Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 10
Lượt truy cập: 1008989
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI. .

1/ Ta bị mắc phải cúm A (H1N1) như thế nào ?

Như tất cả các bệnh cúm, bệnh cúm do virus (H1N1) được truyền từ cá nhân này qua cá nhân khác, qua trung gian các dịch tiết của đường hô hấp, các giọt nhỏ được phóng ra lúc hách xì hay do một cơn ho. Virus khi đó được hít vào và sẽ phát triển trong các đường hô hấp. Sự truyền bệnh chủ yếu diễn ra trong khung cảnh những nơi tù hãm, nhất là nếu những nơi này rất thường được lui tới (métro, các biến cố thể thao hay văn hóa,v...v). Virus cũng có thể được truyền qua tiếp xúc trực tiếp giữa người với nhau : hôn hít, bắt tay nhau,...

Virus cúm có thể tồn tại trên các bề mặt : các nắm cửa, các núm thang máy.

2/ Nếu tôi bị mắc phải bệnh cúm, thế có nặng không ?

Tất cả các bệnh cúm đều có thể gây nên tử vong, đặc biệt là nếu người bị nhiễm trùng có những yếu tố nguy cơ. Ở Pháp, mỗi năm cúm mùa (grippe saisonnière) gây bệnh cho 2,5 triệu người và làm từ 4000 đến 6000 người chết.

Trong trường hợp cúm A (H1N1), trong đại đa số các trường hợp, căn bệnh là hiền tính và gây nên những triệu chứng khó chịu (sốt, đau mình mẩy, mệt mỏi) trong vài ngày. Tuy vậy, virus được lan truyền rất dễ dàng, và do đó có thể bị mắc phải bởi những người có những yếu tố nguy cơ, và gây nên một bệnh nghiêm trọng hơn. Điểm cần ghi nhận : trong số những người bị chết sau khi bị nhiễm bởi virus A (H1N1), 40% là những người trưởng thành trẻ tuổi có sức khoẻ tốt, thường là những nạn nhân của một viêm phổi siêu vi trùng (pneumonie virale).

3/ Những nhóm dân nào là có nguy cơ nhất ?

So với virus cúm mùa, có thể gây nên những thể biến chứng thậm chí chết người, nhất là nơi những người già (90% các tử vong xảy ra nơi những người trên 65 tuổi), virus A (H1N1) dường như đặc biệt tấn công vào những người trưởng thành trẻ tuổi và các trẻ em, nhìn toàn bộ là những người từ 5 đến 50 tuổi. Một trong những giải thích được đưa ra là những người trẻ đã không có cơ hội được tiếp xúc với các virus thuộc họ H1N1, đã lưu hành nhiều cho mãi đến những năm 1950, trước khi bị che khuất bởi những virus thuộc nhưng họ khác. Những người dưới 50 tuổi do đó đã không phát triển một miễn dịch đối với chúng.

Các phụ nữ có thai tạo nên một nhóm đặc biệt có nguy cơ, nhất là trong tam cá nguyệt thứ ba của thời kỳ thai nghén. Những người khác dễ bị những thể nặng hơn là những người vốn bị những bệnh mãn tính : các bệnh lý hô hấp, tim mạch, gan hoặc thận, một sự thiếu hụt miễn dịch (do một bệnh hay một điều trị) hay một bệnh đái đường.

Chứng béo phì, với một chỉ dấu khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) trên 30, cũng dường như là một yếu tố nguy cơ.

4/ Những triệu chứng đầu tiên là gì ?

Cúm A (H1N1) có thể được biểu hiện bởi một số những triệu chứng nào đó xuất hiệt đột ngột : run lạnh, sốt trên 38 độ C, đau đầu, những dấu hiệu hô hấp (ho, mũi chảy, khó chịu ở phổi), nhức mỏi, đau khớp, mệt mỏi. Thêm vào đó, thuờng hơn là so với các bệnh cúm cổ điển, là những dấu hiệu tiêu hóa (nôn, ỉa chảy).

5/ Những xét nghiệm cho phép chẩn đoán cúm A (H1N1) ?

Những xét nghiệm nhanh (trong hai hoặc ba giờ) và những xét nghiệm huỳnh quang miễn dịch (test immunofluorescence), thường được sử dụng đối với những virus cúm khác, không được khuyến nghị để phát hiện virus biến dị mới A (H1N1) vì chúng có mức độ nhạy cảm kém (30%).

Vậy để phát hiện sự hiện diện của cúm đại dịch, phải nhờ đến những test par amplification génique (PCR), cho kết quả trong 8 đến 12 giờ. Những xét nghiệm này, được thực hiện từ những bệnh phẩm lấy ở mũi và họng, chỉ có thể được thực hiện trong hai trung tâm chuẩn quốc gia : Trung tâm của Viện Pasteur và trung tâm của Lyon.

6/ Những xét ngiệm này có được thực hiện một cách có hệ thống không ?

Không. Theo những khuyến nghị chính thức, những xét nghiệm này chỉ dành cho những bệnh nhân có những dấu hiệu nghiêm trọng, các nhũ nhi, các phụ nữ có thai và các nhân viên điều dưỡng.

7/ Ta có thể truyền virus trong khi không có những triệu chứng cúm hay không ?

Thời kỳ lây nhiễm (période de contagiosité) bắt đầu khoảng 24 giờ trước khi xuất hiện những dấu hiệu lâm sàng, nói một cách khác một cá nhân đã mắc phải virus có thể truyền nó ngay cả khi anh ta chưa có các triệu chứng. Vậy phải nghĩ đến việc ngăn ngừa những người mà ta đã gặp hôm trước.

8/ Phải thăm khám khi nào, ai và ở đâu?

Cần có một xử trí theo mức độ, dầu đó là người lớn hay trẻ em :
  • Tôi không bị sốt (dưới 38 độ C) nhưng tôi có những triệu chứng như sau : đau họng, nghẹt mũi, chảy mũi, ho. Có lẽ mới chỉ có cảm cúm đơn thuần (simple rhume), tôi cần nghĩ ngơi.
  • Tôi sốt hơn 38 độ C. Con sốt này đã bắt đầu đột ngột và tôi có những triệu chứng như sau : ho, đau họng, đau đầu, mệt mỏi quan trọng, đau cơ. Có lẽ tôi bị cúm (grippe) ; tôi tự điều trị tại nhà, nếu cần tôi gọi thầy thuốc gia đình.
  • Tôi sốt hơn 38 độ C và tôi thuộc vào các nhóm nguy cơ (trẻ em dưới 2 tuổi, phụ nữ có thai, những người bị một bệnh mãn tính) ; hay tôi bị sốt và có những triệu chứng khó thở, nôn mửa. Hay tôi quan sát thấy sốt nơi trẻ em trở nên ít năng động hơn thường lệ. Trong những trường hợp khác nhau này, phải thăm khám bác sĩ gia đình trong cùng ngày.
  • Tôi sốt hơn 38 độ C và tôi ở vào một trong những tình huống sau đây : khó thở kéo dài, cứng cổ quan trọng, ngủ gà, mất định hướng, co giật, sốt nơi một em bé dưới 3 tháng. Trong trường hợp này, phải đến cấp cứu bệnh viện ngay hoặc gọi SAMU.

9/ Những thuốc được sử dụng là gì ?

Trong trường hợp cúm, phải dùng những thuốc chống sốt và đau, như paracétamol. Các thuốc kháng siêu vi trùng (antiviraux) Tamiflu và Relenza có hoạt tính đối với virus A (H1N1) khi chúng được cho trong vòng 48 giờ sau khi xuất hiện những triệu chứng. Việc cho toa Tamiflu tùy thuộc quyết định của thầy thuốc gia đình. Trong phần lớn các trường hợp, những người bị bệnh lành bệnh mà không cần các thuốc kháng virus.

10/ Vai trò của Tamiflu là gì ?

Cũng như Relenza, Tamiflu, được cho sớm nơi một người có những yếu tố nguy cơ, giới hạn mức độ nghiêm trọng của bệnh cúm. Vai trò của nó với tính cách phòng ngừa được bàn cãi, nhưng “ Tamiflu có thể hữu ích cho các nhân viên y tế tiếp xúc thường xuyên với những người bị nhiễm trùng ”, G.S Claude Hannoun, nhà virus học chuyện về bệnh cúm đã chỉ rõ như vậy.

11/ Tamiflu giá bao nhiêu ? Có được bồi hoàn không ?

Hộp 10 viên giá khoảng 20 Euro. Thuốc kháng virus được bồi hoàn 35%, cũng như tất cả những thuốc được gọi là “ tiện nghi ”. Thuốc chỉ được bồi hoàn hoàn toàn đối với những người có nguy cơ, những người bị một nhiễm trùng lâu dài hay bị suy giảm miễn dịch. Nếu nước Pháp chuyển qua mức độ báo động y tế 6, Tamiflu sẽ được cấp bởi chính phủ và miễn phí cho tất cả.

(xem tiếp số đến)
(LE MONDE 5/11/2009)

2/ ĐỘC LỰC CỦA VIRUS H1N1.

“ Virus H1N1 này, lúc len lõi vào đến tận các phế nang, có thể rất là độc lực ”

Giáo sư Jacques Reynes, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới của CHU de Montpellier trả lời các câu hỏi của phóng viên Paris Match.

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những lý do, ngoài khả năng gây nhiễm cực kỳ của nó, điều gì làm sợ virus mới H1N1 ?
GS Jacqus Reynes : Hầu hết các virus cúm xâm nhập khí quản và các phế quản. Những virus khác, như H1N1 có thể vào tận các phế nang và gây nên viêm phổi. Quá trình đáp ứng của cơ thể đối với sự tấn công của virus tạo nên một phản ứng viêm, trong vài trường hợp, may mắn thay là ít xảy ra, có thể gây nên suy giảm hô hấp (détresse respiratoire). Thường thường, các phòng vệ của cơ thể cho phép bệnh nhân chữa lành trong vài ngày.

Hỏi : Những người nào có nguy cơ phát triển một thể nặng ?
GS Jacque Reynes : Những người có một vấn đề hô hấp mãn tính do chức năng phổi của họ bị làm suy yếu. Những người dễ bị tấn công khác : những người bị chứng béo phì quan trọng khiến khả năng hô hấp bị suy yếu, và những người rất bị suy giảm miễn dịch, cũng như những người đã nhận một ghép cơ quan hay tủy xương. Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, những phụ nữ vào cuối thời kỳ thai nghén cũng có một nguy cơ gia tăng phát triển một thể nặng, có lẽ do thiếu hụt một vài kháng thể.

Hỏi : Người ta tin rằng virus này đặc biệt nguy hiểm đối với những người có sức khỏe yếu, thế mà ở Pháp có một thanh niên mạnh khỏe chết vì bệnh cúm này !

GS Jacque Reynes : Người ta đã ghi nhận loại tai biến này nơi những người bề ngoài rất khỏe mạnh và bị một thể nặng cúm mùa. Những người này có thể bị một thiếu hụt miễn dịch không ngờ đến. Phải nhắc lại rằng virus H1N1 có thể rất độc lực ! Hiện nay, dường như rằng, trong số các thể nặng, 1/3 những người bị nhiễm trùng không bị một bệnh mãn tính.

Hỏi : Tại sao một bộ phận nhân viên y tế từ chối không chịu tiêm chủng ?
GS Jacque Reynes : Những phương thức chế tạo các vaccin chống cúm H1N1 hơi khác với những cách điều chế những vaccin khác. Đặc điểm duy nhất : các chất bổ trợ (substances adjuvantes) sẽ được sử dụng một cách quan trọng để gia tăng những đáp ứng miễn dịch. Những người không chịu tiêm chủng có lẽ nhớ lại rằng, vào năm 1976, trong một chiến dịch tiêm chủng đại trà ở Hoa Kỳ chống lại virus cúm A (H1N1) phát xuất từ heo, với một vaccin cũng có những chất bổ trợ, người ta đã ghi nhận một tỷ lệ bất thường xảy ra những vấn đề thần kinh. Ngày nay, mối e sợ này có thể được làm dịu bớt bởi vì vài vaccin được hiệu chính chống lại virus mới này, đã được sử dụng mà không gây nên những biến chứng. Những kinh nghiệm của những vaccin mới này vẫn rất là giới hạn, đặc biệt là nơi những trẻ nhỏ, các phụ nữ có thai và những người bị suy giảm miễn dịch. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành để đánh giá rất chính xác những liều lượng cần phải tiêm.

Người ta cũng nghiên cứu hiệu quả và độ dung nạp của những vaccin mới có hay không có chất bổ trợ.

Hỏi : Ý kiến của ông thế nào đứng trước quy mô của chiến dịch này ?
GS Jacque Reynes : Việc thông tin hóa đã làm ý thức được tầm quan trọng của những biện pháp phòng ngừa. Một vài người nghĩ rằng người ta đã làm quá đáng mối hiểm nguy. Chống lại virus mà đại đa số là hiền tính này, các biện pháp có thể dường như không tương xứng, nhưng đến nay, tương lai của loại bệnh cúm này một phần không có thể tiên đoán được.
(PARIS MATCH 24/9-30/9/2009)

3/ CON NGÁO ỘP CỦA CÚM TÂY BAN NHA.

Trận dịch bệnh cúm Tây Ban Nha, đã giết chết nhiều người hơn chiến tranh 14-18, được dùng làm con ngáo ộp cho những người tiên đoán một cuộc tận thế mới. Nhắc lại lịch sử.

Cái điều mà ta gọi là cúm Tây Ban Nha (grippe espagnole), cái tên cũng không thích hợp như tên gọi cúm Mễ Tây Cơ (grippe mexicaine), nhưng đã đi vào trong Lịch Sử, đã là trận đại dịch cúm thế giới (pandémie grippale) đầu tiên của thế kỷ 20, trước đại dịch cúm á châu (grippe asiatique) năm 1957 (4 triệu người chết), trước trận dịch của cúm Hồng Kông vào năm 1968 (2 triệu người chết) và trận dịch mà ta đang trải qua hôm nay. Bệnh cúm Tây Ban Nha đã do một virus loại A/H1N1.

Những trường hợp đầu tiên quả thật đã được ghi nhận ở Tây Ban Nha, nơi đây đã có hàng triệu người chết. Trái với phần lớn các nước khác của châu Âu, lâm chiến trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở Tây Ban Nha thông tin không bị kiểm duyệt và các tin tức về trận đại dịch cúm này có thể được lưu hành từ đó, trong khi phía Đồng Minh, người ta sợ tạo cho kẻ thù một cảm tưởng rằng quân đội và dân chúng bị suy yếu nếu truyền bá những tin tức về căn bệnh cúm này.

Trận dịch đã bắt đầu vào tháng ba năm 1918, nghĩa là 8 tháng trước khi kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất 14-18, nhưng xảy ra vào lúc mà sự chấm dứt cuộc chém giết to lớn đã bắt đầu ló dạng. Trận dịch được theo đuổi một cách mạch mẽ vào năm 1919 và đã kết thúc vào khoảng giữa năm 1920. Số tử vong mà trận đại dịch cúm gây nên càng ngày càng được bàn cãi, vì lẽ nhiều người đã tăng gấp đôi hay gấp ba con số chính thức các người chết, mà các nhà viết sử đã ấn định ở mức 30 triệu, hay đúng hơn giữa 20 và 40 triệu. Đó là trận dịch hủy hoại nhất của lịch sử nhân loại. Mặc dầu các sự so sánh là táo bạo vì lẽ hành tinh vào thời Trung Cổ ít dân cư hơn nhiều so với đầu thế kỷ 20, nhưng các nhà sử học nhấn mạnh rằng trận đại dịch cúm Tây Ban Nha đã giết chết nhiều người trong một năm hơn là trận đại dịch hạch xoài (peste bubonique), còn được gọi là Dịch Hạch đen (Peste Noire), trong 4 năm (giữa năm 1347 và 1351). Như các nhà sử học của Đại Học Stanford nhấn mạnh, người ta ước tính rằng cứ năm người trên hành tinh thì có một người đã bị nhiễm bởi virus chịu trách nhiệm đại dịch cúm này và rằng 24% những người Mỹ và có lẽ hơn thế nữa đối với những người Châu Âu, đã bị nhiễm trùng. Họ còn xác nhận rằng 675.000 người Mỹ đã bị chết hoặc 10 lần nhiều hơn số lính Mỹ đã ngã xuống trên các chiến trường của cuộc chiến 14-18 (thật ra đối với Hoa Kỳ là cuộc chiến 1917-1918). Thật vậy, một nửa số những người Mỹ chết ở châu Âu trong hai năm cuối của cuộc chiến tranh 14-18 thật ra là chết vì những hậu quả của cúm Tây Ban nha. Một nhà sử học Mỹ đã ước tính số lính Mỹ chết ở Âu Châu do hậu quả của bệnh cúm này là 43.000 người. Ngay cả tổng thống Woodrow Wilson, phải thương thuyết những điều kiện của sự đầu hàng của Đức, trong khi chính ông vừa mới hồi phục những hậu quả của bệnh cúm này.

HAI CUỘC TÀN SÁT VÀO NĂM 1918.

Vào cuối năm 1918, Journal of the American Medical Association, tờ báo tiền thân của JAMA, đã viết : “ Năm 1918 đã chấm dứt : một năm được ghi nhớ như là năm chấm dứt của cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong các biên niên sử của loài người ; một cuộc chiến tranh đã đánh dấu, ít nhất là vào lúc này, sự tiêu diệt giữa con người với nhau ; bất hạnh thay, là một năm trong đó đã phát triển một căn bệnh nhiễm trùng gây nên tử vong cho hàng trăm ngàn người. Y khoa trong vòng 4,5 năm đã chuyên tâm vào việc làm cho các con người lính có khả năng chiến đấu trên các mặt trận và ở lại đó. Bây giờ đây, y khoa phải hết sức chuyên tâm vào cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù tệ hại nhất của tất cả, đó là bệnh nhiễm trùng.”

Ngoài ra, các tác giả trong số cuối này của tạp chí vào năm 1918, còn bàn cãi về chính bản chất của bệnh nhiễm trùng, bởi vì một bài báo của Journal of the American Medical Association, mang tựa đề như sau : “ Bệnh cúm (influenza) phải chăng là do một siêu vi trùng qua lọc (virus filtrable) ? Bệnh cúm Tây Ban nha tức thời tỏ ra đáng sợ hơn những bệnh cúm trước đây, với một tỷ lệ tử vong 2,5% so với 0,1% đối với những dịch cúm mùa đã được ghi nhận vào lúc đó. Các nhà nghiên cứu nói trên của của Stanford mặt khác nhấn mạnh rằng tai họa đã dữ dội đến độ hy vọng sống trung bình (espérance de vie moyenne) ở Hoa Kỳ đã chịu một sự sụt giảm 10 năm. Một giai thoại, được phổ biến rộng rãi vào thời đó, đã tường thuật một cuộc đấu bài bridge, chứng kiến trong cùng một đêm 3 trong bốn tay chơi, hội họp quanh bàn, đã ngã gục chết vì bệnh cúm. Tất cả các cơ quan y tế bị tràn ngập hết cách cứu chữa, nhất là các bệnh viện, vốn đã bị quá tải do sự trở về của những người lính bị thương trên mặt trận, một tình hình lại càng trầm trọng thêm do sự tử vong của nhiều thầy thuốc, lại chính là những nạn nhân của bệnh cúm này. Các thầy thuốc phải thú nhận sự bất lực của họ là không tránh được cuộc thảm sát này.

Những thảm họa lại còn dấn các nước bị ảnh hưởng vào trong tình trạng khủng khiếp. Nhất là ở Hoa Kỳ, theo gương các các cơ quan tổ chức mai táng, những kẻ phải đảm nhận sự chôn cất của những nạn nhân ngã gục vì cúm, không còn có thể theo kịp nhịp mà đại dịch áp đặt lên họ. Trong những nước khác, tai họa lại còn tệ hại hơn. Thí dụ, ở Ấn Độ, người ta thống kê 50 tử vong vì cúm đối với 1.000 người. Nhưng song song với tai họa y tế là đại dịch này, chính y khoa trong những năm tháng này đã trải qua một thời kỳ phát triển quan trọng. Vì buộc phải công nhận rằng mặc dầu các cuộc chiến tranh gợi cho chúng ta những điều khủng khiếp, thế nhưng những cuộc chiến này lại có một khía cạnh có lợi, làm những ngành như ngoại khoa hay vô trùng thực hiện được những tiến bộ, nhất là vào thời kỳ mà chúng chưa được phát triển một cách hoàn hảo. Tất cả điều đó cũng góp phần vào sự chiến thắng của những tư tưởng khoa học đối với những toan tính ngu dân nhằm giải thích thế giới và nhất là chính dịch bệnh. Và những tiến bộ của y khoa quân sự có thể có lợi cho những bệnh nhân là nạn nhân của cúm Tây Ban Nha.

LÝ THUYẾT ÂM MƯU ĐÃ CÓ VÀO THỜI KỲ ĐÓ RỒI.

Vào lúc mà hiện nay người ta đã không có một ý niệm chính xác về virus là nguyên nhân của đại dịch này, ngay vào thời kỳ đó, điều này đã nhanh chóng làm xuất hiện nhiều giải thích khác nhau liên quan đến lý thuyết của các âm mưu (théorie des complots). Vào thời kỳ đó vấn đề này lại càng dễ hiểu hơn, nhất là khi dịch tễ học y khoa đang còn trong những bước chập chững ban đầu. Ký ức về việc sử dụng khí độc bởi quân đội Đức dĩ nhiên vào lúc đó làm dễ sự xuất hiện của một lý thuyết về một vũ khí mới được sử dụng bởi quân đội Đức, một lý thuyết tuy nhiên nhanh chóng bị bác bỏ bởi sự kiện là căn bệnh đã giết chết phe Đức cũng như Đồng Minh. Sau cùng người ta chấp nhận nguồn gốc tự nhiên của dịch bệnh, mà về sau này người ta đã nhận thức rằng căn bệnh này là do một virus, có khả năng gây nhiễm trùng và tăng sinh nơi heo nhưng không giết chết nó, đồng thời có khả năng giết chết một loạt các động vật có vú khác trong đó có khỉ, chuột và người.
(LA SEMAINE MEDICALE 8/10/2009)

4/ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TUỔI THỌ CON NGƯỜI.

Sự gia tăng thời gian hy vọng sống (espérance de vie) sẽ dừng lại vào một ngày nào đó ? Trong những nước phát triển, tuổi thọ trung bình gia tăng 3 tháng mỗi năm từ 160 năm nay. Nhưng nếu tin theo một phân tích được công bố trong số vừa qua của Journal of Population Agening, tương lai sẽ còn dành những mối bất ngờ. “ Cuộc bàn cãi về động lực của tuổi thọ chưa bao giờ công khai như thế, Sarah Harper và Kenneth Howse, thuộc đại học Oxford đã nhấn mạnh như vậy trong một bài báo, liệt kê nhiều yếu tố ảnh hưởng lên tuổi thọ của con người. Thí dụ, nhiều chuyên gia tự hỏi, nếu, trong những quốc gia như Hoa Kỳ, là nơi chứng béo phì là một bệnh dịch thật sự, thì thời gian hy vọng sống (espérance de vie) có thể bị giảm trong những năm đến hay không.

Vào năm 1840, những người Thụy Điển dẫn đầu với một tuổi thọ trung bình 45 năm. Ngày nay, Nhật Bản giữ vị trí này với một tuổi thọ gần 85 tuổi. Trong hai thế kỷ, theo nhà nhân khẩu học James Riley, tuổi thọ toàn bộ của con người đã tăng nhiều hơn gấp đôi đối với những người đàn ông (tuổi thọ trung bình đã chuyển từ 25 tuổi lên 65 tuổi) và gần như gấp ba đối với các phụ nữ (từ 25 lên 70 tuổi).

Không gì có thể nói trước rằng khuynh hướng này sẽ kéo dài vô tận. Tuy vậy câu hỏi có tầm quan trọng. Thật vậy, sự lão hóa dân số chi phối tất cả các chính sách nhà nước, trong việc tính tuổi về hưu cũng như việc tổ chức hệ thống y tế thậm chí sự quy hoạch các hệ thống vận tải nhằm kéo dài tính tự trị của những người già.

Các chuyên gia đã biết giữ thái độ thận trọng. Trong những năm 1920, Louis Dublin, một trong những nhà thống kê giỏi nhất của thời kỳ đó, đánh giá rằng tuổi thọ tối đa của những người Mỹ không bao giờ có thể vượt quá 64 tuổi. Nhưng giới hạn sinh lý tối đa này đã bị phá vỡ. Vào tháng năm 2009, Gerontology Research Group đã thống kê trên thế giới có không dưới 200.000 siêu bách niên (supercentenaires), những người đã vượt quá 110 tuổi.

Trước những năm 1950, sự gia tăng tuổi thọ thường được gán cho sự giảm tỷ lệ tử vong nhi đồng. Sau đó sự gia tăng này được giải thích bởi sự gia tăng mức sống (niveau de vie) cũng như cả một loạt những tiến bộ về vệ sinh, dinh dưỡng, giáo dục và y khoa. Nguy cơ chính liên kết với lối sống trong thế kỷ XX là thuốc lá. “ Những nguy cơ khác trong những nước giàu là một chế độ ăn uống xấu, thiếu thể dục và uống quá nhiều rượu ”, Sarah Harper và Kenneth Howse đã nêu lên như vậy.

Các nhà nghiên cứu Anh nhắc lại rằng tuổi thọ thay đổi tùy theo trình độ xã hội-kinh tế. Nhưng về điểm này, cũng phải dè chừng những định kiến. Thật vậy, một công trình nghiên cứu, được công bố hôm qua trong các bảng tường trình của Viện Hàn Lâm Y học Hoa Kỳ đã cho thấy rằng, suốt trong thời kỳ Đại Suy Thoái (Grande Dépression), giáng vào Hoa Kỳ vào năm 1929, tuổi thọ của những người Mỹ đã nhảy vọt bất ngờ. Tuổi thọ trung bình đã chuyển từ 57 tuổi vào năm 1929 lên hơi hơn 63 tuổi một chút vào năm 1932. Trái lại tuổi thọ đã giảm trong suốt thời kỳ bành trướng kinh tế mạnh mẽ trước thời kỳ Đại Suy Thoái và vào năm 1936-1937. Theo hai tác giả của công trình nghiên cứu, José Tapia Granados và Ana Diez Roux, thuộc Đại Học Michigan, sự gia tăng tuổi thọ này có thể chủ yếu được giải thích bởi việc giảm tiêu thụ rượu và thuốc lá do thất nghiệp cũng như do giảm ô nhiễm kỹ nghệ.

Các phụ nữ có một tuổi thọ lớn hơn tuổi thọ của các người đàn ông. Nhưng nếu ta nhìn kỹ, tình trạng hôn nhân của hai giới tính cũng tạo nên những khác nhau. “ Những người có gia đình có khuynh hướng sống lâu hơn những người độc thân và những người độc thân thì lại có tuổi thọ tốt hơn những người ly dị hay những người bị góa ”, các tác giả đã viết như vậy. Nói về tuổi thọ, hôn nhân có lợi cho đàn ông hơn so với đàn bà.
(LE FIGARO 30/9/2009)

5/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : HƯỚNG VỀ NHỮNG LIỆU PHÁP “ KHU TRÚ ” (THERAPIES FOCALES) .

Nhiều chiến lược mới đang được thử nghiệm, có thể tránh nhưng di chứng của những điều trị cổ điển.

UROLOGIE. Đó là một đường hướng thứ ba đang được mở ra đối với những người đàn ông bị ung thư tuyến tiền liệt (cancer de la prostate). Những điều trị mới, tại chỗ và ít hung hãn, thu được những kết quả đáng phấn khởi, theo những công trình nghiên cứu được trình bày tuần qua nhân một hội nghị quốc tế ở Paris. Hiện nay, các bệnh nhân có hai lựa chọn, tùy theo giai đoạn tiến triển của khối u, tuổi tác và sự ưa thích của họ. Họ có thể là đối tượng của một sự theo dõi tích cực, không phải luôn luôn dễ chịu về mặt tâm lý ; hoặc một phép điều trị tích cực nhằm chữa lành họ (phẫu thuật, phóng xạ liệu pháp). Con đường thứ ba, còn đang được thí nghiệm, là con đường của một điều trị một phần (traitement partiel) của tuyến tiền liệt, giới hạn vào bộ phận khối u (liệu pháp khu trú, thérapie focale).

Trong số những ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện (từ nay hơn 70.000 mỗi năm ở Pháp), một nửa đuợc phẫu thuật. Với sự gia tăng hằng định của thăm khám phát hiện bằng PSA (luôn luôn gây bàn cãi), các thầy thuốc niệu khoa càng ngày càng thường đối đầu với những khối u có kích thước nhỏ, khu trú và ít tiến triển. Chính những bệnh nhân này mà những liệu pháp khu trú (thérapies focales) có thể được đề nghị. Các liệu pháp này nhằm phá hủy các ổ ung thư bằng siêu âm, chính xác là những siêu âm hội tụ có năng lượng cao (ultrasons focalisés de haute énergie), bằng đông lạnh (cryothérapie) hay bằng một tác nhân tăng nhạy sáng (photosensibilisateur) (liệu pháp quang động, photothérapie dynamique).

Được hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu của viện Weizmann (Israel), liệu pháp quang động (photothérapie dynamique), được phát triển bởi công ty Stebabiotech, có đặc điểm là phá hủy các huyết quản cung cấp máu cho khối u. Một thuốc tăng nhạy sáng (molécule photosensibilisante) (một dẫn xuất của chlorophylle được mệnh danh là Tookad), được tiêm bằng đường tĩnh mạch vào trong cơ thể, rồi người ta chiếu sáng nó bằng một sợi laser được đặt duy nhất trong vùng ung thư. Được hoạt hóa bởi ánh sáng như thế (với một độ dài sóng rất chính xác), thuốc tăng nhạy sáng sinh ra những phân tử không ổn định dẫn xuất từ oxy, sẽ làm thuyên tắc các huyết quản và làm ngạt khối u trong vài giờ.

Trên thực tiễn, 5 đến 6 sợi quang học (fibres optiques) được đưa vào qua đường tầng sinh môn, dưới sự kiểm soát của siêu âm. Cuộc phẫu thuật, dưới gây mê tổng quát nhẹ, kéo dài khoảng 1 giờ và bệnh nhân có thể từ giả bệnh viện trong ngày. Được trắc nghiệm trên khoảng 40 bệnh nhân với một ung thư khu trú của tuyến tiền liệt, liệu pháp huyết quản nhắm đích (thérapie vasculaire ciblée) này đã được dung nạp tốt. Theo những kết quả được trình bày bởi GS Mark Emberton (University College, Luân Đôn), nhân colloque được tổ chức bởi hãng Stebabiotech, 1 bệnh nhân trên 18 có một sinh thiết âm tính (không tìm thấy những tế bào ung thư) với 6 tháng nhìn lại. Một hiệu quả thoạt đầu khiêm tốn, nhưng được xem là đáng quan tâm bởi các thầy thuốc niệu khoa. Còn đặc biệt cần phải biết đâu là những kết quả lâu dài hơn. Hãng Stebabiotech đã dự kiến một thử nghiệm khác vào năm 2.010 trên nhiều trăm người ở Châu Âu.

NHỮNG BUỔI LẬP LẠI.

“ Đó là một phép điều trị đơn giản, không gây nên những di chứng đường tiểu và sinh dục, và có lợi điểm có thể lập lại được ”, GS Arnauld Villers, thầy thuốc niệu khoa ở CHU de Lille, một trong những nhà nghiên cứu của thử nghiệm lâm sàng đã giải thích như vậy. Những buổi liệu pháp khu trú có thể được lập lại trong lúc theo dõi, trong trường hợp tái phát tại chỗ hay khi xuất hiện một ổ khác trong tuyến tiền liệt. Tuy nhiên GS Villers xác nhận rằng nếu chiến lược này là khá “ nhẹ nhàng ” đối với bệnh nhân, nó phải kèm theo một theo dõi tương đối xâm nhập : IRM, định lượng PSA trong máu và nhất là sinh thiết tuyến tiền liệt đều đặn.

“ Ngày nay, ta nhận diện được những bệnh nhân với một ung thư tuyến tiền liệt có nguy cơ thấp, và người ta nghĩ là có thể điều trị chúng một cách có hiệu quả bằng những phương pháp khu trú. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và những bất lợi của nó ”, BS Eric Barret thuộc Institut mutualiste Montsouris (PARIS), người cùng tham gia vào các công trình nghiên cứu, đã tổng kết như vậy. “ Nếu những điều hứa hẹn của các liệu pháp khu trú được xác nhận, khoảng 20% các ung thư tuyến tiền liệt có thể được hưởng phương pháp này ”, GS Pascal Rischmann, chủ tịch Hiệp hội niệu học, đã tiên đoán như vậy. Kỹ thuật độc đáo này, dựa trên một chất dẫn xuất của chlorophylle, cũng được trắc nghiệm trong những ung thư phổi và những ung thư của túi mật.
(LE FIGARO 27/10/2009)

6/ MỘT VIRUS ĐƯỢC KHÁM PHÁ TRONG VÀI UNG THƯ CỦA TUYẾN TIỀN LIỆT.

ONCOLOGIE. Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một rétrovirus trong lòng nhiều ung thư của tuyến tiền liệt, nhưng không có thể nói virus có phải là nguyên nhân hay hậu quả của khối u.

Ung thư tuyến tiền liệt phải chăng có thể được liên kết với một siêu vi trùng ? Đó là điều được gợi ý bởi các nhà khoa học Hoa Kỳ, Ila Singh và một nhóm những nhà nghiên cứu của trung tâm y tế của đại học Columbia (Nữu Ước). Các nhà nghiên cứu công bố những kết quả chứng tỏ rằng những ung thư của tuyến tiền liệt, được gọi là cấp cao (de haut grade) (đặc biệt hung hãn), chứa ADN vàc các protéine siêu vi trùng của một rétrovirus được biết là làm nhiễm trùng các con chuột.

Không phải lần đầu tiên mà người ta quy một tác nhân virus cho một ung thư người : các papillomavirus là nguồn gốc của ung thư cổ tử cung, virus của viêm gan B có thể dẫn đến một ung thư gan nguyên phát, và virus Epstein-Barr gây nên lymphome de Burkitt (một khối u của hàm). Nơi người, nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ từ năm 2000 đã chỉ cho thấy rằng nhiễm trùng và viêm nhiễm kinh niên có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của ung thư tuyến tiền liệt.

BA CƠ CHẾ KHÁC NHAU

Virus này thuộc họ các gamma rétrovirus chuột, được biết đến và được sử dụng bởi những nhà nghiên cứu trên thế giới từ hơn 40 năm nay, do những tính chất sinh ung thư thí nghiệm của chúng nơi động vật. Nhưng cho đến nay, không có một gamma rétrovirus nào đã từng cho thấy các khả năng gây nên một ung thư nơi người.

Ila Singh và các cộng sự viên đã phân tích những mẫu nghiệm sinh thiết của 233 trường hợp ung thư tiền liệt tuyến cũng như những mẫu nghiệm lấy nơi 101 bệnh nhân bị một adénome tuyến tiền liệt hiền tính. Để thực hiện điều này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật làm tăng sinh số các sao bản của một mẫu ADN, như vậy cho phép phát hiện nó dễ dàng hơn.

Kết quả : các nhà nghiên cứu đã phát hiện sự hiện diện của ADN của virus trong 14 trong số 233 ung thư tuyến tiền liệt hoặc hơn 6% các trường hợp). Và đặc biệt là trong những thể hung dữ. Họ cũng khảo sát sự hiện diện của những protéine được biểu hiện bởi các gène virus này trong những tế bào tuyến tiền liệt : 23% các mẫu nghiệm chứa những protéine này. Và nhất là, các protéine XMRV được siêu biểu hiện (surexprimé) trong những tế bào biểu bì ác tính của tuyến tiền liệt, điều này cho phép gợi ý rằng nhiễm trùng bởi rétrovirus này có thể có một vai trò trong quá trình ung thư hóa trong vài trường hợp.

Các rétrovirus có thể gây nên một ung thư bằng ba cơ chế khác nhau: cơ chế đầu tiên do sự hiện diện trong bộ gène (génome) của virus một gène sinh ung thư (oncogène) tăng sinh trong tế bào chủ và gây nên một sự biến hóa khối u nhanh chóng. Cơ chế thứ hai là sự “ châm lửa ” (allumage) của các gène tăng trưởng tế bào của người bởi một gène của virus, và cơ chế thứ ba là sự đưa vào trực tiếp trong các gène người một mẫu ADN virus, sẽ phát khởi sự biểu hiện của một gène ung thư. Công trình nghiên cứu này trong tương lai sẽ có thể dẫn đến những phát hiện mới những chất chỉ dấu ung thư (marqueurs cancéreux)
(LE FIGARO 9/9/2009)

Đọc thêm : Siêu vi trùng XMVR liên hệ Ung Thư Nhiếp Hộ Tuyến - Bác Sĩ Trần Mạnh Ngô

7/ UNG THƯ VÚ : TIÊN LƯỢNG TỐT HƠN VỚI ĐIỀU TRỊ NHẮM ĐÍCH.
BS Véronique Diéras, thầy thuốc chuyên khoa ung thư thuộc Viện Curie, giải thích những tiến bộ quan trọng, được thực hiện trong các ung thư vú, được trình bày tại Hội Nghị Asco, Hoa Kỳ.

Hỏi : Bà có thể nhắc lại tần số của các ung thư vú ở Pháp ?
Véronique Diéras : Người ta đã thống kê được 51.000 trường hợp vào năm 2008. Trung bình cứ 8 phụ nữ đang có hoặc sẽ có một ung thư vú. Nhưng hiện nay người ta quan sát thấy hơn 70% được chữa lành.

Hỏi : Các loại khác nhau của ung thư vú là gi ?
Véronique Diéras : Người ta xếp chúng thành 3 loại.
  • Những ung thư phụ thuộc kích thích tố (hormono-dépendants), trong đó những tế bào ung thư có những thụ thể (récepteur) đối với œstrogène và progestérone, những hormone làm dễ sự tăng sinh những tế bào ác tính (khoảng 70% các ung thư).

  • Các ung thư “ HER dương tính ” (20% các khối u), hung hãn hơn nhiều, có trên bề mặt của những tế bào một thụ thể HER2. Chỉ một mình nó, HER2 gây nên sự tăng sinh của những tế bào ung thư và làm dễ sự phân tán của chúng để tạo nên các di căn.

  • Các ung thư “ cả ba âm tính ” (triple négatif), không có một thụ thể nào và còn hung hãn hơn các loại trước.

Hỏi : Ngoài ngoại khoa, bức xạ liệu pháp, hóa học liệu pháp, những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) ngày nay được sử dụng là gì ?
Véronique Diéras : Đối với những ung thư phụ thuộc kích thích tố (cancers hormono-dépendants), các thuốc kháng kích thích tố (antihormonaux) là chìa khóa của điều trị. Mục đích là chống lại một cách đặc hiệu các tác dụng của các hormone trong tế bào ung thư.
  • Đầu đàng của những thứ thuốc này nơi những phụ nữ trẻ hay mãn kinh là tamoxifène (Nolvadex). Dược chất này cạnh tranh với các oestrogène nơi thụ thể và phong bế tác dụng của nó.

  • Các chất ức chế men aromatase chỉ duy nhất được sử dụng nơi các phụ nữ mãn kinh. Aromatase là một enzyme chịu trách nhiệm sự sản xuất oestrogène nơi các mô mỡ và vú.

  • Một thuốc khác mới hơn, luôn luôn dành cho các phụ nữ mãn kinh : fulvestrant (chích mông) gây nên sự thoái hóa của các thụ thể đối với œstrogène.

Hỏi : Những kết quả của những điều trị nhắm đích này ?
Véronique Diéras : Trong đại đa số các trường hợp, những điều trị này là có hiệu quả. Tamoxifène có lẽ là thuốc đã cứu nhiêu mạng người nhất trong 30 năm vừa qua ! Nhưng nơi những bệnh nhân này người ta quan sát thấy một sự đề kháng với kích thích tố liệu pháp (hormonothérapie). Lúc đó ta có hai giải pháp : hoặc là ta biến đổi điều trị, hoặc là ta dự kiến một hóa học liệu pháp. Các kết quả thay đổi tùy theo những đặc điểm sinh học của khối u và những đặc điểm chung của mỗi bệnh nhân.

Hỏi : Bà có thể giải thích các đặc điểm di truyền nghĩa là thế nào ?
Véronique Diéras : Một thứ thuốc nhắm đích (médicament ciblé), một khi được đưa vào trong cơ thể, sẽ chịu những biến hóa, thay đổi tùy theo các chuyển hóa, trước khi đạt đến mục đích của nó. Vì tất cả chúng ta khác nhau về mặt di truyền, cùng một thứ thuốc sẽ không có cùng hiệu quả nơi tất cả các bệnh nhân. Trong tương lai, lý tưởng sẽ là kê toa một điều trị chống ung thư không chỉ tùy theo khối u mà còn tùy theo các gène nữa.

Hỏi : Đối với những ung thư phụ thuộc hormone, những tiến bộ đạt được là gì ?
Véronique Diéras : Những nghiên cứu quốc tế hiện nay đang đươc tiến hành trên những phụ nữ bị những tái phát dưới hormone liệu pháp, để phát triển những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới, với những thứ thuốc sẽ tăng cường tính hiệu quả của các thuốc chống hormone hiện nay hay để ngăn ngừa các đề kháng. Ở Viện Curie, chúng tôi đã có những kết quả đáng phấn khởi, sẽ được xác nhận trong một tương lai gần.

Hỏi : Đối với các loại ung thư “ HER2 dương tính ”, những tiến bộ đi đến đâu rồi ?
Véronique Diéras : Người ta đã chứng kiến một cuộc cách mạng thật sự với sự xuất hiện của herceptine, một kháng thể được tiêm bằng đường tĩnh mạch, làm phong tỏa hoạt tính của thụ thể HER2. Được liên kết với hóa học liệu pháp, phép điều trị này đã cho phép làm giảm 35% nguy cơ tái phát và, trong tình huống ung thư, biến đổi ung thư thành bệnh mãn tính. Nhưng lại còn những đề kháng. Một loại thuốc mới đây tác dụng lên một chỗ khác của thụ thể, lapatinib, cho phép, trong trường hợp tái phát, kềm hãm sự tăng sinh của những tế bào ung thư. Một phương pháp mới dường như rất hứa hẹn : phương pháp này nhằm chế tạo trong phòng thí nghiệm cùng thứ thuốc liên kết herceptine với một thuốc của hóa học liệu pháp. Với kỹ thuật này, thuốc có độc tính chỉ được phóng thích trong lòng tế bào khối u và không còn trong những tế bào lành mạnh nữa : không còn rụng tóc nữa và ít những tác dụng phụ hơn nhiều.

Hỏi : Về những ung thư “ ba âm tính ” (cancers triple négatif), tiến bộ đạt được là gì ?
Véronique Diéras : Chống lại những khối u này, hiện nay chỉ có hóa học liệu pháp. Người ta liên kết hóa học liệu pháp với một điều trị chống sinh mạch máu (traitement angiogénique), được tiêm tĩnh mạch, nhằm vào các huyết quản nuôi dưỡng khối u. Với phương thức này, tiếc thay người ta đã ghi nhận một số lớn các tái phát, do đó hiệu chính một điều trị mới. Trong mỗi tế bào có enzyme Parp mà vai trò là sửa chữa các thương tổn của ADN. Thế mà, chính enzyme này có thể chống lại tác dụng của một hóa học liệu pháp và làm thất bại nó. Thuốc mới là một chất ức chế Parp, do đó nhằm trung hòa enzyme này. Các kết quả đã tỏ ra rất dương tính với các thuốc mới (cho bằng đường tĩnh mạch) liên kết với một hóa học liệu pháp. Chúng đã tăng gấp ba các tỷ lệ đáp ứng và thời gia đáp ứng so với hóa học liệu pháp được dùng đơn độc. Để có thể thực hiện những điều trị này, mức độ chính xác của sinh thiết là cốt yếu.
(PARIS MATCH 22/10-28/10/2009)

8/ METFORMINE KẾT HỢP VỚI HÓA HỌC LIỆU PHÁP TRONG ĐIỀU TRỊ VÀI UNG THƯ ?

Metformine (Glucophage) là một trong các thuốc chống đái đường được kê toa nhiều nhất trên thế giới, do vai trò quan trọng của nó trong kiểm soát đường huyết. Nhưng như chúng ta đã thấy với những thứ thuốc khác, đó không phải là tác dụng đáng lưu ý duy nhất. Ngày nay, càng ngày càng có nhiều dữ kiện gợi ý rằng metformine có thể kích thích hệ miễn dịch và làm tăng cường hiệu quả của các điều trị chống ung thư. Đó là một dữ kiện quan trọng khi ta biết rằng trên một tập hợp gần 1 triệu người, tỷ lệ tử vong do ung thư là 29% cao hơn nơi những người có những nồng độ đường trong máu tăng cao, độc lập với sự nghiện thuốc lá hay nghiện rượu.

Một nghiên cứu cho thấy rằng metformine, nếu được dùng riêng rẻ để điều trị, được liên kết với một nguy cơ ung thư thấp hơn so với những điều trị khác. Còn hơn thế, kết hợp nó với insuline cũng làm giảm nguy cơ này đối với ung thư tụy tạng hay đại tràng, nhưng không đối với ung thư vú hay ung thư tiền liệt tuyến. “ Sự việc lại còn đi xa hơn nữa khi hai công trình nghiên cứu mới đây mà một cho thấy một đáp ứng tốt hơn với hóa học liệu pháp nơi những người bị bệnh đái đường với ung thư vú, được điều trị bởi metformine ”, GS Ulf Smith, chủ tịch của Hiệp hội châu Âu nghiên cứu bệnh đái đường đã nói như vậy.

Dầu ở người như thế nào, các dữ kiện lại còn hùng hồn nơi động vật với sự chứng minh rằng metformine ức chế các tế bào gốc ung thư khi metformine được liên kết với doxorubicine. Với sự dè dặt cần được xác nhận, có lẽ chúng ta đang trong buổi bình minh của một cuộc cách mạng trị liệu trong điều trị vài bệnh ung thư.

Hội Nghị lần thứ 45 của European Association for the Study of Diabetes, 29/9- 2/10 2009, Vienne.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/10/2009)

9/ CÁC TẾ BÀO GỐC : TỪ Y KHOA ĐẾN MỸ PHẨM HỌC.

Những nghiên cứu về tế bào gốc không ngừng làm ngạc nhiên bởi vì chúng mở ra một con đường sinh học điều trị mới, ngay cả trong lãnh vực sắc đẹp.

DECOUVERTE : Không một ngày nào trôi qua mà không có một công bố khoa học nói về những triễn vọng y khoa mới hay các chiến lược điều trị tiên tiến về các tế bào gốc.

Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì các tế bào gốc ngày nay là niềm hy vọng lớn nhất của y học để điều trị vài căn bệnh. Để hiểu rõ, phải biết rằng những tế bào gốc phôi thai (cellulues souches embryonnaires) có khả năng tái tạo bất cứ mô hay cơ quan nào. Cuối thời kỳ phát triển, mỗi mô là chỗ tạm trú của những tế bào gốc được gọi là trưởng thành. Những tế bào này nói chung “ nằm im” (dormant) và sẵn sàng trở nên hoạt động dưới thông tin của vài messager sinh học. Thật vậy, chúng có khả năng thay thế các tế bào bị thương tổn. Do đó ta hiểu tại sao các nhà nghiên cứu hâm mộ di sản quý báu này. Được phân lập và cấy trong phòng thí nghiệm, các tế bào gốc sau đó có thể sản xuất những tế bào có khả năng điều trị những dạng đái đường khác nhau, các đột qụy, và ngay cả vài bệnh lý có tính chất di truyền. Thí dụ khác với những người bị bỏng nặng : một mẫu mô trích từ da lành cho phép tái tạo các mô để ghép và như thế giải quyết những vấn đề thải bỏ (rejet).

Cũng vậy đối với những vùng của tim bị làm hỏng bởi một nhồi máu cơ tim mà chúng ta sẽ tái định cư bằng những tế bào gốc có khả năng tái lập ở đó một sự hoạt động. Khi chúng ta chứng kiến sự gia tăng không thể tin được của số những người bị bệnh tim mạch trong những xã hội hiện đại của chúng ta, các liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) đúng là sẽ mang lại niềm hy vọng.

Một trong những khám phá mới nhất (và còn mở ra những triển vọng mới) đã được thực hiện bởi một nhóm những nhà nghiên cứu của đại học Canada và được công bố trong tạp chí “ Stem Cells”. Sự liên kết của một hormone được sản xuất bởi cơ thể (interféron gamma) với một nhóm tế bào gốc đa năng nào đó có thể làm dễ sự tăng trưởng của các xương. Áp dụng y khoa để điều trị bệnh loãng xương là cần thiết. Hãy nhắc lại rằng, theo OMS, căn bệnh này có liên quan một phụ nữ trên 4 sau 50 tuổi.

CÁC TẾ BÀO GỐC VÀ THẨM MỸ HỌC.

Thẩm mỹ học (cosmétique) cũng quan tâm đến những tế bào gốc, do khả năng làm tái sinh da của chúng. Những tế bào gốc biểu bì nằm trên màng căn bản (membrane basale), ở chỗ nối bì-biểu bì (jonction dermo-épidermique). Sau khi đã nhận thức nhanh chóng tiềm năng của chúng, các Laboratoires de Recherche Avancée mà Lancôme được hưởng, đã thực hiện từ hơn 20 năm qua những nghiên cứu sâu về chủ đề này.

Các nhà khoa học như thế đã thực hiện một cuộc khám phá quyết định và gây ngạc nhiên : số các tế bào gốc biểu bì và hậu duệ của chúng không giảm đi với tuổi tác nhưng chức năng của chúng bị xáo trộn rất nhiều. Trong lúc nghiên cứu ảnh hưởng của những biến đổi của chỗ nối bì-biểu bì, họ cũng phát hiện được tầm quan trọng của môi trường của những tế bào gốc đối với khả năng hoạt động của chúng.

Bằng cách tái tạo một môi trường tối ưu, biểu bì của một lớp da được tái tạo có khả năng tái sinh thấp, lấy lại tiềm năng tái tạo tương tự với tiềm năng của một lớp da trẻ.

Ngày nay, sau hai thập niên nghiên cứu, Lancôme hưởng được những kết quả của những công trình nghiên cứu này và thực hiện một cuộc cách mạng thẩm mỹ học : Absoluev Precious Cells, một loạt những điều trị tái sinh và tái tạo đối với những phụ nữ trên 50 tuổi. Triển khai trở lại tiềm năng tái tạo, da thêm được mật độ và những làn nhăn được giảm đi một cách đáng kể. Từ y khoa đến sắc đẹp, chỉ cần bước một bước...đã vượt qua.
(LE FIGARO 24-25/10/2009)

10/ MỔ CÁC KHỐI U CỦA NÃO BỘ : MỘT CUỘC CÁCH MẠNG KỸ THUẬT (PHẦN I)

Những tiến bộ, được thực hiện trong những năm qua, từ nay cho phép điều trị các thương tổn của não bộ trước đây không thể mổ được. Ngày nay, người thầy thuốc có thể sửa soạn cuộc phẫu thuật trên ordinareur như một kế hoạch bay (plan de vol), có thể kiểm tra trong lúc mổ vị trí những vùng não bộ và, trong vài trường hợp, điều trị không cần phải mở hộp sọ. Chính để cho các bạn biết tất cả những thành tích này mà chúng tôi đã phỏng vấn 6 chuyên gia lớn. B.S Sorin Aldea, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Foch, G.S Alexandre Carpentier, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, B.S Laurent Capelle, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, B.S Stephan Gaillard, trưởng khoa ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Foch, G.S Jean-Jacques Mazeron, trưởng khoa quang tuyến liệu pháp ung thư thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, B.S Charles-Ambroise Valéry, thầy thuốc ngoại thần kinh thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière

NGOẠI KHOA MỞ HỘP SỌ KẾ HOẠCH HÓA NHỜ MÁY VI TINH.

Lúc hay tin rằng họ bị một khối u não, các bệnh nhân như có cảm giác bị một cú chùy ! BS Laurent Capelle đã công nhận như vậy. Chữ khối u đã làm họ sợ ...nhưng trong não bộ, ở đó, họ hoảng sợ. Phải trấn an, giải thích rằng, mặc dầu hình ảnh gây ấn tượng, nhưng não bộ có thể “ cùng chung sống với ”, có thể bù trừ. Điều này cho phép có nhiều khả năng điều trị.”

Các khối u của não bộ có thể hiền tính : các u màng não (ménigiome), u tuyến não thùy (adénome hypophysaire), các u thần kinh đệm (gliome) mức độ thấp...) hay ác tính : các di căn, các u thần kinh đệm mức độ cao, các u nguyên bào thần kinh (glioblastomes). “ Các di căn, BS Stephan Gaillard đã chứng thực như vậy, xảy ra thường hơn các u thần kinh đệm (gliomes) : vì lẽ các ung thư càng ngày càng được điều trị tốt hơn và bệnh nhân sống càng ngày càng lâu hơn, điều này, trong vài trường hợp, cho phép có thể có thời gian phát triển một di căn. Nhưng dầu cho thương tổn là hiền tính hay ác tính, nó luôn có cùng vấn đề : đó là thể tích của khối u. Vì sọ là một hộp không thể căng giãn được, do đó nếu khối u trở nên quá lớn, nó sẽ gây nên tăng áp lực trong sọ và ảnh hưởng lên tiên lượng sinh tồn.”

“ NEURONAVIGATION ” (HÀNH THẦN KINH) ĐỐI VỚI THẦY THUỐC NGOẠI THẦN KINH CŨNG NHƯ GPS ĐỐI VỚI NGƯỜI LÁI XE HƠI.

“ Để giải quyết vấn đề thể tích, người ta thực hiện ngay cắt bỏ khối u, mỗi khi có thể được, các BS Stephan Gaillard và Sorin Aldea đã giải thích như vậy. Tuy nhiên, vài định vị ngăn cản sự cắt bỏ hoàn toàn và ngay cả một phần : phẫu thuật không được để lại những di chứng gây tàn phế. Nếu người ta phẫu thuật trong một vùng chức năng, người ta có thể gây nên một tật nguyền quan trọng. Những vùng não bộ có nguy cơ nhất là những vùng vận động, ngôn ngữ, những cấu trúc nằm sâu (những nhân trung ương), ngày nay dễ xác định nhờ những kỹ thuật IRM mới. Khi một khối u ở một vị trí quá bất lợi, người ta thích sử dụng một kỹ thuật khác hơn, thí dụ quang tuyến trị liệu.”

Để mổ một thương tổn não bộ với một sự chính xác tối đa, một tiến bộ đáng kể đã được thực hiện với sự hiệu chính của một protocole giải phẫu có máy vi tính hỗ trợ : hành thần kinh (neuronavigation). Đó là một kỹ thuật mũi nhọn cho phép phẫu thuật viên định hướng tốt trong lúc phẫu thuật ; hành thần kinh đối với thầy thuốc ngoại thần kinh cũng tương tự như GPS đối với người lái xe hơi.Một cách cụ thể, vài giờ hoặc vài ngày trước khi giải phẫu, bệnh nhân được chụp IRM. Hình ảnh não sau đó được tích trữ trong một ordinateur (đơn vị informatique trung ương được trang bị một màn ảnh, một pointeur, hay bút chì quang học, và hai caméra). Ordinateur này tái tạo lại hình ảnh theo 3 chiều không gian. Ở phòng mổ, ordinateur này sẽ giúp phẫu thuật viên trong tất các các động tác. Ngày J, nhờ pointeur phát ra một bức xạ hồng ngoại (xuất hiện trên màn ảnh), thầy thuốc ngoại thần kinh bắt đầu thực hiện một recalage giữa sọ của bệnh nhân nằm dài trên bàn và hình ảnh trên màn ảnh. Nhờ kỹ thuật này, công cụ phi thường đã cho phép nhà phẫu thuật, hôm trước, hoạch định rất chính xác protocole mổ, người thầy thuốc biết rất chính xác ông ta đang ở đâu so với mục tiêu và những cấu trúc cần phải được tôn trọng. Đối với BS Stephan Gaillard, “ với kỹ thuật này, người ta hưởng được một độ chính xác cao hơn độ chính xác do mắt người đem lại ! Một tiến bộ quan trọng khác là sự hiệu chính các dao mổ ít xâm nhập hơn, cho phép ngày nay chúng ta mổ những nơi hôm qua không thể tiến đến được ; các dao mổ siêu âm (bistours à ultrasons) đối với những khối u mềm, và những dao mổ khác bằng laser (bistouris au laser) đối với những khối u rắn hơn. ”

NHỮNG KỸ THUẬT HÌNH ẢNH MỚI NHẤT TỐI ƯU CHẤT LƯỢNG CÁC ĐỘNG TÁC PHẪU THUẬT.

Với tinh thần sáng tạo, các nhà kỹ sư, các thầy thuốc quang tuyến thần kinh và ngoại thần kinh không ngừng cải thiện các hiệu năng. “ Một phương thức mới, GS Alexandre Carpentier đã giải thích như vậy, nhằm thực hiện, trong lúc mổ, siêu âm của một khối u não bộ để kết hợp hình ảnh này với hình ảnh của IRM được thực hiện hôm trước, tạo nên một hỗ trợ rất quý báu ! Thật vậy, IRM vẫn là một hình ảnh cố định trong khi siêu âm cho phép thấy được tiến triển của động tác phẫu thuật. Điều đó cho phép chúng ta có được một mức độ an toàn lớn hơn của các động tác và một sự cắt bỏ lại còn hoàn chỉnh hơn. ”

Đối với vài trường hợp mà sự cắt bỏ của một khối u có vẻ rất tế nhị lúc thực hiện, các thầy thuốc quang tuyến thần kinh đã hiệu chính kỹ thuật “ IRM fonctionnelle ”, cho phép thấy những chức năng của vài vùng não bộ. Tiến bộ khác : các máy IRM đã được thiết kế đặc biệt để được thiết đặt ở phòng mổ nhằm đưa bệnh nhân vào đó trong lúc can thiệp sọ mở. Ở Pháp, bệnh viện Quân Đội, ở Toulon đã có thể được trang bị một máy như thế.

ĐỂ TÔI ƯU HÓA PHẪU THUẬT CỦA MỘT KHỐI U UNG THƯ : CÁC HY VỌNG CỦA MỘT HÓA HỌC LIỆU PHÁP.

“ Một vài loại thuốc chống ung thư, GS Alexandre Carpentier đã giải thích như vậy, đến não một cách khó khăn do hàng rào bảo vệ máu-não (barrière hémato-encéphalique) bao quanh các huyết quản của nó.Từ đó nảy ra ý tưởng, vào lúc phẫu thuật mổ sọ, tiêm vài loại thuốc chống ung thư vào nơi phẫu thuật.” Đến nay, người ta vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu.

Những kết quả thu được với tất cả những tiến bộ kỹ thuật này là gì ? Nhìn toàn bộ, các kết quả đều tốt, BS Stephan Gaillard đã đảm bảo như vậy. Sau can thiệp ngoại khoa, mặc dầu tất các các thận trọng, vẫn còn thấy các thiếu sót, như sự bại liệt một phần, nhưng thường là tạm thời bởi vì não bộ có khá năng bù trừ kỳ lạ ! Đối với vài khối u mà sự cắt bỏ đã không thể hoàn toàn bởi vì định vị của nó, ngày nay ta có thể bổ sung điều trị bằng một kỹ thuật ngoại quang tuyến (radiochirurgie) hay phóng xạ liệu pháp (radiothérapie).” “ Hiện nay, BS Laurent Capelle nói tiếp, người ta ước tính rằng tỷ lệ tử vong do giải phẫu gần zéro và tỷ lệ các di chứng vĩnh viễn là dưới 5%. Khi người ta giải thích cho các bệnh nhân rằng các kỹ thuật mới nhất cho phép làm tốt hơn với ít những nguy cơ hơn, người ta nói với họ sự thật ! ”
(xem tiếp số đến)
(PARIS MATCH 28/5- 3/6/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (14/11/2009)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san khoa

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969