Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 53
Lượt truy cập: 1009033
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135

Thời Sự Y Học số 135
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÚM A/H1N1 : TOÀN ĐẠI DỊCH TỪ NAY LAN TRÀN KHẮP THẾ GIỚI. OMS TỪ BỎ VIỆC TÍNH SỐ TẤT CẢ CÁC BỆNH NHÂN.
Tổ chức y tế thế giới đã tuyên bố hôm thứ sáu rằng sẽ từ bỏ việc đếm số các trường hợp cúm A/H1N, do quy mô của công việc đòi hỏi đối với những nước bị ảnh hưởng nhất bởi sự tiến triển “ nhanh chóng chưa bao giờ có ” của virus.
Theo OMS, “ một chiến lược nhằm vào sự phát hiện, xác nhận bằng xét nghiệm và nghiên cứu toàn bộ các trường hợp, gồm cả những trường hợp lành tính, đòi hỏi rất nhiều phương tiện ”. Vì lẽ đó, OMS tiếp tục theo dõi tiến triển và kêu gọi các nước khác nhau theo dõi những dấu hiệu biến dị có thể xảy ra của virus, phương cách virus cúm lan tràn, sự gia tăng đột ngột của các thăm khám ở bệnh viện hay sự xuất hiện những trường hợp nặng hơn.
OMS yêu các nước bị dịch thông báo những trường hợp đầu tiên được xác nhận rồi cung cấp một báo cáo tổng kết hàng tuần về số các trường hợp, đồng thời mô tả phương cách mà chúng xuất hiện. OMS báo cáo 95.000 trường hợp cúm A/H1N1 trên thế giới, trong đó có 429 trường hợp tử vong. Đánh giá này đã bị vượt quá bởi vì Anh quốc đã phát hiện 55.000 trường hợp mới chỉ trong vòng 1 tuần.
LAN TRÀN RẤT NHANH
Trận đại dịch 2009 “ từ nay không còn có thể dập tắt được nữa ”, OMS đã nhấn mạnh như thế. Đại dịch đã lan tràn trên thế giới “ nhanh hơn bao giờ hết ”. Vào những đại dịch trước đây, các virus cúm đã phải cần đến hơn 6 tháng để có thể lan tràn rộng lớn như virus mới H1N1, chỉ cần chưa đến 6 tuần.
“ Vì lẽ số các trường hợp gia tăng trong nhiều nước, mà ở đây người ta chứng kiến một sự lây truyền cộng đồng dài lâu của virus, vì vậy đối với các quốc gia bị dịch bệnh, sẽ vô cùng khó khăn, thậm chí không có thể xác nhận các trường hợp bằng xét nghiệm ”, theo OMS.
Ngoài ra, “việc thống kê các trường hợp từ nay không còn thiết yếu nữa để kiểm soát mức độ hay tính chất của nguy cơ do virus đại dịch gây nên hay để định hướng việc áp dụng các biện phát thích hợp nhất để đối đầu”. Đến nay, đại dịch được đặc trưng bởi “các triệu chứng lành tính trong đại đa số các bệnh nhân, thường lành bệnh sau một tuần, ngay cả không cần phải điều trị”. (DIMANCHE 19/7/2009)
2/ Ở NƯỚC BỈ, CÚM H1N1 KHÔNG CÒN NGĂN CHẶN LẠI ĐƯỢC NỮA.
Từ hôm 27 tháng 4, ngày tháng chính thức của sự xuất hiện cúm mới A/ H1N1 ở Bỉ, đáp ứng y tế được thực hiện độc nhất dưới dấu hiệu kềm chế (signe du confinement) : ngay những triệu chứng đầu tiên, các xét nghiệm đã được thực hiện để xác nhận đó có đúng là virus mới hay một bệnh đường hô hấp khác, rồi bệnh nhân được nhập viện trong những căn phòng đặc biệt có áp lực âm tính của bệnh viện Saint-Pierre, hoặc được điều trị tại gia, nhưng không được phép ra khỏi nhà.
Từ thứ hai 13/7, nước Bỉ đã bỏ giai đoạn ngăn chặn (confinement) này : “ Giai đoạn này đã cho phép chúng ta học được nhiều điều về virus. Sự lan tràn của nó càng ngày càng trở nên rộng rãi. Hôm nay chúng ta có thể xác nhận một cách rõ ràng rằng số các trường hợp sẽ gia tăng rất rõ rệt trong những ngày đến ”, Laurette Onkelinx, bộ trưởng bộ xã hội đã giải thích vậy. Bà đã khởi động giai đoạn “ làm giảm nhẹ ” (phase d’atténuation) hôm thứ hai. Chỉ riêng ngày thứ hai này, 15 trường hợp mới đã được thêm vào trong đội ngũ 111 trường hợp đã đếm được, trong khi đó hôm chủ nhật 14 trường hợp đã được ghi nhận. Tuy nhiên con số này vẫn rất vừa phải so với ảnh hưởng toàn bộ của đại dịch toàn cầu. 800 bệnh nhân đã nhận các thuốc kháng virus để phòng ngừa. Nhưng vòng đai y tế này hôm nay đã bị tràn ngập.
1/ Tại sao số bệnh nhân tăng nhanh lên như vậy ?
“ Ngay từ giữa tháng 7, nhiều người đi nghỉ hè trở lại từ những nước ở đó virus lưu hành nhiều hơn. Các buổi liên hoan ca nhạc, các trại hè nhất thiết sẽ gây nên những trường hợp khác. Mục tiêu của chúng ta không còn có thể ngăn chặn hay làm chậm lại toàn đại dịch được nữa, nhưng mục đích chỉ làm giảm tác động y tế và kinh tế xã hội, vừa đảm bảo các điều trị thích đáng ”, bà bộ trưởng giải thích như vậy, và nhấn mạnh rằng virus hiện nay không nguy hiểm hơn virus cúm mùa.
2/ Những hậu quả cụ thể là gì ?
Ngay từ hôm nay, chúng ta sẽ không thực hiện xét nghiệm phân tích một cách hệ thống các mẫu nghiệm để biết đó có đúng là bệnh cúm mới hay không nữa. Thầy thuốc sẽ điều trị bệnh nhân tùy từng trường hợp, theo phép điều trị thông thường đối với cúm mùa, không cho Tamiflu hay Relenza. Những ngoại lệ duy nhất (do những hậu quả khả dĩ của bệnh cúm) : 9 nhóm có nguy cơ sẽ tiếp tục nhận miễn phí các thuốc kháng virus : những bệnh nhân với bệnh phổi mãn tính, với một bệnh lý tim mãn tính, với suy gan, những người bị suy giảm miễn dịch, những bệnh nhân đái đường, các phụ nữ có thai, những bệnh nhân trên 65 tuổi và dưới 5 tuổi hay được nhập viện với một bệnh cảnh lâm sàng nặng. Để cho các thuốc kháng virus và các mặt nạ hô hấp cần thiết có để được sử dụng tức thời, các dự trữ, đã được nói đến từ lúc đầu trận dịch, đang rời các kho dự trữ ở Bruxelles để được đưa về các tỉnh. Mỗi tỉnh sẽ phân phối cho các commune, qua những điểm tiếp xúc y tế địa phương (“ point de contact local de santé ”), do ông thị trưởng chỉ định. Dân chúng được yêu cầu đừng đòi các toa thuốc kháng virus “ với mục đích phòng ngừa ”. Ở Nhật Bản, việc sử dụng những thuốc như thế trước khi triệu chứng xuất hiện đã làm xuất hiện sự đề kháng đối với thuốc. Sau đó cái ngày mà ta thật sự cần đến, sẽ không còn gì nữa cả. Và ta làm lan tràn một virus trở thành nguy hiểm hơn. Những điểm tiếp xúc y tế địa phương này hiện nay sẽ được dùng làm nơi phân phát, thậm chí khám bệnh. (LE SOIR 14/7/2009).
Ở ÚC ĐẠI LỢI : CÓ THỂ ĐẾN 40% DÂN CHÚNG BỊ LÂY NHIỄM
Sydney. Ở bệnh viện Prince of Wales (Sidney), khoa cấp cứu đầy ứ bệnh nhân hơn thường lệ. Trong phòng chờ, vài bệnh nhân chờ đợi hàng giờ, đôi khi với một mặt nạ trên mũi. Trên tường, các yết thị nhắc nhở những điều thận trọng phải tuân theo trong trường hợp bệnh cúm : rửa tay, che miệng lúc hách xì... Từ khi virus A (H1N1) đã chính thức đi vào trong nước, trong vòng tháng 5, số người đến bệnh viện với những triệu chứng cúm đã tăng nhảy vọt lên.
Úc Đại Lợi, đang ở giữa mùa đông Nam cực, là một trong những nước bị ảnh hưởng nhất của vùng Thái Bình Dương. Hôm thứ hai 13/7, 9.050 trường hợp đã được thống kê trong dân số 21 triệu người dân. Và điều đó chỉ có thể mới bắt đầu. Thường thường, 20% dân số bị ảnh hưởng bởi bệnh cúm, nhưng, với virus mới này, mà người ta rất ít được miễn dịch, điều đó có khả năng trở nên trầm trọng. Càng lúc chúng ta có những dữ kiện chính xác hơn, chúng ta nhận thấy rằng tỷ lệ tử vong bây giờ khoảng 0,2% của các trường hợp, cao hơn đối với cúm mùa, Raina MacIntyre, chuyên gia bệnh truyền nhiễm ở đại học Nouvelle-Galles du Sud đã đánh giá như vậy.
Theo những ước tính của giới cầm quyền, đến 40% dân chúng có thể bị lây nhiễm. “ Dường như rằng cúm A (H1N1) sẽ thay thế cúm mùa, hơn là thêm vào nó, Nicola Roxon, bộ trưởng y tế đã tuyên bố như vậy.
NGHỈ BỆNH GÂY TỐN KÉM
Mặc dầu 21 trường hợp tử vong, chính phủ đặt ưu tiên cho những biện pháp vừa phải. Các kiểm tra sinh học ở phi trường quốc tế đã được bãi bỏ, cũng như việc điều tra phát hiện có hệ thống. “ Trong trường hợp có các triệu chứng vừa phải, người ta khuyên đi khám bác sĩ. Bệnh viện chỉ được khuyên đối với những trường hợp nặng ”, Graeme Walker, thuộc bộ y tế của Victoria, một trong những tiểu bang bị ảnh hưởng nhất, đã đánh giá như vậy.
Tamiflu, thuốc kháng virus, được dành cho những người bị nhiễm trùng nặng hay cho những người, ngoài bệnh cúm ra, còn có những vấn đề sức khỏe phụ (hen phế quản, đái đường..). Các liều thuốc kháng virus đã được phân phát trong những trung tâm y tế của các cộng đồng bản xứ ở các vùng xa, các dân bản địa bị những vấn đề về sức khỏe quan trọng hơn mức trung bình.
Một đường điện thoại đã được thiết đặt để khuyên và trấn an công chúng. Ngoài ra để nghiên cứu virus H1N1, Canberra sẽ dành 7 triệu (3,9 triệu euro) để tài trợ những dự án nghiên cứu khác nhau. Khu vực kinh tế đã bắt đầu lo ngại. Theo một báo cáo của phòng thương mại của Nouvelles-Galles du Sud, các xí nghiệp có thể mất hơn 900 triệu dollars năm nay, khi những người ăn lương càng lúc càng nghỉ việc vì bệnh. (LE MONDE 15/7/2009)
3/ ĐỘC LỰC CỦA VIRUS H1N1 ĐƯỢC XÉT LẠI NÂNG CAO.
PANDEMIE. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã cho thấy rằng virus có khả năng làm nhiễm trùng sâu trong các phế quản, điều này cho phép giải thích những trường hợp nặng nhất.
Định mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng của bệnh cúm mới, gây nên bởi virus A/H1N1 không phải là đơn giản. Những tuần lễ đầu tiên, tiếp theo sau sự khám phá của trận dịch ở Mễ Tây Cơ, đã góp phần gây hoảng hốt toàn thế giới vì hàng chục trường hợp tử vong đã được ghi nhận. Khi virus đã bắt đầu xâm chiếm Hoa Kỳ, thế giới bắt đầu nhanh chóng an lòng, bởi vì hàng ngàn bệnh nhân chỉ bị một thể rất nhẹ. Ngày nay cán cân lại chuyển về phía trung tâm.
Thật vậy các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Wisconsin, được điều khiển bởi nhà virus học Yoshihiro Kawanba, vừa công bố trên site Internet của tạp chí Nature những công trình thí nghiệm, bắt đầu phát họa một cách chính xác hơn độc lực của cúm /H1N1. Họ ước tính rằng virus này “ nguy hiểm hơn virus của cúm mùa ”. Mặc dầu, đối với đại đa số các bệnh nhân, sự lây nhiễm chỉ được thể hiện bởi vài ngày sốt, ho, đau họng và đau mình mẩy, với, trong 25% các trường hợp, các rối loạn tiêu hóa. Nhưng trong vài trường hợp ngoại lệ, được thể hiện bởi những nhiễm trùng dày đặc. Với một tỷ lệ tử vong khoảng 3/1000. Nhất là, những trường hợp tử vong, trái với những trận dịch của cúm mùa, chủ yếu liên quan đến những người trẻ và gần như không ảnh hưởng lên những người trên 60 tuổi.
Để đánh giá độc lực của virus A/H1N1, giáo sư Kawaoka và các đồng nghiệp đã làm gây nhiễm trên thực nghiệm với virus mới này, những nhóm khác nhau gồm chuột, chồn sương (furets) và các linh trưởng, là biểu hiện những mô hình động vật đáng tin cậy đối với cúm. Như thế các nhà nghiên cứu đã có thể quan sát rằng virus A/H1N1 tăng sinh một cách hiệu quả hơn trong các đường của hệ hô hấp so với virus của cúm mùa. Các nhà nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng virus này có khả năng sản xuất những thương tổn phổi tương tự với những thương tổn gây nên bởi những virus toàn đại dịch độc lực hơn. Virus A/H1N1 dường như đi vào sâu trong cac phế quản nhỏ và phổi và tăng sinh ở đó tích cực hơn. Thật vậy các con chồn sương bị nhiễm trùng cho thấy những dấu hiệu viêm phế quản phổi nghiêm trọng hơn. “ Trong những thí nghiệm của chúng tôi trên các chồn sương và trên khỉ, virus của cúm mùa không tăng sinh trong phổi, G.S Kawaoka đã giải thích như thế. Nhưng virus A/H1N1, trong cùng những trường hợp, tăng sinh một cách tích cực ”. Mặt khác các tác giả đã tìm kiếm những kháng thể khả dĩ trung hòa virus mới, dường như tương cận với virus gây nên trận đại dịch 1918. Những người sinh ra trước năm 1918 có những tỷ lệ kháng thể cao chống lại virus 2009, nhưng không hiện diện nơi những người sinh sau 1920.
NHỮNG NGƯỜI RẤT GIÀ ĐƯỢC MIỄN DỊCH HƠN.
Tất cả những thí nghiệm này đã được tiến hành với những giống gốc virus A/H1N1, được lấy nơi những bệnh nhân có những nguồn gốc khác nhau, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hoà Lan. Mặt khác, nhóm của các chuyên gia virus học Hoa Kỳ cũng đã cho thấy rằng, mặc dầu virus H1N1 hơi độc lực hơn dự kiến, nhưng các thuốc kháng virus hiệu quả chống lại nhiễm trùng trên những mô hình động vật này. Nhóm nghiên cứu được điều khiển bởi Kawaoka cũng đã quan tâm về trường hợp những người già sinh ra trước năm 1918 và đã có thể khám phá rằng những người này có một nồng độ cao các kháng thể chống virus H1N1 đã bảo vệ họ chống lại đại dịch mới.
Sau cùng, nhà virus học Hoa Kỳ không loại bỏ rằng virus mới sẽ trở nên độc lực hơn với sự lan rộng của đại dịch trong những tháng tới. Hiện nay, cúm đặc biệt hoành hành trong Nam bán cầu nhưng hẳn sẽ trở lại hùng hậu về phía Bắc trong mùa thu tới. (LE FIGARO 15/7/2009) (LE SOIR 14/7/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr125.htm (TSYH 125, bài số 1)
4/ PHÁP: CÁC UNG THƯ THƯỜNG XẢY RA NHẤT NĂM 2008: UNG THƯ VÚ VÀ TUYẾN TIỀN LIỆT
EPIDEMIOLOGIE. Hai ung thư này tiếp tục tiến triển năm 2009, đặc biệt là do sự điều tra phát hiện có hệ thống. Vào năm 2008, các ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate) dẫn đầu xa ở nam giới với 66.000 trường hợp mới ở Pháp, theo những dự đoán được công bố bởi INVS (Institut de veille sanitaire). Đối với nữ giới, cành cọ luôn luôn dành cho các ung thư vú, với 51.000 trường hợp được dự kiến vào năm 2008. “ Đó chỉ mới là những đánh giá. Các dữ kiện xác định chỉ được biết với 3 hay 4 năm chênh lệch ”, BS Juliette Bloch, thuộc INVS đã xác nhận như thế.
Rất là logic, các tiên đoán này xác nhận khuynh hướng được quan sát trong những năm qua : các ung thư càng ngày càng thường xảy ra nhưng càng ngày càng ít giết người hơn. Cách nay một năm rưỡi, INVS và Viện ung thư quốc gia đã công bố một cơ sở các dữ kiện khổng lồ về chủ đề này. Giữa năm 1980 và 2005, các khối u ác tính đã gia tăng một cách đáng kể ở Pháp, đặc biệt là do sự gia tăng và lão hóa dân số. Nhưng may mắn thay, dịch bệnh đã được bù lại bởi một sự hạ thấp tỷ lệ tử vong 20% của các ung thư. Sự trái nhau giữa đường cong tỷ lệ tử vong và đường cong của những trường hợp mới, một phần lớn được giải thích bởi sự tiến triển mạnh của điều tra phát hiện các ung thư có tiên lượng tốt (như các ung thư của tuyến tiền liệt và vú) và sự thụt lùi của những khối u hung dữ (thực quản, dạ dày, miệng và họng), liên hệ với sự giảm uống rượu và hút thuốc lá.
Tính toàn bộ, gần 353.000 người Pháp được khám phá có một khối u ác tính vào năm 2008, trong khi số trường hợp mới được ước tính là 319.500 vào năm 2005. Về những trường hợp tử vong vì ung thư, con số là 145.500 vào năm 2008, hoặc 1.000 trường hợp ít hơn vào năm 2005.
GIẢM ĐIỀU TRỊ HORMONE CHỨNG MÃN KINH.
Các ung thư của tuyến tiền liệt thường xảy ra hơn hết và là ung thư đã tăng nhanh hơn hết nơi đàn ông trong 25 năm qua. Việc sử dụng tăng cường xét nghiệm PSA ở Hoa Kỳ đã gây nên sự gia tăng gấp đôi các tỷ lệ mắc bệnh trong 5 năm trước khi xảy ra sự giảm đột ngột.
Ở các phụ nữ, ung thư vú cũng tiếp tục theo đuổi sự tiến triển, nhưng ít mạnh hơn so với dự kiến, BS Bloch đã xác nhận như vậy. Theo một điều tra của Pháp được công bố năm 2008, tỷ lệ những ung thư vú đã giảm giữa năm 2004 và 2006. Cũng được chứng thực trong những nước khác, tiến triển này xảy ra đồng thời với sự giảm mức độ lớn các điều trị chứng mãn kinh bằng hormone. (LE FIGARO 14/7/2009)
5/ UNG THƯ VÚ : HƯỚNG PHÂN TÍCH NƯỚC BỌT.
Thế thì tại sao nha sĩ không lấy vài giọt nước miếng của các bệnh nhân mình nhằm phát hiện một ung thư vú có thể xảy ra ? Nhóm nghiên cứu của Charles Streckfus, thuộc Dental Branch của đại học Houston (Texas, Hoa Kỳ), đã công bố những kết quả phân tích của các mẫu nghiệm được lấy từ nước miếng của 30 phụ nữ. Kết quả : các nhà nghiên cứu đã nhận diện được 49 protéine, phân biệt những phụ nữ chứng với các phụ nữ mang những u hiền hay ác tính. Ở Canada, trong mùa hè năm trước, Women’s College Hospital (Toronto) đã tiến hành một chương trình phát hiện ung thư vú bằng nước miếng, dành cho các phụ nữ thuộc những gia đình có nguy cơ. Các kết quả phân tích đang được tiến hành. Những nhóm nghiên cứu khác, như nhóm của Marscha Moses, thuộc Children’s Hospital de Boston (Hoa Kỳ), từ nhiều năm nay nghiên cứu để hiệu chính những xét nghiệm máu và nước tiểu. Với mục tiêu, những áp dụng cụ thể từ nay đến 5-10 năm nữa. (SCIENCES ET AVENIR 6/2009)
6/ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYỂN : MỘT PROTEINE MỞ ĐƯỜNG CHO PHÁT HIỆN SỚM.
Để định lượng trong nước tiểu, sarcosine, protéine vừa mới được nhận diện, sẽ cho phép phân biệt rất sớm một phì đại đơn thuần của tuyến tiền liệt với một ung thư.
Khám phá quan trọng này của một nhóm nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, thuộc đại học Ann Arbor, tiểu bang Michigan, sẽ mở đường cho một trắc nghiệm. Một hỗ trợ đáng kể đối với các thầy thuốc, hiện nay chỉ có 3 công cụ để phát hiện, ngay cả nếu được phối hợp, sẽ không cho phép chẩn đoán một cách chắc chắn : thăm khám trực tràng không có giá trị tiên đoán đầy đủ, định lượng PSA thiếu chính xác và các sinh thiết đôi khi vẫn không nói nên lời. Ngoài ra, một công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng một nồng độ PSA dưới 4ng/ml, mặc dầu được xem là bình thường, vẫn không loại bỏ được sự hiện diện của một ung thư tiền liệt tuyến đôi khi đã tiến triển. (SCIENCES ET AVENIR 6/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr120.htm (TSYH 120, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr117.htm (TSYH 117, bài số 9)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr95.htm (TSYH 95, bài số 6)
7/ CHỨNG TRÁM CẢM HẬU SẢN ẢNH HƯỞNG LÊN 15% ĐẾN 20% CÁC BÀ MẸ.
Làm sao phân biệt chứng trầm cảm với baby-blue sau khi sinh ? Chứng trầm cảm hậu sản (dépression postnatale) ảnh hưởng 15% đến 20% các bà mẹ và có thể gây bệnh cho tất cả các phụ nữ ; nhưng chỉ dưới 2% các bệnh nhân thăm khám một chuyên khoa tâm lý : đó là điều được chứng thực bởi nhóm Allo Parents Bébé. Được phát động vào tháng hai năm 2008 bởi hiệp hội Enfance et Partage, “từ 30 năm nay hoạt động để quyền lợi của các trẻ em được công nhận và bảo vệ”, số điện thoại xanh, nặc danh và miễn phí này, giúp đỡ cho quan hệ bố mẹ-em bé, đã nhận được 9000 cú điện thoại từ lúc thành lập hội.
“Lúc sinh là giây phút rất đặc biệt. Donald Winnicott, thầy thuốc nhi khoa và nhà phân tâm học người Anh, đã giải thích rằng những phụ nữ có thai đều “điên một cách bình thường”, BS Linda Morisseau, thầy thuốc tâm thần nhi đồng- phân tâm học (pédosychiatre-psychanalyste), thuộc Institut de puériculture và périnatalité de Paris, đã giải thích như vậy. Baby-blues không nhất thiết là một bệnh trầm cảm, nhưng là một trạng thái tăng tính xúc cảm (hyperrémotivé). “Nói chung, điều đó không nghiêm trọng và không cần một điều trị nào đặc biệt. Chỉ cần một ít sự chú ý của những người chung quanh”, ở Hội Enfance et Partage người ta đã giải thích như vậy.
Vào lúc trầm cảm, nói chung người mẹ không chú ý đến em bé. Do đó việc phát hiện chứng trầm cảm này há không phải là rất quan trọng hay sao ? Các rối loạn giấc ngủ, cảm giác rất mệt mỏi, cảm tưởng không có năng lực, không hoặc ít quyến luyến với em bé... là bấy nhiêu các triệu chứng cần phải được báo động. Và sự cô lập hay tình trạng đời sống bấp bênh lại còn làm tăng thêm hiện tượng này. Trong những trường hợp như vậy, không nên do dự thăm khám một thầy thuốc. “ Điều quan tâm là cần phải can thiệp nhanh, nhất là các bà mẹ thường không cho phép mình nói rằng họ thấy không được khỏe ”, BS Morisseau đã giải thích như vậy. Họ không nói điều đó với cha của em bé, cũng như với bố mẹ họ, với những người thân, ngay cả với nhà hộ sinh, là nơi chứng trầm cảm hiếm khi xảy ra, nhất là thời gian nằm lại sau khi sinh càng ngày càng ngắn. “ Tình trạng này xảy ra giữa tuần thứ sáu và cuối năm đầu sau khi sinh. Đại đa số các chứng trầm cảm hậu sản được cải thiện trong vài tuần, nếu bà mẹ nhận được một hỗ trợ về quan hệ và tình cảm ”, Enfance et Partage đã cảnh cáo như vậy.
NHỮNG TIẾNG GỌI THỐNG KHỔ.
Để trả lời các thắc mắc của các bố mẹ, Allo Parents Bébé thiết lập điện thoại xanh. “ Nhóm gồm 6 người nghe điện thoại, có một kỹ thuật trong quan hệ giúp đỡ ”, Françoise Rosenblatt, cựu y tá khoa Nhi đã giải thích như vậy. Trong 50% các trường hợp, người gọi là một bà mẹ trẻ dưới 30 tuổi có em bé mới sinh là đứa con đầu lòng. Từ 20% đến 25% các trường hợp là những lời kêu thống khổ thật sự của bố mẹ, bị vượt quá bởi sự đi đến của em bé trong cuộc đời họ.
“Tôi đấu tranh để phát hiện trên thượng nguồn của quá trình sinh đẻ, do đó lợi ích của cuộc nói chuyện bắt buộc vào tháng thứ 4 của kỳ thai nghén”, BS Micheline Blazy, thầy thuốc chuyên khoa ngoại sản của bệnh viện Vésinet (Yvelines) đã nhấn mạnh như vậy.
Thường thường, trong trường hợp bị chứng trầm cảm hậu sản, các phụ nữ cảm thấy mặc cảm phạm tội vì đã không cảm thấy thích thú đối với những những chăm sóc cho em bé và ít cười với nó. “Điều đó có thể rất phương hại cho em bé, vốn có một nhiệt tình tự nhiên đối với người khác, hau háu thèm muốn cái nhìn của mẹ, thế mà bà mẹ lại không trả lời, nếu như người cha ít có mặt, BS Morisseau đã xác nhận như thế. Nguy cơ là thấy đứa trẻ thu rút mình lại và cắt đứt với ngoại giới”. (LE MONDE 24/6/2009) Đọc thêm:
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr123.htm (TSYH 123, bài số 8)
8/ UNG THƯ LÀM ĐỂ CHỨNG TRẦM CẢM VỀ PHƯƠNG DIỆN SINH HỌC.
Những yếu tố, được tiết ra bởi vài loại khối u, có tác dụng làm dễ sự xuất hiện của chứng trầm cảm (dépression). Đó là kết luận của Leah Pyter và của các đồng nghiệp của đại học Chicago, sau một công trình nghiên cứu trên hơn 100 con chuột. Những con chuột, nơi chúng các nhà nghiên cứu đã kích thích nhằm tạo nên ung thư vú, đã có nhiều triệu chứng trầm cảm hơn những con chuột lành mạnh. Ở người, người ta đã nghĩ rằng chứng trầm cảm này là do tình trạng sốc xảy ra lúc bệnh ung thư được loan báo với bệnh nhân, do những tác dụng phụ của hóa học trị liệu, hay là do ảnh hưởng sinh học trực tiếp của khối u. Thí nghiệm trên chuột đã cho phép các nhà nghiên cứu chứng thực rằng khối u tiết cytokines với lượng lớn trong máu và trong não bộ của các con chuột bị bệnh ung thư.Thế mà những phân tử nhỏ được sản xuất bởi hệ miễn dịch này (cytokines) được biết là gây nên những triệu chứng trầm cảm. (SCIENCE ET VIE 7/2009)
9/ BỀ DÀY CỦA VỎ NÃO TIÊN ĐOÁN BỆNH ALZHEIMER.
Một chỉ dấu rất mới, được tính từ bề dày của vỏ não, có thể tiên đoán sự xuất hiện của bệnh Alzheimer, nơi một bệnh nhân có những rối loạn nhẹ về trí nhớ (troubles légers de mémoire). Đó là kết luận của những công trình của một nhóm nghiên cứu Inserm de Toulouse, được công bố trong tạp chí Brain. “ Thật vậy, tính thay đổi nơi từng cá thể của các cấu trúc não bộ như thùy hải mã (hippocampe) (đầu tiên bị thương tổn trong bệnh Alzheimer và được nghiên cứu nhiều nhất) là quá lớn lao, nên không thể kết luận ở mức cá thể, Pierre Celsis, giám đốc nghiên cứu, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Chúng ta phải tìm một chỉ dấu chắc chắn hơn. ” Đó là điều đã đuợc thực hiện. Bằng cách so sánh các IRM não bộ của 3 nhóm người 75 tuổi, hoặc lành mạnh, hoặc bị rối loạn nhẹ về trí nhớ hoặc bị bệnh Alzheimer được xác nhận, một logiciel đã tính bề dày của vỏ não trong những vùng não bộ được biết là nhạy cảm với bệnh Alzheimer và từ đó đã suy ra một “ index d’épaisseur normalisé ” (IEA) (chỉ dấu bề dày bình thường). Những kết quả, hai năm sau : “ Nơi những người bị rối loạn nhẹ về trí nhớ và đã tiến triển về phía bệnh Alzheimer, IEN đã tiên đoán sự thoái hóa thần kinh trong 76% các trường hợp ! Pierre Celsis đã tuyên bố như vậy. Thế mà, ta biết rằng nơi những người có một đời sống kích thích về trí tuệ, các cơ chế nhận thức (mécanismes cognitifs) bù trừ sự teo não bộ và làm chậm lại chẩn đoán. Vậy đối với những người này, IEN sẽ tránh một sự chậm trễ trong điều trị. Đó là điều chủ yếu, mặc dầu người ta chưa tìm ra thuốc thật sự có hiệu quả để điều trị bệnh này. (SCIENCES ET AVENIR 7/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr90.htm (TSYH 90, bài số 3)
10/ SỰ SUY DINH DƯỠNG LÀM NGUY HẠI SỰ ĐIỀU TRỊ BỆNH SỐT RÉT.
Sự phối hợp sulfadoxine và pyriméthamine được chủ xướng trong nhiều vùng trên thế giới để điều trị dự phòng bệnh sốt rét nơi các trẻ em nhỏ tuổi. Nhưng sự suy dinh dưỡng làm nguy hại đến các cơ may thành công của điều trị phòng ngừa, như đã được chứng tỏ bởi một công trình nghiên cứu, được tiến hành ở Ghana, nơi 1.200 trẻ em từ 3 đến 15 tháng, được theo dõi đến năm 2 tuổi. Các tỷ lệ hiệu quả gần như bị giảm còn một nửa trong trường hợp suy dinh dưỡng và nguy cơ xuất hiện các thể sốt rét nặng gia tăng rõ rệt (SCIENCES ET AVENIR 7/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/7/2009)

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san khoa

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969