Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 29
Lượt truy cập: 1028456
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ Ở CHÂU ÂU MỘT LÀN SÓNG CÚM MỚI CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI HƠN.

Với mùa thu đến, vaccin được cung cấp giới hạn cho những tháng còn lại.

Mối lo âu về một giống cúm mới có thể bớt căng trong mùa hè, nhưng hàng triệu người châu Âu chẳng bao lâu nữa sẽ đón nhận một lời nhắc nhở rõ ràng về tính độc lực của cúm khi các chính phủ đang sửa soạn cho một chiến dịch tiêm chủng đại quy mô nhằm tránh xa một làn sóng nhiễm trùng thứ hai, và có thể gây chết người hơn.

Với một làn sóng các trường hợp virus H1N1 khác, được dự kiến ngay vào tháng chín, các chuyên gia y tế nói rằng cuộc chiến đấu để chế ngự cúm đại dịch đầu tiên trong 4 thập niên qua đang vừa mới diễn ra ở Châu Âu.

Các viên chức y tế của Liên Hiệp Châu Âu nhấn mạnh rằng hầu hết các trường hợp cúm xảy ra nơi người là nhẹ và rằng các bệnh nhân hồi phục mà không cần điều trị gì đặc biệt. Trong một dấu hiệu bình thường khác, một ủy ban của Liên Hiệp Châu Âu tuần qua đã khuyến nghị các trường mở lại như thường sau kỳ nghỉ hè.

Nhưng với lượng vaccin giới hạn, được dự kiến sẽ có để sử dụng năm nay, các giới hữu trách y tế đang chuẩn bị cho nhiều trường hợp cúm hơn cho mùa thu và mùa đông sắp đến, là khi virus sẽ lan tràn dễ dàng hon.

“ Nếu chúng ta bị nhiều nhiễm trùng hơn, thì sẽ có nhiều biến chứng hơn nhiều xảy ra nơi những người có tình trạng bệnh lý và điều này có nghĩa là sẽ có nhiều tử vong hơn nhiều ”, Nigel Dimmock, giáo sư danh dự của khoa sinh học, thuộc Đại Học Warwick ở Anh, và là một chuyên viên về cúm đã nói như vậy.

Cho đến hôm chủ nhật, Trung tâm châu Âu Ngăn ngừa và Kiểm tra Bệnh tật, một cơ quan của Liên Hiệp Châu Âu có căn cứ ở Thụy Điển, đã báo cáo 38.187 các trường hợp được xác nhận và 60 trường hợp tử vong trong các nước châu Âu, so với một tổng số toàn bộ 228.921 các trường hợp được xác nhận và 2.084 trường hợp tử vong trên khắp thế giới. Những con số thống kê này cho thấy rằng châu Âu đã bị một số tương đối nhỏ các trường hợp. Theo Tổ chức y tế thế giới, các nước ở Bắc và Nam Mỹ đã báo cáo đại đa số các trường hợp nhiễm trùng và tử vong. Nhưng đây đúng là lúc, các chuyên gia tin tưởng như thế, các người Âu Châu nên chuẩn bị cho một cuộc bộc phát lan tràn hơn.

Mô hình toàn bộ của sự lan tràn của virus chỉ rõ rằng “ đại dịch chỉ mới bắt đầu ở châu Âu ”, Nikki Shindo, một nữ phát ngôn viên về cúm của OMS đã nói như vậy.

Đến 30% dân chúng Anh có thể bị nhiễm trùng trong mùa cúm đến, theo một nữ phát ngôn viên của Bộ Y Tế Anh. Trong một mùa cúm bình thường, từ 2 đến 15% dân chúng bị gây nhiễm, bà đã nói như vậy.

Cho đến hôm chủ nhật, nước Anh đã có 12.903 những trường hợp được xác nhận và 44 trường hợp tử vong được báo cáo, nhiều nhất trong bất cứ nước châu Âu nào, theo ECDC. Cuối tuần qua, 39 người bị nghi cúm heo được đưa vào phòng hồi sức ở Anh.

Tháng 8 này, các xét nghiệm đã xác nhận những triệu chứng của virus H1N1, không có trường hợp nặng, trên 59 sinh viên và 5 cán bộ giảng dạy của trung tâm ngôn ngữ cho các sinh viên nước ngoài ở Pháp, gần Monaco. Trường xác nhận rằng đã có những trường hợp cúm heo được xác nhận nhưng từ chối cho thêm những bình luận.

Những trường ngoại ngữ khác ở Pháp đã áp dụng những biện pháp thận trọng. Accent Français ở Montpellier, có khoảng 150 sinh viên tuổi 16 hoặc hơn, từ các nước Đức, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh và Hoa Kỳ, đã dự trù mặt nạ và yết thị những thông báo về vệ sinh.

Đến hôm chủ nhật, đã có 1.125 các trường hợp và một tử vong được báo cáo ở Pháp, theo E.C.D.C.

“ Virus hiện giờ không có vẻ hung hãn thái quá, Odile Launay, giám đốc của Trung tâm tiêm chủng học Cochi-Pasteur ở Paris đã nói như vậy, “ nhưng nó có thể trở nên độc lực hơn .”

Bà ta nói rằng các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đã ngạc nhiên về sự xuất hiện liên tục các trường hợp mới trong suốt mùa hè, là khi các virus cúm, nói chung, vẫn ít được thấy hơn.

Theo E.C.D.C, Tây Ban Nha đã báo cáo 11 trường hợp tử vong, con số cao thứ hai trong Liên Hiệp Châu Âu, nhưng đã báo cáo 1.538 các trường hợp, ít hơn nhiều so với Anh. Đức đã báo cáo 1.493 những trường hợp được xác nhận, theo ECDC, nhưng không có trường hợp tử vong.Viện Robert Koch, một cơ quan của Đức phụ trách kiểm tra và ngăn ngừa bệnh tật, mới đây đã nói rằng số các trường hợp đã gia tăng đều đặn, với nhiều trường hợp có nguồn gốc bản xứ hơn là từ các công dân trở về từ những chuyến du lịch ra nước ngoài.

OMS đã nói rằng khoảng 1/3 của dân chúng thế giới có thể sẽ bị nhiễm trùng vào lúc đại dịch được xác lập và có thể được xem như là một virus cúm mùa (seasonal flu virus), trong vòng hai đến ba năm.

Thông thường quá trình phát triển vaccin cần thời gian lâu, vì vậy giới hữu trách ở châu Âu đã áp dụng những thủ tục nhanh để có được vaccin càng nhanh càng tốt.

Các công ty dược phẩm như Baxter, GlaxoSmithKline và Novartis đang thích ứng những vaccin hiện có với giống gốc H1N1, theo European Medicines Agency ở Luân Đôn. GlaxoSmithKline và Sanofi Pasteur cũng đang phát triển những vaccin khác “ trên một cơ sở gia tốc ”, cơ quan đã nói như vậy.

Vấn đề cấp bách nhất hiện nay mà các chỉnh phủ đang đương đầu là chọn những nhóm có nguy cơ nhất trong các nước của họ để các tiêm chủng được thực hiện ưu tiên một cách đúng đắn một khi khi chúng trở nên được phổ biến rộng rãi.

“ Sẽ có những quyết định rất phức tạp phải được thực hiện, BS Shinto của OMS đã nói như vậy. “ Không một nước nào sẽ có một cách đúng lúc những lượng vaccin được yêu cầu.”

Bà đã nói rằng bà hy vọng virus sẽ theo một mô hình giống với mô hình của một cúm mùa bình thường, hơn là tiếp tục theo một mô hình được thấy trong vài tháng qua, trong đó những người trưởng thành trẻ, tuổi từ 17 đến 19, là nhóm tuổi thông thường nhất bị bệnh bởi virus.

Có thể có “ một bức tranh hoàn toàn khác với bức tranh mà chúng ta đã thấy trong làn sóng đầu tiên ”, BS Shinto đã nói như vậy. Bà nói thêm rằng virus có thể lan tràn với số lượng lớn hơn nơi những thành viên ít hoạt động hơn của nhóm dân chúng như những người già, những nhỏ tuổi và các phụ nữ có thai.

Quan điểm của BS Shinto phản ánh rộng rãi các kế hoạch của chính phủ Anh, được phát họa hôm thứ năm, đặt ưu tiên tiêm chủng cho khoảng 5 triệu người ở Anh, lớn hơn 6 tháng và dưới 65 tuổi, là những đối tượng dễ bị thương tổn hơn đối với cúm mùa do những tình trạng bệnh như bệnh tim và bệnh đái đường. Hai triệu nhân viên y tế cũng sẽ nằm trong danh sách ưu tiên.

Bộ trưởng y tế Pháp, Roselyne Bachelot, vào cuối tháng 7 đã nói rằng ưu tiên sẽ dành cho các viên chức cao cấp chính phủ và cho những người tiếp xúc nhất với virus qua công việc, như các nhân viên y tế và những người tiếp xúc với . Ở Pháp và ở Anh, các phụ nữ có thai và những người có hệ miễn dịch suy yếu cũng sẽ nhận ưu tiên. Nhưng cả hai chính phủ Anh và Pháp sẽ không thực hiện một chương trình tiêm chủng tổng quát đối với các trẻ ở lứa tuổi học đường.

Mario Vaillo de Mingo, một phát ngôn viên của Bộ y tế Tây Ban Nha, đã nói hôm thứ hai rằng chính phủ của ông đã gởi đơn đặt hàng 57 triệu liều vaccin từ những công ty dược phẩm Novartis và GlaxoSmithKline, và sẽ chuẩn bị tiêm chủng cho 40% dân chúng. Ông nói rằng kế hoạch của Tây Ban Nha cũng đã dự kiến tiêm chủng cho tất cả các trẻ đến tuổi 14 nếu cần.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 18/8/2009)

2/ CÚM A (H1N) : NHỮNG GIAI ĐOẠN CỦA CUỘC CHẠY ĐUA VACCIN.

Chúng ta sẽ có một sự bảo vệ hiệu quả chống virus cúm mới vào mùa thu này hay không ? Các thử nghiệm đang được tiến hành.

Sự hiệu chính các vaccin đặc hiệu chống lại virus cúm mới A (H1N1) là một cuộc chạy đua với thời gian : căn bệnh đã lan truyền trong 170 nước, với một sự gia tăng các trường hợp, đặc biệt ở Nam bán cầu. Những cuộc chạy đua này sẽ được đánh dấu bởi những giai đoạn cần thiết, mà thời gian không thu giảm được, để đảm bảo khả năng của vaccin gây nên một đáp ứng của hệ miễn dịch có hiệu quả, cũng như để phát hiện những tác dụng phụ có thể xảy ra.

Hỏi : Ai chế tạo những vaccin mới ?
Đáp : OMS kiểm kê được khoảng 20 nhà công nghiệp có giấy phép đưa ra thị trường đối với một vaccin chống cúm mùa (vaccin antigrippal saisonnier). 3 phòng bào chế chi phối sự sản xuất trên thế giới : GlaxoSmithKline (GSK) của Anh, Novartis của Thụy Sĩ và Sanofi Pasteur của Pháp.

Hỏi : Việc hiệu chính hiện đang đến đâu rồi ?
Đáp : Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên với các vaccin thí nghiệm đã bắt đầu. BS Marie-Paule Kieny, nữ giám đốc của Initiative pour la recherche vaccinale của OMS, kiểm kê được “ 7 nhà chế tạo đã bắt đầu những thử nghiệm lâm sàng ”, đang được tiến hành “ trong ít nhất 5 nước : Trung Quốc, Úc Đại Lợi, Vương Quốc Anh, Đức và Hoa Kỳ ”.

Thử nghiệm tại châu Âu của Sanofi Pasteur (sẽ diễn ra ở Pháp và Phần Lan) sẽ khởi đầu trong các tuần tới, Benoit Rungeard, giám đốc thông báo sản phẩm của hãng đã chỉ rõ như vậy. Thử nghiệm tại Hoa Kỳ của Sanofi Pasteur đã đang được tiến hành. Cũng vậy, phòng bào chế GSK sẽ tiến hành thử nghiệm châu Âu trong nhiều nước, “ đặc biệt ở Đức, Tây Ban Nha, Bỉ và Pháp ”, BS Soizic Courcier, diecteur médical của GSK đã xác nhận như thế.

Hỏi : Những thử nghiệm này có mục đích gì ?
Đáp : Những thử nghiệm này là cần thiết để xác định liều lượng tối ưu phải tiêm để gây nên một đáp ứng hiệu quả của hệ miễn dịch chống virus. Chúng sẽ cho phép đánh giá sự cần thiết hay không liên kết một chất hỗ trợ (adjuvant), nhằm tăng cường tính hiệu quả của vaccin. Sau cùng những thử nghiệm này sẽ cho phép xác định xem một liều duy nhất là đủ hay phải tiêm hai liều. Vấn đề này là căn bản bởi vì, đối với cùng một số lượng vaccin được sản xuất, số người sẽ có thể được tiêm chủng khi đó thay đổi từ liều đơn hay liều kép.

Hỏi : Các vaccin được chế tạo như thế nào ?
Đáp : Tất cả các hãng bào chế sản xuất từ cùng giống gốc virus, được gởi vào hồi cuối tháng năm bởi những trung tâm công tác của OMS. Những trung tâm này cũng đã gởi những thuốc thử dùng trắc nghiệm tính hiệu quả của vaccin. Chúng được sản xuất từ các protéine bề mặt của virus (mà những chữ đầu là H và N) và từ một giống gốc virus cúm được làm vô hại. Do đó “ virus thuốc chủng ” (virus vaccinal) này là một hybride không sinh bệnh, mang những kháng nguyên đặc hiệu của giống gốc A (H1N1) mà người ta muốn gây miễn dịch chống lại nó. Sự cấy thường được thực hiện trên lòng trắng trứng gà, nhưng cũng trên các tế bào.

Hỏi : Người ta có chắc chắn là các thuốc chủng sẽ có hiệu quả khi cần đến không ?
Đáp : Nếu virus A (H1N1) biến dị nhiều vào mùa thu tới, thì tính hiệu quả của các vaccin có thể bị xét lại. Hiện nay, những biến dị như thế đã không được quan sát thấy.

Hỏi : Sự an toàn của các vaccin được đánh giá như thế nào ?
Đáp : Cũng như mọi thử nghiệm với các sản phẩm y tế, các nghiên cứu được kiểm tra nghiêm ngặt (ủy ban éthique, sự cần thiết của một sự thoả thuận được soi sáng...). Phòng bào chế sẽ nhờ đến một thầy thuốc, trong một bệnh viện hay một trung tâm tiêm chủng. Người thầy thuốc này sẽ là người thăm dò (investigateur) chính, BS Courcier đã giải thích như vậy. Chính trách nhiệm của người thầy thuốc này là tuyển mộ những người tình nguyện, tiến hành thử nghiệm và thu thập các dữ kiện. Số người tham dự (khoảng 1.500 đến 2.000 người) không luôn luôn cho phép phát hiện những tác dụng phụ hiếm hoi. Một theo dõi được dự kiến vào lúc các chiến dịch tiêm chủng.

Hỏi : Ai tham dự vào những thử nghiệm lâm sàng và trong những điều kiện nào ?
Đáp : Đó là những người tình nguyện lành mạnh, đã được đăng ký trên các hồ sơ của những trung tâm thực hiện những thử nghiệm lâm sàng hay được tuyển mộ theo nhu cầu. Ở Pháp, tiền thù lao của một người tham dự những thử nghiệm lâm sàng không thể vượt quá 4.500 euro mỗi năm. Những thử nghiệm của Sanofi Pasteur được tiến hành trên 3 nhóm tuổi (không có thù lao, với sự thoả thuận của bố mẹ), những người trưởng thành và những người già.

Hỏi : Trong những thời hạn nào các thuốc chủng sẽ có để sử dụng ?
Đáp : Theo OMS, một khi một giống gốc mới của virus cúm đại dịch đã được xác nhận, phải cần 5 đến 6 tháng trước khi một vaccin, đã nhận giấy phép đưa ra thị trường, được giao hàng. Sự điều chế và sự kiểm tra giống gốc được sử dụng cho vaccin cần đến hai tháng. Sự chế tạo và sự kiểm tra chất lượng của những lô đầu tiên, dành cho những thử nghiệm lâm sàng, cần 9 tuần.

Những thử nghiệm lâm sàng cần ít nhất 4 tuần. Tiếp theo là thời hạn để xin giấy phép, mà thời gian thay đổi tùy theo cấp điều hòa xem đó là một vaccin mới hay là một sự thay đổi giống gốc đối với một vaccin đã được cho phép. Ngoài ra, trong khung cảnh chuẩn bị vaccin chống virus cúm gà H5N1, các phòng bào chế đã cho đăng ký các “ prototypes ”, điều này làm tăng nhanh thủ tục xin phép.

Dẫu sao, Sanofi Pasteur nghĩ là sẽ có được những kết quả đầu tiên của những thử nghiệm lâm sàng trong vòng tháng mười. Sự sản xuất sau đó sẽ bắt đầu, không phải chờ đợi sự cho phép sau cùng đưa thuốc ra thị trường. Những nhà chế tạo khác có thể đi nhanh hơn : vào đầu tháng tám, bộ trưởng y tế Pháp Roselyne Bachelot đã tuyên bố là muốn tiêm chủng bắt đầu vào cuối tháng chín.
(LE MONDE 16/8-17/8/2009)

3/ MỘT VIRUS BIẾN DỊ TÊN GỌI LÀ LAZARE.

Một sự thất thoát từ phòng thí nghiệm có thể đã làm tái xuất hiện virus cúm Tây ban Nha. Một tổ tiên của H1N1, chịu trách nhiệm đại dịch hiện nay.

Và nếu như cúm đã được gây nên do một sai lầm của con người ? Điều đó có thể giống với một trong những lý thuyết đồng mưu (théorie conspirationniste) đang nảy nở trên Internet. Và tuy vậy, giả thuyết này không có gì là kỳ cục : theo một công trình nghiên cứu được công bố ngày 16 tháng sáu trong tạp chí rất đứng đắn New England Journal of Medicine, virus chịu trách nhiệm dịch cúm hiện nay phát xuất từ một giống gốc của cúm Tây Ban Nha năm 1918, được thả ra trong thiên nhiên sau một tai nạn phòng thí nghiệm, xảy ra trong những năm 1970. Các nhà nghiên cứu của đại học Pittsburgh (Pensylvanie) đã thực hiện một cuộc điều tra cảnh sát thật sự để đi đến kết luận này, bằng cách tái tạo lịch sử của virus từ một thế kỷ, xuyên qua các biến dị và tái phối hợp của bộ gène của nó. Một giống gốc xứng đáng với tên gọi Lazare, bởi vì nó không ngừng biến mất rồi tái xuất hiện.

Sau khi đã gây nên 50 triệu nạn nhân vào đầu thế kỷ XX, virus H1N1 đã tiếp tục lưu hành có tính cách dịch địa phương (endémie) cho đến năm 1957, rồi im đi hoàn toàn, được thay thế bởi những giống gốc cúm mùa khác. Không còn ai nghe nói nữa về nó trong 20 năm, cho đến khi một bệnh dịch kỳ lạ khởi phát vào tháng giêng năm 1976, trong số các binh sĩ của một căn cứ quân sự Mỹ, ở Fort Dix (New Jersey) : 230 quân nhân ngã bệnh, một trong số này tử vong. Các phân tích cho thấy rằng đó là một loại H1N1 mới, phát xuất từ một giống gốc của sốt heo (fièvre porcine), lưu hành một cách dịch địa phương trong những trại chăn nuôi của vùng. Chính phủ của Gerald Ford hoảng hồn và phát động một chiến dịch tiêm chủng : 40 triệu người Mỹ nhận các mũi tiêm, nhưng 532 người phát triển một hội chứng Guillain Barré, một bệnh tự miễn dịch gây nên do những tác dụng phụ của vaccin, và 32 người chết vì biến chứng này. Chiến dịch được quyết định vội vàng là một tai họa vô ích : giống gốc thì ra ít độc lực hơn một cúm mùa và nó không có vẻ lan tràn ra ngoài căn cứ quân sự của New Jersey.

Tuy vậy, vài tháng sau đó, vào tháng 1/1977, một bệnh dịch cúm khác xảy ra ở Liên Sô, Hồng kông và miền bắc Trung Quốc. Ngạc nhiên : đó lại là virus H1N1, khác với virus H1N1 của căn cứ quân sự Mỹ ở Fort Dix, nhưng rất gần với H1N1 của đại dịch toàn cầu 1918, mà người ta tin là đã được dập tắt ! Những bệnh dịch gây nên bởi các virus tương tự nhau đến độ đó chỉ có thể là một giống gốc từng đuợc bảo quản trong một máy đông lạnh. Những virus được đông lạnh này có lẽ đã không hoạt động trong suốt hai thập niên. “ Chúng tôi không thể nhận diện thủ phạm, nhưng sự tái xuất hiện của H1N1 trong năm 1977 dường như được gây nên bởi con người ”, Shanta Zimmer, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Từ thời điểm này (1977), virus đã không ngừng lưu hành, dưới rất nhiều biến thể, động vật hay người. Gần một nửa bộ gène của giống gốc 2009 bao gồm những phần tử của cúm Tây Bạn Nha nổi tiếng của cuối Đệ Nhất Thế Chiến. Ai có thể đã đưa nó lưu hành trở lại ? Các mối nghi ngờ hướng về phía Nga hay Trung Quốc, là nơi đại dịch 1977 đã khởi phát, nhưng các giới hữu trách y tế của hai nước này cật lực đính chính. Các người Mỹ cũng có thể có phần trách nhiệm. Bệnh dịch Fort Dix đã gây nên một nỗi hoảng sợ, trong nhiều tháng trời đã chiếm các trang đầu của các tờ báo bên kia Đại Tây Dương. Biến cố đã lôi kéo sự chú ý của các nhà dịch tễ học trên toàn thế giới và đã gây nên một làn sóng nghiên cứu khoa học về H1N1, thúc đẩy các nhà sinh học mở hộp Pandore, bằng cách mang ra trở lại các mẫu nghiệm của giống gốc năm 1918, vốn được bảo quản trong các máy lạnh của phòng thí nghiệm.
(EXPRESS 20-26/8/2009)

4/ TẠI SAO VÀI NGƯỜI LÀ NHỮNG NGƯỜI DẬY SỚM.

NEUROLOGIE. Một biến dạng di truyền (mutation génétique) hiếm giải thích rằng vài người chỉ cần ngủ 4 đến 6 giờ.

Đại đa số cần ngủ 8 giờ mỗi đêm. Một số nhỏ, không uống cà phê lẫn các chất kích thích, chỉ ngủ 6 thậm chí 4 giờ mỗi đêm. Những người này, ngủ vào lúc 22 giờ và thức dậy, tươi mát như một đóa hoa hồng vào 4 giờ sáng và bắt đầu làm việc, trong khi những người đồng loại vẫn còn nằm trên giường, say sưa trong một giấc ngủ không kìm hãm được. Những người dậy sớm (lève-tôt) này, làm thèm muốn những người không hài lòng rằng ngày của họ không đủ dài để có thể hoàn thành các dự án, thật ra là những người có các gène biến dị (mutants). Họ có một sự biến dị lên một gène (DE2), mà những người khác không có.

Nhóm của các chuyên gia thần kinh, được lãnh đạo bởi Ying Hui-fu, thuộc đại học Californie ở San Francisco, có một con chủ bài lớn trong nghiên cứu : ngân hàng ADN của 60 gia đình người Mỹ có những rối loạn về giấc ngủ, đã chấp nhận cho họ một mẫu nghiệm máu. Thật vậy vào năm 2001 và 2005, các nhà nghiên cứu California đã nổi danh do nhận diện một sự biến dị trên một gène (Per2), can thiệp trong những chu kỳ của giấc ngủ, nguồn gốc của một rối loạn rất đặc biệt : hội chứng gia đình giai đoạn giấc ngủ tiến triển (Syndrome familial de phase de sommeil avancé, tiếng Anh là FASPS). Những người bị bệnh này có một thời gian ngủ 8 giờ giống hệt với thời gian trung bình của con người, nhưng giấc ngủ này hoàn toàn bị xê xích trong thời gian. Thật vậy, những bệnh nhân này ngủ vào khoảng 18 giờ hay 19 giờ và thức dậy lúc 3 giờ hay 4 giờ sáng, khi mọi người đang còn ngủ.

Từ lúc có được khám phá này, các nhà nghiên cứu khai thác các dữ kiện ADN mà họ có được. Công trình của họ tiến từng bước nhỏ, nhưng tiến triển. Chính như thế mà họ vừa nhận diện được một sự biến dị trên một gène (DEC2) nơi một bà mẹ và đứa con gái chỉ cần ngủ 6 giờ mỗi ngày. Thế mà sự biến dị này không xảy ra nơi 5 thành viên khác của cùng gia đình ; những người này như đại đa số dân chúng cần ngủ 8 giờ mỗi ngày. Gène DEC2 can thiệp trong nhịp sinh học (rythme circadien), điều hòa sự phân chia tế bào, can thiệp vào lúc ngủ và oxygénation.

MỘT HỆ THỐNG PHỨC TẠP.

Sự biến dị được khám phá bởi Ying Hui-fu và nhóm nghiên cứu của ông rất là hiếm. Họ đã chỉ tìm thấy điều đó trong ADN của hơn 250 người mà họ đã phân tích vào dịp này. Tuy vậy họ đã có thể kiểm tra tính hiệu quả của nó lúc đưa vào gène bị biến dị (gène muté) nơi các con chuột chuyển di truyền (souris transgénique), mô hình động vật tốt nhất để nghiên cứu giấc ngủ. Họ đã quan sát thấy rằng các con chuột bị biến đổi này ngủ ít hơn và cần hồi sức ít hơn lúc chúng bị làm mất ngủ. Cũng vậy nơi các drosophiles bị biến đổi về mặt di truyền.

“ Câu hỏi muốn biết người ta cần ngủ bao nhiêu không những chỉ có lợi ích thực tiễn mà nó còn giúp chúng ta hiểu tốt hơn giấc ngủ vận hành như thế nào ”, Mehdi Tafti thuộc đại học Lausane đã phân tích như vậy. Thật vậy, giấc ngủ là một hệ thống phức tạp mà các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa hiểu được. Đặc biệt họ có nhiều khó khăn trong việc làm sáng tỏ những mối tương tác giữ các nhịp sinh học (rythme circadien), con lắc (balancier) thức (veille) và ngủ (sommeil) (homéostasie: hằng nội môi), môi trường và các gène mà ngày nay người ta còn đo lường vai trò chủ chốt.
(LE FIGARO 17/8/2009)

5/ “ ĐỒNG HỒ SINH HỌC CHỐNG LẠI GIẤC NGỦ ”.

COGNITION. Những người ngủ muộn (couche-tard) vẫn tỉnh táo lâu hơn những người ngủ sớm (lève-tôt), một công trình nghiên cứu chụp hình ảnh não bộ tiết lộ như vậy. Lúc thực hiện như thế, công trình này chứng minh vai trò chủ chốt của đồng hồ sinh học (horloge circadien) trong sự đề kháng của chúng ta chống lại giấc ngủ.

Hỏi : Sự cảnh giác (vigilance) của chúng ta tiến triển trong ngày. Tại sao ?
Pierre Maquet : Chúng ta biết rằng hiện tượng này liên kết với hai yếu tố, đồng hồ sinh học nội tại (horloge circadien interne), mà trung tâm là một nhân nhỏ nằm trong vùng dưới đồi (hypothalamus) ở trung tâm não bộ, và nội hằng định (homéostasie) hay áp lực ngủ (pression de sommeil), nghĩa là nhu cầu ngủ gia tăng với thời gian trôi qua trong ngày. Nhưng người ta không biết hai yếu tổ này tương tác với nhau như thế nào. Chúng tôi đã muốn hiểu điều đó bằng cách nhờ đến chụp hình ảnh não bộ (imagerie cérébrale).

Hỏi : Ông đã tiến hành như thế nào ?
Pierre Maquet : Chúng tôi đã quyết định nghiên cứu hiện tượng này nơi những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt) (ngày mẫu : 5 giờ –20 giờ) và những người ngủ rất trễ (extrêmes couche-tard) (11 giờ-2 giờ) bởi vì những yếu tố đồng hồ sinh học (circadien) và nội hằng định (homéostasie) rất khác nhau nơi hai loại người này. Chúng tôi đã thực hiện hai buổi chụp hình ảnh bằng résonance fonctionnelle với họ, một vào buổi sáng, 1 giờ 30 sau khi thức dậy và một vào buổi chiều, 10 giờ 30 sau khi thức dậy, trong suốt những thời gian này họ phải thực hiện một công tác rất đơn giản được gọi là thời gian phản ứng (temps de réaction) : nhìn một đồng hồ bấm giờ (chronomètre) được điều chỉnh ở mức zero và làm dừng lại ngay khi đồng hồ khởi động. Chúng tôi muốn phân biệt giữa những đáp ứng não bộ của chúng, chịu trách nhiệm thời gian phản ứng trung bình và nhanh.

Hỏi : Ông đã nhận thấy gì ?
Pierre Maquet : Không có một sự khác nhau nào giữa hai nhóm vào buổi sáng. Ngược lại vào buổi tối, những người dậy rất sớm (extrêmes lève-tôt), để duy trì một hiệu nang trung bình, hoạt hóa vùng đồi thị (thalamus), một vùng thường được kích thích nơi những người bình thường, khi họ bị thiếu ngủ. Những người ngủ muộn (couche-tard) không cần điều đó. Ngoài ra, những người ngủ muộn đã thành công phản ứng nhanh bằng cách hoạt hóa đồng hồ sinh học nơi não bộ, điều mà những người dậy sớm không thực hiện được. Nói một cách khác, sau một ngày 10 giờ 30 , những người ngủ muộn thức tỉnh hơn những người ngủ sớm, và họ cưỡng lại tốt hơn áp lực ngủ nhờ đồng hồ sinh học của họ.

Hỏi : Chúng ta có thể kết luận điều gì ?
Pierre Maquet : Chúng ta phải tôn trọng nhịp sinh học (rythme biologique) của chúng ta : để làm việc buổi tối, một người dậy sớm sẽ rút từ kho dự trữ của mình trong khi một người ngủ muộn sẽ được giúp đỡ bởi đồng hồ sinh học (horloge circadienne) của họ.
(LA RECHERCHE 7-8/2009)

6/ MỘT ĐIỀU TRỊ CHỐNG LẠI CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

Bằng cách phối hợp hai kỹ thuật, thần kinh học can thiệp (neurologie interventionnelle) tỏ ra rất hiệu quả chống lại những tai biến mạch máu não.

Một thủ thuật mới điều trị cấp cứu các tai biến mạch máu não vừa được hiệu chính ở bệnh viện Bichat. Được tiến hành phối hợp với Samu, lính cứu hỏa và các trung tâm tiếp nhận thần kinh-mạch máu (centre d’accueil neurovasculaire) (có 8 trung tâm ở nội thành Paris), thủ thuật mới này tỏ ra quyết định trong việc khai thông và tái thông dòng (recanaliser) động mạch hay các động mạch não bị bít tắc bởi một cục máu đông và cải thiện một cách đáng kể tỷ lệ sinh tồn. Hiện nay, đó chỉ là một kinh nghiệm nghiên cứu lâm sàng, chỉ được tiến hành trong bệnh viện này, và trên vài chục bệnh nhân. Công trình nghiên cứu Recanalise, được lãnh đạo bởi G.S Pierre Amarenco ở trung tâm tiếp đón và và điều trị tai biến mạch máu não (centre d’accueil et de traitement de l’attaque cérébrale) của bệnh viện Bichat, vừa được công bố bởi tạp chí The Lancet.

Trên 150.000 các tai biến mạch máu não (AVC) xảy ra mỗi năm ở Pháp, 30.000 xảy ra nơi những người dưới 50 tuổi. Một sự yếu vận động đột ngột hay một sự bại liệt bán thân, một rối loạn đột ngột vận ngôn, một sự chóng mặt, rối loạn thị giác, một sự tê cóng của một phần của cơ thể phải được thăm khám tức thời, bởi vì đó là một cấp cứu tuyệt đối (urgence absolue). Từ 15 năm nay, điều trị chuẩn được công nhận bởi Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits da santé), đối với những bệnh nhân có một tai biến mạch máu não do tắc nghẽn một động mạch não, là một điều trị tĩnh mạch (traitement intraveineux), căn cứ trên một thuốc enzyme, RTPA (activateur de plasminogène tissulaire), làm tan cục máu đông.

Điều trị này chữa lành bệnh nhân trong 40% các trường hợp nhưng chỉ với điều kiện thuốc được tiêm duới 3 giờ sau những triệu chứng đầu tiên. Và RTPA chỉ khai thông động mạch bị bít tắc của não bộ trong 25 đến 60% các trường hợp (và 30% các bệnh nhân có động mạch bị bịt tắc trở lại).

Có một phương cách khác : đưa thuốc trực tiếp vào tiếp xúc với cục máu đông (caillot) : đầu mút của một cathéter nhỏ xíu được đưa lên qua động mạch đùi, động mạch chậu, động mạch chủ, và động mạch cảnh. RTPA được tiêm lúc tiếp xúc với cục máu đông (kissing the clot). Được thực hiện trong 6 giờ, kỹ thuật này cho phép khai thông động mạch trong 60 đến 70 % các trường hợp.

ĐƯỢC TIÊM TIẾP XÚC VỚI CỤC MÁU ĐÔNG.

Sau cùng, các thầy thuốc đã tưởng tượng ra (và sử dụng một cách thí nghiệm) các dây thòng lọng (lasso), các rổ (panier) hay các mở nút chai (tire-bouchons) bé xíu, được đưa vào đầu của các cathéter để lấy cục máu đông đi một cách cơ học.

Công trình nghiên cứu Renalise phối hợp hai phép điều trị : ngay khi chẩn đoán tai biến mạch máu não được thực hiện bằng hình ảnh ở bệnh viện, RTPA được tiêm truyền tĩnh mạch. Không để mất thời gian, bệnh nhân được mang đến salle de cathétérisme. Người ta đưa một ống thông lên trong động mạch của bệnh nhân và RTPA được tiêm vào lúc cathéter tiếp xúc với cục máu đông.

Trong thời gian đầu, nhóm nghiên cứu của bệnh viện Bichat đã điều trị bằng RTPA tiêm tĩnh mạch nơi chỉ 107 bệnh nhân trong số 173 trường hợp tai biến mạch máu não giữa tháng hai 2002 và tháng tư 2007. Kết quả : 52% các động mạch đã được “ khai thông ”. Rồi giữa tháng năm 2007 và tháng 10 năm 2008, kỹ thuật tiêm trong động mạch (technique intra-artérielle) đã được thêm vào cho 53 bệnh nhân trong số 122 người bệnh được đưa vào trong nhóm này : sự khai thông trở lại đã có hiệu quả trong 87% các trường hợp. Tác động lên số trường hợp được chữa lành là quan trọng: 60% các bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp mới đã thấy các triệu chứng được cải thiện hay biến mất, so với 39% các bệnh nhân được điều trị bằng đường tĩnh mạch quy ước.

Động mạch được khai thông càng nhanh thì kết quả càng tốt : nếu can thiệp xảy ra dưới 3 giờ 30 sau khởi đầu của các triệu chứng tai biến mạch máu não, 93% các bệnh nhân được chữa lành tức thời và vẫn như vậy sau 3 tháng theo dõi.

Chỉ có vấn đề là cuộc chạy đua với thời gian này sẽ tốn kém về mặt nhân lực và sự vận hành chức năng của các khoa cấp cứu thần kinh-mạch máu (urgences neurovasculaires), được huy động đồng thời với các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh quang tuyến (neuroradiologie).
(LE FIGARO 21/8/2009)

7/ HẦU HẾT CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO (AVC) TÁI PHÁT XẢY RA TRONG 24 GIỜ SAU MỘT TAI BIẾN THIẾU MÁU NÃO CỤC BỘ TẠM THỜI (AIT).

Gần một nửa các tai biến mạch máu não (AVC : accident vasculaire cérébral), xảy ra trong 7 ngày sau một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT : accident ischémique transitoire), được khởi phát trong 24 giờ đầu. Chính vì thế việc đánh giá những bệnh nhân này phải được xem như là vô cùng khẩn cấp (extrêmement urgent) chứ không chỉ đơn thuần là nhanh chóng.

Đó là điều mà các nhà nghiên cứu người Anh đã giải thích trong Neurology. Vài khuyến nghị mới đây khuyên đánh giá các bệnh nhân bị một tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời (AIT : accident ischémique transitoire) hay một thiếu máu não cục bộ tạm thời (ischémie cérébrale transitoire) trong vòng 24 giờ, nhưng người ta không biết bao nhiêu tai biến mạch máu não tái phát xảy ra trong những giờ đầu này, cũng như không biết điểm số ABCD2 có xác định một cách đáng tin cậy các tái phát trong giai đoạn này hay không.

Peter Rothwell và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu về các tai biến thiếu máu não cục bộ tạm thời (AIT) và các tai biến mạch máu não (AVC : accident vasculaire cérébral) (Oxford Vascular Study). Họ đã xác định nguy cơ tai biến mạch máu não tái phát vào lúc 6, 12 và 24 giờ, được định nghĩa như là sự xuất hiện đột ngột những triệu chứng thần kinh sau một hồi phục ban đầu.

Trong số 1.247 bệnh nhân đầu tiên bị AIT hay AVC, 35 bệnh nhân đã bị những tai biến mạch máu não tái phát trong 24 giờ, tất cả trong cùng vùng chi phối bởi động mạch. Những nguy cơ AVC vào lúc 6, 12 và 24 giờ sau 488 AIT đầu tiên là 1,2%, với 42% các AVC trong 30 ngày sau một AIT xảy ra trong 24 giờ đầu. Nguy cơ vào lúc 12 và 24 giờ được liên kết mạnh với điểm số ABCD2. Vài trong số các bệnh nhân đã tham gia một thử nghiệm đánh giá cấp cứu sau một AIT và ngay những người đã hướng một đánh giá tương đối cấp cứu đã bị những đợt mới trước đánh giá này.

Đối với các tác giả, sự kiện khoảng một nửa các AVC tái phát trong 7 ngày sau một AIT xảy ra trong 24 giờ đầu nhấn mạnh sự cần thiết một đánh giá cấp cứu. Các chuyên gia nhấn mạnh, và rất đúng : sau một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT), bệnh nhân phải được nhập viện càng nhanh càng tốt, để cho phép tìm kiếm và điều trị những yếu tố nguy cơ có can dự trong trường hợp của mỗi cá thể.

Những khuyến nghị hiện nay xác lập rằng một tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT) phải được thăm dò bởi một thầy thuốc chuyên khoa trong vòng 24 giờ. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng 64% các bệnh nhân đã bị một cơn mới trong 24 giờ sau AIT, đã thăm khám thầy thuốc trước cơn mới này. Nhưng không có bệnh nhân nào đã được cho aspirine. Thật vậy, tất cả những nạn nhân của AIT phải nhận aspirine và phải được thăm dò càng nhanh càng tốt. Trong mục đích xác định mức độ cấp cứu của sự thăm dò cần được thực hiện, một algorithme căn cứ trên thang ABCD2 được xác lập. Người ta xét đến tuổi trên 60 (1 điểm), cao huyết áp tâm thu (1 điểm), cao huyết áp tâm trương (1 điểm), liệt nhẹ một bên (2 điểm) hay rối loạn lời nói không do vận động (1 điểm), các triệu chứng kéo dài dưới 60 phút (1 điểm), và bệnh đái đường (1 điểm). Một thầy thuốc chuyên khoa phải nhất thiết được hội chẩn trong 24 giờ khi điểm số > hoặc = 4, một thời hạn tối đa một tuần có thể dành cho những trường hợp khác.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/6/2009)
(LE GENERALISTE 25/6/2008)

8/ BỆNH LAO ĐỀ KHÁNG THUỐC ĐANG THẮNG THẾ.

Các nhà nghiên cứu từng hy vọng rằng các vị khuẩn lao kháng thuốc ít lay truyền hơn. Nhưng không phải như vậy.

Tin xấu trên mặt trận chống lao, bệnh giết chết mỗi năm khoảng 1,6 triệu người trên thế giới. Các giống gốc vi khuẩn của căn bệnh hô hấp này càng lúc càng tỏ ra có khả năng đề kháng đối với các kháng sinh hiện có và đang thắng thế. Khuynh hướng này phải chăng là do một sự theo dõi điều trị kém, cho phép các vi khuẩn biến dị xuất hiện và lấn át các vị khuẩn nhạy cảm với thuốc ? Hay là do khả năng tự nhiên của các “ siêu vi khuẩn ” mới làm lây nhiễm con người ?

Giả thuyết thứ hai này, khiến giới y khoa lo sợ, dường như được xác nhận bởi hai công trình nghiên cứu mới đây. Công trình thứ nhất, do một nhóm nghiên cứu người Úc thực hiện, cho thấy rằng cái giá phải trả của chuyển hóa không ảnh hưởng lên khả năng của trực khuẩn Koch truyền từ người này qua người khác. Hy vọng là những giống gốc không đề kháng (souches non résistantes) sẽ giữ ưu thế trong ổ sinh thái (niche écologique) của chúng, đó là 2/3 nhân loại bị nhiễm một cách tiềm tàng, ở đó các vi khuẩn yên ngủ trong lúc chờ đợi chuyển qua tấn công khi hệ phòng thủ miễn dịch bị suy giảm. Trong trường hợp phát bệnh, các thuốc lúc đó sẽ có hiệu quả.

Tiếc thay, sơ do này dường như bị công kích kịch liệt. Mark Tanaka (đại học Nouvelle-Galles-du Sud, Kensington, Úc ) và các đồng nghiệp đã phác họa những mô hình toán học, từ các vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes) được lấy ở Venezuela (từ năm 1936 được tiếp nhận một kế hoạch có hiệu quả chống bệnh lao), ở Cuba và ở Estonie, ở đây nhưng cố gắng dự phòng được thực hiện lẻ tẻ hơn nhiều.

Những mô hình này cho thấy rằng sự thịnh hành của những giống gốc đề kháng (souches résistantes) phát sinh ở Cu Ba và Estonie không còn do việc cho thuốc nữa, mà từ nay nó có thể được quy cho sự lan truyền giữa các cá thể. Tình hình khác với Venezuela, ở đây các giống gốc đề kháng ít có thời gian hơn để tiến triển và có được, do biến dị, nhưng khả năng lan truyền tốt hơn.
(LE MONDE 17/8/2009)

9/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ TỰ TỬ NƠI CÁC NGƯỜI TRẺ TUỔI.

Những thanh niên dưới 25 tuổi tiêu thụ các thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs) có nguy cơ có những ý nghĩ tự tử (pensées suicidaires) hai lần nhiều hơn những người sử dụng một placebo. Như thế các người trẻ tuổi có cùng nguy cơ với các thiếu niên và các muốn kết liễu cuộc đời.

Tác dụng nổi bật nhất nơi các thiếu niên uống những viên thuốc này nhưng bị một rối loạn tâm thần khác với bệnh trầm cảm (dépression). Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, được công bố trong tạp chí y học British Medical Journal.

Công cuộc điều tra đã phân tích 372 công trình nghiên cứu, trong đó 12 loại thuốc chống trầm cảm khác nhau đã được trắc nghiệm. Những người trưởng thành trên 25 tuổi không còn có nữa những ý nghĩ tự tử và các lão niên trên 65 tuổi có ít hơn những ý nghĩ này khi họ sử dụng các thuốc chống trầm cảm.

“ Rõ ràng là các thuốc chống trầm cảm được đặc trưng bởi hiệu năng và những tác dụng phụ khác nhau ”, giáo sư John Geddes (đại học Oxford) đã chỉ rõ như vậy. Ông khuyên các thầy thuốc giới hạn việc cho toa các thuốc chống trầm cảm nơi các người dưới 18 tuổi và khuyến nghị liệu pháp nhận thức (thérapie cognitive).

Nhà nghiên cứu Marc Stone nói thêm rằng các kết quả của công trình nghiên cứu bảo vệ ý tưởng cho rằng các thuốc chống trầm cảm có thể gây nên những tác dụng độc lập : những tác dụng phụ bao gồm những tư tưởng và hành vi tự tử và tác dụng bảo vệ làm giảm sự trầm cảm và do đó làm giảm các nguy cơ tự tử.
(LE GENERALISTE 20/8/2009)

10/ CÁI BỤNG BỰ CỦA NGƯỜI UỐNG BIA : MỘT HUYỀN THOẠI ?

Niềm tin dân gian cho rằng người uống bia mang những dấu hiệu nghiện nơi chiếc bụng bự của minh. Nhưng có chính xác là việc uống bia xác định một cách trực tiếp vòng thân (tour de taille) ? Các nhà nghiên cứu người Đức và Thụy Điển đã nghiên cứu sự liên kết của hai yếu tố này.

Trong công trình nghiên cứu Epic (European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition), được thực hiện ở Potsdam (7.876 đàn ông, 12.749 phụ nữ), M. Schutze đã ghi nhận việc uống bia vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu và đã theo dõi tiến triển của vòng thân trong 8,5 năm.

Sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với sự tiến triển của thể trọng và của vòng háng (tour de hanche), các nhà nghiên cứu đã nhận thấy một sự liên kết duong tính nơi đàn ông, nhưng không nơi phụ nữ, giữa sự tiêu thụ bia và vòng thân (tour de taille) vào lúc đầu công trình nghiên cứu. So với những người uống rất ít, những người đàn ông uống một lít bia mỗi ngày có thêm 17% nguy cơ thấy vong thân gia tăng.

Đối với các tác giả, uống bia làm gia tăng vòng thân, nhung vòng thân này liên kết mật thiết với sự lên cân đồng thời nói chung. Kết luận, các kết quả của công trình nghiên cứu không xác nhận niềm tin dân gian thông thường cho rằng bia có tác dụng đặc biệt lên bụng. Đối với một vài người, nếu mỡ bụng tích tụ ở đó, điều này đúng hơn là do sự nhàn rỗi không hoạt động, vệ sinh ăn uống kém, chứng nghiện thuốc lá...
(LE JOURNAL DU MEDECIN 21/8/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (24/8/2009)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san khoa

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969