Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 82
Lượt truy cập: 1026977
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132

Thời Sự Y Học số 132
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÚM A : KẾ HOẠCH ĐẠI DỊCH ĐỨNG TRƯỚC THỬ THÁCH CỦA THỰC TẾ
H1N1. Trong khi 7 trẻ em bị nhiễm bởi virus đã được nhận diện trong một ngôi trường của quận XV Paris, Tổng giám đốc y tế vừa gởi một thông điệp đến các tỉnh trưởng, nhằm làm thích ứng việc điều trị những bệnh nhân đối với những trường hợp nặng nhất.
Có nên đóng cửa trường ngay khi một trường hợp cúm A (H1N1) xuất hiện trong một lớp học? Người ta có phải nhất thiết điện thoại gọi Samu khi đứng trước một trường hợp cúm được nghi ngờ? Những người, nơi họ virus đã được chẩn đoán, có phải được nhập viện một cách hệ thống hay không? Hôm chủ nhật, trong khi 7 trường hợp cúm do virus H1N1 đã được ghi nhận trong một trường học thuộc quận XV, Paris, những câu hỏi được gia đình nêu lên này không hẳn đã có được những câu trả lời rõ ràng nơi các thầy thuốc của họ. Mặc dầu một kế hoạch đại dịch cúm đã được xác định lần đầu tiên vào năm 2002 và đã được xét lại vào tháng hai vừa qua, mặc dầu kế hoạch dự kiến một cách chi tiết thái độ xử trí, nhưng kế hoạch này đã được soạn thảo nhằm đối phó với một virus gia cầm, H5N1, rất độc lực, vì lẽ nó giết chết gần 60% những nạn nhân mắc phải bệnh do nó gây ra. Thế mà, mối đe dọa đang hình thành, là mối đe dọa của một trận dịch gây nên do một virus khác, A (H1N1), nguồn gốc từ heo, ít hung hãn hơn nhiều (4 trường hợp tử vong đối với 1000 bệnh nhân), nhưng rất dễ lây nhiễm và do đó có khả năng tấn công một số lượng cao các nạn nhân. Sự chuyển kế hoạch này từ lý thuyết qua thực tế đã nêu rõ những vấn đề hậu cần, vốn đã không được nghĩ đến trên giấy tờ. Ngoài ra, kế hoạch cần phải được xét lại dưới ánh sáng của những trường hợp đầu tiên của một trận đại dịch toàn cầu ít nghiêm trọng hơn điều đã được dự kiến.
KHẢ NĂNG TIẾP ĐÓN GIỚI HẠN
Để đương đầu với tình hình này, Tổng giám đốc y tế đã gởi một thông tri cho tất cả các tỉnh trưởng, yêu cầu những người bị cúm H1N1 không được nhập viện một cách hệ thống nữa, mà chỉ những bệnh nhân có yếu tố nghiêm trọng mà thôi. Một nhập viện như thế trong thực tiễn có nguy cơ đụng phải các khả năng tiếp nhận hạn chế trong các bệnh viện, cũng như ước muốn của các bệnh nhân không cảm thấy bị bệnh nặng. Kế hoạch trước đây yêu cầu những người bị “tình nghi” gọi điện thoại cho 15 để được lấy bệnh phẩm xét nghiệm ở bệnh viện thông qua phòng cấp cứu.
Bảng thông tri của ông giám đốc y tế giờ đây yêu cầu “thiết đặt trong những cơ sở y tế trụ sở Samu-centre 15, một phòng khám dành để tiếp đón những trường hợp khả dĩ bị cúm H1N1. Phòng khám này có sứ mạng thực hiện thăm khám các bệnh nhân, lấy mẫu nghiệm mũi-họng nếu cần thiết, kê toa thuốc kháng virus, cũng như các mặt nạ ngoại khoa và đưa ra những lời khuyến nghị về vệ sinh trước khi cho bệnh nhân về nhà”. Mục tiêu là tách phòng tiếp đón những người có nguy cơ bị cúm A (H1N1) với những bệnh nhân khác để tránh
làm khuếch tán virus từ bệnh nhân này qua bệnh nhân khác. Hôm qua ở bệnh viện Necker, ở phòng cấp cứu nhi, những bệnh nhi bị nghi ngờ vẫn còn nằm bên cạnh những bệnh nhi bị một bệnh hoàn toàn khác. Một tình hình như thế sẽ không còn có thể xảy ra được nữa. “Tôi nghĩ rằng sự việc cần phải được thúc bách hơn về phía các thầy thuốc thành phố và các phòng xét nghiệm, như điều đó được thực hiện ở Hoa Kỳ, là đất nước có số lượng các trường hợp hơn chúng ta nhiều, G.S Antoine Flahault (chuyên viên dịch tễ học và bệnh cúm) đã xác nhận như thế. Hiện nay, các thầy thuốc gia đình không cảm thấy được chuẩn bị tốt trong khi họ phải là cơ sở trong tình hình dịch hiện nay.”
Đối với G.S Patrick Berche (trưởng khoa vi trùng học, bệnh viện Necker, Paris), còn phải đi xa hơn: “Bệnh nhân phải được phép ở tại nhà, kể cả để lấy bệnh phẩm (có thể được thực hiện bởi Samu tại nhà). Nhưng điều đó chỉ có thể với điều kiện các thầy thuốc gia đình có một kế hoạch chính xác và rằng các thầy thuốc này phải giải thích một cách rõ ràng các chiến lược cách ly được thiết lập để ngăn cản sự lây nhiễm trong gia đình.” (LE FIGARO 23/6/2009)
2/ CÚM A: ĐỨNG TRƯỚC CÁC NGUY CƠ DỊCH BỆNH, CHÚNG TA HÃY ĐOÀN KẾT LẠI !
Alice Dautry, nữ tổng giám đốc của Viện Pasteur (Paris), kêu gọi một sự cộng tác chặt chẽ hơn giữa những người chủ chốt của nghành y tế, để chống lại những bệnh đang phát khởi (maladies émergentes).
Sự lan tràn nhanh chóng khắp thế giới của dịch bệnh cúm A (H1N1) từ Mễ Tây Cơ thể hiện một cách hiển nhiên những nguy cơ xuất hiện những bệnh mới. Mỗi ngày, trên thế giới, nảy sinh những nguy cơ y tế mới. Sự đô thị hóa, sự lưu thông của các động sản và người, những cuộc di trú, những thay đổi khí hậu : những hiện tượng này làm dễ sự tăng sinh của các bệnh tật, cũ hoặc mới, có thể đột ngột biến đổi thành dịch bệnh thế giới, có thể làm cho hàng ngàn người chết và ít nhất cũng làm tê liệt các xã hội của chúng ta trong nhiều tuần dài.
Sự huy động mạnh mẽ của các nhà cầm quyền Mễ Tây Cơ, của những nước bị ảnh hưởng bởi virus của cúm A (H1N1) và của OMS, đã cho phép phản ứng nhanh. May mắn thay, hôm nay, đó là một virus mà để chống lại chúng, chúng ta biết cách tự bảo vệ. Tuy nhiên, có nguy cơ của một đại dịch toàn cầu, gây nên bởi một tác nhân gây nhiễm mà chúng ta biết rất ít, thậm chí không biết gì cả, gieo rắc bệnh tật trên bước đường đi của nó, tạo nên những cuộc khủng hoảng kinh tế, thậm chí chính trị.
Chúng ta hãy nhớ đến trận dịch bệnh Chikungunya đã giáng vào đảo La Réunion và hôm nay lan tràn khắp mọi miền của thế giới, trong đó có Ấn Độ.
Giải Nobel y học năm 2008, được trao cho hai nhà nghiên cứu, G.S Françoise Barré-Sinoussi và Luc Montagnier, vì đã khám phá ra virus của bệnh Sida, nhắc nhở cho chúng ta rằng những căn bệnh mới, trong vòng vài năm, có thể gây nên những trận đại dịch khủng khiếp. Ví dụ bệnh sida giết chết hàng năm khoảng 3 triệu người trên thế giới.
Chúng ta cũng đừng quên những bệnh nhiễm trùng đã được biết đến từ lâu. Trận dịch cúm A (H1N1) tiếc thay đã làm lu mờ việc tổ chức của ngày quốc tế chống bệnh sốt rét (350 triệu nạn nhân mỗi năm và 3,3 tỷ người bị đe dọa). Cũng vậy, bệnh lao giết chết hai triệu người mỗi năm, chủ yếu là trong những nước ít được ưu đãi nhất.
Từ nhiều năm nay chúng ta chứng kiến một tinh thần liên đới thật sự, huy động những phương tiện tài chánh và cho phép thiết đặt những chiến dịch ngăn ngừa và những biện pháp y tế cộng đồng. Những cố gắng của những tổ chức tư nhân tiến triển, cũng như những cố gắng của các quốc gia. Thí dụ, Unitaid, được thành lập theo sáng kiến của nước Pháp, cho phép mua các thuốc men để điều trị VIH/SIDA, bệnh sốt rét và bệnh lao, nhờ đánh thuế lên các vé máy bay.
Quỹ thế giới chống bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét, mà Pháp là nước đóng góp thứ hai, cũng nhằm mở rộng sự tiếp cận thuốc men cho những dân chúng cần đến nhất. Tuy vậy những đáp ứng với các dịch bệnh trong những nước nghèo khổ nhất vẫn còn quá phụ thuộc vào sự can thiệp hậu nghiệm và vẫn thường bị phân tán.
Vượt qua một giai đoạn mới là điều khẩn cấp : giai đoạn dự kiến những nguy cơ đại dịch mới, dựa vào một sự hợp tác của toàn bộ các nhà hữu trách chủ chốt. Nói một cách khác, đó là cho phép các nước đang phát triển tự trang bị cho mình những khả năng riêng, để chống lại bằng sự can thiệp, nhưng cũng bằng sự nghiên cứu, sát với thực địa và các bệnh tật nhất.
Đó chính là tinh thần của phương pháp mà Viện Pasteur đang tiến hành, đầu tư cho một đáp ứng ngang và được điều phối ở quy mô thế giới. Tính chất liên ngành và sự chia sẻ kinh nghiệm, sự kết hợp của những phương tiện tài chánh, nghiên cứu, phòng ngừa và đào tạo trên thực địa, là chiếc chìa khóa để đảm bảo sự kiểm soát, thậm chí sự loại bỏ của những mối đe dọa không biên giới này, và điều này một cách dài lâu. Chương trình mà chúng tôi đang tiến hành ở Cambodge với nhiều cơ quan, là một thí dụ đẹp của sự liên kết quốc tế, liên kết sự nghiên cứu đa nghành, đào tạo và các hoạt động, để phục vụ y tế cộng đồng trong một quốc gia có những phương tiện tài chánh bị giới hạn.
Những sáng kiến hợp tác, đã được phát động, giữa những người hữu trách chủ chốt quốc tế hay sở tại, là một bước đầu tiên. Ngoài cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét, mà chúng ta đang tập trung phần lớn cố gắng, một phong trào chung cũng sẽ cho phép chống lại những bệnh mới phát khởi (maladies émergentes) và những bệnh được gọi là bị lãng quên (maladies négligées), bởi vì ít được nghiên cứu, như bệnh gây ngủ (maladie du sommeil) hay leshmanioses, nhưng tuy vậy ảnh hưởng sâu đậm rất nhiều dân chúng bị bệnh.
Chúng tôi kêu gọi một sự huy động của tất cả các người hữu trách quốc tế, tư nhân và nhà nước. Những cơ quan nghiên cứu, đào tạo, phòng ngừa, tài trợ và giúp đỡ phát triển, ngay từ bây giờ, phải hợp tác một cách chặt chẽ hơn để giải quyết những vấn đề y tế đang ảnh hưởng một cách dài lâu lên các nước nghèo hoặc đang phát triển.
Những nhà nghiên cứu, dầu phòng thí nghiệm của họ ở nơi đâu chăng nữa, mỗi ngày đều làm việc cật lực để mang lại cho toàn thể nhân loại những lợi ích của công cuộc khám phá. Hôm nay đúng là lúc hãy hợp nhất lại những cố gắng của chúng ta, liên kết chúng với những cố gắng của toàn thể những nhà hữu trách chủ chốt, đang ra sức để cải thiện nền y tế cộng đồng của toàn thế giới. (LE FIGARO 23/6/2009)
3/ CÚM A (H1N1) : CUỘC CHẠY ĐUA GIÀNH VACCIN
SANTE. Trong khi hầu hết các nước phương Tây đã đặt hàng các vaccin và thông qua những thỏa thuận với các phòng bào chế, thì các nước ở Nam bán cầu vẫn bị ảnh hưởng nhất bởi đại dịch. Các nước này phải chăng rồi sẽ cũng được phục dịch? Các phòng bào chế dược phẩm không thống nhất trước thử thách của dịch bệnh cúm A trong các nước ở Nam bán cầu. Các nhà sản xuất vaccin không phải tất cả đều nghe lời kêu gọi lòng hào phóng và tình liên đới của OMS.
Làm sao cho phép các nước nghèo đương đầu với đại dịch cúm A. Từ khi virus mới H1N1 xuất hiện, vào tháng tư, ở Mễ Tây Cơ, vấn đề này là đối tượng của những cuộc thảo luận gay gắt giữa OMS và các phòng bào chế dược phẩm.
Khẩn cấp : Các nước của Nam bán cầu sắp bước vào mùa đông, một mùa thuận lợi cho sự lan tràn của virus, trong khi những nước này hết sức thiếu các phương tiện và hạ tầng cơ sở để đương đầu với một trận đại dịch toàn cầu. Khoảng 85% những người bị bệnh mãn tính ở trong những nước đang phát triển, điều này có nghĩa là người ta sẽ tìm thấy trong những vùng này số lượng lớn nhất những người bị nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng hay chết người bởi virus H1N1.
Tình hình của các quốc gia này tương phản với các nước Tây phương, ở đây những biện pháp nhanh chóng được thực hiện để bảo vệ dân chúng của nước họ. Vào tháng năm, Hoa Kỳ đã thông qua các đơn đặt hàng vaccin với các hãng bào chế Novartis, Sanofi-Aventis và GlaxoSmithKline (GSK), với tổng phí 660 triệu dollars (474 triệu Euro). Ở Pháp, một trong những nước được chuẩn bị tốt nhất, Bộ y tế đã dành quyền ưu tiên mua 100 triệu liều vaccin nơi 3 hãng bào chế này, với một tổng phí có thể đạt đến 1 tỷ Euro.
OMS đánh giá rằng 4,9 tỷ liều vaccin chống bệnh cúm A sẽ có thể được chế tạo trong 12 tháng đến. Mỗi liều phí tổn 7 đến 11 Euro, theo Daniel Vasela (hãng Novartis). Nhưng cái giá của một điều trị hoàn chỉnh có thể cao hơn : chỉ những thử nghiệm lâm sàng (vừa mới bắt đầu và sẽ chấm dứt không trước tháng chín) mới cho phép xác định xem một hay hai liều sẽ cần thiết để đảm bảo một bảo vệ đầy đủ. Dầu cho kết luận của các thử nghiệm này như thế nào đi nữa, tổn phí của một chiến dịch chủng ngừa là quá đắt đối với hầu hết các nước đang phát triển.
Sự lan tràn nhanh chóng của virus mới H1N1 tạo một áp lực mạnh lên các nhà chế tạo thuốc. Margaret Chan, nữ tổng giám đốc OMS, hôm 1/6, đã kêu gọi những nhà sản xuất, tỏ ra hào phóng đối với những nước nghèo. “Đây là lúc (...) tập hợp lại nhân danh tinh thần liên đới thế giới để đảm bảo rằng không có một nước nào sẽ bị bỏ rơi”, bà đã tuyên bố như vậy.
Câu trả lời của các hãng bào chế dược phẩm hạng nặng đã không luôn luôn nhất trí. Novartis đã tuyên bố rằng hãng không có dự kiến tặng quà vaccin chống cúm A. Nhóm Thụy Sĩ thì bảo sẽ sẵn sàng, nhiều nhất, thỏa thuận hạ giá. “Để làm cho sự sản xuất có thể đứng vững được, phải tạo nên những khuyến khích tài chánh”, Daniel Vasella hôm 14/6 đã biện minh như vậy trong một cuộc phỏng vấn trên site Internet của Financial Times.
Một lập trường tương phản với lập trường cửa hãng Sanofi-Aventis. Hôm thứ tư, 17/6, Chris Viebbacher đã tuyên bố sẽ tặng 100 triệu liều vaccin chống cúm A và cúm gia cầm cho các nước đang phát triển. Quà tặng này chiếm 10% tổng số liều vaccin được sản xuất của hãng, theo những mong muốn của OMS. “ Chúng ta đứng trước cuộc khủng hoảng toàn cầu biện minh cho những biện pháp đặc biệt ”, Wayne Pisanon Sanofi Pasteur, phân bộ vaccin của nhóm dược phẩm Pháp đã tuyên bố như vậy.
Trong trường hợp đại dịch trở nên nghiêm trọng, nhóm dược phẩm này không loại bỏ việc gia tăng sự trợ giúp. “ Chúng tôi đã ký kết những thỏa thuận dài hạn để giao các vaccin với 4 nước : Pháp, Hoa Kỳ, Úc và Ý. Các nước này sẽ được ưu tiên nhận vaccin, Albert Garcia, phát ngôn viên của Sanofi-Pasteur đã giải thích như vậy. Nhưng không có vấn đề cung ứng toàn bộ các vaccin mà chúng tôi đã sản xuất. Một phần sẽ được dành cho các nước cần đến nhất, theo thỏa thuận với OMS.”
Baxter, hãng bào chế của Hoa Kỳ, cũng có một bài diễn văn tương tự: hãng đã cam kết “dành một phần sản xuất cho những nước dễ bị thương tổn nhất”. Ngay vào tháng đến, Baxter hy vọng sẽ giao những liều đầu tiên của một vaccin được hiệu chính từ một giống gốc “ hoang dã ” của virus, do CDC cung cấp, chứ không phải do OMS. Những hãng dược phẩm khác sẽ sẵn sàng vào cuối tháng 9, thậm chí tháng 10.
Sáng kiến khác : GSK đã tái xác nhận ý định của hãng biến đổi quà biếu 50 triệu vaccin chống cúm gia cầm cho các nước nghèo khó nhất, thành món quà vaccin chống cúm H1N1. “ Những cử chỉ đáng ca ngợi, một chuyên gia đã đánh giá như vậy, nhưng sẽ không cho phép tránh được một lò thiêu sinh trong trường hợp lan tràn nhanh chóng trong các nước nghèo, nhất là nếu virus trở thành độc lực. Tuy vậy, điều quan tâm của chúng ta là chận đứng đại dịch xảy ra ở Nam bán cầu, bởi vì các nước phía bắc đến lượt mình sẽ bị tấn công vài tháng sau đó.”
Vẫn còn được tha miễn bởi virus H1N1 (những trường hợp lẻ tẻ đã được ghi nhận ở Nam Phi và ở Ethiopie), Châu Phi dưới Sahara có 800 triệu dân và tập trung 60% những người có huyết thanh dương tính trên thế giới. Để dập tắt một trận đại dịch cúm, các chuyên gia cho rằng phải cần tiêm chủng 70 đến 75% dân chúng. Điều này sẽ hàm ý huy động ít nhất 560 triệu liều vaccin, chỉ dành riêng cho vùng này của thế giới không thôi. (LE MONDE 23/6/2009)
4/ VITAMINE D : CHỐNG LẠI CÁC BỆNH TIM MẠCH ?
BS Jean-Marie Bourre, thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng học, ủy viên của Viện hàn lâm y khoa, bình luận về công trình nghiên cứu mới đây, phát hiện vai trò của vitamine D chống lại các nguy cơ tim mạch.
Hỏi : Vitamine D được chế tạo bởi cơ thể như thế nào ?
BS Jean-Marie Bourre : Vitamine D được tổng hợp ở da, dưới tác dụng của các tia cực tím, nhưng sự sản xuất này không đủ...nhất là sự sản xuất giảm càng nhiều khi tuổi tác càng cao. Giữa năm 20 và 80 tuổi, sự tổng hợp này được chia cho 7 ! Vậy hoàn toàn cần thiết phải bổ sung vitamine D bằng một chế độ ăn uống thích hợp.
Hỏi : Lợi ích được biết đến nhất của vitamine D là gì ?
BS Jean-Marie Bourre : Vitamine D can thiệp trong sự khoáng hóa xương (minéralisation osseuse), bằng cách gắn calcium lên xương (sau khi đã đảm bảo bắt được nó trong ruột). Vitamine D cũng cho phép tránh không cho quá nhiều calcium được thải ra trong nước tiểu. Hàng trăm công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh vai trò căn bản của yếu tố hiệu quả nhất của vitamine này : chất dẫn xuất của nó có tên gọi hơi phức tạp : 1,25-dihydroxy-vitamine D. Chất dẫn xuất này được sinh tổng hợp (bio-synthétisé) thành 2 giai đoạn : trước hết ở gan, rồi sau đó ở thận. Vì vào lúc lão hóa, chức năng của thận giảm, do đó sự sản xuất của dẫn xuất này cũng bị giảm theo.
Hỏi : Một công trình nghiên cứu rộng lớn vừa phát hiện một tác dụng có lợi khác, lần này lên những nguy cơ tim mạch. Ông có thể bình luận cho chúng tôi những kết quả này
BS Jean-Marie Bourre: Thử nghiệm này đã được thực hiện ở Trung Quốc bởi các nhà nghiên cứu cộng tác với những người Anh và đã công bố trong tạp chí khoa học xuất sắc “Diabetes Care”. Công trình nghiên cứu được tiến hành trên 3262 người, tuổi từ 50 đến 70 và sống ở Bắc Kinh hay Thượng Hải. Trong máu của của họ, người ta đã đo nồng độ vitamine D, được chế tạo và tích trữ ở gan. Kết quả : các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng những người có nồng độ vitamine D thấp nhất có một sự gia tăng các rối loạn làm dễ sự xuất hiện những bệnh tim mạch như cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết, nhưng cũng bệnh đái đường và những bệnh lý khác, được tập hợp dưới tên hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique). Vậy có một mối liên kết giữa việc thiếu vitamine D và những nguy cơ tim mạch. Từ đó nảy ra ý tưởng cho rằng, việc cho vitamine D bổ sung có thể giúp làm giảm những nguy cơ này. Đó là những kết quả xác nhận những kết quả của những công trình nghiên cứu khác, nhưng với quy mô ít quan trọng hơn và mở ra những triển vọng trên bình diện ngăn ngừa.
Hỏi : Làm sao đối phó với những nhu cầu về vitamine D của chúng ta ?
BS Jean-Marie Bourre : Bằng cách tiêu thụ những thức ăn hiếm, chứa vitamie D : cá (ít nhất hai lần mỗi tuần), tôm ốc ngao sò và trứng (4 hay 5 lần mỗi ngày). Cá có nhiều vitamine D nhất là cá trích (hareng), cá hồi (saumon), cá sardine, cá thu (maquereau), cá hồi sông (truite). Trong số các tôm ốc ngao sò, nổi bật là sò hến. Các công trình nghiên cứu mới đây nhất, Suvimax, đã cho thấy rằng 65% những người Pháp đã không được cung cấp đủ vitamine D bởi vì họ tiêu thụ không đủ cá và các hải sản.
Hỏi : Trong những trường hợp nào ông khuyên cho bổ sung vitamine D ?
BS Jean-Marie Bourre : Cần cho bổ sung vitamine D một cách hệ thống các trẻ em, những thiếu niên và những lão niên. Hoặc dưới dạng ampoule (1/2 ampoule hai lần mỗi năm), hoặc cho mỗi ngày với những viên thuốc liên kết calcium với vitamine D. Còn có một khả năng khác : sự tiêu thụ các thức ăn trong đó vitamine D được cho bổ sung một cách công nghiệp, như vài loại sữa và dầu.
Hỏi : Những lợi ích nào khác ta có thể chờ đợi từ vitamine này ?
BS Jean-Marie Bourre : Bằng cách tạo một nồng độ calcium trong máu tốt, vitamine D đảm bảo sự hiện diện của calcium trong các mô thần kinh và cơ, như vậy làm cho sự dẫn truyền của các luồng thần kinh và sự co thắt của các cơ được tốt hơn. Mặt khác, sự hấp thụ tốt vitamine D mang lại một tính miễn dịch tốt hơn. (Paris-Match 11/6-17/6/2009)
5/ THAI NGHÉN BẢO VỆ CHỐNG LẠI UNG THƯ VÚ
Hai công trình nghiên cứu đã xác nhận giả thuyết theo đó sự sinh đẻ có lợi cho sức khỏe. Nhóm nghiên cứu của BS Eleanor (đại học Pittsburgh) đã chứng minh rằng các phụ nữ, đã từng cho con bú trong ít nhất một năm, về lâu về dài đã có một nguy cơ bị bệnh đái đuờng, cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết ít hơn những phụ nữ khác. Các phụ nữ này cũng có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não được giảm 10%.
Một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện nơi động vật, bởi BS Johana Venegas (Chase Center Philadelphia), đã chứng minh rằng việc cho hormone bêta-HCG (duy trì sự sản xuất progestérone) có một tác dụng mạnh chống khối u. Những con chuột cái còn trinh đã được điều trị trong 15 ngày với hormone này, trước khi nhận một tác nhân gây cảm ứng ung thư vú. Kết quả : người ta đã đếm được hơn 90% các khối u nơi các động vật đã không từng nhận hormone so với chỉ 15% nơi các động vật được điều trị. Nếu tác dụng chống ung thư này được tìm thấy nơi người, thì có thể được khuyên với tính cách phòng ngừa (Paris-Match 11/6-17/6/2009)
6/ GENE GÂY BỆNH THỐNG PHONG (GOUTTE) ĐƯỢC KHÁM PHÁ
GENETIQUE. Đại đa số những người bị bệnh khớp này đều mang biến dị của một gène có liên quan trong chuyển hóa của acide urique.
Bệnh thống phong (goutte), được biết từ hơn 2000 năm nay, nhưng nguồn gốc của nó vẫn còn bí ẩn. Lần đầu tiên, một biến dị chịu trách nhiệm căn bệnh vừa được nhận diện bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ ở Baltimore. Biến dị này cho phép giải thích nguyên nhân của bệnh thống phong, được biết từ thế kỷ XIX, đó là một nồng độ quá mức của acide urique trong máu. Hợp chất acide urique này là một chất bã của chuyển hóa, nhiên hậu tích tụ dưới dạng các tinh thể trong các khớp và thận, gây nên sau đó những cơn đau khớp đáng sợ và các sỏi thận.
Nhiều chỉ dấu cho thấy nguồn gốc một phần do di truyền, nhất là với sự kiện là trong gần 20% các trường hợp, bệnh thống phong đã hiện diện trong gia đình, và những thể bệnh sớm xảy ra có thể phát khởi vào lúc đầu của thời kỳ trưởng thành. Để tách riêng sự biến dị như là nguyên nhân của bệnh thống phong, các nhà di truyền học của Hopkins Medical Institution đã sử dụng những phương tiện hiện đại nhất. Các nhà nghiên cứu đã sàng lọc bộ gène (génome) của hàng ngàn người để phát hiện một mối liên hệ giữa những thay đổi rất nhỏ được phân bố trên ADN và những nồng độ cao của acide urique trong máu. Công trình nghiên cứu sự liên kết di truyền trên toàn thể bộ gène đã mang lại kết quả : nó đã cho phép nhóm nghiên cứu của Baltimore nhận diện một gène được gọi là ABCG2 trên nhiễm sắc thể 4, mang một biến dị thường được thấy hơn nơi những người bị bệnh thống phong.
Các nhà nghiên cứu sau đó đã tiêm gène này vào trong các tế bào để nghiên cứu chức năng của protéine mà nó mã hóa. Phương pháp đã cho phép họ không những xác định rằng protéine này là một chất vận chuyển của acide urique trong thận mà còn xác định rằng sự biến dị được nhận biết trong gène làm giảm đi một nửa tính hiệu quả của chất vận chuyển này. “ Trong công trình này, Frédéric Lioté, giáo sư tại bệnh viện Lariboisière, Paris đã nhấn mạnh như vậy, yếu tố gây ấn tượng là chức năng của gène và chức năng của biến thể của nó được chứng minh một cách hoàn hảo.”
Sự biến dị cũng gây nên sự giảm bài tiết acide urique bởi thận, triệu chứng được tìm thấy trong 90% các trường hợp của bệnh thống phong và làm gia tăng mạnh những nguy cơ phát triển nó. Ngoài ra các tác giả đã khám phá ra rằng, so sánh với dân gốc châu Âu, những người gốc châu Á thường mang biến dị 3 lần nhiều hơn. Sự trùng hợp gây ngạc nhiên, khi ta biết rằng ở Hoa Kỳ những người châu Á cũng thường bị bệnh này 3 lần nhiều hơn. Theo tính toán, các tác giả ước tính rằng sự biến dị trực tiếp chịu trách nhiệm ít nhất 10% những trường hợp bệnh thống phong nơi những người Mỹ gốc châu Âu.
CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG THÍCH NGHI
Khám phá này không vì thế sẽ làm biến đổi, trong một tương lai gần, sự điều trị các bệnh nhân, bởi vì đã có những thuốc có hiệu quả để hủy bỏ các triệu chứng của bệnh thống phong. “Vấn đề đúng hơn là ở chỗ sự tuân thủ các điều trị phải được duy trì suốt đời và đôi khi có những hạn chế khi chúng ít tương hợp với những bệnh lý khác mà các bệnh nhân có ”, G.S Lioté đã ghi nhận như vậy.
Điều trị hiệu quả của bệnh thống phong nhằm theo dõi một chế độ ăn uống được thích ứng. Cần phải tránh những món ăn giàu acide nucléique, được thải ra dưới dạng acide urique, như thịt hay bia. Việc tiêu thụ fructose, một loại đường thường hiện diện trong soda, cản sự bài tiết acide urique, cũng phải được theo dõi. (LE FIGARO 11/6/2009)
7/ CÁC VIÊN THUỐC VITAMIN KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG “ VIÊN ĐẠN DIỆU KỲ ”
Kể từ khi Linus Pauling, nhà sinh hóa được giải thưởng Nobel, cách nay 40 năm, lần đầu tiên chủ trương dùng những liều lượng lớn (“megadoses”) các chất dinh dưỡng thiết yếu (essential nutrients), nhiều người đã nhiệt tình với các vitamin. Ngày nay, khoảng ½ những người trưởng thành ở Hoa Kỳ vẫn tiếp tục sử dụng các chất bổ sung dinh dưỡng, với tốn phí 23 tỷ dollar mỗi năm. Nhưng các vitamin có đáng được như vậy hay không? Trong vài năm qua, vài công trình nghiên cứu có chất lượng cao đã không chứng tỏ được rằng các vitamin, khi cho thừa, ít nhất dưới dạng thuốc viên, giúp ngăn ngừa bệnh mãn tính hay kéo dài cuộc sống.
Những tin mới nhất nhận được sau khi các nhà nghiên cứu, trong công trình Women’s Health Initiative Study, đã theo dõi trong 8 năm việc sử dụng đa sinh tố (multivitamin), trong số hơn 160.000 phụ nữ lớn tuổi. Mặc dầu những kết quả trước đây gợi ý rằng đa sinh tố làm giảm nguy cơ bị bệnh tim và vài loại ung thư, nhưng công trình nghiên cứu, được công bố trong The Archives of Internal Medicine, đã không nhận thấy lợi ích như thế.
Năm vừa qua, một công trình nghiên cứu, trong một thập niên, đã theo dõi khoảng 15.000 thầy thuốc nam, không ghi nhận những khác nhau về tỷ lệ ung thư hay bệnh tim trong số những người dùng vitamine E hay C, so với những người dùng placebo. Và vào tháng mười, kết quả của một công trình nghiên cứu, được tiến hành trên 35.000 người đàn ông, đã làm tiêu tan hy vọng cho rằng những liều lượng cao vitamine E và selenium có thể hạ thấp nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt. Dĩ nhiên, những người tiêu thụ thường chịu những báo cáo và những lời xác nhận mâu thuẫn về những lợi ích của các vitamin và dường như họ bị lung lạc bởi các tin tức, khiến các chuyên gia phải rụng rời.
“ Tôi phân vân không biết tại sao công chúng, nói chung, không biết đến những kết quả của những thử nghiệm được làm tốt. ” Eric Klein, người điều hành công trình nghiên cứu quốc gia cho thử nghiệm ung thư tuyến tiền liệt, đã nói như vậy. Niềm tin của công chúng vào những lợi ích của các vitamin và các chất dinh dưỡng không được xác minh bởi những dữ kiện khoa học hiện có.”
Mọi người đều cần vitamin, những chất dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể không thể tự sản xuất được. Thí dụ, sự thiếu hụt vitamin C dẫn đến bệnh scorbut (scurvy), và sự thiếu vitamin D có thể gây nên còi xương (rickets). Nhưng một chế độ ăn uống cân bằng cung cấp một mức đầy đủ những chất dinh dưỡng này, và ngày nay nhiều thức ăn ưa chuộng được làm bổ thêm bởi những vitamine và các chất khoáng dư thừa. Do đó, những bệnh gây nên do sự thiếu hụt dinh dưỡng là hiếm xảy ra trong những nước phát triển.
Dẫu sao đi nữa, hầu hết những công trình nghiên cứu quan trọng mới đây đã không tập trung vào những thiếu hụt mà tìm hiểu xem những nồng độ cao vitamin có thể ngăn ngừa hay điều trị một số bệnh mãn tính hay không. Mặc dầu từ lâu người ta đã biết rằng những người ăn nhiều trái cây và rau giàu chất dinh dưỡng, có những tỷ lệ mắc bệnh tim và ung thư thấp, nhưng người ta không biết rõ là nếu uống những liều cao cùng những chất dinh dưỡng này dưới dạng thuốc viên có đưa đến cùng lợi ích hay không.
Vào tháng giêng, một bài báo trong The Journal of the National Cancer Institute đã ghi nhận rằng hầu hết các thử nghiệm đã không chứng tỏ lợi ích ung thư của các vitamin.
Nhưng vài công trình nghiên cứu về vitamin cũng đã cho thấy mối hại bất ngờ, như tỷ lệ ung thư phổi cao hơn trong hai công trình nghiên cứu về sự sử dụng bêta carotene. Một công trình nghiên cứu khác đã gợi ý một nguy cơ cao hơn bị những polype tiền ung thư trong số những người tiêu thụ acide folique, so với những người trong nhóm placebo.
Vào năm 2007, The Journal of the American Medical Association đã duyệt xét lại các tỷ lệ tử vong trong những thử nghiệm, trong đó các chất kháng oxy hóa (antioxydants) được cho bổ sung. Trong 47 thử nghiệm với 181.000 người tham gia, tỷ lệ tử vong là 5% cao hơn nơi những người dùng các chất chống oxy hóa. Những thủ phạm chính là vitamin A, bêta carotene và vitamin E ; vitamin C và selenium dường như không có tác dụng đáng kể. (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 18/2/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr74.htm (TSYH 74, bài số 1).
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr63.htm ( TSYH 63, bài số 2)
8/ ACIDE FOLIQUE VÀ VITAMINE B VÀ SỰ THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG.
Cho bổ sung hàng ngày acide folique, pyridoxine và cyanocobalamine có thể làm giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégérérescence maculaire liée à l’âge).
Ngoài việc ngưng thuốc lá, người thầy thuốc đến nay ít có lời khuyên để cho bệnh nhân nhằm ngăn ngừa chứng thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA). Những dữ kiện dịch tễ học đã cho thấy một mối liên hệ trực tiếp giữa những nồng độ homocystéine và nguy cơ bị DMLA, tuy nhiên không chứng minh được rằng sự giảm của nồng độ của homocystéine có thể có một tác dụng thuận lợi.
William G. Christen và các cộng sự viên (Brigham và Women’s Hospital, Boston) đã thực hiện, về chủ đề này, một công trình nghiên cứu nơi những phụ nữ có nguy cơ tim mạch cao. 5.205 người tham dự, có tuổi 45 hoặc hơn, và bị một bệnh tim mạch vốn đã có trước đây hay mang hai hoặc ba yếu tố nguy cơ.
Sự theo dõi đã kéo dài 7,3 năm. Trong suốt thời kỳ này, 55 trường hợp DMLA đã được chẩn đoán trong nhóm can thiệp (nhận các vitamine), so với 82 trong nhóm placebo. Vậy, việc sử dụng những chất bổ sung dường như mang lại một bảo vệ chống lại sự xuất hiện của căn bệnh có liên quan với tuổi tác này. Tuy nhiên, người ta chưa thể xác nhận rằng khả năng bảo vệ này đúng là do sự hạ của các nồng độ homocystéine. (LE GENERALISTE 16/4/2009)
9/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG BỊ LÂY TRUYỀN BỞI CÁC NHA SĨ
HEPATITE. Một báo cáo ở Pháp chỉ rõ nguy cơ, tuy rất thấp, nhưng không phải là ít, của sự lây nhiễm bởi virus của viêm gan B hay C, thậm chí của Sida, nơi các phòng khám của các nha sĩ.
Những trường hợp chữa răng bình thường phải chăng có thể là nguồn gốc của những nhiễm trùng nặng bởi virus ? Đối với một cá thể, nguy cơ mắc phải HIV, virus của viêm gan B (VHB) hay virus của viêm gan C (VHC) nơi một phòng mạch nha sĩ là rất thấp, một báo cáo của Viện theo dõi y tế (IVS : Institut de veille sanitaire), vừa được công bố, đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên nguy cơ này không hẳn là không đáng kể ở quy mô đại chúng, nếu xét đến số lượng cao của các động tác giải phẫu răng và những khiếm khuyết trong sự khử trùng dụng cụ, được chứng thực nơi các nha sĩ hành nghề.
Ở Pháp, theo những tính toán của IVS, mỗi năm khoảng 200 trường hợp bị lây nhiễm bởi virus của viêm gan B, có thể là do sự khử trùng không được đầy đủ của các các giá mang dụng cụ quay (PIR : porte-instruments rotatifs : toàn bộ các turbines và những pièces à mains khác, truyền một chuyển động quay đến các dụng cụ, như fraises, tiếp xúc trực tiếp với các răng được điều trị), được sử dụng rộng rãi bởi các nha sĩ để điều trị bảo tồn và làm răng giả. Như thế, những khiếm khuyết vệ sinh trong lãnh vực này, trên lý thuyết, có thể gây nên những lây nhiễm bởi virus của viêm gan C (dưới 2 trường hợp mỗi năm) hay bởi HIV (dưới 1 mỗi năm).
Trên thực tế, rất ít các trường hợp được chứng minh trong tư liệu y học. Trong hầu hết các trường hợp, những virus có thể được lây truyền bằng đường máu này, bị nhiễm phải trong những bối cảnh khác (giao hợp, nghiện ma túy, những tai nạn do tiếp xúc với máu...). Trường hợp đầu tiên được xác nhận của sự truyền virus của viêm gan B từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác vào lúc chữa răng, đã được báo cáo ở Hoa Kỳ vào năm 2007. “ Ở Pháp một trường hợp đang trong vòng điều tra, nhưng chưa có gì được chứng minh, BS Bruno Poignard của IVS đã xác nhận như vậy. Thường khó chứng minh trách nhiệm của việc chữa răng (là những động tác rất thông thường) trong sự lan truyền của một bệnh sida hay viêm gan. Nói chung, đó là giả thuyết cuối cùng được thăm dò và đó là một chẩn đoán loại trừ.”
Cách nay vài năm, Tổng giám đốc y tế đã phân phát một hướng dẫn các khuyến nghị dành cho những nhà chuyên nghiệp, nhằm tăng cường sự phòng ngừa những nhiễm trùng do việc chữa răng. Nhưng mới đây, giới hữu trách y tế đã được báo động bởi các cuộc thanh tra trong các phòng mạch của các nha sĩ trong môi trường nhà tù. Những khuyến nghị tiệt trùng các giá mang dụng cụ quay (PIR : porte-instruments rotatif) giữa mỗi bệnh nhân vẫn không hẳn luôn luôn được tôn trọng. Điều chứng nhận này cũng tương tự đối với các phòng khám tư. “ Mặc dầu những tiến bộ quan trọng đã được chứng thực trong việc tôn trọng những quy tắc vệ sinh bởi các nha sĩ trong những năm qua, nhưng nhiều cuộc điều tra cũng cho thấy rằng những khiếm khuyết có thể tồn tại về vấn đề này nơi vài nha sĩ ”, bảng tường trình của IVS đã ghi nhận như vậy.
Theo IVS, nguy cơ cá nhân mắc phải một virus do khiếm khuyết trong khử trùng các giá mang dụng cụ quay (PIR) là thấp nhất đối với HIV, 1/420 triệu, và cao nhất đối với virus của viêm gan B, 1/516.000. Xác suất là 1/67 triệu đối với viêm gan C. Các nguy cơ sẽ là 8 lần cao hơi trong môi trường nhà tù. Thật vậy, sự mang virus sida và viêm gan đúng là thường xảy ra hơn trong nhóm dân này do những hành vi có nguy cơ như nghiện ma túy.
Tổng cộng, theo đánh giá của IVS, việc chữa răng có thể chịu trách nhiệm 200 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm. (LE FIGARO 29/5/2009)
10/ HUYẾT ÁP CAO : HUỶ BỎ CÀ PHÊ ?
Một công trình nghiên cứu vừa chứng minh một cách rõ ràng rằng cà phê, một ít lâu sau khi được uống, gây nên một sự tăng cao nhanh của huyết áp. Vậy không phải là vô ích khi kiểm chứng xem cà phê có thể gây nên cao huyết áp về lâu về dài hay không ?
Những yếu tố dinh dưỡng được biết rõ làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp là sự thừa sodium, sự thiếu hụt tương đối potassium, và uống rượu quá độ. Những mối tương quan này đã được xác lập rõ. Nhưng thế đối với cà phê thì sao ?
NHỮNG HẬU QUẢ VỀ SAU.
Thay vì hướng vào huyết áp động mạch, chúng ta cũng có thể quan tâm đến phần cuối của chuỗi bệnh lý : cà phê có gây nên một sự gia tăng số các sự cố hay những bệnh tật hay không ? Câu trả lời là không, nhưng cần nói thêm rằng về chủ đề này chúng ta chỉ có những công trình nghiên cứu thuộc loại dịch tễ học chứ không phải can thiệp (interventionnel). Vậy ta có thể ghi nhận rằng vào giai đoạn kiến thức dịch tễ học của chúng ta hiện nay, cà phê không làm gia tăng nguy cơ bị bệnh động mạch vành và không có một ảnh hưởng nào lên tiên lượng sau nhồi máu cơ tim.
Vài công trình nghiên cứu cho thấy một mối liên hệ nghịch giữa việc tiêu thụ cà phê và mức độ mắc phải những vấn đề động mạch vành ; mặt khác cùng nhận xét đã được thực hiện về mối liên quan giữa cà phê và bệnh đái đường. Nhưng một lần nữa, những công trình nghiên cứu dịch tễ học này không cho phép chứng minh một mối liên hệ nhân quả : dầu sao cũng có thể rằng những người bị những vấn đề tim hay đái đường, uống ít cà phê hơn vì lý do này hay lý do khác, điều này được thể hiện bởi mối quan hệ nghịch trong các công trình nghiên cứu.
Một cách tổng quát, có những chỉ dẫn khiến nghĩ rằng cà phê ảnh hưởng lên nguy cơ bị cao huyết áp theo một đường cong hình chữ U : những người không uống cà phê cũng như những người uống nhiều ( >4-6 ly mỗi ngày) đều có một nguy cơ thấp, trong khi nguy cơ này cao hơn giữa hai tình huống. Những công trình nghiên cứu can thiệp (études interventionnelles) cho thấy rằng cà phê có thể gây nên một sự tăng nhẹ của huyết áp. Nhưng như đã nói trên đây, những nghiên cứu này chỉ được thực hiện trong một thời gian hạn chế, với tối đa là 12 tuần. Sự gia tăng là khá thấp : khoảng 2mmHg đối với huyết áp tâm thu và 1mmHg đối với huyết áp trương tâm với những liều lượng mỗi ngày từ 300 đến 800mg (hoặc khoảng 3-8 tách cà phê mỗi ngày). Những người trẻ nhạy cảm hơn đối với tác dụng cao huyết áp. Một công trình nghiên cứu khác xác lập sự khác nhau rõ ràng giữa cà phê dùng nguyên như vậy và caféine, được cho chịu trách nhiệm tác dụng lên huyết áp. Nơi những người đã uống những viên thuốc chứa caféine, sự gia tăng được quan sát của huyết áp là 4 lần cao hơn so với những người uống những tách cà phê với một liều lượng caféine tương tự.
Như vậy có cái gì khác với caféine trong cà phê đã ảnh hưởng lên huyết áp. Cà phê đặc biệt chứa potassium, magnésium, manganèse và một lượng cao polyphénols. Trong các chất này, chỉ có potassium đã chứng tỏ có một tác dụng thuận lợi lên huyết áp, nhưng cũng không loại trừ những thành phần khác cũng bù lại tác dụng của caféine.
Tóm lại, có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng cà phê không có tác dụng thật sự lên huyết áp. Vậy hiện nay không có một luận cứ thuyết phục nào cho rằng nếu ta muốn ngăn ngừa cao huyết áp thì cần phải tránh cà phê. (LE GENERALISTE 23/4/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (27/6/2009)

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san khoa

 

 

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969