Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 127
Lượt truy cập: 1028842
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ DỰ PHÒNG CHỐNG CÚM.

Theo các chuyên gia, sự tôn trọng một số nguyên tắc vệ sinh cho phép làm giảm sự lây truyền.

Hỏi : Làm sao có thể dự phòng trong trường hợp tiếp xúc với một người bị cúm A ?
Mọi tiếp xúc với một bệnh nhân bị bệnh cúm mới này đòi hỏi điều trị dự phòng với Tamiflu (một viên mỗi ngày trong 7 đến 10 ngày). Ngoài ra cũng cần những “ biện pháp rào chắn ” (mesures barrière) : bệnh nhân phải mang một mặt nạ ngoại khoa để không làm lây nhiễm chung quanh, tránh ôm hôn và bắt tay bệnh nhân. Đối với mọi tiếp xúc, phải rửa tay bằng xà phòng, Paul Léophonte, vừa xuất bản cuốn “ Les Grippes en question ”, đã xác nhận như thế. Dầu sao, loại tiếp xúc này không nên để xảy ra : bình thường, một người bị bệnh cúm phải ở cách ly tại nhà. Nếu ta ở cách xa bệnh nhân trên 2 m, thì khó mà bị lây nhiễm, Jean-Philippe Derenne, trưởng khoa bệnh phổi, bệnh viện Pitié-Salpêtrière đã xác nhận như thế.

Hỏi : Có phải áp dụng những biện pháp thận trọng đối với một người chỉ bị nghi là có bệnh cúm hay không?
Cái khó khăn là ở chỗ những triệu chứng của bệnh cúm rất là thông thường. Nếu một người bị sốt, đau đầu, ho, và đến từ một nước mà tình trạng đại dịch đã được tuyên bố (mức 6), thì những thận trọng nêu trên phải được tuân thủ, trong lúc chờ đợi sự xác nhận của chẩn đoán, theo Paul Léophonte.

Hỏi : Có bị nguy hiểm hay không khi tiếp đón tại nhà những người đến từ những vùng bị lây nhiễm ?
Nếu những người này không có một triệu chứng nào (mặc dầu họ có thể là những “ người lành mang ” virus), không nên hoảng sợ. Thời gian tiềm phục của bệnh cúm là từ 4 đến 6 ngày. Chỉ cần chờ đợi hết kỳ hạn này thì có thể chắc là các khách thăm viếng không phải là những người bệnh. Hôm nay, nhiều người đến từ Hoa Kỳ tham gia các hội nghị của đất nước chúng ta. Chúng ta sẽ không tẩy chay họ. Hiện nay chúng ta trong một thời kỳ trung gian. Nước Pháp hiện không ở mức báo động đại dịch toàn cầu cấp 6. Khi sẽ là như vậy, thì tất cả mọi cuộc hội họp công cộng sẽ bị cấm chỉ. Theo G.S Derenne, nếu tất cả mọi người đều ở tại nhà trong một tuần, thì sẽ không có bệnh cúm A nữa, virus sẽ biến mất. Đó cũng hơi giống điều mà các người Mễ đã làm trong những weekend vào cuối của tháng tư.

Hỏi : Chúng ta có thể đi nghỉ hè trong những nước có một số lượng cao các trường hợp cúm A, như Mễ Tây Cơ hay Hoa Kỳ ?
Vâng, không có vần đề tránh không đi nghỉ hè trong tình hình hiện nay, kể cả để đi Mễ Tây Cơ hay Hoa Kỳ. Vì lý do thận trọng, chúng ta có thể mang theo trong hành lý một điều trị bằng thuốc Tamiflu. Nếu không, với sự xuất hiện bất cứ triệu chứng cúm nào, phải đi khám nhanh chóng một thầy thuốc, bởi vì thuốc Tamiflu chống virus này, để được hiệu quả, phải được cho trong 48 giờ đầu sau khi bắt đầu các triệu chứng.

Hỏi : Có phải những người đã bị lây nhiễm bây giờ, sẽ được bảo vệ về sau hay không, mặc dầu virus có thể độc lực hơn ?
Chúng tôi không thể trả lời câu hỏi này, Jean Philipp-Derenne đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu cúm Tay Ban Nha đã chứng tỏ rằng, các quân nhân của Hải Quân quốc gia, bị ảnh hưởng ít nghiêm trọng nhất bởi làn sóng dịch thứ hai, vốn là những người đã bị cúm vào làn sóng đầu tiên của dịch bệnh. Nếu như virus không bị quá nhiều biến dị, ta có tất cả các lý lẽ để nghĩ rằng những người này sẽ có được một mức độ bảo vệ nào đó. Đó là điều đã xảy ra vào lúc làn sóng cúm Tây Ban Nha lần thứ hai : những người già, vốn đã bị mắc phải một loại virus khác hẳn (cúm Á Châu) vào năm 1890, đã được bảo vệ hơn những kẻ khác. Các kháng thể vẫn hiện diện rất lâu trong cơ thể. Mới đây, người ta đã tìm thấy các kháng thể của cúm Tây Ban Nha nơi những người bách niên.

Hỏi : Ngay từ bây giờ có nên thực hiện các chiến dịch thông tin lớn về những phương pháp phòng ngừa tốt hay không ?
Đó là một điểm thiết yếu, theo Patrick Berche, giáo sư vi trùng học (Paris-V) : phải báo cho dân chúng biết rằng sẽ có một làn sóng dịch cúm quan trọng, trong 6 đến 10 tuần, với nhiều bệnh nhân. Thông báo về các triệu chứng và cách xử trí là rất quan trọng. Phải nhắc lại rằng, trong trường hợp bị cúm thì phải ở tại nhà và báo với thầy thuốc gia đình. Việc thông tin về các mặt nạ và cách sử dụng chúng, về các điều trị kháng virus, về thái độ khi đứng trước một bệnh nhân, là rất quan trọng để làm giảm nguy cơ lây truyền. Đối với Paul Léophonte, dân chúng ở Pháp bắt đầu được thông tin khá tốt, mặc dầu những chiến dịch thông tin vẫn là cần thiết.
( LE FIGARO 16/6/2009)

2/ CÚM : LÀM SAO CHUẨN BỊ VỚI CÁC ĐỀ KHÁNG ?

Một vài thuốc kháng virus hiện có hiệu quả chống lại virus cúm A (H1N1). Nhưng những giống gốc đề kháng sẽ xuất hiện, đó là điều không thể tránh được.

Tất cả các điều trị chống lại các bệnh nhiễm khuẩn đều có một mối nguy cơ: làm dễ sự chọn lọc của các giống gốc đề kháng với các thuốc hiện có. Virus cúm cũng không thoát khỏi quy tắc tiến hóa này : con người hiệu chính những thuốc kháng virus mới, nhưng vài giống gốc có những biến dị thuận lợi, cho phép chúng đề kháng với những thuốc kháng virus này và tăng sinh.

Một vài trong những nghiên cứu đang được tiến hành nhằm vào protéine M2, một trong những protéine của vỏ của virus cúm A, cần thiết cho sự tăng sinh của siêu vi trùng. Protéine này bị ức chế bởi các adamantane, mà amantadine là một bộ phận (do tính chất kháng khuẩn, amantadine đôi khi được sử dụng để điều trị và dự phòng bệnh cúm, nhưng ngày nay amantadine chỉ có một vai trò hạn chế). Protéine M2 chịu những biến dị, trong đó một vài biến dị cho phép nó thoát khỏi tác dụng của các adamantane kháng virus. Như thế, hơn 90% của các giống gốc thuộc sous-type A (H3N2) của virus cúm mùa và A (H5N1) của cúm gia cầm, đều đề kháng với adamantane.

Người ta đã chứng tỏ rằng giống gốc mới đây, A (H1N1), có nguồn gốc từ heo, cũng đề kháng với điều trị bởi các adamantane. Ngược lại, hiện nay nó lại nhạy cảm với những thuốc khác, như oseltamivir (Tamiflu).

Làm sao chống lại các đề kháng đối với adamantane ? Các nhà sinh học Hoa Kỳ đã nghiên cứu nguồn gốc của sự biến dị là nguyên nhân của các đề kháng này. Bằng cách so sánh các bộ gène (génome) và các protéine của hàng trăm giống gốc H3N2 được phân lập từ năm 1997, họ cho thấy rằng đại đa số các virus H3N2 đề kháng, phát xuất từ một giống gốc bị biến dị, được phát hiện lần đầu tiên ở Hồng Kông vào mùa hè 2003, và protéine M2 của giống gốc này đã bị biến đổi.

Protéine M2 là một kênh proton (canal à protons), nghĩa là nó điều hòa sự đi qua của các ion H+. Protéine này được tạo thành bởi 4 phó đơn vị dưới dạng hélice. Khi virus đi vào trong một tế bào, kênh được mở ra và các proton đi vào trong virus, điều này làm phát khỏi sự phân ly của vỏ virus, cho phép các ARN của virus được tự do phiên thành protéine virus.

Hai nhóm nghiên cứu, nhóm của William DeGrado, thuộc Đại học Pennsylvanie, và nhóm của James-Chou, ở Havard, đã làm sáng tỏ một sự biến dị của M2 gây nên sự đề kháng như thế nào.

Mặt khác, từ mười năm nay, protéine M2 là đối tượng của các nghiên cứu nhằm tìm ra một vaccin “ vạn ứng ”, hiệu quả chống lại nhiều giống gốc của virus cúm, điều này sẽ tránh phải bào chế mỗi năm vaccin cúm mùa hay vaccin chống đại dịch. Thật vậy, đoạn ngoài (fragment externe) của M2 được bảo tồn trong tất cả các virus loại A. Bằng cách đưa đoạn ngoài vào bề mặt của một protéine, người ta hy vọng gây nên sự sản xuất các kháng thể có tác dụng chống lại tất cả các giống gốc.

Những nhóm nghiên cứu đã tiến xa nhất trong địa hạt này là nhóm của Walter Fiers và Xavier Saelens, thuộc Đại Học Gand (Bỉ) và nhóm của Robert Belshe, thuộc Đại Học Saint Louis, Missouri . Hai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I đã cho thấy rằng vaccin gây nên sự sản xuất các kháng thể chống lại protéine M2 nơi hơn 90% những người được tiêm chủng. Nhưng người ta không biết những kháng thể này có bảo vệ những người được tiêm chủng chống cúm hay không ; chỉ một thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn mới có thể chứng tỏ điều đó.
( POUR LA SCIENCE 6/2009)

3/ NHỮNG TAI NẠN GIAO THÔNG GÂY NÊN HƠN 1 TRIỆU NGƯỜI CHẾT TRÊN THẾ GIỚI.

SANTE PUBLIQUE. OMS công bố báo cáo lần đầu tiên về an ninh đường xá của 178 nước, với 20-50 triệu chấn thương không tử vong mỗi năm.

Trên đường từ Kampala và Gulu, phía bắc Ouganda, thường thường xe bus qua mặt anh với tốc độ 100 km/giờ. Ở Vientiane (Lào), 70% dân số dưới 20 tuổi và lái xe hai bánh ở giữa các chiếc xe tải to tướng. Trên tất cả các lục địa, cùng các nguyên nhân có cùng những hậu quả : các tai nạn lưu thông mỗi năm gây tử vong cho 1,2 triệu người, và 20 đến 50 triệu chấn thương không gây chết người.

OMS lần đầu tiên công bố một báo cáo về sự ngăn ngừa các chấn thương do các tai nạn giao thông trong 178 nước, được thiết lập từ các dữ kiện của một công cuộc điều tra chuẩn, được tiến hành vào năm 2008.

Hơn 90% các tai nạn đường xá chết người xảy ra trong những nước có lợi tức thấp hoặc trung bình. Tỷ lệ tử vong được quy cho các tai nạn đường xá là 21,5 trên 100.000 người đối với những nước có lợi tức thấp, và 19,5 trên 100.000 người trong những nước có lợi tức trung bình.

GIỚI HẠN TỐC ĐỘ CÓ HIỆU QUẢ TRONG 10% CÁC QUỐC GIA.

49% các trường hợp tử vong là những khách bộ hành, những người lái xe đạp hay những người sử dụng xe hai bánh có động cơ. Tỷ lệ của những người sử dụng dễ bị thương tổn này lại còn cao hơn trong những nước nghèo : thí dụ, ở Đông Nam Á, tỷ lệ này vượt quá 90% của toàn bộ các tử vong.

Đứng trước một bảng tổng kết như thế, những cố gắng phòng ngừa rõ ràng không đủ và nhiều nước không có pháp luật đường sá tương xứng để chống lại việc lái xe trong khi say, tốc độ quá mức hay để buộc phải mang mũ sắt, đeo dây an toàn, các ghế ngồi dành cho trẻ em.

Chỉ 29% các nước đã giảm tốc độ xuống 50 km/giờ hay ít hơn trong thành phố (trong khi tốc độ là một trong những yếu tố nguy cơ chính của tai nạn nơi những khách bộ hành và những người lái xe đạp). Dưới 10% các nước cho rằng, những giới hạn tốc độ được áp dụng một cách có hiệu quả : việc thiếu radar cố định hay di động và thiếu nhân viên công lực được đào tạo để kiểm soát, là rõ rệt ở Châu Phi. Mặt khác, chỉ 1/3 dân số thế giới sống trong một đất nước có một chính sách quốc gia khuyến khích việc đi bộ hay những đi lại bằng xe đạp.

Về việc lái xe trong khi say rượu, mặc dầu hơn 90% các nước đều có một đạo luật quốc gia, nhưng chỉ có 49% là đã định một ngưỡng nồng độ rượu hợp pháp dưới 0,5 g/L. Và chỉ có 11% các quốc gia là đã ấn định một ngưỡng nồng độ cồn trong máu thấp hơn đối với các người lái trẻ tuổi hay những người mới lái xe.

Đối với những người đi mô tô, 74% các nước buộc phải thường trực đội mũ sắt, nhưng không có một tiêu chuẩn an ninh nào trong 43% các quốc gia. Việt Nam, đã có một đạo luật về việc mang mũ sắt, đã thu được các kết quả. 95% những người lái xe hai bánh từ nay phải mang mũ sắt và tỷ lệ tử vong đã giảm xuống.

Về những hành khách xe hơi, việc mang dây an toàn (làm giảm nguy cơ tử vong 40-50% đối với những người ngồi ở phía trước) chỉ bắt buộc trong 38% các nước có lợi tức thấp.

Lần đầu tiên, bảng báo cáo này cho mỗi nước những bản đồ về tỷ lệ bệnh tật và tử vong. “ Chúng tôi hy vọng rằng điều xác nhận này sẽ giúp những người hữu trách mỗi nước kêu gọi những nhà lập pháp cải thiện các đạo luật ” đối với an ninh và phòng ngừa đường sá, OMS đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 16/6/2009)

4/ PHẪU THUẬT HIỆU QUẢ CHỐNG BỆNH RUNG NHĨ.

CARDIOLOGIE. Cắt bỏ các vùng của tim chịu trách nhiệm các rối loạn nhịp là hiệu quả hơn thuốc men.

Jean-Marc là một trưởng bộ môn lâm sàng, chỉ mới 27 tuổi : anh tham gia trực gác ngoại khoa chỉnh hình 9 lần mỗi tháng, làm việc 15 giờ mỗi ngày và uống cà phê cùng chừng ấy số lượng ! Từ ba ngày nay, thầy thuốc bệnh viện tương lai và xuất sắc này bị những cơn hồi hộp rất khó chịu, cảm giác như có một “ tổ ong ” trong lồng ngực, hay có cảm giác như tim bị dừng lại.

Anh thăm khám thầy thuốc chuyên về nhịp tim. Chẩn đoán : Jean-Marc bị rung nhĩ cấp tính kịch phát (fibrillation auriculaire aigue paroxystique). Nói một cách khác, hệ thống tạo nhịp vốn tạo nên sự co cơ của tim, đã trở nên hỗn loạn một cách đột ngột.

Thật vậy, một vài tế bào của thành tâm nhĩ, được tập trung lại trong “ nút xoang ” (noeud sinusal), khử cực theo chu kỳ (những tế bào này làm đảo tính đối cực điện của màng tế bào). Sự khử cực này tiến từ gần đến xa, từ cao xuống thấp, đến chỗ nối (jonction) với tâm thất phải. Chính sự khử cực này đảm bảo một sự co thắt đồng bộ, điều hòa, có hiệu quả của những tế bào cơ của tâm nhĩ.

Trong trường hợp rung nhĩ, sự khử cực này trở nên hỗn loạn và sự co bóp của tâm nhĩ trở nên không hiệu quả (mặc dầu một nhịp rất nhanh trên 300 mỗi phút). Có hai loại điều trị : hoặc là những thuốc chống loạn nhịp, hoặc là những kỹ thuật can thiệp với các ống thông dò tim (sondes cardiaques).

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN 167 BỆNH NHÂN

Một công trình nghiên cứu, được trình bày ở hội nghị chuyên đề Heart Rythm 2009 ở Boston (Hoa Kỳ), lần đầu tiên, vừa so sánh điều trị dược học và can thiệp ngoại khoa. Kết quả : các thiệp ngoại khoa hiệu quả hơn nhiều.

B.S David Wilber (giám đốc của Viện tim mạch của loyola University, Illinois) đã điều khiển một công trình nghiên cứu nhiều trung tâm, quy tụ 167 bệnh nhân thuộc 15 bệnh viện Hoa Kỳ, Một năm sau khi được cắt bỏ ngoại khoa (ablation chirurgicale), 63% các bệnh nhân vốn bị rung nhĩ không còn có triệu chứng nữa. Ngược lại, chỉ có 17% trong số những bệnh nhân này, chỉ được điều trị bằng thuốc chống loạn nhịp, là được chữa lành mà thôi.

Từ những bước đầu, cách nay 40 năm, kỹ thuật cắt bỏ (technique d’ablation) đã tiến triển tốt, nhưng phương thức căn bản vẫn như nhau : trước hết người ta thiết lập một bản đồ điện (carte électrique) của những vùng cần phải đốt, bằng cách thu những phóng điện ngẫu nhiên từ các ổ lạc chỗ (foyers ectopiques) chịu trách nhiệm loạn nhịp, ở chỗ nối với các tĩnh mạch phổi, nhờ một ống thông dò (sonde để mesure) được đặt ở đầu một cathéter.

Sau đó, người ta đưa vào, qua chọc dò một tĩnh mạch đùi lớn, đầu mút của một cathéter mảnh, rồi người ta đưa lên, ngược dòng, vào trong tĩnh mạch chủ, rồi vào tâm nhĩ phải.

Cũng có những hệ thống từ hành (navigation magnétique), có thể được kết hợp với chụp hình ảnh tim (imagerie médicale) và cho phép xác định, một cách thường trực, vị trí đầu mút của cathéter, để tiến đến càng gần mục tiêu càng tốt. Một khi đã đến được mục tiêu, người thầy thuốc phát một dòng tần số phong xạ (courant de radiofréquence) ở đầu mút của cathéter. Dòng tần số phóng xạ này chính xác hơn và dễ kiểm soát hơn những dòng điện liên tục có điện thế cao (courants continus de haut voltage), được sử dụng cách nay nhiều thập niên. Dòng tần số phóng xạ này phá hủy ổ bất thường gây loạn nhịp, và thường mang lại sự chữa lành vĩnh viễn.

“ Có một “ dịch bệnh ” rung nhĩ ở Pháp, phải được quy cho sự gia tăng tần số của bệnh suy tim. Ngày nay, hiếm khi ta chết vì những bệnh tim này, do đó càng ngày càng có nhiều bệnh tim già (cardiopathies vieilles), trong một dân số lão hóa ”, BS Arnaud Lazarus của trung tâm nhịp tim học Bizet, Paris, đã giải thích như vậy.

Dầu sao, cũng không nên quên rằng kỹ thuật cắt bỏ ngoại khoa này, được phát minh bởi trường phái tim học của Pháp, cũng có những nguy cơ như các nguy cơ của “ ngoại khoa tim mở ” (“ chirurgie à coeur ouvert ”), B.S Lazarus đã đánh giá như vậy. Cần phải e sợ những biến chứng huyết khối nghẽn mạch (thromboembolies), các tai biến mạch máu não, thủng các xoang tim.

Đó là một trong những lý do thúc đẩy các thầy thuốc, tùy theo tuổi tác của bệnh nhân, mức độ thâm niên của bệnh rung nhĩ, của trái tim cần phải mổ, đặt ưu tiên một chiến lược hai kỳ. Trước hết, thử dùng các thuốc chống loạn nhịp, và chỉ trong những trường hợp thất bại của những thuốc này mà sự can thiệp ngoại khoa mới có thể được quyết định.

Sau cùng, hãng Biosense Webster, đã tài trợ công trình nghiên cứu của BS David Wilber, vừa được Cơ quan FDA cấp giấy phép lưu hành các dụng cụ cắt bỏ : vậy đối với hãng này, không phải là vô ích khi có một thầy thuốc Hoa Kỳ trình bày, nhân hội nghị lớn nhất về nhịp tim học, những kết quả hiệu quả của kỹ thuật cắt bỏ này...Ở Hoa Kỳ có 2 triệu trường hợp rung nhĩ được xác nhận.
(LE FIGARO 15/5/2009)

5/ MƠ MỘNG KÍCH THÍCH NÃO BỘ.

NEUROSCIENCES. Các nhà nghiên cứu Canada vừa cho thấy rằng vỏ não trước trán (cortex préfrontal) hoạt động hơn khi người ta nghỉ ngơi.

Có lẽ đây là điều làm cho vài giáo viên phải suy nghĩ, khi họ cho rằng các hoc sinh lơ đảng và mơ mộng của họ đều là những học sinh lười. Thế mà chắc chắn rằng chính những học sinh này lại là những kẻ suy nghĩ nhiều nhất ! Một công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ, PNAS, cho thấy rằng, trái với những thành kiến, sự mơ mộng kích thích não bộ.

Những công trình nghiên cứu này được thực hiện từ những hình ảnh nhận được nhờ IRM. Các nhà nghiên cứu Canada đã quan sát thấy rằng sự kiện mơ mộng không những đã không “ làm chậm lại ” não bộ, mà trái lại còn cho phép nó giải quyết những vấn đề phức tạp. Một dữ kiện đáng quan tâm khi chúng ta biết rằng con người trải qua khoảng 2/3 thời gian của đời mình để lơ đãng trên mây. “ Khi không được kích thích bởi các nhu cầu bên ngoài, não bộ con người thường làm việc rất là nghiêm chỉnh.”, BS Kalina Christoff, giám đốc của Laboratoire de sciences neurologiques, thuộc đại học British Columbia, Vancouver, đã nhận xét như thế. Sự kiện vài vùng của não bộ “ làm việc nhiều hơn khi cá nhân không tập trung vào một công việc nào đó là một trong những khám phá khoa học-thần kinh mới nhất của thập niên qua. Phần não bộ được nói đến được gọi là vỏ não trước trán giữa (cortex préfrontal moyen). Đó là phần trước của thùy trán não bộ, nằm ở phía trước của những vùng tiền vận động (régions prémotrices). Phần này của não bộ là nơi của những chức năng nhận thức được gọi là cao cấp khác nhau, như ngôn ngữ, trí nhớ, lý luận, và nói chung hon là những chức năng chấp hành (fonctions exécutives).

NHIỀU GIẢ THUYẾT.

“ Cách nay hơn 10 năm, Marcus Raichle, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh nổi tiếng và là một trong các cha đẻ của IRM, đã cho thấy rằng, khi người ta ở trong trạng thái nghỉ ngơi, vài vùng của não bộ được kích thích hoạt động ”, Angela Sirigu, nhà nghiên cứu thuộc centre de neurosciences cognitives của CNRS, Lyon, đã giải thích như vậy. Câu hỏi lớn là làm sao biết tại sao vài vùng của não bộ được hoạt hóa, còn những khác thì lại không. “ Có nhiều giả thuyết, nhà nghiên cứu đã ghi nhận như thế. Một trong những giả thuyết này chỉ rõ rằng người ta, lúc nghỉ ngơi, hướng sự chú ý vào nội tâm nhiều nhiều hơn ra ngoại giới.” Nhưng giả thuyết đã chưa được xác nhận. Cái mới của công trình nghiên cứu Canada là đã nhận diện vùng vỏ nào trước trán giữa (cortex préfrontal moyen) như là vùng được kich thích nhiều nhất khi người ta đi từ y tưởng này qua ý tưởng khác. Nói một cách khác khi người ta mơ mộng...
( LE FIGARO 15/5/2009)

6/ PHÁ HUỶ CÁC KHỐI U HIỀN TÍNH KHÔNG CẦN PHẪU THUẬT KHÔNG CẦN GÂY MÊ.

IMAGERIE MEDICALE : Một chiếc máy của Israel, sử dụng các siêu âm được hướng dẫn bởi chụp hình ảnh, cho phép loại bỏ các khối u, đặc biệt là các u xơ tử cung (fibromes utérins), mà bệnh nhân không phải nghỉ việc và không bị biến chứng.

Một chiếc máy chụp hình ảnh bằng IRM, kết hợp với các siêu âm, đang cách mạng hóa việc điều trị các u xơ tử cung, những khối u hiền tính rất thường xảy ra, buộc 70.000 phụ nữ ở Pháp mỗi năm phải chịu phẫu thuật. Công nghệ học mới này cho phép phá hủy các u xơ tử cung mà không cần gây mê, không cần nhập viện và không cần phẫu thuật. Mặt khác, kỹ thuật này đang được đánh giá đối với những bệnh lý khác, như những di căn xương, các ung thư vú, gan…

Ở Pháp, hiện nay, chỉ có CHU de Tours là được trang bị bởi một máy như thế, được gọi là Exablate. Bảng tổng kết của công nghệ học này đã được trình bày bên lề hội nghị của Hiệp hội hình ảnh Pháp-Israel, vừa được tổ chức ở Tel-Avis, ở bệnh viện Tel HaShomer. Kỹ thuật này đã được phát minh bởi một start-up israel InSighttec có trụ sở ở Haifa, được tạo lập bởi các kỹ sư trẻ tuổi đã từng làm việc trong quân đội, và đã nghĩ ra việc kết hợp sự chụp hình ảnh bằng IRM với các siêu âm được điều tiêu, để phá hủy các khối u dưới sự kiểm soát thường trực của thị giác.

63 BỆNH NHÂN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ Ở TOURS.

Các u xơ tử cung là những khối u hiền tính của tử cung, được mồ trong trường hợp có biến chứng như chảy máu, đè ép, đau đớn. Để làm giảm việc phải nhờ đến phẫu thuật, nhóm nghiên cứu Israel đã nghĩ ra một thiết bị đổi mới, cho phép phá hủy u xơ bằng các siêu âm. Các siêu âm này có thể nói là “ nung nóng ” hoàn toàn khối u.

Các bệnh nhân đến vào buổi sáng, chịu một an thần nhẹ nhưng vẫn tỉnh táo, được điều trị và trở về nhà vào buổi chiều. Một cách cụ thể, bệnh nhân được đặt nằm sấp, một nửa dưới của thân mình ở trong một ống trụ (cylindre). “ Dưới sự kiểm soát thường trực của chụp hình ảnh, chúng tôi phát ra một loạt các tia bắn siêu âm (tirs d’ultrasons), chỉ nhắm vào khối u mà thôi, G.S Pata đã giải thích như vậy. Nhờ IRM, chúng tôi có một biểu đồ thường trực về nhiệt độ của các cơ quan lân cận và của da, như thế cho phép chúng tôi một sự kiểm soát hoàn toàn. Bệnh nhân, nếu cảm thấy bị bỏng, thì chính bệnh nhân này có thể làm ngưng các tia bắn siêu âm.”

Như thế, tính đến hôm nay, bệnh viện Tours đã điều trị 63 bệnh nhân bị u xơ tử cung, không có biến chứng, không có phản ứng phụ và với kết quả thành công. Thủ tục kéo dài khoảng 3 giờ, nhưng các nhà nghiên cứu đang thu giảm thời gian can thiệp. Tuy nhiên, một vài khối u rất to tướng hay có vị trí không tốt, không thể hưởng tiến bộ kỹ thuật này.

Tạp chí Obstetrics and Gynevology đã công bố cách nay vài tháng, một tổng kết về 359 bệnh nhân, với những kết quả hoàn toàn đáng lưu ý về mặt hiệu quả và chất lượng sống 2 năm sau thủ thuật và một tỷ lệ tối thiểu xảy ra các biến chứng.

Những nhà phát minh máy ExAblate đã phát động hơn 40 thử nghiệm lâm sàng đối với những bệnh lý khác với u xơ tử cung. Nhiều tài liệu xuất bản báo cáo những kết quả sơ khởi đáng lưu ý trong sự phá hủy các di căn xương gây đau đớn của những bệnh nhân bị ung thư. “ Chúng tôi đã điều trị một bệnh nhân bị tàn phế bởi những con đau đớn này và không còn có thể bước đi được nữa, G.S Pata nói thêm như vậy, và ông ta đã có thể đứng dậy lại và di chuyển. Đó là một bước tiến, mặc dầu căn bệnh ung thư của ông đã không được chữa lành.” Nhiều chục bệnh nhân bị di căn xương đã được điều trị. Những thử nghiệm cũng đang được tiến hành trong ung thư vú, trong ung thư gan và một thủ tục được dự kiến đối với các khối u não bộ. Mặc dầu kỹ thuật có ưu điểm to lớn là có thể nhắm các tia siêu âm một cách rất chính xác vào khối u, mà không làm biến đổi môi trường chung quanh, nhưng còn cần phải chứng tỏ rằng kỹ thuật này phải cho phép phá hủy tất cả, tuyệt đối tất cả mô ung thư.
(LE FIGARO 5/6/2009)

7/ VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ (RETINITE PIGMENTAIRE) : MỘT NIỀM HY VỌNG ĐIỀU TRỊ .

G.S José-Alain Sahel, giám đốc của Viện thị giác (Inserm-đại học Pierre-et-Marie-curie) giải thích sự tiến bộ, được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của ông, với việc tiêm protéine RdCVF.

Hỏi : Những đặc điểm nào xác định một viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) ?
G.S José-Alain Sahel : Đó là một bệnh của võng mạc, có nguồn gốc di truyền, tác động lên (ở mọi lứa tuổi của đời sống) 1,5 triệu người trên thế giới, trong đó có 30.000 đến 40.000 người ở Pháp. Bệnh được đặc trưng bởi sự chết được chương trình hóa của những tế bào thụ thể ánh sáng (cellules photoréceptrices). Những tế bào này tiếp nhận ánh sáng và biến đổi nó thành một tín hiệu là nguồn gốc của thị giác. Bệnh viêm võng mạc sắc tố, có thể tiến triển đến biến chứng mù mất, là do một bất thường của các gènes, mà 2/3 đã được nhận diện.

Hỏi : Những dấu hiệu đầu tiên của viêm võng mạc sắc tố là gì ?
G.S José-Alain Sahel : Viêm võng mạc sắc tố khởi đầu bằng cách gây nên một thị giác kém vào ban đêm cũng như trong tranh tối tranh sáng. Sau đó, thị trường bị thu hẹp lại cho đến khi gây nên một thi giác đường hầm (vision en tunnel). Trong 15 đến 20 năm, chính thị giác trung tâm (vision centrale) cuối cùng biến mất.

Hỏi : Ngay từ đầu, làm sao chắc chắn về chẩn đoán ?
G.S José-Alain Sahel : Bằng một phương pháp rất đáng tin cậy : một điện võng đồ (électrorétinogramme), ghi hoạt động của các tế bào võng mạc, và một thăm khám thị trường bằng một máy đặc biệt, thị trường kế (périmètre). Hopital des Quinze-Vingts là một trung tâm chuẩn đối với những viêm võng mạc sắc tố.

Hỏi : Bởi vì không có liệu pháp thật sự đối với các bệnh nhân bị bệnh này, thế thì các bệnh nhân được điều trị như thế nào ?
G.S José-Alain Sahel : Ngay khi giai đoạn đầu đã được chẩn đoán, ta có những lời khuyên trong mục đích làm chậm lại tiến triển của bệnh. Những lời khuyên là đơn giản : mang kính có gương đặc biệt, màu da cam hay vàng, để bảo vệ võng mạc chống lại ánh sáng và mặt trời, sử dụng mỗi ngày các chất chống oxy-hòa như vitamine C, lutéine và oméga 3. Trong vài trường hợp, người ta cũng khuyên dùng vitamine A. Dĩ nhiên, để điều trị các viêm võng mạc sắc tố, chúng ta chờ đợi nhiều về công trình nghiên cứu và đặc biệt là liệu pháp gène (thérapie génique).Việc đặt các võng mạc giả (prothèse de rétine) cũng là một niềm hy vọng lớn lao.

Hỏi : Điều trị mới được thử nghiệm trên động vật có mục đích gì ?
G.S José-Alain Sahel : Nhóm nghiên cứu của chúng tôi, với các BS Léveillard và Mohand-Said, làm việc nghiên cứu liệu pháp này từ gần 15 năm nay. Liệu pháp có mục đích bảo vệ thị giác trung tâm (vision centrale), dầu cho gène chịu trách nhiệm viêm võng mạc là gì đi nữa. Trong thì đầu, chúng tôi đã cho thấy rằng các tế bào thụ cảm ánh sáng (cellules photoréceptrices), bị những bất thường di truyền khác nhau, thường nhất là những tế bào hình que (batonnets). Những tế bào này cho phép chúng ta nhìn thấy vào ban đêm. Thế mà, những tế bào hình que này chế tạo RdCVF, một protéine duy trì sự sống sót của những tế bào khác của võng mạc, các tế bào hình nón (cones) ; các tế bào này cho phép thị giác trung tâm (vision centrale). Thế thì chúng ta hiểu tại sao khi những tế bào hình que bi chết, protéine RdCVF sẽ biến mất và, do đó, thị giác trung tâm cũng biến mất ! Sau khi đã nhận diện được protéine này, người ta đã tổng hợp nó trong phòng thí nghiệm để có thể sau đó tiêm vào trong mắt của chuột mang cùng những bất thường di truyền với người. Với phép điều trị này, chúng tôi đã rất thỏa mãn khi quan sát thấy một sự cải thiệt rất rõ rệt sự sống còn của các tế bào hình nón và nhất là, của chức năng thị giác, hai lần cao hơn trong nhóm động vật được điều trị so với nhóm chứng.

Hỏi : Khi nào ông sẽ áp dụng phép điều trị này cho người ?
G.S José-Alain Sahel : Việc chuẩn bị đối với các bệnh nhân đã rất là tiến triển. Chúng tôi hy vọng bắt đầu các thử nghiệm nơi người trong hai năm sắp đến.
( PARIS MATCH 4/6- 10/6/2009)

8/ CHÈ XANH ĐƯỢC DÙNG NHƯ RÀO CHẮN CHỐNG LẠI SIDA.

Một dung dịch polyphénol ức chế một protéine của tinh dịch, vecteur của nhiễm trùng.

Một thành phần của chè xanh có thể tỏ ra hiệu quả để tránh sự lây nhiễm bởi virus của sida trong lúc giao hợp, một công trình nghiên cứu được công bố trong Proceedings of the National Academy of Sciences đã xác nhận như vậy.

Công trình nghiên cứu này của đại học Heibelberg và của Viện virus học thực nghiệm của Hamburg đã cho thấy rằng gallate d’epigallocatechin (EGCG), một polyphénol hay tanin thực vật của chè xanh, có khả năng ức chế một protéine của tinh dịch có khuynh hướng dùng làm vecteur và tác nhân làm lan truyền của virus của sida.

“ Một phần của peptide, được chứa trong tinh dịch người, làm tăng cường sự nhiễm trùng bởi HIV một cách hằng định. Các sợi nhỏ làm lan truyền (fibrilles propagatrices) nhiễm trùng của virus HIV bởi tinh dịch, bắt giữ các yếu tố của virus và móc chúng và các tế bào bia của chúng, làm lan tràn sự hợp nhất của virus trong những tế bào này ”, các nhà nghiên cứu của Heinrich-Pette-Institute de Hambourg đã viết như vậy.

“ Vì những lý do này, chúng tôi đã cho rằng việc đưa vào một chất ức chế các sợi nhỏ này, như là chất diệt trùng , có thể ngăn ngừa sự lan truyền của bệnh sida qua những giao hợp ”, các nhà nghiên cứu chứng mình rằng nơi các phụ nữ, việc sử dụng tại chỗ một dung dịch có liều lượng thấp polyphénol của chè xanh có thể “ hủy bỏ một cách hiệu quả những tính chất phát triển của nhiễm trùng.”.

ĐƠN GIẢN VÀ ÍT TỐN KÉM

Trong khi đại đa số trong số 33 triệu người có huyết thanh dương tính trên thế giới đã bị nhiễm trùng bởi HIV trong lúc giao hợp dị tính (relations hétérosexuelles) và trong lúc 96% những lây nhiễm mới đều xảy ra trong những nước nghèo, các nhà nghiên cứu cho rằng việc khám phá những tính chất ức chế của thành phần của chè xanh là “ đầy hứa hẹn ”. “ Điều đó có thể mang lại một phương pháp phòng ngừa đơn giản và ít tốn kém, đặc biệt là trong những giới nghèo khổ.” EGCG của chè xanh đã được công nhận do những tính chất chống ung thư, kháng oxy hóa, chống vi khuẩn và kháng virus.
(LE SOIR 27/5/2009)

9/ GHÉP GIÁC MẠC NHÂN TAỌ ĐẦU TIÊN Ở PHÁP.

Đó là một niềm hy vọng đối với những chứng bệnh mù lòa nguồn gốc giác mạc, ảnh hưởng hơn 10 triệu người trên thế giới. Ghép giác mạc nhân tạo (greffe de cornée artificielle), một can thiệp được thực hiện bởi các nhóm phẫu thuật hiếm hoi trên thế giới, trong đó chỉ có 3 ở châu Âu, vừa được thực hiện lần đầu tiên ở Pháp, ở bệnh viện Timone, Marseille, nơi một người đàn ông 42 tuổi, mà một mẫu ghép người (greffon humain) không thể thực hiện được. Sau khi bị bỏng bởi HCl xảy ra cách nay hai năm, các huyết quản đã bắt đầu xâm chiếm giác mạc bị bỏng. Vậy mà, sự tạo mạch mới (néo-vascularisation) này là một yếu tố làm gia tăng đáp ứng miễn dịch, và như vậy làm gia tăng nguy cơ bị thải bỏ. Trong trường hợp bệnh nhân này, giác mạc nhân tạo (cornée artificielle) là giải pháp duy nhất.

Các thầy thuốc nhãn khoa đã chọn lựa một giác mạc giả (kératoprothèse) được mệnh danh là AlphaCor. Đó là một đĩa có đường kính 7 mm, gồm một phần trung tâm trong suốt và một viền mờ đục, có tính xốp, được cấu tạo bởi một vật liệu sinh tương hợp (matériau biocompatible), Phema (poly2-hydroxyéthyl méthacrylate). Được ghép vào giác mạc bị bỏng, giác mạc giả này có thể được tăng trưởng bởi những tế bào của bệnh nhân. 9 cuộc giải phẫu ghép khác sẽ được thực hiện ở Marseille từ nay đến 2010.
( SCIENCE ET AVENIR 6/2009)

10/ TIM NGƯỜI ĐƯỢC TÁI SINH.

Một nhóm nghiên cứu người Thụy Điển vừa phát hiện khả năng của những tế bào cơ tim đổi mới, nơi người trưởng thành.

Nói chung, sau khi sinh ra đời, tim người được xem như là một cơ quan trong đó những tế bào cơ không còn có thể phân chia được nữa . Điều đó là sai, ngày nay nhóm nghiên cứu được lãnh đạo bởi người Thụy Điển Jonas Frisen, thuộc viện Karolinska, Stockholm đã chứng tỏ như vậy. Thật vậy, sau khi đã nghiên cứu những trái tim lành của những người đã chết, nhóm nghiên cứu đã chứng thực rằng các tế bào cơ tim (cardiomyocytes) vẫn luôn luôn được đổi mới.

Nhóm nghiên cứu đã lợi dụng nhưng hậu quả của những thử nghiệm nguyên tử, được thực hiện trong không khí từ giữa những năm 1950 đến 1963, (là năm việc thử nghiệm này bị đình chỉ). Những cuộc thử nguyên tử này đã làm phát xuất trong không khí CO, trong đó C thuộc carbone-14. Thế mà, CO2 không khí được cây cối sử dụng để chế tạo chất hữu cơ, chất này sau đó được tiêu thụ bởi động vật và người. Vì lẽ nồng độ carbone-14 trong không khí giảm đều từ năm 1963, nên nồng độ carbone-14 hiện diện trong ADN của các tế bào của một người cho phép xác định ngày sinh tháng đẻ của các tế bào đó. Và lúc so sánh với ngày sinh tháng đẻ của người, ta có thể xác định là những tế bào này có phải mới xuất hiện hơn hay không. “ Sử dụng nguyên tắc định ngày tháng này là một ý tưởng hay, Michel Pucéat, thuộc nhóm nghiên Inserm các tế bào gốc và cardiogenèse, đã bình luận như thế. Phương pháp này đáng tin cậy hơn những phương pháp cổ điển, như sự đánh dấu ADN bằng cách tiêm vào trong tế bào một chất nhuộm màu.”

Nhóm nghiên cứu của Jonas Frisen đã hiệu chính kỹ thuật của ông năm 2005 để nghiên cứu vỏ não vùng chẩm, lúc đó đã cho thấy rằng các neurone đã không được đổi mới ở vùng này của vỏ não. Các tế bào cơ tim (cardiomyocytes), chiếm 20% các tế bào của tim, lại dường như đổi mới chậm, với một nhịp độ giảm theo dòng thời gian.Tỷ lệ của những tế bào được đổi mới là 1% lúc 20 tuổi, và 0,45% lúc 75 tuổi. Người ta ước tính rằng vào cuối cuộc đời của chúng ta, gần một nửa các tế bào cơ tim đã được thay thế.

Giai đoạn kế tiếp sẽ là xác định những tế bào là nguồn gốc của sự đổi mới này, và nhất là để biết xem các tế bào này có hiện diện trong những bệnh lý, trong đó chúng có thể hữu ích trên bình diện điều trị.
(LA RECHERCHE 6/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/6/2009)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969