Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 94
Lượt truy cập: 1026989
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134

Thời Sự Y Học số 134
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/H1N1 : VACCIN SẼ CHƯA CÓ TRƯỚC MÙA THU.
PANDEMIE. Mặc dầu Pháp cũng như các nước khác đã thương lượng một số liều vaccin nào đó, nhưng để có được một vaccin có hiệu quả và được dung nạp tốt cần phải có một thời gian không thể giảm bớt được.
Vaccin chống cúm A (H1N1) sẽ sẵn sàng vào mùa thu tới, nếu tất cả diễn ra như dự kiến. Đến nay, tất cả các hãng dược phẩm đã nhận, vào ngày 27 tháng 5 vừa qua, giống gốc của virus do OMS chuyển đến. Sau đó các hãng dược phẩm đã “ bào chế ” giống gốc đó.
Thật vậy, vaccin được chế tạo từ virus cúm bị giết chết. Trước hết phải cấy virus này để có được nhiều tỷ hạt, thường là trên trứng phôi thai (vài hãng dược phẩm đã loan báo sử dụng các canh cấy tế bào). Rồi thì phải tiêu hủy những virus này, hợp cách hóa các liều vaccin, có hoặc không có chất bổ trợ (adjuvant : một chất để tăng cường tính miễn dịch), trắc nghiệm những liều lượng khác nhau…sau cùng có một giai đoạn phân tích với thời gian không thể giảm bớt được và những điều kiện đúng quy chế cần được tôn trọng.
“ Tác động của vaccin này lên đại dịch sẽ tùy thuộc vào lúc vaccin sẽ có để sử dụng ”, giáo sư Jean-Claude Manuguerra (chuyên gia virus học, Viện Pasteur Paris) đã đoan chắc như vậy. Những hiện nay, không ai có thể nói trước lúc nào vaccin sẽ có mặt trên thị trường. Điều chắc chắn là các công tác chuẩn bị được thực hiện cách nay vài năm, với vaccin tiền đại dịch chống H5N, đã cho phép chúng ta tiến bước với những thủ thuật nhanh chóng hơn.”
NHỮNG THỬ NGHIỆM LÀM SÀNG BẮT ĐẦU VÀO THÁNG 8.
Thách thức đầu tiên là có được những canh cấy virus có năng suất cao. Hiện nay, năng suất này dường như ở mức độ trung bình, theo một vài chuyên gia của OMS. “ Nhưng đó là điều bình thường, trong những giai đoạn sơ khởi của một quá trình với một virus mới, BS Albert Garcia (Sanofi-Pasteur) đã đảm bảo như vậy. Các năng suất nói chung sau cùng sẽ được cải thiện.” Quá trình sản xuất đã được phát động ngày 20 tháng 6 và các hãng dược phẩm đã bắt đầu làm bất hoạt virus và sản xuất những liều đầu tiên, sẽ được sử dụng cho những thử nghiệm lâm sàng. Những thử nghiệm này “ sẽ có thể bắt đầu ngay vào đầu tháng 8 ”, Albert Garcia đã đoan chắc như vậy. Nhưng sẽ còn phải một loạt các trắc nghiệm, với các liều khác nhau, có hoặc không có chất bổ trợ (adjuvant), thực hiện trên các loại dân chúng tuổi tác khác nhau. Thoạt đầu, để có được một khả năng miễn dịch tốt, sẽ cần hai liều vaccin, được cho cách nhau 3 tuần. “ Vậy sẽ phải tiêm chủng những người tình nguyện, thực hiện một trắc nghiệm sau 3 tuần, tiêm cho họ một liều thứ hai và còn chờ đợi thêm 3 tuần, trước khi đánh giá nồng độ kháng thể để đo lường mức độ miễn dịch có được ”, nhà chuyên gia đã nói thêm như vậy. Sau cùng còn có một thời gian không thể thu giảm được, để phân tích các kết quả, kiểm tra sự vắng mặt của các tác dụng phụ và quyết định về liều lượng tốt nhất và chiến lược tối ưu. Không có vấn đề đưa ra thị trường một vaccin không được đánh giá theo đúng những quy tắc của nghệ thuật. (LE FIGARO 10/7/2009)
2/ ARGENTINE, QUỐC GIA Ở NAM MỸ BỊ ẢNH HƯỞNG NHẤT BỞI CÚM H1N1, ĐANG SỐNG TRONG GIỜ GIỚI NGHIÊM.
Hơn 100.000 người bị nhiễm bệnh và 79 trường hợp tử vong đã được thống kê. Chính trong một bầu không khí âu sầu ảm đạm mà hôm qua dân Argentine đã cử hành ngày lễ quốc khánh. Dân Buenos Aires (các Portenos), đã dự kiến cấm cung ở nhà vì sợ virus cúm A (H1N1). Trong vòng vài tuần, Argentine đã trở thành quốc gia Nam Mỹ bị ảnh hưởng nhất bởi virus, và đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ (là nơi bệnh đã xuất hiện vào cuối tháng 4 ). Hôm qua, tổng kết chính thức là 79 người chết. Nhà cầm quyền đã chính thức ghi nhận 2.845 trường hợp. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng y tế Juan Manzur, đến nay có hơn 100.000 người bị nhiễm virus cúm, vài trường hợp xảy ra một cách “âm thầm lặng lẽ” và không có các triệu chứng.
Việc sụt giảm nhiệt độ, hậu quả của mùa đông Nam cực, không thuận lợi gì. Nhà cầm quyền đã cho biết rằng 90% các virus cúm đang được các người bệnh lưu hành trong nước là thuộc loại A. Mặt khác chính phủ đã lợi dụng ngày lễ, được kéo dài đến hôm nay, nhằm cố gắng làm ngưng hoạt động trong nước. Lãnh vực ngân hàng cũng vậy : các cửa giao dịch sẽ đóng lại cho đến thứ hai. Các chủ nhà hát vào đầu tuấn đã loan báo đóng cửa tạm thời.
TRONG CÁC XÍ NGHIỆP, TÌNH TRẠNG VẮNG MẶT BÙNG NỔ.
Tình trạng sợ virus được tăng cao lên một nấc. Theo một cuộc điều tra, được thực hiện bởi Viện Livra trong nhiều nước trong vùng, tỷ lệ dân Argentine sợ bị lây nhiễm, chuyển từ 22,7% cách nay hai tháng (vào lúc những trường hợp đầu tiên xuất hiện) lên 53,4% hôm nay. Khoảng 78% người được thăm dò tuyên bố rửa tay suốt ngày và 14% mang một mặt nạ bảo vệ. Trong các xí nghiệp, tỷ lệ vắng mặt bùng nổ, được ước tính là hơn 30%. Đó là những người dễ bị nhiễm trùng, hay phải ở nhà để lo cho những người thân bị bệnh hay các trẻ em, bởi vì trường học được lệnh đóng cửa trong một tháng. Giới chủ tỏ ra hoà giải : “ Thà 30% vắng mặt hơn là 60% bị nhiễm bệnh ”. Hậu quả lên ngành du lịch thật tai hại. Công ty hành không Gol của Brésil đã loan báo một sự sụt giảm 50% vé máy bay bán đi Argentine.
Tuy nhiên, nhiều Portenos (dân Buenos Aires) vẫn giữ bình tĩnh. “Thật là cuồng loạn (hystérie), chính giới truyền thông duy trì tình trạng hoang tưởng bộ phận (paranoia)”, Esteban Schmidt, một nhà văn ở Buenos Aires đã tố cáo như vậy. Ông ta nêu lên những rời rạc trong các quyết định của chính phủ. Người ta đóng cửa các trường học, nhưng hôm thứ tư này có 40.000 người tập trung ở sân vận động La Plata, gần Buenos Aires, để tham dự giải chung kết coupe Libertadores, trận thi đấu chính của bóng đá châu Mỹ Latin. Quen làm việc trong các quán rượu của khu phố, Esteban Schmidt đã thấy tất cả các phục dịch viên cà phê đến với một mặt nạ trên mặt. “ Với thời gian càng trôi qua, họ hạ mặt nạ xuống, cũng gần giống như một viên chức làm như vậy với chiếc cravatte của mình. Và rồi thì chiếc mặt nạ đã hoàn toàn biến mất ”, nhà văn vừa kể như thế vừa cười. Tuy nhiên ông thú nhận một thói quen mới, thói quen sử dụng thường trực cồn dưới dạng gel (gel d’alcool) mà số doanh thu thật sự bùng nổ.
NHỮNG BIỆN PHÁP BÔNG LÔNG.
“ Sự lo âu được duy trì là do không có sự điều hòa giữa Nhà nước liên bang và các vùng, và sự thông báo zigzag của chính quyền ”, Gabriel Puricelli, thuộc Laboratoire de politiques publiques, Buenos Aires đã phân tích như vậy. Lần đầu tiên, từ lúc bắt đầu trận dịch, chính phủ đã họp các vị bộ trưởng y tế của tất cả các tỉnh, vào ngày 6/7 này, ở Buenos Aires, để thống nhất các biện pháp y tế. Các thầy thuốc phàn nàn không có các chỉ thị, ví dụ về việc phân phát Tamiflu. Mục tiêu của cuộc họp là chấm dứt tình trạng hỗn loạn, vì lẽ mỗi tỉnh, thậm chí mỗi vùng, áp dụng những biện pháp bông lông nhất. Ở San Isidro, ngoại ô của Buenos Aires, viên thị trưởng đã cấm các thiếu niên dưới 18 tuổi không được vào các trung tâm thương mãi vì được cho là dễ bị nhiễm virus hơn. (LE FIGARO 10/7/2009)
3/ NHỮNG MỐI ĐE DOẠ ĐẠI DỊCH : LÀM SAO CHUẨN BỊ ?
G.S François Bricaire, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện la Pitié-Salpetrière, đồng tác giả với BS Frédéric Saldmann của “ Những bệnh dịch mới. Làm sao bảo vệ ? ” (Nouvelles épidémies. Comment se protéger), đề nghị những giải pháp thực tiễn.
Hỏi : Tại sao OMS chuyển qua giai đoạn báo động cấp 6, công nhận sự hiện diện của một đại dịch toàn cầu của bệnh cúm A (virus H1N1).
G.S François Bricaire : Không nên xem biện pháp này (không có liên quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh) như là một yếu tố bổ sung gây lo ngại. Quyết định này đã được thông qua bởi vì nó phù hợp với định nghĩa của giai đoạn 6, bao gồm sự hiện diện của một virus mới và sự lan rộng về mặt địa lý. Biện pháp này có hai ưu điểm. 1. Các nước có thể thiết lập chiến lược riêng của mỗi nước với nhiều tự do hành động. 2. Nó cho phép các nhà công nghiệp bào chế nhanh hơn các vaccin.
Hỏi : Ông viết : “ Trong những năm sắp đến, chúng ta sẽ phải sống với một nguy cơ thường xuyên bị đại dịch ”. Đâu là các mối nguy hiểm ?
G.S François Bricaire : Các hiện tượng đại dịch luôn luôn có. Từ trước đến nay chúng ta đã chịu đựng chúng ; hôm nay, có một ý chí quốc tế muốn ngăn ngừa chúng để chống lại chúng. Vì sự vận chuyển hàng không làm dễ sự di chuyển con người, nên virus tiến triển và lan tràn với tốc độ nhanh. Vô số các tác nhân gây nhiễm ra đời một cách đều đặn. Tôi sẽ không kể ra hết với anh tất cả những tác nhân có khả năng xuất hiện trên hành tinh, như thế sẽ nhàm chán. Trong số những tác nhân này, người ta sợ một vài virus châu Phi, như Ebola và Lassa, rất lây nhiễm, hoành hành trong vùng của Zaire, gây nên sốt xuất huyết và đưa đến tử vong. Vài trường hợp đã được quan sát ở châu Âu. Người ta cũng sợ vài arbovirus rất hiện diện ở châu Á, gây nên những trường hợp chikungunya với đau khớp rất dữ dội. Mối đe dọa khác : đe dọa của virus West Nile, ở Bắc Mỹ, gây nên một hội chứng cúm với sốt rất cao và đôi khi những rối loạn thần kinh. Ở Nam Mỹ, người ta cũng chứng kiến một sự trổi dậy của sốt vàng (fièvre jaune).
Hỏi : Nơi người, ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đường gây nhiễm khác nhau ?
G.S François Bricaire : Có hai loại đường gây nhiễm : trực tiếp và gián tiếp. Trong những trường hợp đầu, thường người ta bị gây nhiễm bằng đường hô hấp (những giọt nước bọt bắn ra khi nói), đường tiêu hóa (ăn thức ăn bị ô nhiễm), đường máu (truyền máu). Người ta cũng bị gây nhiễm do tiếp xúc trực tiếp giữa người với người (qua mồ hôi, lúc bắt tay, hay do tiếp xúc sinh dục). Người ta cũng có thể bị lây nhiễm lúc sờ mó một động vật bị nhiễm trùng. Trong những trường hợp truyền gián tiếp, con người có thể bị gây nhiễm trùng do muỗi.
Hỏi : Người ta có thể tự bảo vệ như thế nào ?
G.S François Bricaire : Vài biện pháp đơn giản đã tạo nên một thành lũy chống lại các vi trùng. 1. Rửa tay trước khi ăn và mỗi khi đi ra khỏi nhà cầu (bằng cách sử dụng xà phòng lỏng và một khăn lau khô, vì sự ẩm ướt tạo nên một canh cấy cho các vi trùng). 2. Khi người ta ho hay hách xì, che miệng với khăn tay sử dụng một lần và quăng đi ngay sau đó. 3. Lúc về nhà, cởi bỏ giày (là những vecteur thật sự mang vi trùng, chúng có thể tạo nên một mối nguy cơ !). 4. Lau chùi đều đặn với thuốc khử trùng điện thoại cầm tay và các kính đeo mắt, những vật dụng đặc biệt được tiếp xúc với các giọt nước bọt được bắn ra. Các virus cúm rất thường ẩn náu trong những giọt nước bọt này. Vào năm 2008, một công trình nghiên cứu trên 23 người, được thực hiện bởi các BS Squinazi và Saldmann, đã cho thấy rằng các kính đeo của 21 trong số những người tham dự này là một canh cấy của vi khuẩn ! 5. Giữ sẵn ở nhà vài hộp mặt nạ là điều hữu ích, bởi vì trong trường hợp đại dịch, các mặt nạ có thể chịu chế độ phân phối. 6. Trong trường hợp đe dọa dịch bệnh được truyền bởi muỗi, điều quan trọng là chăm lo làm sao cho nhà ở không bị quá ẩm ướt. Rò nước và các máy điều hòa không khí chảy giọt cần phải được sửa chữa khẩn cấp ! Chính nhờ học tập một loạt các phản xạ mới mà chúng ta sẽ thành công trong việc thích ứng với môi trường đang nảy sinh. (PARIS MATCH 2/7-8/7/2009)
4/ XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU ĐỂ PHÁT HIỆN VIÊM RUỘT THỪA.
Nồng độ của protéine LRG (glycoprotéine alpha-2 riche en leucine) tăng rất cao trong nước tiểu của những bệnh nhân bị ruột thừa viêm. LRG có thể trở nên một chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) quan trọng của bệnh viêm ruột thừa, thường là một thách thức chẩn đoán nơi các trẻ em.
Ruột thừa viêm là lý do thường nhất của một can thiệp ngoại khoa nơi các trẻ em. Những chẩn đoán bệnh không phải luôn luôn dễ dàng, Richard Bachur của Children’s Hospital (Boston) đã đánh giá như vậy. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế cho thấy rằng 3 đến 30% các trẻ em được mổ, đã chịu một phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa vô ích, trong khi nơi các trẻ em được chẩn đoán đúng, 30 đến 45% đã có một ruột thừa bị rách vào lúc phẫu thuật. Những kỹ thuật chẩn đoán mới như CT-scan hay siêu âm hẳn sẽ có thể cải thiện các con số, nhưng vẫn luôn luôn thiếu một xét nghiệm nhanh và đáng tin cậy, có khả năng phát hiện một ruột thừa viêm, Richard Bachur đã giải thích như vậy.
Richard Bachur đã trình bày vấn đề ở Proteomic Center của Bệnh Viện Nhi Đồng và bệnh viện quyết định triển khai những phương tiện tài chánh lớn. Trong giai đoạn đầu tiên, 12 mẫu nghiệm nước tiểu đã được xem xét nhờ một spectrométrie de masse. 6 trong những mẫu nghiệm này phát xuất từ những bệnh nhân bị ruột thừa viêm và 6 từ những bệnh nhân kiểm chứng. Spectrométrie de masse cho phép xác định đặc điểm của các protéine và định lượng chúng. Như vậy spectrométrie đã phát hiện được 32 chỉ dấu sinh học (biomarqueur) tiềm năng của ruột thừa viêm.
Với một độ nhạy cảm và độ đặc hiệu 97%, protéine LRG có vẻ có khả năng tốt nhất để trở thành chất chỉ dấu của ruột thừa viêm. Ngay cả ở những bệnh nhân mà ruột thừa có vẻ bình thường lúc chụp CT scan hay siêu âm, nồng độ LRG đã tăng cao.
Do đó, Richard Bachur hy vọng rằng LRG sẽ là công cụ chẩn đoán tốt nhất. Phương pháp phát hiện cùng đã được thích ứng : spectrométrie de masse, thủ thuật phức tạp, đã được thay thế bởi phương pháp immuno-essai. Do đó, chúng ta có thể trông chờ một dải phản ứng (bandelette réactive) nhạy cảm với LRG, sẽ là một khả năng trong tương lai.
Vào lúc này, Richard Bachur đang hiệu chính trắc nghiệm, còn phải được xác nhận nơi những nhóm bệnh nhân khác. Thật vậy, đến nay, trắc nghiệm chỉ có thể được sử dụng nơi các trẻ em. Theo các nhà nghiên cứu, profil protéine của nước tiểu người lớn sẽ hoàn toàn khác hẳn, đó là lý do nó sẽ ảnh hưởng nhiều lên trắc nghiệm. Do đó những xét nghiệm bổ sung vẫn luôn luôn cần thiết nơi người lớn. (LE JOURNAL DU MEDECIN 30/6/2009)
5/ CAFEINE, VŨ KHÍ MỚI CHỐNG BỆNH ALZHEIMER.
NEUROLOGIE. Nơi chuột, caféine cải thiện trí nhớ và làm giảm những thương tổn não bộ của bệnh Alzheimer.
Bệnh Alzheimer gây bệnh cho 15% những người trên 80 tuổi. Ở nước Pháp, 850.000 người bị bệnh này, vì vậy những người trên 65 tuổi sống trong nỗi ám ảnh của cái bệnh lý sẽ dẫn đến đến tình trạng phụ thuộc trong vòng 6 đến 10 năm. Có cách nào để dự phòng hay không ? Mặc dầu những công trình mới đây đã phát hiện tác động thuận lợi của sự hoạt động vật lý và trí tuệ, cũng như việc điều trị bệnh cao huyết áp, bệnh đái đường và chứng béo phì, nhưng hiện nay không có một điều trị phòng ngừa nào cả. Trong bối cảnh như thế, trên site Internet của Journal of Amzheimer Disease, việc công bố một công trình nghiên cứu, cho thấy những tác dụng rất thuận lợi của cà phê lên chuột, quả gợi lên những niềm hy vọng thật sự, mặc dầu những kết quả nơi động vật gặm nhấm này không thể luôn luôn có thể loại suy lên người.
Giáo sư Gary Arendash của Đại học Floride từ lâu quan tâm đến mối liên hệ giữa caféine và chứng sa sút trí tuệ (démence). Nhất là từ khi một công trình nghiên cứu Bồ đào nha đã phát hiện, cách nay vài năm, rằng trong suốt 20 năm trước khi chẩn đoán, những người bị bệnh Alzheimer đã uống cà phê ít hơn nhiều so với những người đã không bị bệnh này. Những công cuộc điều tra khác khá nghiêm túc đã kết luận rằng một sự tiêu thụ có mức độ cà phê tạo một tác dụng bảo vệ chống lại chứng sa sút trí tuệ này.
Chính trong bối cảnh này mà Gary Arendash mới đây đã lao vào trong một công trình nghiên cứu thí nghiệm phức tạp hơn trên chuột. Ông đã tạo được 55 chú chuột nhỏ, được chương trình hóa về mặt di truyền để phát triển những rối loạn trí nhớ giống bệnh Alzheimer và đã chia những con chuột này thành hai nhóm. Sau khi các trắc nghiệm đã xác nhận rằng những con cobaye này đúng là có những rối loạn trí nhớ vào khoảng 18-19 tháng tuổi (tương đương với 70 tuổi ở người), một nửa các con vật này đã nhận caféine trong khẩu phần nước hàng ngày của chúng (tương đương với 8 tách cà phê mỗi ngày và 14 tách trà) trong khi một nửa kia chỉ uống nước thuần chất.
NHỮNG HIỆU NĂNG RÕ RỆT TỐT HƠN.
Sau hai tháng, các chú chuột được cho uống caféine đã tỏ ra có những hiệu năng rõ rệt tốt hơn những chú chuột khác, khi thực hiện những trắc nghiệm khác nhau về trí nhớ. Theo các tác giả, các khả năng của chúng đã trở nên giống hệt với các khả năng của những chú chuột già nhưng không bị chứng sa sút trí tuệ. Các động vật chỉ uống nước vẫn giữ những kết quả xấu vào lúc trắc nghiệm. Lại còn đáng ngạc nhiên hơn vì vài tuần sau đó, cuộc giải phẫu tử thi của não bộ của những chú chuột đã cho phép nhận xét rằng những con chuột được cho uống caféine có nồng độ protéine bêta-amyloide chỉ còn một nửa trong não bộ của chúng, so với những con chuột khác. Thế mà, sự tích tụ protéine này dưới dạng các mảng (plaques) là một trong những thương tổn mô học chính yếu đặc trưng cho bệnh Alzheimer. Theo vài nhà nghiên cứu, caféine phục hồi trí nhớ bằng cách làm giảm vài enzyme cần thiết cho sự sản xuất protéine bêta-amyloide. Những nhà nghiên cứu khác cho rằng caféine có một tác dụng kháng viêm, vì thế làm cho số lượng các mảng protéine này bị giảm xuống. Mặt khác, caféine cải thiện các hiệu năng, chỉ nơi các con chuột đã có những rối loạn trí nhớ, nhưng không cải thiện hiệu năng của những chú chuột lành mạnh.
Các nhà nghiên cứu, rất phấn khởi, đã hoạch định những thử nghiệm lâm sàng trên người, nhằm xác nhận hay phủ nhận những tác dụng của caféine lên nhưng rối loạn đầu tiên của bệnh Alzheimer. (LE FIGARO 7/7/2009)
6/ UNG THƯ PHỔI : XÉT NGHIỆM MÁU SẼ THAY THẾ SCANNER ?
Ung thư phổi và vài con số :
- 30.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp.
- 27.500 tử vong mỗi năm.
- 10% tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm.
Có lẽ sắp đến đây người ta sẽ phát hiện ung thư phổi trong máu. Dầu sao, đó là hướng rất đổi mới, được các nhà nghiên cứu của Pensylvanie theo đuổi và được trình bày vào tháng năm vừa qua ở hội nghị của American Thoracic Society để đương đầu với bệnh ung thư giết chết 800.000 người mỗi năm trên thế giới này. Thật vậy, cho đến hôm nay không có một xét nghiệm nào để phát hiện ung phổi cả. Ngoài ra, chỉ 30% các ung thư phổi được phát hiện ở một giai đoạn sớm mới có thể mổ được. Bởi vì, công cụ duy nhất hiện có, scanner, chỉ có thể phát hiện những hòn phổi (nodule pulmonaire) có một kích thước đủ lớn. Nét độc đáo của những nghiên cứu của G.S Anil Vachani là ở chất chỉ dấu (marqueur) được sử dụng.Trái với các nhóm nghiên cứu, như nhóm của BS William Jacot, thuộc bệnh viện Arnaud-de-Villeneuve ở Montpellier, G.S Anil Vachani đã không đi theo con đường (hiện nay không lối thoát) của các protéine được tiết ra bởi khối u ung thư, mà ông đã chọn các bạch cầu. Thật vậy, một vài loại bạch cầu trong các bạch cầu này, những tế bào lympho, là những bạch cầu đầu tiên tấn công vào khối u ngay khi nó phát triển trong cơ thể. Các gène hiện diện trên các tế bào lympho này sẽ chỉ một cách chính xác sự hiện diện của một khối u. Qua trung gian của các puces ADN, các nhà nghiên cứu đã khảo sát các gène được biểu hiện bởi các bạch cầu của hai nhóm 44 bệnh nhân, nhóm đầu gồm những bệnh nhận được phát hiện sớm, nhóm thứ hai tạo thành nhóm chứng. Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể xác lập, với một độ chính xác 87%, một sự phối hợp của nhiều gène phát hiện sự hiện diện của một ung thư. Còn cần phải kiểm tra xem profil di truyền này có chung cho những ung thư khác không. Một công trình sẽ cần đến nhiều năm. Hướng khác : khí thở ra bởi các bệnh nhân. Nhóm nghiên cứu của BS Michael Philips ở New Jersey, đã nhận diện vài thành phần trong không khí. Công trình nghiên cứu, được hưởng một tài trợ 3 triệu dollars của National Institutes of Health, sẽ được theo đuổi thêm 3 năm nữa trước khi chứng minh rằng xét nghiệm phát hiện độc đáo này, có một tác động thật sự lên tỷ lệ tử vong. (SCIENCES ET AVENIR 6/2007)
7/ MỘT KHÁNG SINH ĐẦY HỨA HẸN CHỐNG BỆNH LAO.
Một nhóm nghiên cứu quốc tế khám phá ra một kháng sinh có hiệu quả chống lại tất cả các dạng của trực khuẩn gây bệnh lao. Cách tác dụng của loại kháng sinh này là mới lạ.
Là bệnh nhiễm trùng trong số những bệnh gây tử vong nhất trên thế giới, bệnh lao được gây nên bởi trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis.Trực khuẩn lao đã gây nên 1,7 triệu nạn nhân vào năm 2007. Và bức tranh này có thể còn trở nên u tối hơn với sự phát triển gia tăng của các giống gốc của trực khuẩn lao đề kháng, không nhạy cảm đối với các thuốc kháng lao hiện có. Do đó cần thiết phải khám phá những loại thuốc có khả năng tấn công trực khuẩn lao, một cách khác với những kháng sinh cổ điển. Đó là điều vừa được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu quốc tế. Được dẫn dắt bởi Stewart Cole, thuộc Trường Bách Khoa liên bang (Lausane), nhóm nghiên cứu này đã đi từ điều chứng thực rằng nhiều thuốc kháng sinh chứa chất lưu huỳnh. Các nhà nghiên cứu sau đó đã tổng hợp một loạt các loại thuốc thuộc họ các dị vòng chứa nguyên tố hóa học lưu huỳnh. Một vài trong các chất này tỏ ra đặc biệt có hoạt tính trên trực khuẩn lao : các nitro-benzothiazinones (BTZ). Nhóm nghiên cứu đã biến đổi cấu trúc của chúng để cải thiện thêm hơn hoạt tính, đồng thời trắc nghiệm những tác dụng độc có thể xảy ra trên các tế bào người.Trên 50 chất ứng viên, chỉ có BTZ043 là có được sự thỏa hiệp tốt nhất giữa tính hiệu quả và độ dung nạp thuốc. In vitro, BTZ043 có một hiệu quả hơn hiệu quả của tất cả các thuốc kháng lao có trên thị trường. Được thử nghiệm trên các con chuột bị nhiễm lao, thuốc làm giảm số các trực khuẩn không đề kháng, hiện diện trong phổi và lá lách của chúng, cùng hiệu quả như hai loại thuốc chính hiện nay ; tất cả mà không gây những tác dụng phụ sau một tháng điều trị. (LA RECHERCHE 7-8/2009)
8/ MỘT KHÁNG THẾ MỚI BẢO VỆ CHỒNG LẠI NHIỄM TRÙNG BỞI VIRUS CỦA VIÊM GAN C
Kháng thể mới này vô hiệu hóa virus trong canh cấy và ngăn cản sự lây nhiễm. MBL-HCV1, được phát triển bởi nhóm nghiên cứu của Donna Ambrosino, thuộc đại học y khoa Massachusetts, dường như rất hứa hẹn. Để tìm được kháng thể MBL-HCV1 này, các nhà sinh học đã tiêm những yếu tố của virus vào các con chuột được nhân hóa (souris humanisés) (được biến đổi về mặt di truyền để có thể sản xuất những kháng thể người). Sau khi đã phân lập trong máu những kháng thể có khả năng nhận biết và liên kết với virus, các nhà sinh học đã trắc nghiệm tác dụng của chúng lên các canh cấy của các mô đuợc lấy nơi những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn. Rồi thì hiệu quả của chúng đã được trắc nghiệm trên các động vật linh trưởng (primates) không phải người, được cho tiếp xúc với virus. Các kháng thể MBL-HCV1 đã lần lượt trung hòa virus và đã bảo vệ các động vật linh trưởng chống lại nhiễm trùng. Một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 theo dự kiến sẽ được bắt đầu trong vòng năm nay. Theo OMS, có 3 đến 4 triệu người bị nhiễm bởi viêm gan C mỗi năm. Hiện tại không có một vaccin nào. (SCIENCE ET VIE 7/2009)
9/ VITAMINE C SẼ ĐIỀU TRỊ CÁC RỐI LOẠN THẦN KINH-CƠ?
Vitamine C có thể sẽ trở nên một thuốc để điều trị bệnh hiếm (maladie orpheline). Thuốc nổi tiếng vitamine C đã được trình tòa để được thương mãi hóa trong hướng điều trị này, nơi Cơ quan dược phẩm châu Âu (Agence européenne du médicament) : thật vậy, acide ascorbique lần đầu tiên vừa được trắc nghiêm nơi người, và thành công, trong điều trị bệnh Charcot-Marie-Tooth. Bệnh di truyền thần kinh cơ này, đừng lầm với bệnh Charcot hay Sclérose latérale amyotrophique, đưa đến teo cơ, chuột rút (crampes) và đau đớn. Bệnh ảnh hưởng lên khoảng 30.000 người ở Pháp và hiện nay không có liệu pháp điều trị.
Nhóm nghiên cứu của Bs Joelle Micaleff-Roll (CHU de la Timone, Marseille) đã theo dõi 180 bệnh nhân ở Marseille, Paris và Lyon. Những kết quả đầu tiên cho thấy rằng “ việc cho thuốc vitamine C, 3g mỗi ngày trong một năm, được liên kết với một sự cải thiện các triệu chứng, BS Micaleff-Roll đã xác nhận như vậy. Thật rất đáng phấn khởi, nhưng điều này cần được xác nhận trên một thời gian dùng thuốc dài lâu hơn và trong khung cảnh của một hợp tác quốc tế. ”
Những công trình khác đã cho thấy rằng vitamine C làm giảm biểu hiện của gène PMP 22, có liên quan trong các quá trình myéline hóa các dây thần kinh. (SCIENCES ET AVENIR 6/2009)
10/ GIẢI MẪN CẢM KHÔNG PHẢI LÀ GIẢI PHÁP NHIỆM MẦU.
SANTE PUBLIQUE. Kỹ thuật này tạo nên một phép trị liệu hữu hiệu, nhưng phải được áp dụng theo từng trường hợp và không phản ứng với tất cả những dị ứng nguyên. Mũi chảy, hách xì liên tiếp, ngứa ngáy ở mắt, chừng ấy các triệu chứng dị ứng bùng nổ trong mùa này, là lúc cây cối và các graminée trổ hoa. Phải nói rằng các phấn hoa (pollen) chịu trách nhiệm một nửa các bệnh viêm mũi dị ứng. Theo Hiệp Hội Hen và Dị Ứng, 15% đến 25% dân châu Âu bị bệnh này. Viêm mũi dị ứng xảy ra theo mùa (rhinite allergique saisonnière) (từng cơn) tái phát mỗi năm vào gần như cùng thời kỳ, nhưng vài người cũng có thể bị viêm mũi kéo dài (rhinite persistante).
Mặc dầu có thuốc (các thuốc kháng histamine, corticoides, các thuốc co mạch), nhưng sự giải mẫn cảm (désensibilisation) đến nay là phương tiện duy nhất để điều trị căn nguyên của bệnh này. Mục đích là nhằm làm giảm tính mẫn cảm của cơ thể đối với dị ứng nguyên (allergène). Chỉ có một thầy thuốc chuyên khoa dị ứng học (allerlogue) mới có khả năng xác định loại dị ứng và thực hiện liệu pháp miễn dịch (immunothérapie) này, phép điều trị thực sự “theo từng người” (traitement sur mesure). Cần thăm khám nếu các triệu chứng của viêm mũi dị ứng tái diễn và xảy ra đều đặn. Người thầy thuốc xác định sự nhạy cảm đối với một dị ứng nguyên nào đó bằng cách trắc nghiệm các chất khác nhau trên những vùng nhỏ của da. Những chất, đưa đến một phản ứng da, được xác nhận như là nguyên nhân của các rối loạn. Sau đó người thầy thuốc xác lập sự lợi ích hay không của một liệu pháp giải mẫn cảm (désensibilisation), kéo dài từ ba đến năm năm.
CẢI TẠO HỆ THỐNG MIỄN DỊCH.
Đợt điều trị nhằm cho dưới da hay dưới lưỡi một liều tăng dần các dị ứng nguyên để cải tạo hệ thống miễn dịch. Đường cho thuốc dưới da, bằng những mũi tiêm, hàm ý rằng bệnh nhân trung bình mỗi tháng phải đến phòng khám của thầy thuốc chuyên khoa dị ứng, và cứ như vậy suốt cả năm. Sau khi được tiêm, bệnh nhân phải chờ đợi tại chỗ, ít nhất ½ giờ, thời gian cần thiết để kiểm tra rằng không có một phản ứng với điều trị. Mặt khác thầy thuốc luôn luôn có sẵn bên mình một ống tiêm chứa adrénaline để phòng trong trường hợp có phản ứng.
Đơn giản và ít bó buộc hơn, ngày nay, đường dưới lưỡi (hiện nay không có thể thực hiện cho tất cả mọi loại dị ứng nguyên) được sử dụng đối với 80% các dị ứng đối với phấn hoa (pollen). Bệnh nhân có thể tự mình cho thuốc ở tại nhà, bằng cách đặt các giọt dung dịch dị ứng nguyên dưới lưỡi. Ưu điểm của phương pháp này, đó là “ không có một phản ứng phụ nghiêm trọng nào, như có thể xảy ra trong trường hợp tiêm dưới da ”, Daniel Vervloet, thầy thuốc chuyên khoa dị ứng và chủ tịch của Liên đoàn dị ứng học Pháp đã giải thích như vậy.
Mặc dầu 3 năm sau khi điều trị, nói chung, một sự giảm rõ rệt tính nhạy cảm dị ứng được ghi nhận, tuy nhiên liệu pháp giải mẫn cảm không được các thầy thuốc nhất trí. Thật vậy, có thể giải mẫn cảm đồng thời một thậm chí hai dị ứng nguyên, nhưng không thể nhiều hơn, do đó, “25% các bệnh nhân không được giải mẫn cảm bởi vì đa nhạy cảm (polysensible)”, Daniel Vervloet đã bình luận như thế.
Mặt khác ông cho rằng nếu ta phải chịu đựng nỗi khó chịu do dị ứng chỉ hai tuần một năm, thì không cần thiết phải lao vào trong kỹ thuật giải mẫn cảm làm gì.
Nhưng sự điều trị viêm mũi dị ứng không chỉ giới hạn trong việc sử dụng thuốc men. BS Marc Sapene, thầy thuốc chuyên khoa phổi-dị ứng ở Bordeaux, tin chắc rằng “ sự làm chủ môi trường sống có thể cho phép tránh khỏi phải giải mẫn cảm. Dị ứng là một sự tương quan giữa các yếu tố, liên kết một phần di truyền và môi trường ”. Đó cũng là ý kiến của BS Gérald Fain, nhắc lại rằng “ dị ứng là một sự tăng phản ứng (hyperactivité) đối với môi trường ”. Đối với ông, yếu tố liên hệ đến cảm xúc không phải là nhỏ. Phấn hoa, lông mèo và bụi bặm không có thể được tách biệt ra khỏi trạng thái cảm xúc của cá nhân : nếu không thì làm sao giải thích rằng vào một lúc nào đó chúng ta nhạy cảm hơn, chứ không phải vào những lúc nào khác ?
Ở Pháp, nhiều bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng không đi khám bệnh : người ta ước tính rằng cứ hai trường hợp có một trường hợp không được chẩn đoán. Thế mà những bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng phải được thăm khám một cách hệ thống, bởi vì khoảng 20% những người bị viêm mũi dị ứng cũng bị bệnh hen phế quản. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để xác lập lợi ích của sự giải mẫn cảm một số lượng tối đa các trẻ nhỏ, nhằm bảo vệ chúng chống lại những rối loạn hô hấp trong tương lai. (LE FIGARO 26/5/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/7/2009)

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san khoa

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969