Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 17
Lượt truy cập: 1028444
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A : OBAMA TUYÊN BỐ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP Y TẾ Ở HOA KỲ.

Virus H1N1 đã giết chết một ngàn người Mỹ và 20.000 người khác đã được nhập viện.

EPIDEMIE. Vào lúc mà mọi người bắt đầu quên những nỗi ám ảnh do sự xuất hiện của cúm A (H1N1) đã gây ra vào mùa xuân vừa qua, lời phát biểu được đưa ra bởi Barack Obama trong một bản tuyên bố được công bố vào hôm thứ bảy 24/10 đã có tác dụng như một gáo nước lạnh. Mặc dầu có khả năng làm hoảng sợ dư luận, tổng thống Hoa Kỳ đã ra sắc lệnh “ khẩn cấp quốc gia ”, tình hình liên quan với sự tiến triển của cúm A và đã ký một nghị quyết nhằm tăng cường các phương tiện cho Bộ trưởng Y tế Kathleen Sibelius, để ngăn chặn dịch bệnh.
Trong khi “ hàng triệu người Mỹ đã bị cúm ”, theo một đánh giá của Trung tâm phòng ngừa bệnh tật, trong khi 20.000 trong số những người này đã phải được nhập viện sau khi đã tiếp xúc với virus và trong khi ngàn người chết vì nó, bản tuyên bố này sẽ cho phép gia tăng khả năng hoạt động của các trung tâm y tế đứng trước sự đổ xô đến của các bệnh nhân.

Từ nay các trung tâm y tế này sẽ có toàn quyền để thiết đặt những cơ cấu cấp cứu mà không phải tuân theo vài yêu cầu của pháp chế liên bang. Thí dụ các bệnh viên sẽ có thể mở các trung tâm tạm thời hay những lều y tế (tentes médicales) gắn liền với các bệnh viện để tiếp nhận các bệnh nhân và cách ly họ với những bệnh nhân khác.

TRONG 46 TIỂU BANG BỊ ẢNH HƯỞNG TRÊN 50, CÁC VACCIN NHỎ GIỌT.

“ Nhờ nhận diện nhanh chóng virus, bằng cách thực thi những biện pháp y tế cộng đồng, bằng cách thông tin những người hành nghề y tế và công chúng và nhờ sự hiệu chính một tiêm chủng có hiệu quả, chúng ta đã áp dụng những biện pháp tích cực để bảo vệ sức khỏe của các công dân của chúng ta ”, tổng thống Hoa Kỳ đã giải thích như thế. Nhưng, “ xét vì sự tiến triển liên tục của đại dịch, chúng ta thực hiện các biện pháp bổ sung ”, ông đã nói thêm như vậy để biện minh cho các quyết định mới của ông.

Trong một công hàm gởi cho Quốc Hội, Obama xác nhận rằng những biên pháp khẩn cấp này đã được thực hiện “ để sẵn sàng cho tình huống có thể xảy ra của một sự gia tăng nhanh chóng các trường hợp trong đất nước, làm tràn ngập các cơ quan y tế ”. Chính phủ mặt khác nhấn mạnh rằng các quyết định này không phải do những diễn biến mới không được dự đoán trước.

Virus H1N1 tiếp tục lan tràn như “ dự kiến ”, theo một viên chức cao cấp , 46 tiểu bang trên 50 đã ghi nhận nhiều bệnh nhân bị mắc phải bệnh cúm. Tại địa phương, dân chúng được thông tin một cách đều đặn về sự hiện diện của những trường hợp mới, tại nơi làm việc hay ở trường học. Theo giám đốc của Các trung tâm liên bang kiểm tra và phòng ngừa các bệnh tật (CDC), BS Thomas Frieden, việc giao quá chậm các vaccin, vũ khí duy nhất có hiệu quả để ngăn chặn đại dịch, ưu tiên nhằm vào các thanh niên và trẻ em, là nguyên nhân của sự tiến triển không có triệu chứng này. “ Chúng ta từ nay ở trong một thời kỳ mà sự gia tăng số lượng các vaccin H1N1 sẵn sàng để sử dụng quả là quá chậm ”, ông đã phàn nàn như thế. Chính phủ liên bang khởi đầu đã dự kiến rằng khoảng 120 triệu liều vaccin sẽ sẵn sàng vào cuối tháng 10, nhưng các trung tâm ngăn ngừa các bệnh tật đã tuyên bố rằng số các vaccin sẽ chỉ đạt được khoảng 30 triệu liều vào thời hạn này, và chỉ 65 triệu vào cuối tháng 11 thay vì 200 triệu được dự kiến.
(LE FIGARO 26/10/2009)

2/ MỘT VACCIN H1N1 XỊT MŨI Ở HOA KỲ.

Được sản xuất từ virus được làm giảm độc lực, FluMist đã được chấp nhận ở Hoa Kỳ nhưng đã không được cho phép ở Châu Âu.

PANDEMIE. FluMist hiện nay là vaccin chống cúm A mà người ta nói đến nhiều nhất ở Hoa Kỳ. Sự tiêm chủng đã bắt đầu ở Hoa Kỳ vào đầu tháng 10 và vaccin này đã làm lu mở các vaccin cạnh tranh nó. Tại sao ? Bởi vì đó là vaccin duy nhất được cho dưới dạng xịt vào mũi (spray nasal). Những vaccin khác được tiêm bằng đường mông. Kết quả, người ta thấy vaccin dạng xịt mũi này khắp nơi, ở đài truyền hình và trong báo chí. “ Tất cả những gì cho phép việc tiêm chủng được chấp nhận tốt hơn bởi dân chúng là một điều tốt. Vaccin xịt mũi không phải là một bách dược nhưng là một hướng đáng lưu ý trong các thuốc chống cúm ”, Bruno Lina, giám đốc Trung tâm cúm quốc gia ở Lyon đã công nhận như vậy.

40 TRIỆU LIỀU

Được sản xuất ở Phildelphie bởi hãng sinh kỹ thuật Medimmune (được mua lại năm 2007 bởi phòng bào chế AstraZeneca), Flumist là thuốc đầu tiên sẵn sàng để được phân phát ở Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ đã dự kiến, theo những tiên đoán mới nhất, chủng cho một nửa dân số. Tính đến nay, chính phủ Mỹ đã đặt hàng 25 triệu liều vaccin chống H1N1 nơi năm hãng bào chế : AstraZeneca (MedImmune), CSL, GlaxoSmithKline, Novartis và Sanofi-Aventis. Riêng hãng MedImmune sẽ cung cấp 40 triệu liều. Đơn đặt hàng đã được thực hiện trong khi các vaccin theo dự kiến phải được cho hai liều cách nhau 3 tuần. Hôm nay, CDC khuyến nghị một liều duy nhất, ngoại trừ đối với các trẻ em dưới 9 tuổi.

Vaccin xịt mũi (vaccin par spray nasal) không phải là mới ở Hoa Kỳ. Nó đã được cho phép bởi FDA vào năm 2003 để chống lại cúm mùa. Vào ngày 15/9 vừa qua, nó đã được chấp nhận để chống lại virus H1N1 đối với những người mạnh khỏe, tuổi từ 2 đến 49 tuổi. Nó đảm bảo một khả năng bảo vệ 93% cao hơn một placebo nơi các trẻ em từ 15 tháng đến 7 tuổi.

Tính chất độc đáo của FluMist không chỉ giới hạn ở cách cho thuốc bằng đường mũi. Trái với các vaccin cạnh tranh nó tất cả đều được sản xuất từ virus được làm bất hoạt (bị giết chết), FluMist được phát triển từ các vaccin sống được làm giảm độc lực, do đó có một tên khác LAIV (Live Attenuated Influenza Vaccine). Mặt khác, chính vì lý do này mà nó có thể gây nên viêm mũi, đau đầu hay nôn mửa nơi các trẻ em và những hội chứng cúm “ nhỏ ” nơi người.

Giới hữu trách y tế châu Âu đã không muốn cho phép lưu hành FluMist mặc dầu dạng vaccin này dễ được chấp nhận bởi dân chúng. Nó đặt ra “ những vấn đề về an toàn virus, đặc biệt là đối với tính ổn định của các giống gốc ”, ta có thể đọc thấy như thế trong La Grippe en face, một tác phẩm tập thể, được công bố bởi nhà xuất bản Xavier Montauban. “ Virus đã được làm giảm độc lực bằng một loạt các biến dị nhưng nhà chế tạo ra nó đã không cho chúng ta những bảo đảm đầy đủ về tính ổn định của những biến dị này ”, Bruno Lina đã xác nhận như vậy.

CDC (Trung tâm kiểm soát bệnh tật) đã đưa ra những hạn chế đối sự sử dụng FluMist. Thí dụ những người tiếp xúc với những người bị suy giảm miễn dịch nặng không được tiêm chủng bằng FluMist, cũng như nhân viên bệnh viện. Thật vậy những người này có thể truyền bệnh cúm cho các bệnh nhân. Cũng cùng hạn chế đối với các phụ nữ có thai, những trẻ em dưới 2 tuổi, những người bị hen phế quản, những người có những bệnh tim hay những vấn đề hô hấp cũng như những người bị dị ứng với trứng.

FluMist dễ được chấp nhận ở Hoa Kỳ cũng do sự kiện là, trái với những vaccin H1N1 khác, vaccin xịt mũi này không chứa thiomersal, một hợp chất thủy ngân làm dễ sự bảo quản thuốc. “ Không bao giờ có vấn đề độc tính đối với vaccin này ”, Bruno Lina đã phát biểu như vậy.

Chẳng bao lâu nữa ở Châu Âu sẽ có những vaccin xịt mũi được sản xuất từ các virus bị làm bất hoạt ? Có lẽ không. Những trắc nghiệm mới đây ở Thụy Sĩ đã cho thấy những tác dụng phụ đáng lo ngại : nhiều người đã bị bại liệt mặt gây nên bởi một trong các chất bổ trợ (adjuvants).
(LE FIGARO 21/10/2009)

3/ VACCIN : HAI MŨI TIÊM Ở CHÂU ÂU, 1 MŨI TIÊM Ở HOA KỲ.

Cơ quan dược phẩm châu Âu đã tuyên bố hôm thứ sáu rằng cơ quan luôn luôn khuyến nghị rằng 3 vaccin chống cúm A(H1N1), được cho phép trong Liên Hiệp châu Âu, phải được tiêm hai liều mặc dầu các dữ kiện đã cho thấy rằng một liều đơn độc có thể đủ đối với 2 trong 3 vaccin được nói đến. Ủy ban các chuyên gia của Cơ quan dược phẩm châu Âu “ đã quyết định duy trì khuyến nghị được thông qua vào tháng 9, nói rằng, tốt hơn, 3 vaccin này sẽ được cho thành hai mũi, cách nhau ít nhất 3 tháng. ”, cơ quan dược phẩm châu Âu đã tuyên bố như vậy. 3 vaccin được cho phép bởi Liên Hiệp Châu Âu là Focetria của hãng bào chế Thụy Sĩ Novartis, Pandemix của hãng bào chế Gsk (GlaxoSmithKline), cả hai chứa một chất bổ trợ (adjuvant), và Celvapan của hãng Baxter Hoa Kỳ, không chứa chất bổ trợ. Cơ quan Liên Hiệp châu Âu nói thêm rằng “ các dữ kiện có được về Pandemix và Forcetria cho thấy rằng một liều duy nhất có thể đủ nơi những người trưởng thành, nhưng các dữ kiện này còn quá giới hạn nên ủy ban không thể khuyến nghị việc sử dụng đại trà một chương trình tiêm chủng với một mũi tiêm duy nhất ”. Các kết quả của các thử nghiệm điều trị cho thấy rằng dầu vaccin là gì đi nữa, một mũi tiêm cũng đủ đối với những người trên 9 tuổi. Trên cơ sở những dữ kiện này, Trung tâm kiểm tra các bệnh tật (CDC d’Atlanta) ở Hoa Kỳ khuyến nghị rằng một liều duy nhất được thực hiện đối với những người trên 9 tuổi. Theo giáo sư Philippe Lechat (Afssaps), chủ yếu chính sự thiếu các dữ kiện về sự bảo vệ lâu dài chống virus H1N1 đã giải thích việc duy trì một tiêm chủng bằng hai mũi tiêm của cơ quan dược phẩm châu Âu.
(LE FIGARO 26/10/2009)

4/ NGỪA THAI CẤP CỨU : VIÊN THUỐC NGỪA THAI CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA (PILULE DU SURLENDEMAIN) VÀ SAU ĐÓ...

Thuốc ngừa thai cấp cứu phụ nữ, dùng trong 5 ngày sau một giao hợp không được bảo vệ, “ viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau nữa ” (pilule du surlendemain), như Kristina Gemzell (Thụy Điển) đã đặt tên như thế nhân Hội nghị lần thứ 8 của Hiệp hội Phụ Khoa Châu Âu, được dùng để thay thế lévonorgestrel (LNG), điều trị chuẩn cho đến ngày hôm nay, có hiệu quả nhưng với một hoạt tính giảm dần trong 72 giờ. Thật vậy, acétate d’ulipristal (UPA) có nhiều ưu điểm : an toàn hơn lévonorgestrel, thuốc ngừa thai mới này ngăn cản một cách hoàn toàn hơn sự rụng trứng và chỉ có ít các tác dụng phụ.

Acétate d’ulipristal (UPA), chất điều biến chọn lọc (modulateur sélectif) của các thụ thể của progestérone, hoạt tính bằng đường miệng, tác dụng bằng cách liên kết với một ái lực rất mạnh với các thụ thể của progestérone người. Cơ chế tác dụng nguyên phát có thể là một sự ức chế hay một sự làm chậm lại sự rụng trứng. Sau khi cho bằng đường miệng một liều duy nhất 30 mg, UPA nhanh chóng được hấp thụ và đỉnh cao nồng độ huyết thanh đạt được khoảng 1 giờ sau khi uống, đồng thời có một thời gia bán hủy dài (32,4 giờ), góp phần duy trì một hoạt tính không thay đổi trong 120 giờ.

Sự ngừa thai cấp cứu bằng hormone, được sử dụng cho đến nay (1,5 mg lévonorgestrel), thường được gọi là “ viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau ” (pilule du lendemain), có hiệu quả giảm một cách đáng kể ngay ngày thứ ba (giữa 48 và 72 giờ chỉ còn 58% hiệu quả).

Những công trình nghiên cứu lâm sàng được tiến hành với UPA, ở Bắc Mỹ và châu Âu, nơi hơn 4.000 phụ nữ, đã cho thấy một hiệu quả tăng cao khoảng 95%. Hiệu quả này không thay đổi suốt trong 5 ngày, đúng đắn với thời gian sống còn của một tinh trùng trong tử cung, trái với điều đã được quan sát lúc sử dụng LNG (lévonorgestrel) (hoạt động 72 giờ, giảm với thời gian từ 95% đến 58% giữa 0-24 giờ và 48-72 giờ). UPA có một độ dung nạp tốt, có thể so sánh với lévonogestrel.

THỰC TIỄN.
  • Uống một viên thuốc trong 120 giờ (5 ngày) theo sau một giao hợp không hay kém được bảo vệ.

  • UPA vẫn rất hiệu quả cho đến ngày thứ 5 sau một giao hợp không được bảo vệ.

  • Thuốc có thể được uống vào bất cứ lúc nào của chu kỳ kinh nguyệt.

  • Một thai nghén phải được loại trừ trước khi dùng thuốc.

  • Không nên cho bú trong suốt 36 giờ sau khi uống UPA, do tính chất thích mỡ của thuốc.

  • Trong trường hợp mửa trong 3 giờ sau khi uống, phải uống một viên thứ hai.

  • Hầu hết các phụ nữ (80,8%) có kinh vào lúc được dự kiến hay trong thời hạn 7 ngày quanh thời kỳ này (6,1% có kinh 7 ngày sớm hơn và 13,1% 7 ngày chậm hơn). Tuy nhiên, nếu lévonorgestrel (LNG) làm ngắn chu kỳ 2,1 ngày, UPA trung bình kéo dài nó 2,6 ngày.

  • Không có một thay đổi đáng kể nào đã được nhận thấy về thời gian và lưu lượng của kinh kỳ.

(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/10/2009)

Đọc thêm :

5/ VÕNG CHỐNG BỆNH SỐT RÉT.

Các chiếc võng, tẩm thuốc diệt côn trùng có tác dụng kéo dài, có thể giúp góp phần kiểm soát bệnh sốt rét trong những vùng mà thuốc men thường dùng chỉ có một tác dụng yếu kém. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu, được thực hiện ở Việt nam bởi Ngô Đức Thắng, vừa bảo vệ luận án doctorat ở Viện Y Khoa Nhiệt Đới Anvers.

Trong vài vùng của Việt Nam, nhất là ở biên giới với Lào và Cambodge và vùng trung nguyên miền núi, bệnh sốt rét vẫn là một bệnh quan trọng. Những vùng xa xôi này được định cư bởi các dân tộc thiểu số, theo truyền thống sống trong rừng. “ Vecteur chủ yếu của ký sinh trùng sốt rét trong những vùng này, muỗi Anopheles dirus ss, rất ưa thích các khu rừng...và người, Ngô Đức Thắng đã giải thích như vậy. Muỗi Anopheles sống và chích ở ngoài các ngôi nhà ở, và nhất là trong ngày, khi người dân không ở trên giường. Điều này muốn nói rằng những chiếc mùng, tẩm hay không các chất diệt côn trùng, không được hữu ích lắm trong các vùng này.”

Tìm kiếm các công cụ kiểm soát mới, đáp ứng tốt hơn theo tình thế, Thắng và nhóm nghiên cứu đã trắc nghiệm tính hiệu quả của các chiếc võng tẩm các thuốc diệt côn trùng có tác dụng kéo dài. Họ đã tiến hành công cuộc nghiên cứu trong một trong những vùng bị ảnh hưởng nhất bởi bệnh sốt rét. “ Làm việc trong rừng, sự sử dụng mùng màn, sự thuộc vào một sắc tộc, tuổi tác và trình độ học vấn là những yếu tố đã được tính đến, nhưng nguy cơ quan trọng nhất dường như là sự nghèo nàn ”, nhà nghiên cứu đã nêu lên như vậy.

LÀM GIẢM GẤP ĐÔI.

Dân chúng được chia thành 20 nhóm, mỗi nhóm có 1.000 người. Các nhà nghiên cứu đã phân phát cho những người này các chiếc võng có tẩm hay không thuốc diệt trùng. Sau hai năm theo dõi, họ đã có thể xác định, nhờ các trung tâm y tế và những người công tác y tế trong làng, số những trường hợp bệnh sốt rét mới : số các trường hợp mới giảm từ 26 xuống 12 trên 1000 người trong nhóm “ võng có tẩm thuốc diệt côn trùng ”. Tổng số các trường hợp sốt rét trong dân chúng đã hạ từ 13,6% xuống 4%. “ Điều nổi bật, đó là những trường hợp mới đã hạ hai lần nhiều hơn trong nhóm sử dụng các chiếc võng được tẩm thước diệt côn trùng. Tác dụng đã cho phép phòng ngừa khoảng 10 trường hợp sốt rét trên 1000 dân. Trong những vùng bị nhiễm nặng nhất, trung bình lợi được ba lần nhiều hơn.”
(LE JOURNAL DU MEDEIN 13/10/2009)

6/ RỐI LOẠN NHỊP TIM : MỘT ĐIỀU TRỊ RẤT HỨA HẸN.

GS Michel Desnos, trưởng khoa tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, giải thích tiến bộ đạt được với dabigatran để điều trị các rung nhĩ.

Hỏi : Các triệu chứng của rung nhĩ (fibrillation auriculaire) là gi ?
G.S Michel Desnos : Đó là loạn nhịp tim thông thường nhất (1-2% dân số sau 50 tuổi) và gia tăng với tuổi tác. Những triệu chứng đầu tiên được thể hiện bởi hồi hộp, khó ở, những bệnh này cũng có thể tiến triển không có triệu chứng và được khám phá bởi một mạch và tim không đều.

Hỏi : Không được điều trị, sẽ có những nguy cơ nào ?
G.S Michel Desnos : Có hai nguy cơ chính. 1. Rung nhĩ làm dễ sự tạo thành của các cục máu đông trong tim. Các cục máu đông này có thể di chuyển lên não bộ và gây nên tai biến mạch máu não. Chúng cũng có thể di chuyển đến một chi, làm bít tac động mạch và gây nên một thiếu máu cục bộ (ischémie), với đau đớn dữ dội. Không điều trị, mối nguy hiểm là hoại thư (gangrène). 2. Rung thất ảnh hưởng chức năng vận động của tim, có thể gây nên suy tim với khó thở. Nếu không điều trị, người ta sợ tai biến tim chết người.

Hỏi : Đến nay, người ta điều trị như thế nào những người bị rung nhĩ ?
G.S Michel Desnos : Về nguy cơ do các cục máu đông, ta dùng các thuốc kháng đông bằng đường miệng (các anti-vitamine K, như coumadine), rất có hiệu quả. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu quan trọng và không có thể dùng những thứ thuốc này, ta cho aspirine với liều lượng thấp mỗi ngày. Mục đích của hai điều trị này là làm loãng máu, do đó làm giảm các nguy cơ gây nên những biến chứng của rung nhĩ, đặc biệt là các tai biến mạch máu não. Bên cạnh các điều trị kháng đông, các thứ thuốc chống loạn nhịp, khử rung (cardioversion) hay thủ thuật cắt bỏ (ablation) có thể tỏ ra cần thiết.

Hỏi : Những kết quả có được với điều trị hiện nay là gì ?
G.S Michel Desnos : Các anti-vitamine K cho phép làm giảm các tai biến mạch máu não hơn 60%, nhưng với cái giá của một sự gia tăng các tai biến xuất huyết (trong đó có xuất huyết não). Bất tiện khác : điều trị này không dễ sử dụng trong đời sống hàng ngày bởi vì nó đòi hỏi phân tích máu đều đặn.

Hỏi : Tác dụng của điều trị mới đối với các bệnh rung nhĩ này là gì ?
G.S Michel Desnos : Dabigatran đã xuất hiện trên thị trường châu Âu vào tháng 10 năm 2008. Nhưng mãi đến nay, nó chỉ được thương mãi hóa duy nhất để tránh các cục máu đông trong các tĩnh mạch nơi những người được mổ để đặt khớp gối hay khớp háng giả. Những can thiệp này cần nằm bất động trên giường, điều này làm dễ sự xuất hiện các viêm tĩnh mạch (phlébites). Dabigatran, một chất ức chế trực tiếp thrombine (một yếu tố đông máu), phong tỏa sự tạo thành của các cục máu đông. Thuốc được cho bằng đường miệng và không cần theo dõi bằng xét nghiệm máu.

Hỏi : Những kết quả của các công trình nghiên cứu đã được thực hiện là gì ?
G.S Michel Desnos : Vào lúc công trình nghiên cứu quốc tế (RELY) trên 18.000 bệnh nhân, người ta đã so sánh các kết quả thu được với điều trị cổ điển bằng coumadine với các kết quả được ghi nhận với dabigatran. Thử nghiệm đã được thực hiện với hai liều lượng khác nhau của thuốc mới : một nhóm bệnh nhân đã nhận dabidatran 150 mg hai lần mỗi ngày ; một nhóm khác, 110 mg, cũng hai lần mỗi ngày. Dabigatran được cho với liều lượng cao làm giảm tai biến mạch máu não nhiều hơn là điều trị cổ điển bằng coumadine, với một nguy cơ xuất huyết tương tự. Với liều lượng thấp hơn, dabigatran tỏ ra cũng hiệu quả như coumadine trong việc ngăn ngừa tai biến mạch máu não với ít xuất huyết hơn.

Hỏi : Khi nào ta có thể sử dụng điều trị này đối với rung nhĩ. ?
G.S Michel Desnos : Chúng ta hy vọng sẽ nhận giấy phép cho lưu hành trên thị trường trong những tháng sắp đến.

Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm của dabigatran là gì ?
G.S Michel Desnos : 1. Không phải theo dõi, dầu liều lượng cho là bao nhiêu. 2. Với liều lượng thấp, ít nguy cơ xuất huyết hơn. 3. Với liều cao, một hiệu quả lớn hơn để ngăn ngừa các tai biến mạch máu não.
(PARIS MATCH 8/10-1/10/2009)

Đọc thêm :


7/ TÌNH TRẠNG TRI THỨC CỦA VỢ ẢNH HƯỚNG LÊN TUỔI THỌ CỦA CHỒNG.

Những người sống lứa đôi sẽ sống lâu hơn, các công trình trước đây đã tiết lộ như vậy. Công trình nghiên cứu hiện nay, được tiến hành bởi Robert Erikson và Jenny Torssander, lại gợi ý rằng việc chọn lựa người bạn đường cũng có một ảnh hưởng lên tuổi thọ.

Các nhà nghiên cứu Thụy Điển đã căn cứ trên những dữ kiện phát xuất từ 1,5 triệu phụ nữ và đàn ông hoạt động, tuổi từ 30 đến 59 tuổi, sống lứa đôi. Su theo dõi đã kéo dài 10 năm.

Đối với các đàn ông cũng như đối với các phụ nữ, nguy cơ tử vong sau 10 năm cao hơn trong nhóm ít có học vấn nhất và nhóm có lợi tức thấp nhất. Một tình trạng xã hội (statut social) thấp hơn và một nghề nghiệp ít được đánh giá hơn cũng được liên kết với một tý lệ tử vong tăng cao hơn.

Noi những người đàn ông, trình độ tri thức của người vợ mình đóng một vai trò lớn hơn là chính trình độ học vấn của riêng mình : những người đàn ông không học hết trung học có một nguy cơ tử vong trong 10 năm 1,1 lần cao hơn những người đàn ông đã học xong trung học. Trái lại, những người đàn ông sống với một người vợ không đến trường bao nhiêu, có 1,25 nguy cơ cao hơn chết trong quá trình theo dõi, so với những người đàn ông sống với một người vợ có trình độ đại học. Đối với các phụ nữ, mức độ học vấn của riêng họ có ít ảnh hưởng hơn lên nguy cơ tử vong so với tình trạng xã hội của người chồng.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/10/2009)

8/ GIẢI PHẪU TẠO HÌNH CƠ QUAN KÍN (CHIRURGIE PLASTIQUE INTIME), CÁI NHÌN MỚI LÊN CÁC PHỤ NỮ.

Phẫu thuật kéo dài và làm lớn dương vật (l’ allongement et l’élargissement péniens), cũng như phẫu thuật làm tăng thể tích vú (augmentaion mammaire), làm giảm bớt nhiều mặc cảm, trong khi việc tạo màng trinh (réfection hyménéale) đáp ứng với những mối lo âu văn hóa và tôn giáo. Nhưng một lãnh vực khác đang gia tăng quy mô một cách kín đáo, chỉ được truyền miệng với nhau : sự cải thiện thẩm mỹ âm đạo và âm hộ.

Bộ phận sinh dục ngoài của tôi có đẹp không ? Câu hỏi này có thể trở thành nỗi ám ảnh đối với các ông lẫn các bà, nhất là nếu điểm so sánh là filmographie pornographique ! Trái với những ưu tư nam giới, thường chỉ thuần về tâm lý, những câu hỏi nữ giới đôi khi lại có căn cứ. Thật vậy, có thể có một sự phì đại rất quan trọng của các mép nhỏ (petites lèvres), làm xáo trộn không những cuộc sống hàng ngày (cọ xát lúc đi bộ hay đi xe đạp, vấy bẩn lúc tiểu tiện) mà cả cuộc sống tình dục (dương vật khó đưa vào) ; trong những tình huống khác, một sự căng quá mức của âm đạo sẽ làm nhiễu loạn sự hài hòa của lứa đôi.

NYMPHOPLASTIE (PHẪU THUẬT TẠO HÌNH CÁC MỐI NHỎ ÂM HỘ), THUẬT NGỮ ĐẸP...

Phải cứu xét một cách nghiêm túc mọi yêu cầu biến đổi thẩm mỹ các cơ quan sinh dục. Các chỉ định là hiếm hoi và sự chấp nhận động tác phẫu thuật phải được suy nghĩ chín chắn. Trên bình diện cơ thể học, nếu các môi nhỏ (petites lèvres), còn được gọi là nymphe (nữ thần sông núi), vượt quá 2cm biên độ, chúng có thể được xem là quá lớn.

Một vài môi nhỏ có thể banh ra 6cm, thực hiện một màng ngăn trong (diaphragme interne), hình cánh bướm. Chống chỉ định phẫu thuật trong trường hợp nhiễm trùng herpes tại chỗ, và dĩ nhiên mọi bất thường tâm lý lúc thăm khám.

HAI PHUƠNG PHÁP.

Phẫu thuật được thực hiện dưới gây mê tại chỗ hay tổng quát và tiến hành theo hai phương pháp, hoặc là cắt tất cả vùng thặng dư rồi may surjet, hoặc cắt một tam giác có đáy ở sau mà không đụng đến bờ và giữ một dạng vẻ tự nhiên. Cầm máu phải rất tỉ mỉ bởi vì các mạch máu nhỏ có khuynh hướng co rút lại trong các mô và nhanh chóng gây nên những khối máu tụ quan trọng. Một phẫu thuật tạo hình môi âm hộ (labioplastie) bằng laser cũng được thực hiện từ nhiều năm nay. Những môi lớn (grandes lèvres) không phì đại nhưng có thể dày lên. Hút mỡ (liposuccion) tại chỗ khi đó có thể khiến các môi lớn lấy lại dạng vẻ trước đây.

KHÔNG LUYẾN TIẾC ?

Những bilan thỏa mãn có sức thuyết phục mặc dầu hậu phẫu thường đau đớn. Một nghiên cứu Pháp trên 163 bệnh nhân, được phẫu thuật trong một thời kỳ 9 năm, tính được 83% các phụ nữ không hối tiếc mặc dầu chỉ 89% là thỏa mãn kết quả thẩm mỹ. Nếu vẻ đẹp góp phần trong quyết định đối với 87% các trường hợp, sự khó chịu lúc mặc quần áo hay tập thể dục ảnh hưởng lên quyết định của một phụ nữ trên hai, và sự đau lúc giao hợp góp phần vào quyết định trong 43% các trường hợp.Tuổi bệnh nhân nằm trong khoảng 12 và 70 tuổi. Một nhóm nghiên cứu của Atlanta năm 2008 xác nhận rằng những yêu cầu phẫu thuật vì thẩm mỹ chỉ là thiểu số. Thường nhất, các rối loạn chức năng đứng hàng đầu, ngay cả khi chúng thường liên kết với động cơ tạo hình. Những môi nhỏ là những cơ quan sinh dục phồng lên dưới tác dụng của ham muốn, và chứa những cơ quan cảm nhận khoái lạc.Vậy cắt bỏ chúng, nhất là vì những lý do thẩm mỹ là một ý nghĩ bất bình thường. Lý do chính đáng duy nhất phẫu thuật chúng để giảm kích thước, đó là sự vướng víu khó chịu về mặt cơ học và vệ sình. Tuy nhiên phải e sợ rằng các yêu cầu không có động cơ gia tăng khi kỹ thuật sẽ trở nên ít kín mật hơn. Đó là trường hợp xảy ra ở Hoa Kỳ.

PHẪU THUẬT TẠO HÌNH ÂM ĐẠO : KHI ÂM ĐẠO HÉ MIỆNG.

Tùy theo lứa tuổi, người ta ước tính rằng có đến 40% các phụ nữ đã có những phàn nàn về tình dục, bao gồm sự mất dục tính, khô âm đạo, đau lúc giao hợp, giảm nhạy cảm kích dục hay không cảm thấy khoái lạc (anorgasmie). Về vấn đề này, một phàn nàn kín đáo bắt đầu ám ảnh vài phụ nữ, nhất là sau một cuộc sinh đẻ : Phải chăng tôi có âm đạo quá lớn hay quá giãn ? ” Câu hỏi đôi khi được đặt ra bởi người chồng, không còn cảm thấy một cách đầy đủ nữa sức ép của các thành âm đạo. Khoái lạc tình dục của lứa đôi bị ảnh hưởng. Một phẫu thuật điều chỉnh có thể là một phẫu thuật chỉnh hình âm đạo (vaginoplastie) đơn giản : colporraphie latérale làm giảm niêm mạc âm đạo vài mm, hay một colporraphie kết hợp với một périnéoplastie : sửa lại với sự sử dụng các mô chung quanh, các đai cơ, da, dây chằng.
(LE GENERALISTE 10/9/2009)

9/ THUỐC MỚI KỀM HÃM SỰ TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH PARKINSON.

Rasagiline không chỉ chống lại các dấu hiệu mà còn làm chậm lại sự tiến triển của tật nguyền.

NEUROLOGIE.Một thuốc mới mà những thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành nơi người sẽ có một tác dụng trực tiếp lên bệnh Parkinson và không chỉ lên các triệu chứng của nó. Bệnh lý này, gây bệnh cho gần 150.000 người ở Pháp, là do sự thoái hóa , trong bề sâu của các nhân trung ương của não bộ, các nhân “ dopaminergique ”. Sự thoái biến của những neurone này, rất có liên hệ trong những hoạt động vận động, giải thích số các triệu chứng mà các bệnh nhân mắc phải, run rẩy (tremblements), cứng đờ (raideurs), đặc điểm của căn bệnh Parkinson.

Từ năm 1950, một thuốc được tổng hợp từ hai acide aminé rất thường được tìm thấy trong các thảo mộc, L-Dopa và các dẫn xuất của nó, đã biến đổi cuộc sống hàng ngày của nhiều bệnh nhân Parkinson. Khám phá này đã được chào đón bởi giải Nobel y học năm 2000 và hóa học năm 2001. Ngày nay có nhiều dược chất được gọi là “ dopaminergique ” có khả năng phục hồi sự sản xuất dopamine, chất dẫn truyền thần kinh bị cạn đi trong não bộ của các người bệnh.Nhưng không có thứ thuốc nào trong số này có tác dụng lên chính căn bệnh, vì vậy bệnh thường vẫn tiếp tục tiến triển.

Sự khám phá, được công bố bởi một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ-Pháp trong New England Journal of Medicine, đã được thực hiện bởi Olivier Rascol (CHU de Toulouse) và Warren Olanow (Mount Sinai Hospital, New York). Bổ sung một công trình nghiên cứu tương tự được thực hiện về loại thuốc này (rasagiline), thử nghiệm mới này đã được thực hiện trên gần 1.200 bệnh nhân với một quá trình theo dõi 18 tháng, trong 100 trung tâm ở Âu Châu và Hoa Kỳ.

Các nhà nghiên cứu đã chia các bệnh nhân thành nhiều nhóm, vài bệnh nhân được điều trị ngay vào lúc đầu của công trình nghiên cứu, trong suốt 18 tháng, những bệnh nhân khác chỉ được điều trị trong 9 tháng sau cùng. Các bệnh nhân được bốc thăm, một nửa nhận một liều 1 mg/ngày, nửa kia nhận 2mg của thuốc rasagiline, đã được cho phép lưu hành ở Pháp, dưới tên Azilect.

CÁC CƠ CHẾ BÙ TRỪ.

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi tiến triển của các bệnh nhân nhằm đo lường, bằng những trắc nghiệm, sự trầm trọng hóa của bệnh theo thời gian (thật vậy có những échelle de score của bệnh Parkinson, được sử dụng bởi các thầy thuốc thần kinh trên toàn thế giới). Kết quả : các bệnh nhân, dùng liều thấp nhất và sớm nhất, sau 18 tháng, có một score hơi tốt hơn so với những bệnh nhân đã nhận liều này chỉ sau 9 tháng. “ Hiệu quả này đi theo chiều hướng của một biến đổi của tiến triển của bệnh bởi rasagiline, Pierre Pollak (CHU Grenoble) đã đánh giá như vậy. Đó là một công trình nghiên cứu được tiến hành rất tốt, chắc chắn, nhưng như các tác giả đã công nhận, người ta không tìm thấy tác dụng này với liều lượng quan trọng nhất.” Từ nhiều năm nay, trong thần kinh học, một ý tưởng cho rằng các điều trị sớm (và không chỉ với rasagiline) có thể tận dụng những cơ chế bù của bệnh, sẽ không cạn kiệt với thời gian. Nhưng chính các tác giả công nhận rằng với liều lượng rasagiline mạnh nhất (2mg), họ không nhận thấy ưu điểm của điều trị sớm này.
(LE FIGARO 24/9/2009)

10/ SẮT ĐÓNG MỘT VAI TRÒ CHỦ CHỐT TRONG BỆNH PARKINSON.

Mặc dầu còn ít được hiểu rõ, căn bệnh thoái hóa Parkinson ảnh hưởng lên các neurone dopaminergique. Các tế bào thần kinh này tích trữ sắt nhờ một chất được gọi là neuromélanine. Nhưng nhóm nghiên cứu của Kazrn Marcus, thuộc đại học Ruhr, Bochum (Đức), vừa chứng tỏ rằng một yếu tố khác đóng vai trò. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện, ngay bên trong các hạt neuromélanine, sự hiện diện của ferritine, protéine chính có liên quan trong sự tích trữ sắt trong các tế bào khác của thân thể con người. Khám phá này là chủ yếu để hiểu chuyển hóa của sắt trong các neurone, nhất là các nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng dung lượng của sắt trong các neurone dopaminergique gia tăng trong bệnh Parkinson, điều này sản xuất những lượng lớn các gốc tự do (radicaux libres) rất độc hại. Vai trò của ferritine trong sự tích lũy này là gi ? Tại sao sự tích tụ sắt xảy ra ? Hiểu được hiện tượng này có thể gợi ra những cách điều trị mới căn bệnh Parkinson.
(SCIENCE ET VIE 10/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (1/11/2009)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san khoa

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969