sanguines) trong phòng thí nghiệm. Một đầu tiên trên thế giới, có thể cho phép phát triển những điều trị mới và nhất làm dễ các ghép cơ quan (greffes d’organes).

Hàng ngàn người trên thế giới đang chờ đợi một cách hoài công một ghép tủy xương vì thiếu người cho thích hợp (donneur comptatible). Người ta biết rằng một ghép những tế bào gốc tủy xương (greffe de cellules souches de la moelle osseuse) có thể cho phép tái tạo lại tủy xương của người nhận, nhưng cái khó khăn chủ yếu vẫn là thu được một số lượng đầy đủ những tế bào thích hợp. Nhờ những nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu miễn dịch học và ung thư học của đại học Montréal, những bệnh nhân này, từ nay đến vài năm nữa, sẽ có thể có được một tủy xương mới mà không còn cần phải chờ đợi nữa.

Thật vậy, BS Guy Sauvageau và nhóm nghiên cứu đã chỉ rõ, trong một thông báo, rằng họ đã thành công sản xuất trong phòng thí nghiệm một số lượng lớn những tế bào gốc từ một lượng rất nhỏ những tế bào gốc máu (cellules souches sanguines) xuất phát từ tủy xương. “ Đó là một đầu tiên trên thế giới có thể có những ảnh hưởng quan trọng trong nhiều địa hạt và đó là một bước khổng lồ tiến về sự hiệu chính một trị liệu cho những bệnh nhân đang chờ đợi để được ghép tủy xương ”, các nhà nghiên cứu Canada đã tuyên bố như vậy.

TRÁNH PHẢN ỨNG THẢI BỎ.

Hiện nay những người được ghép buộc phải dùng thuốc để chống lại sự thải bỏ của cơ quan được ghép và phải chiu những tác dụng phụ vì thuốc này suốt cuộc đời. “ Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chuột chứng minh rằng những tế bào gốc của tủy xương có thể ngăn cản sự thải bỏ nhằm chống lại những cơ quan rắn ”, BS Sauvageau đã nhấn mạnh như vậy.

Phản ứng thải bỏ (rejet) xảy ra bởi vì những tế bào của hệ miễn dịch, được chế tạo bởi tủy xương, tấn công cơ quan được ghép (organe greffé) như thể đó là một kẻ xâm lăng. Làm sao tránh được điều đó ? Các nghiên cứu đã cho thấy rằng ghép những tế bào gốc sinh huyết (cellules souches hématopoiétiques) (những tế bào được lấy nơi một người cho cơ quan và được phát triển trong phòng thí nghiệm) sẽ cho phép tránh sự thải bỏ của cơ quan này. Do đó, tầm quan trọng có thể có những lượng lớn các tế bào gốc sinh huyết, như thế cho phép có khả năng liên kết những tế bào gốc tương hợp với cơ quan cần phải ghép.

10 PROTEINE ĐƯỢC LỰA CHỌN
Để sản xuất những lượng lớn những tế bào gốc được gọi là sinh huyết, nhóm nghiên cứu Canada đã nhận diện 10 protéine trong số 700 ứng viên. 10 protéine này, trong thiên nhiên, hiện diện bên trong những tế bào gốc sinh huyết. Các nhà nghiên cứu chỉ rõ rằng họ có thể dùng mội protéine trong số 10 protéine này để buộc các tế bào gốc sinh huyết tăng sinh trong phòng thí nghiệm.

“ Giai đoạn sắp đến nhằm kiểm tra xem điều đó cũng hoạt động nơi người hay không, nói một cách khác là chúng ta sẽ có thể thu được những lượng tế bào gốc cần thiết cho những kỹ thuật ghép này hay không ”, BS Sauvageau đã xác nhận thêm như thế. Các thử nghiệm sẽ diễn ra ở bệnh viện Maissonneuve-Rosemont ở Montréal, một trong những trung tâm lớn nhất, ở đó sự ghép các tế bào gốc được thực hiện. Các công trình của nhóm nghiên cứu của BS Sauvageau đã được tài trợ bởi Viện nghiên cứu sức khỏe của Canada và các kết quả được công bố trong Cell.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 12/5/2009)

9/ CÁC PHỤ NỮ PHẢI TRẢ GIÁ NHIỀU HƠN CHO MỘT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Thường thường nguoi ta liên kết tai biến mạch máu não với đàn ông nhiều hơn là với phụ nữ . Nhưng một khi một phụ nữ là nạn nhân của tai biến mạch máu não, thì những thương tổn nghiêm trọng hơn. Những nguyên nhân là phức tạp, theo một công trình nghiên cứu dịch tễ học.

Cho mãi đến một lứa tuổi cao, các tai biến mạch máu não thường xảy ra hơn nơi đàn ông. Nhưng sau tuổi 85, phần lớn các nạn nhân là phụ nữ. Mặt khác, mỗi năm, có nhiều phụ nữ chết vì hậu quả của một tai biến mạch máu não hơn đàn ông. Thí dụ, ở Hoa Kỳ, 61% các nạn nhân của một tai biến mạch máu não chết người là nữ giới. Nhìn toàn bộ, ở các phụ nữ, tai biến mạch máu não nghiêm trọng hơn (trước mắt và lâu dài) và có tiềm năng gây chết người hơn, và tỷ lệ tái phát trong 5 năm sau đột qụy đầu tiên là cao hơn. Ngoài ra, các phụ nữ này hiếm khi trở lại nhà hơn sau khi đã nhập viện, và sau đó thường được chuyển về một cơ quan điều dưỡng.

GÓA PHỤ CÔ ĐƠN.

Một phần của những quan sat bất lợi này có thể được quy cho tuổi tác : thường các phụ nữ cao tuổi hơn đàn ông vào lúc xảy ra tai biến mạch máu não. Nhưng những dị biệt này vẫn tồn tại một phần sau khi điều chỉnh đối với tuổi tác và đối với một số yếu tố nguy cơ nào đó, như bệnh tật cùng xảy ra và tình trạng chức năng, trước khi xảy ra tại biến mạch máu não. Sau tai biến mạch máu não, các phụ nữ thường trở nên trầm cảm hơn đàn ông, điều này có thể giải thích vì sao sự bình phục diễn ra khó khăn hơn. Một yếu tố khả dĩ khác là khả năng hạn chế của những hỗ trợ xã hội, nhất là do sự việc các phụ nữ lớn tuổi thường là góa phụ và do đó có nguy cơ nhận ít sự giúp đỡ hơn.

ÍT LIỆU PHÁP TAN HUYẾT KHỐI (THROMBOLYSE) HƠN

Người ta cũng đã xác lập rằng những phương thức điều trị được lựa chọn khác nhau đối với đàn ông và phụ nữ : các phụ nữ ít được nhập viện hơn trong thời hạn 3 giờ sau tai biến mạch máu não, mà thời hạn này hiện nay được cho là cửa sổ điều trị (fenêtre thérapeutique) (thời gian giới hạn) để thực hiện liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse). Ngoài ra các phụ nữ ít thường (13%) được điều trị bởi phương pháp này hơn.Việc nhập viện muộn của các phụ nữ một lần nữa được quy cho sự cô lập về mặt xã hội và giải thích tại sao họ thường ít được hưởng liệu pháp tan huyết khối hơn.

NHỮNG TRIỆU CHỨNG KHÔNG ĐIỂN HÌNH

Một phần của các giải thích này có thể là do sự việc rằng các triệu chứng thường ít điển hình hơn nơi phụ nữ. Một công trình nghiên cứu quan sát báo cáo rằng ở phụ nữ, tai biến mạch máu não được thể hiện thường hơn bởi những triệu chứng như đau đớn, sự biến đổi tình trạng tri giác và những rối loạn thần kinh không đặc hiệu. Các đàn ông thường biểu lộ các triệu chứng cổ điển hơn như bại liệt một bên hay những rối loạn cân bằng. Những điều mà chúng ta biết về các hội chứng tim cũng đúng với tai biến mạch máu não. Các phụ nữ có ít hơn những triệu chứng có thể được nhận biết dễ dàng, điều này có thể giải thích tại sao việc điều trị nơi các phụ nữ ít tích cực hơn. Người ta chưa biết là các phụ nữ có phản ứng khác đối với liệu pháp tan huyết khối hay không. Những công trình nghiên cứu cho thấy rằng liệu pháp này có thể có những tác dụng điều trị rõ rệt hơn nơi các bệnh nhân nữ, nhưng không có gì là chắc chắn.

MỘT CƠ CHẾ SINH BỆNH KHÁC

Các phụ nữ cũng ít được hưởng hơn vài xét nghiệm thường được thực hiện trong giai đoạn cấp tính của tai biến mạch máu não. Đặc biệt đó là trường hợp khám các động mạch cảnh và siêu âm tâm ký (échocardiographie). Trái lại RMN cũng thường được ghi đơn cho cả hai giới. Nói chung, rất rõ ràng rằng các phụ nữ không phải là nạn nhân cùng loại tai biến mạch máu não như đàn ông : nơi phụ nữ, người ta quan sát thấy một tỷ lệ tai biến mạch máu não loại huyết khối-nghẽn mạch (thromboembolique) nhiều hơn, vì lẽ có tỷ lệ bị rung nhĩ (fibrillation auriculaire) cao nhất, trong khi đàn ông thường là nạn nhân của tai biến mạch máu não loại vữa-huyết khối (athérothrombotique). Khó nói trong chừng mực nào những đặc điểm sinh bệnh này có thể giải thích những khác nhau trong sự sử dụng các phương tiện chẩn đoán có sẵn.
(LE GENERALISTE 2/4/2009)

10/ NGUY CƠ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Sự gia tăng hoạt động sinh dục và sự tiêu thụ rượu được liên kết với sự gia tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu và những cô gái ở lứa tuổi học đường, phải đi tiểu thường xuyên hay một cách cấp bách, phải khám bệnh để được điều trị cái điều có thể là nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên của họ. Đó là điều mà các nhà nghiên cứu đã giải thích nhân hội nghị khoa học hàng năm của Hiệp hội niệu học Hoa Kỳ (AUA).

Vào tháng 7 năm 2001 và tháng 4 năm 2005, các nhà nghiên cứu đã khảo sát 181 phụ nữ bị đợt nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên, đến khám tại phòng khám dành cho sinh viên của Đaị Học Floride. Nhóm kiểm tra gồm có 80 phụ nữ không bị nhiễm trùng này. Những người tham gia phải trả lời một bảng câu hỏi về những thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống của họ.

Các kết quả cho thấy rằng tần số và mức độ khẩn trương là những triệu chứng thường gặp nhất và rằng các nhiễm trùng đường tiết niệu thường được gặp nhất nơi các phụ nữ mới đây đã gia tăng hoạt động sinh dục và mức độ uống rượu. Việc sử dụng các khăn vệ sinh trong lúc hành kinh cũng làm gia tăng nguy cơ bị đợt nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên. Do dự không đi tiểu, hướng chùi và việc sử dụng các tampon dường như không bị liên kết với nguy cơ của loại nhiễm trùng này. Sự chung sống với các Chlamydia, bệnh lậu (gonorrhée) và những nhiễm trùng nấm không góp phần một cách đáng kể vào những triệu chứng đường tiểu.

“ Nếu như cô phải đi tiểu thường xuyên và khẩn cấp, cô cần phải đi khám bệnh, Anthony Smith (AUA) đã bình luận như vậy. Một phụ nữ lần đầu tiên bị nhiễm trùng đường tiểu có thể không nhận biết các triệu chứng này ”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (28/5/2009)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969