Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 72
Lượt truy cập: 1008388
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/CÚM A (H1N1) : ĐÁNH GIÁ ĐẦU TIÊN VỀ ĐỘC LỰC TRỰC TIẾP CỦA H1N1.

Theo những đánh giá đầu tiên, tỷ lệ tử vong trực tiếp của virus A (H1N1) trong nam bán cầu là 100 lần cao hơn tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Nhưng, đó chỉ mới là những suy dẫn không hoàn toàn.

Có tương tự với cúm mùa hay không ? Có gây chết người hơn hay không ? Khó mà có một ý nghĩ chính xác về độc lực của virus mới H1N1 vào giờ phút này. Thế thì tại sao không xem những gì xảy ra ở nam bán cầu, vào cuối mùa đông nam cực này ? Đó là điều mà GS Antoine Flahaut, giáo sư y tế công cộng ở Pháp, đã thực hiện. Ông đã quan tâm đến các dữ kiện có được đối với Nouvelle-Calédonie và đảo Maurice và đã cho công bố, vào ngày 23 tháng 8 vừa qua, những kết luận của ông trên site của PloS Currents Influenza. Dĩ nhiên đó vẫn luôn luôn là những ước đoán một phần.

Ở Nouvelle-Calédonie, người ta ước tính rằng 30.000 nhiễm trùng đã xảy ra, trong đó có 3 trường hợp tử vong được xác nhận nơi các người trẻ (8,27 và 58 tuổi). Ở đảo Maurice, các ước tính là 70.000 nhiễm trùng và 7 tử vong (từ 4 đến 53 tuổi) đã được báo cáo.

Lần đầu tiên chúng tôi có ở đây một sự đánh giá (một phần) về độc lực của giống gốc đại dịch cúm A (H1N1) này. Vậy chúng tôi có thể ước tính tỷ lệ tử vong trực tiếp do virus H1N1 là 1 trường hợp đối với 10.000 nhiễm trùng, hoặc khoảng 100 lần cao hơn tỷ lệ tử vong của cúm mùa (1/1 triệu), Antoine Flahaut đã xác nhận như vậy. Ông nhắc lại rằng đó là một mẫu nghiệm giới hạn và lấy từ trên đảo, nhưng rằng những con số này có thể hữu ích đối với chính quyền để hiệu chính các kế hoạch đại dịch trong trường hợp độc lực sẽ tương tự vào mùa thu này ở bắc bán cầu.

TỶ LỆ TỬ VONG TRỰC TIẾP.

Tỷ lệ tử vong của cúm là do 3 nguyên nhân chính, ông còn giải thích như vậy. Nguyên nhân đầu tiên là tỷ lệ tử vong trực tiếp bởi một bệnh phổi do virus (pneumopathie virale), gây nên một hội chứng suy hô hấp cấp tính (SDRA : syndrome de détresse respiratoire aigue). “ Nói chung, với cúm mùa, tỷ lệ tử vong trực tiếp là ngoại lệ ”. Nhưng với H1N1, “ đó gần như là tỷ lệ tử vong duy nhất mà hôm nay người ta quan sát thấy và thống kê trong những vùng phát triển của thế giới ”. Nguyên nhân thứ hai là sự bội nhiễm vi khuẩn, đang biến mất trong các nước phát triển vì có sẵn các thuốc kháng sinh (tuy nhiên cần bắt đầu cho đúng lúc).

Sau cùng, nguyên nhân thứ ba là tỷ lệ tử vong do mất bù của những bệnh lý nghiêm trọng, thường là nơi các người già hay những người bị bệnh mãn tính. Từ khoảng 20 năm nay, tỷ lệ này hầu như không thu giảm được mặc dầu chủng ngừa đại trà được thực hiện nơi các người già, GS Falhaut đã bình luận như vậy : “ Thật là nghịch lý, đó lại là tỷ lệ tử vong thường xảy ra nhất trong các nước phát triển, nhưng nó hiếm khi được báo cáo bởi vì người thầy thuốc hiếm khi quy cho cúm trên cơ sở cá nhân. Như vậy đối với đại dịch, cũng như suốt trong thời gian cúm mùa, chỉ lúc nghiên cứu các thống kẻ về tử vong của tất cả các nguyên nhân, mà người ta nhận thấy rằng đã có một sự tăng quá mức tỷ lệ tử vong (1/1000) nơi có đại dịch đi qua. Vậy ta không thể đánh giá tỷ lệ tử vong toàn bộ vào lúc này, chỉ từ các trường hợp tử vong được báo cáo, bởi vì cần nghĩ đến việc thêm vào tỷ lệ tử vong gián tiếp ”.

Người thầy thuốc người Pháp nghĩ rằng cũng không nên hy vọng quá nhanh rằng cúm này sẽ trừ miễn các người già : “ Bất hạnh thay cúm mới này giết những người già chắc chắn cũng nhiều bằng cúm mùa, nhưng không phải bằng tỷ lệ tử vong trực tiếp, vậy không hay ít có thể thấy được ”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/9/2009)

2/ MỔ DẠ CON KHÔNG PHẢI LÀ LỰA CHỌN TỐT NHẤT ĐỐI VỚI TRẺ EM.

Những em bé sinh ra do mổ phiên dạ con (césarienne élective) không những phát triển nhiều biến chứng hậu sản hơn, nhưng chúng cũng thường bị bệnh hơn về lâu về dài. Đó là kết luận được rút ra từ những dữ kiện mới đây từ Hoa Kỳ, là nơi mà hiện nay cứ ba đứa bé sinh ra đời thì có một được mổ dạ con.

Số những trường hợp sinh bằng mổ dạ con cao ở Hoa Kỳ là do nhiều yếu tố. Ngoài các chỉ định y khoa, như một thời kỳ chuyển dạ đặc biệt kéo dài hoặc những lý do có thể chấp nhận khác, người ta chứng thực rằng nhiều phụ nữ muốn được sinh bằng đường bụng. Sau một lần mổ dạ con đầu tiên, những lần sinh sau đó cũng được lên chương trình trong 80% các trường hợp, nhất là bởi vì nguy cơ vỡ tử cung. Những lý lẽ pháp y cũng góp phần giải thích số lượng cao của các trường hợp mổ dạ con : nguy cơ không đáng kể đối với người mẹ, không đau bụng và sàn hội âm không bị thương tổn.

NGẮN VÀ DÀI HẠN

Một công trình nghiên cứu, được công bố trong The Lancet, được thực hiện trên 672 trường hợp sinh đẻ, nhằm nghiên cứu sát những vấn đề được phát triển nơi em bé sau khi sinh. Các đứa trẻ sinh ra đời bằng đường âm đạo dường như ít phát triển các biến chứng, trong khi những trẻ được sinh bằng mổ dạ con cấp cứu có nhiều vấn đề nhất. Sau mổ phiên dạ con, một số lượng tương đối quan trọng các em bé phải được đưa vào khoa trẻ sơ sinh, vì thiếu oxy, giảm glucose-huyết và những vấn đề hô hấp, so với những em bé ra đời bằng đường âm đạo.

Mặc dầu những lời khuyến nghị nghiêm chỉnh khuyên không được mổ phiên dạ con trước 39 tuần, nhưng dường như 50% phẫu thuật mổ dạ con xảy ra trước thời hạn này. Một khía cạnh đáng ngạc nhiên là việc lựa chọn mổ phiên dạ con được xem như là một thể hiện của tính tự trị của người mẹ và rằng những bà mẹ tương lai thường lớn tuổi hơn và thường có một văn bằng đại học.

Ngoài những biến chừng trước mắt, chúng ta chứng thực các nguy cơ ở một lứa tuổi lớn hơn. Theo một phân tích méta, các đứa trẻ sinh ra bằng mổ dạ con có 20% nguy cơ cao hơn bị hen phế quản hay bệnh đái đường loại 1, cũng như dị ứng thức ăn và béo phì. Do đó tổn phí vốn đã cao của mổ dạ con lại được tăng cường thêm do những điều trị về lâu về dài. Trái với những vấn đề có thể xảy ra trước mắt, là lúc sinh bệnh lý có vẻ tương đối hiển nhiên, các nguyên nhân của một bệnh lý phát triển về lâu về dài khó phát hiện hơn.

Do đó, ta có thể kết luận rằng việc lựa chọn của người mẹ, muốn tránh chuyển dạ và phải bị mổ dạ con cấp cứu, không là lý tưởng đối với đứa bé, trước mắt và lâu dài. Thật vậy, việc tính đến những lý do cá nhân có liên quan đến sự thoải mái và sự vẹn toàn vật lý khó có thể bào chữa trên bình diện đạo đức.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/9/2009)

3/ CẢNH CÁO MỚI CHỐNG ASPIRINE.

CARDIOLOGIE. Theo một công trình nghiên cứu của Ecosse, nơi những người lành mạnh, việc sử dụng hàng ngày có nhiều nguy cơ hơn là lợi ích.

Lại một đợt mới trong câu chuyện dài tranh cãi chung quanh aspirine. Nơi những người mạnh khỏe, uống aspirine mỗi ngày với những liều lượng nhỏ để ngăn ngừa các tai biến tim-mạch chỉ làm gia tăng các nguy cơ xuất huyết, các thầy thuốc Ecosse đã đánh giá như vậy. Công trình nghiên cứu của họ, được tiến hành nơi 3.300 người không có những tiền sử lớn về tim trong hơn 8 năm, vừa được trình bày ở hội nghị của Hiệp hội tim học châu Âu, diễn ra ở Barcelone.

Từ khi được thương mãi hóa, cách nay hơn 100 năm, danh sách các lợi ích tiềm tàng của thuốc chống đau này không ngừng dài ra. Lại gần đây, các người Mỹ đã đưa ra những lợi ích của một sự tiêu thụ hàng ngày trên tỷ lệ sống còn của những bệnh nhân bị ung thưa đại-trực tràng. Về các tính chất chống kết tụ của aspirine (làm loãng máu), chúng đã được xác lập một cách rộng rãi nơi những người có nguy cơ tim mạch cao, bị cơn đau thắt ngực (angine de poitrine) hay có những tiền sử về nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não.

Lợi ích phòng ngừa được bàn cãi hơn nơi những người lành mạnh, vì lẽ lợi ích này phải được cân bằng với những nguy cơ xuất huyết gây nên bởi aspirine, đặc biệt là ở dạ dày-ruột. Mặc dầu những điều không chắc chắn này, càng ngày càng có nhiều người tự ý muốn thử uống aspirine mỗi ngày với liều lượng nhỏ.

Ý tưởng của G.S Gerry Fowkes (đại học Edimbourg) là nghiên cứu những tác dụng về lâu về dài của một tiêu thụ như thế nơi những người không có triệu chứng gì hết, nhưng được xem như là có nguy cơ gia tăng bị bệnh tim mạch. Để nhận diện ra họ, các thầy thuốc écosse đã căn cứ trên những kết quả của một thăm khám đơn giản, chỉ số huyết áp thu tâm (index de pression systolique) (tỷ số giữa huyết áp được đo ở mắc cá chân và ở cánh tay). Trắc nghiệm này cho phép phát hiện chúng viêm động mạch chi dưới trước khi được biểu hiện bằng những cơn đau đớn.

Trong số 30.000 người tuổi từ 50 đến 75, phát xuất từ dân chúng nói chung, khoảng 3.350 đã được nhận diện. Trong 8 năm, những người này đã nhận mỗi ngày 100 mg (5-10 lần ít hơn so với liều lượng được sử dụng trong trường hợp đau đớn thông thường) hay một placebo. Cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân đã không biết thuốc gì đã được cấp cho bệnh nhân. Cuối cuộc thử nghiệm, những người được cho aspirine về mặt thống kê đã có số lượng những biến cố tim mạch (tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim…) giống với những người đã dùng placebo. Rõ ràng, thuốc chống ngưng kết (aspirine) đã không có một tác dụng bảo vệ nào. Ngoài ra, 2% các bệnh nhân của nhóm aspirine đã phải bị nhập viện vì những xuất huyết nặng, so với chỉ 1,2% của những người chứng.

CUỘC BÀN CÃI CHƯA CHẤM DỨT.

GS Fowkes nhấn mạnh rằng 40% các cá nhân đã không uống thuốc aspirine đều đặn. Theo ông , sự tuân thủ điều trị kém này có thể giải thích sự không có bảo vệ tim mạch, nhưng không có thể tính đến điều đó, bởi vì nó tương ứng với bộ phận được gặp trong đời sống thật sự hàng ngày, đó là những điều trị phòng ngừa.

Đối với G.S Peter Weissberg, giám đốc y tế của British Heart Foundation, người đã giúp đỡ tài trợ công trình này, những kết luận của ông “ nhất trí với những lời khuyến nghị của chúng tôi hiện nay, theo đó những người đã không được chẩn đoán có một bệnh mạch máu hay tim và không có những triệu chứng, không nên sử dụng aspirine bởi vì nguy cơ xuất huyết có thể quan trọng hơn các lợi ích ”.

Những cuộc bàn cãi vẫn không chấm dứt. Cách nay vài tháng, trong The Lancet, một phân tích của các công trình nghiên cứu chính về chủ đề này (thực hiện trên toàn bộ 95.000 người có nguy cơ thấp) trái lại đã đánh giá rằng sự sử dụng aspirine mỗi ngày làm giảm 12% các nhồi máu cơ tim, nhưng với cái giá một sự gia tăng quá mức những xuất huyết tiêu hóa. Các chuyên gia hiện diện ở hội nghị Barcelone cũng ghi nhận rằng túc số của những người tham dự của công trình nghiên cứu écosse quá thấp để có thể rút ra những kết luận khẳng định.
(LE FIGARO 1/9/2009)

4/ FORMOL ĐE DỌA 190.000 NGƯỜI LÀM VIỆC Ở PHÁP.

Formol ở khắp nơi hay hầu như ở khắp nơi. Nhưng những tác dụng y tế của nó là độc hại. Formol hay formaldéhyde, chất sát khuẩn hay chất cố định nhựa (fixateur de résine), tùy theo các trường hợp, có mặt trong các lớp trát đất, các bức tường, đồ đạc bàn ghế, các plastiques… Kết quả : gần 190.000 người làm việc ở Pháp bị tiếp xúc với chất này, Afsset (Agence française de sécurité santitaire de l’environnement et du travail) đã báo động như vậy. Và 78.000 người trong số này vượt quá trị số giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp do hít hoặc 0,25 mg/m3 trong 8 giờ. Có liên hệ là những người làm việc trong lãnh vực y tế (các chuyên viên cơ thể bệnh lý, tiếp xúc với mô người phát xuất từ các sinh thiết hay những can thiệp ngoại khoa) nhưng cũng những người trong các lãnh vực nông nghiệp, kỹ nghệ hóa học, làm gỗ, kỹ nghệ dệt và, mỉa mai thay cho số phận, những công nhân mai táng.

Afsset vừa khuyến nghị một tăng cường “ tức khắc ” những hành động phòng ngừa và theo dõi đối với chất formol này, được xếp loại là sinh ung thư từ 5 năm nay. Nếu sự kích thích mắt thường xảy ra trong trường hợp tiếp xúc cấp tính, về lâu về dài và đối với những tiếp xúc lặp đi lặp lại với những nồng độ cao ít nhất 5mg/m3, các dự kiện chứng nhận sự xuất hiện của các ung thư của tỵ hầu (cancer du nasopharynx). Cơ quan an ninh y tế của Pháp nhấn mạnh sự cần thiết của những công trình nghiên cứu để khám phá những chất thay thế cho formol.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2009)

5/ CHẲNG BAO LÂU NỮA VIÊN THUỐC NGỪA THAI CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA (PILULE DU SURLENDEMAIN) SẼ XUẤT HIỆN TRÊN THỊ TRƯỜNG.

CONTRACEPTION . Viên thuốc này, theo nguyên tắc của viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau (pilule du lendemain), có thể uống trong 5 ngày sau một giao hợp có nguy cơ, và không chỉ uống vào ngày hôm sau.

Sau viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau là viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain). Một viên thuốc ngừa thai cấp cứu mới, được sử dụng trong 5 ngày sau một giao hợp có nguy cơ, theo dự kiến sẽ xuất hiện trong các hiệu thuốc của Pháp từ nay đến cuối tháng chín. Được đặt tên là EllaOne, viên thuốc được thương mãi hóa bởi HRA Pharma, với liều duy nhất, đã được Châu Âu cấp giấy phép cho lưu hành vào tháng năm, và chờ đợi đèn xanh cuối cùng của Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA : Agence européenne du médicament) ngày 24 tháng chín. Sau đó thuốc sẽ được thương mãi hóa ở Pháp rồi rất nhanh ở Anh và Đức.

EllaOne cũng sẽ là đối tượng của nhiều bài thuyết trình khoa học ở hội nghị phụ khoa châu Âu, diễn ra vừa qua ở Rome. Theo những công trình nghiên cứu lâm sàng, hiệu quả của nó sẽ là khoảng 95%, hằng định trong 5 ngày, hoặc tương ứng với thời gian sống của các tinh trùng. Trong số 1.241 phụ nữ đã tham gia vào công trình nghiên cứu chính cho đến cùng, 26 (hoặc 2,1%) đã bị có thai. Con số này là dưới tỷ lệ 5,5% của các phụ nữ sẽ có thể bị mang thai nếu họ đã không sử dụng một phương pháp ngừa thai nào. ElleOne do đó tránh được khoảng 3/5 các thai nghén được chờ đợi ”, EMEA đã xác nhận như vậy. Về các tác dụng phụ, thường đó là những cơn đau bụng hay những rối loạn kinh kỳ.

“ HIỆU QUẢ LÂU HƠN ”

Tính hiệu quả của levonorgestrel (Norlevo), viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain) được thương mãi hóa vào năm 1999, là không thay đổi trong 24 giờ đầu, nhưng chỉ còn 60% sau 48 đến 72 giờ. Mặt khác việc uống thuốc được khuyên trong 12 giờ đầu nếu có thể được, chậm nhất là 3 ngày sau giao hợp không hoặc kém được bảo vệ.

Theo phòng bào chế HRA Pharma, sự tương phản về hiệu năng giữa hai dược phẩm được giải thích bởi sự khác nhau về cách tác dụng. “ Levonorgestrel là một progestatif, nó ức chế sự phóng noãn nhưng không còn tác dụng nữa kể từ lúc cao điểm của sự tiết LH (pic de LH : sự tiết hormone làm phát khởi sự phóng noãn), Luc Massart giám đốc của HRA Pharma đã giải thích như vậy. EllaOne, mà hoạt chất là ulipristal acetate, là một chất điều biến đặc hiệu (un modulateur spécifique) của các thụ thể đối với progertérone (SPRM). Nó cũng ức chế sự phóng noãn, nhưng vẫn có hiệu quá lâu hơn, cho đến khi vỡ các noãn nang (rupture folliculaire). Thế mà đó lại là thời kỳ có nhiều giao hợp nhất.” EllaOne cũng có thể gây nên những biến đổi ở niêm mạc tử cung, mặt khác EMEA đã chỉ rõ như vậy. Theo hãng bào chế HRA Pharma, tính chất này mang lại hy vọng về những lợi ích trong một vài bệnh của tử cung. “ Các thử nghiệm đang được tiến hành trong bệnh lạc nội mạc tử cung (endométriose) và các u xơ tử cung (fibromes utérins) ”, Luc Massart lại còn ghi nhận như vậy.

Tuy nhiên vài hiệp hội cơ đốc giáo lo ngại về việc xuất hiện của dược phẩm mới này, mà về phương diện hóa học họ xem là giống với viên thuốc làm sẩy thai RU486. Mặt khác, các công trình nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng RU486, chất đối kháng của progestérone, cũng có hiệu quả như là thuốc ngừa thai cấp cứu, mặc dầu nó không được cho phép luu hành trên thị trường trong mục đích này.

“ MỘT TIẾN BỘ THẬT SỰ ”

Đối với Bs Elisabeth Anbeny, thầy thuốc phụ khoa và chủ tịch của Hiệp hội ngừa thai của Pháp, thì không có một chút mập mờ nào. “ EllaOne ngăn cản sự phóng noãn, trong khi RU486 chống lai sự làm tổ của trứng ở tử cung, bà nhấn mạnh như thế. Đó là một tiến bộ thật sự so với Norlevo, mà chúng ta đã chứng kiến những thất bại không thể bàn cãi vào đâu được. ” Theo bà vẫn còn tồn tại hai vấn đề. Viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) sẽ chỉ có thể được cấp với đơn thuốc của BS, trái với Norlevo, được bán tự do. Về giá cả, viên thuốc mới này hẳn phải đắc hơn nhiều so với viên thuốc của ngày hôm sau đang được sử dụng hiện nay (giá khoảng 7,5 Euro).

Mỗi năm, khoảng 1 triệu hộp thuốc ngừa thai cấp cứu (Norlevo và générique) được bán ở Pháp. Điều này không nghĩa lý gì, so với 25 triệu tình huống nguy cơ mang thai (quên uống thuốc, tai biến préservatif..) mà các công dân gặp phải mỗi năm. Và không đáng kể gì, so với 200.000 sẩy thai mỗi năm trong đất nước của chúng ta.
(LE FIGARO 8/9/2009)

6/ THẤM TÁCH (DIALYSE) : HY VỌNG CỦA THẬN NHÂN TẠO MANG THEO NGƯỜI.

RECHERCHE. Một công ty Hoa Kỳ đã nghĩ ra một máy thấm tách (appareil de dialyse) được mang nơi đai quần và cho phép bệnh nhân sống hầu như bình thường. Vẫn còn phải tìm nguồn tài chánh để hoàn thành những trắc nghiệm đánh giá sau cùng.

Những buổi thấm tách chán ngắt một ngày kia sẽ có thể được thay thế bằng một quả thận nhân tạo bé nhỏ được mang thường trực ? Từ nhiều thập niên, các nhà nghiên cứu tìm kiếm các máy thấm tách nhỏ xíu này : chúng sẽ cho phép bệnh nhân tiếp tục công việc trong khi các quả thận được thanh lọc. Mãi đến ngày hôm nay, những niềm hy vọng của họ không thành, không có một prototype nào khá đáng tin cậy và hiệu năng để có thể được thương mãi hóa. Nhưng một mô hình được hiệu chính bởi một hãng Hoa Kỳ mang lại những niềm hy vọng mới.

Cách nay hai năm, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã công bố các kết quả đáng phấn khởi của quả thận nhân tạo có thể mang theo người này nơi 8 bệnh nhân suy thận ở giai đoạn cuối. Được trang bị bởi các bình điện 9 volts, chiếc máy nặng 5kg có thể được mang ở đai quần. Máy hoạt động theo cùng nguyên tắc với các máy thấm tách cổ điển.

Một công trình nghiên cứu mới, được công bố ngày 20 tháng 8 vừa qua trong một tạp chí chuyên khoa, Clinical Journal of the American Society of Nephrology, đã kết luận rằng các hiệu năng kỹ thuật của máy là đủ để đề nghị nó như là một thay thế cho thấm tách cổ điển. “ Mục tiêu là mục tiêu của một sự lọc (filtration) 24 giờ trên 24 giờ, 7 ngày trên 7 ngày, như những trái thận bình thường vậy ”, BS Victor Gura, tác giả của công trình nghiên cứu và cố vấn khoa học của Xcorporeal, công ty Hoa Kỳ phát triển những trái thận nhân tạo mang theo người này.

QUÁ TRÌNH THU NHỎ TIẾP TỤC

Sự thu nhỏ (miniaturisation) tiếp tục, và những chiếc máy thế hệ thứ ba từ nay cân nặng dưới 4kg, thầy thuốc Hoa Kỳ tiếp tục nói. “ Không còn có trở ngại quan trọng về kỹ thuật đối với các trái thận nhân tạo có thể mang theo người ”, ông nhấn mạnh như thế đồng thời đưa ra những lợi ích khả dĩ đối với đời sống hàng ngày của các bệnh nhân và kinh tế. Giai đoạn sắp đến là tiến hành những thử nghiệm lâm sàng với quy mô lớn hơn. Nếu như những thử nghiệm này được chứng thực, thì các máy thân nhân tạo mang theo người sẽ có thể được thương mãi hóa trong một thời hạn hai năm.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 2/9/2009)

7/ MỘT THUỐC CHỐNG LOÃNG XƯƠNG KÉO DÀI TUỔI THỌ.

Hiếm khi những tác dụng phụ của một thứ thuốc lại tỏ ra dễ chịu. Acide zolédronique (Aclasta, Zometa) là một ngoại lệ : các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Duke đã khám phá ra rằng thuốc này, được sử dụng chống lại bệnh loãng xương (ostéoporose), làm giảm 28% nguy cơ tử vong nơi những bà già, những nạn nhân của một gãy xương háng gây nên bởi chứng loãng xương ! Tiêm thuốc này vào 2.000 phụ nữ, acide zolédronique đã làm giảm xác suất bị một gãy xương thứ hai, nhưng cũng làm giảm tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi và bệnh tim mạch. Trong số những lời giải thích khả dĩ, “ acide zolédronique có thể tác dụng lên tim, làm giảm nguy cơ loạn nhịp, hay tăng cường hệ miễn dịch.” Nhưng nếu như những tác dụng của nó vẫn còn bí hiểm, chúng vẫn đáng lưu ý đối với 3 triệu người Pháp bị bệnh loãng xương.
(SCIENCE ET VIE 9/2009).

8/ VIÊM MÔ MỠ LÀM DỄ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG NƠI NHỮNG NGƯỜI BÉO PHÌ.

Đó là điều được xác nhận bởi 4 nhóm những nhà nghiên cứu, sau những thí nghiệm được tiến hành trên chuột. Viêm phát triển trong mô mỡ của những người béo phì được liên kết với sự thâm nhiễm với số lượng quan trọng của những tế bào miễn dịch, các tế bào T hay đại thực bào.Thế mà những đại thực bào được biết là làm gia tốc sự phát triển sự đề kháng đối với insuline, thành phần của bệnh đái đường loại 2. Vì đâu có một sự đổ xô đến như thế của những đại thực bào ? Đó là do một hormone, leptine, hiện diện với lượng lớn hơn nơi các động vật béo phì. Thật vậy, leptine ức chế sự đến trong mô mỡ của những tế bào lympho T điều hòa (Treg : lymphocytes T régulateurs), thường có nhiệm vụ làm chủ hoạt động của những tế bào lympho T cổ điển và kềm hãm sự tuyển mộ của những đại thực bào. “ Bằng cách điều biến hoạt động của những tế bào lympho T, chúng ta sẽ có thể cắt đứt vòng luẩn quẩn giữa các tế bào mỡ và những tế bào miễn dịch ”, Satoshi Nishimura, thuộc đại học Tokyo, đã đề xuất như vậy cho một điều trị chống lại bệnh đái đường do béo phì.
( SCIENCE ET VIE 9/2009)

9/ NGƯỜI TA CÓ THỂ ĐỌC TRONG TƯ TƯỞNG MÀ KHÔNG CẦN PHẢI ĐI SÂU VÀO TRONG NÃO BỘ.

Các vi điện cực được đặt ở bề mặt của não bộ đã thành công bắt được những tín hiệu thần kinh có biên độ thấp kiểm soát các cử động của cánh tay.

Những vi điện cực này (40 mcm) có thể phân biệt được những tín hiệu phát ra bởi một hay nhiều neurone, cũng như những neurone điều khiển cử động của các chi. Vậy những vi điện cực này cũng hiệu quả như những điện cực có thể cắm vào trung tâm của não bộ trong những vùng kiểm soát những cử động hay lời nói, nhưng chúng an toàn hơn nhiều vì không có tính cách xâm nhập. “ Nhiên hậu, những điện cực mới này sẽ cho phép biến đổi những ý định của những người bị bại liệt hay bị cắt cụt chi thành những tín hiệu cơ học nhằm kiểm soát những cử động của họ ”, GS Paul House, người phụ trách dự án ở đại học Utah (Hoa Kỳ) đã hớn hở phát biểu như vậy.
(SCIENCES ET VIE 9/2009)

10/ CÁC TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CÓ THỂ GÂY NÊN NHỮNG CỬ ĐỘNG BẤT THƯỜNG.

Theo sự duyệt xét của hơn 150 công trình nghiên cứu, các di chứng của các tai biến mạch máu não có thể gây nên sự xuất hiện của những cử động bất thường trong 1 đến 4% các trường hợp. Những cử động bất thường này xảy ra từ một đến 5 năm sau đột qụy (stroke). Ngoài những co cứng (contractures) thuộc loại bệnh Parkinson, những cử động thường thấy nhất là những cử động không tự ý, xuất hiện nhanh, được biết dưới tên hémichorée-hémiballisme. Chúng thường biến mất một cách ngẫu nhiên nhưng một điều trị có thể cần thiết để kiểm soát chúng.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (20/9/2009)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san khoa

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969