Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 77
Lượt truy cập: 1026971
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT ÍT LỊCH SỬ VỀ SỰ CHỐNG THỤ THAI.

Lịch sử của viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) tất nhiên liên kết với lịch sử của sự chống thụ thai (contraception). Tài liệu xưa cổ nhất bàn về sự chống thụ thai, papyrus để Kahun, đã có cách nay 4000 năm và mô tả các thuốc chống thụ thai với chất căn bản là bột men (levain), được sử dụng bởi các phụ nữ trong thời Ai Cập cổ đại. Sau đó, suốt trong nhiều thế kỷ, các túi dương vật (préservatif) bằng da cừu, dê, rắn,v...v đã được sử dụng trong nhiều xã hội, nhất là ở Pháp.

Kỷ nguyên chống thụ thai hiện đại đã bắt đầu với những nghiên cứu khoa học về chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ. Chính vào năm 1901, nhà sinh lý học người Áo Ludwig Haberlandt (1885-1932) đã thực hiện một khám phá chủ yếu : ông đã chứng minh rằng kinh nguyệt phụ thuộc vào các hormone (các hormone não bộ kích thích nang trứng FSH và thể vàng (LH) và những hormone buồng trứng oestradiol và progestérone), được sản xuất bởi não bộ và các buồng trứng. Vào năm 1921, nhà nghiên cứu này đã cho thấy rằng, việc tiêm các trích chất buồng trứng của thỏ có thai cho phép làm tuyệt sinh sản tạm thời, bằng cách ngăn cản hay làm chậm lại sự rụng trứng của người phụ nữ. Điều này đã khiến nhà nghiên cứu chế ra thuốc chống thụ thai bằng hormone (contraceptif hormonal) đầu tiên dưới dạng tiêm chích, chứa các hormone phát xuất từ sự thanh lọc các trích chất của buồng trứng. Những thuốc chống thụ thai đầu tiên này là quá đắt nên không thể được thương mãi hóa với quy mô lớn...

CÁC HORMONE TỔNG HỢP.

Chính vì thế mà Margaret Sanger, nữ y tá và người sáng lập kế hoạch hóa gia đình ở Nữu Ước, và Katherine Dexter McCormick, nhà sinh vật học nữ Hoa Kỳ, đã thuyết phục nhà sinh vật học và thầy thuốc Hoa Kỳ Gregory Pincus (1903-1967) phát triển một viên thuốc dễ phổ cập hơn. Chính Pincus đã nghĩ đến việc cho progestérone và oestradiol để phong bế sự rụng trứng. Ông đã có ý nghĩ đó sau khi đã thực hiện, một cách nhân tạo, sự ngăn cản rụng trứng bằng cách cho các động vật cái hai chất progestérone và oestradiol này.

Viên thuốc chống thụ thai có chất căn bản hormone tổng hợp đầu tiên đã có từ năm 1955. Vào năm 1956, viên thuốc này đã được trắc nghiệm trên 250 phụ nữ cư ngụ trong một vùng ngoại ô nghèo của Porto , trước khi Cơ quan dược phẩm Hoa Kỳ cho phép thương mãi hóa nó vào tháng năm 1960.

Nếu ở Đức, viên thuốc chống thụ thai đầu tiên được phát hành ngay năm 1961 bởi hãng dược phẩm Đức Schering, thì ở Pháp, phải đợi đến năm 1967 viên thuốc này mới được bán ở các hiệu thuốc. Chính đạo luật của dân biểu Lucien Neuwirth đã bật đèn xanh để đưa thuốc bán ra thị trường, bãi bỏ đạo luật 30 tháng 7 năm 1920, khi đạo luật này, nhằm chấn hưng dân số, đã cấm mọi biện pháp chống thụ thai. Từ đó, các thành phần tổng hợp và các liều lượng của viên thuốc chống thụ thai đã thay đổi, bởi vì tất cả các phụ nữ không phản ứng như nhau đối với sự sử dụng loại thuốc này : cùng một viên thuốc chống thụ thai, vài phụ nữ cảm thấy nhiều phản ứng phụ trong khi những phụ nữ khác lại không cảm thấy một phản ứng nào.

LÀM GIẢM CÁC TRƯỜNG HỢP SẨY THAI.

Vào năm 1975, hãng Schering đã đưa ra thị trường “ viên thuốc vi liều lượng ” (pilules minidosées) đầu tiên (cũng được gọi là “ minipilule ” ; 20 đến 30 microgramme oestrogène, thay vì 50). Những viên thuốc này đã dần dần thay thế những viên thuốc chống thụ thai có liều lượng mạnh, được gọi là những “ viên thuốc liều lượng bình thường ” (pilules normodosées), chứa các hormone tổng hợp, progestérone đơn độc hay kết hợp với oestrogène. Ưu điểm của “ viên thuốc vi liều lượng ” (pilule minidosée) : thuốc có ít những tác dụng phụ hơn (lên cân, ứ máu ở vú, nguy cơ ung thư vú, ung thư cổ tử cung...).

Ngày nay, mỗi ngày có hơn 110 triệu phụ nữ dùng thuốc chống thụ thai thuộc loại này (pilules minidosées). Còn về viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain), “ Norlevo ”, thuốc chống thụ thai này đã được đưa ra thị trường bởi hãng bào chế HRA Pharma ở Pháp (quốc gia đầu tiên cho phép lưu hành) vào tháng sáu 1999. Sự sử dụng thuốc này đã được dân chủ hóa bắt đầu từ năm 2000, khi Ségolène Royal, khi đó là thứ trưởng Bộ Giáo dục, đã mang lại cho nước Pháp đạo luật 13/12/2000, liên quan đến sự chống thụ thai cấp cứu (contraception d’urgence). Đạo luật quy định rằng các thuốc chống thụ thai cấp cứu, vì đã được chứng tỏ về mặt an toàn, nên “ không phải cần toa bác sĩ ” nữa. Ngoài ra, bản văn của đạo luật này chỉ rõ rằng, các thuốc chống thụ thai cấp cứu (contraceptifs d’urgence) có thể được phát miễn phí “ cho các các thiếu nữ vị thành niên, mong muốn được giữ bí mật, trong các hiệu thuốc hay, trong trường hợp đặc biệt, bởi một nữ y tá, trong các trường học đệ nhị cấp ”, Mục tiêu của chính quyền lúc đó là để giảm các trường hợp sẩy thai. Đó là lý do tại sao từ đó viên thuốc của ngày hôm sau được bán tự do.

Đối với viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) EllaOne, Ủy ban châu Âu đã đồng ý cho phép để đưa ra thị trường vào tháng năm 2009. Sau đó viên thuốc bé nhỏ màu trắng này đã được trình bày, dành riêng cho thế giới, tại Hội Nghị Châu Âu lần thứ 8 của Hiệp Hội Phụ Khoa, được tổ chức ở Rome từ 10 đến 13 tháng 9. Từ 24/9, bởi vì Cơ quan các dược phẩm của Châu Âu đã bật đèn xanh cho phép đưa thuốc này ra thị trường, nên người ta có thể mua nó với toa bác sĩ nơi các hiệu thuốc ở Pháp, Đức và Anh. Trong tương lai, cũng như viên thuốc của ngày hôm sau, viên thuốc của ngày hôm sau nữa sẽ được bán tự do, sau khi thuốc đã được chứng tỏ về mặt an toàn.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 98 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (23/10/2008 )

1/ CÁC PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI QUA THỜI GIAN

Tùy theo thời kỳ và nơi chốn, ước muốn giới hạn sinh đẻ được thể hiện vì những lý do dân số, đạo đức, thẩm mỹ hay một cách giản đơn là để tách sự khoái lạc với sự sinh sản. Dầu thế nào đi nữa, trong bất cứ thời kỳ nào và trong tất các các nền văn minh, sự ngừa thai là một bộ phận của cuộc sống hàng ngày và tạo nên một mối quan tâm quan trọng. Do đó con người đã tưởng tượng ra rất nhiều phương pháp để cứu chữa những hậu quả không được mong muốn của động tác giao hợp. Từ những phương thức êm ái nhất đến những phương cách thô bạo nhất, sau đây là một sơ lược những phương tiện ngừa thai ngày xưa.

Những tài liệu bắt đầu có từ hơn 4000 năm chỉ rõ rằng những người cổ Ai Cập sử dụng các viên đạn âm đạo (suppositoires vaginaux), được cấu tạo bởi bột men (pâte de levain), mật hay phân cá sấu để bảo vệ chống lại một thai nghén không được mong muốn.Tuy nhiên, người ta xác nhận rằng các sản phẩm này phải được đưa vào trong âm đạo trước khi giao hợp, điều này tạo nên một sự kiện đáng lưu ý vào thời kỳ đó, nhưng tiếc thay rất mau bị chóng quên vì lẽ hầu hết các phương pháp về sau này đều được quy định dùng sau khi sinh. Để bảo vệ chống lại các bệnh phong tình, các người lính Ai cập che phủ bộ phận sinh dục của họ bằng ruột cừu và như thế cho ra đời những túi dương vật (préservatif) đầu tiên, 3000 năm trước công nguyên.

Những phương pháp khác còn được mô tả trong papyrus de Berlin (1.300 trước công nguyên), trong đó người ta nhận thấy những chỉ dẫn về một sự hun khói (fumigation) kết hợp với một hỗn hợp gồm có mỡ, cỏ và bia ngọt để uống vào lúc thức dậy, suốt trong 4 ngày ! Có lẽ hiệu quả hơn : những phụ nữ Ai Cập không do dự đưa vào trong âm đạo của họ một nửa của quả trái cây được khoét rỗng để che phủ cổ tử cung, mặt khác, dạng mũ cổ tử cung (cape cervicale) này có lẽ đã được chính Cléopâtre sử dụng.

LÀM MAU LÊN CHỨ !

Trong thời cổ Hy lạp, các thầy thuốc cho toa các công thức pha chế phát xuất từ cổ truyền dân gian. Soranos d’Ephèse và các đồ đệ chủ trương, nơi những phụ nữ quá trẻ hay có cuộc sống bị đe dọa nếu có thai, không được làm sẩy thai, mà phải sử dụng những phương pháp nhằm không để cho tinh dịch của người đàn ông đi vào trong tử cung. Để được như vậy họ cho những lời khuyên rất chính xác như đưa vào trong tử cung những thuốc đạn (suppositoire) chứa những sản phẩm có tác dụng làm thắt chặt cổ tử cung (nghệ, acacia, mandragore...) hoặc đóng lối vào của cổ tử cung với các nút (tampon) bằng len. Họ cũng khuyên các phụ nữ đứng dậy ngay sau mỗi lần giao hợp, hách xì, bước, nhảy, làm những cử động thô bạo và đừng do dự khi phải bước lên các xe bò (tình trạng đường xá thời đó rất thuận lợi cho những rung chuyển !). Nếu, mặc dầu những lời khuyên này, tinh trùng vẫn đi vào tử cung, Soranos chủ trương trích máu (saignée) nhưng thường tránh làm sẩy thai. Các loại thuốc sắc (tisanes) khác nhau còn được pha chế và tiêu thụ vì những tính chất ngừa thai. Trong số những thuốc sắc này, chúng ta hãy kể dầu olive, dây thường xuân (lierre), cây liễu, cây phong (peuplier), cây thông tuyết (cèdre), bạc hà cay (menthe poivrée), cây đào gai (aubépine). Việc kiêng nhịn (abstinence) trong những thời kỳ sinh sản dĩ nhiên được khuyên nhủ mặc dầu bây giờ chúng ta biết rằng tiền nhân hiểu lầm về chu kỳ kinh nguyệt. Những người La mã sử dụng cùng những phương thức, đồng thời nhờ đến thụt rửa âm đạo sau giao hợp (douche vaginale postcoitale). Để làm được điều đó, các nhà quý tộc phải nhờ đến một người nô lệ sau mỗi lần giao hợp. Họ cũng chế tạo một loại túi dương vật được cấu tạo bởi ruột và bàng quang động vật. Điều kỳ lạ là thời Thượng Cổ người ta không đề cập đến phương pháp rút dương vật (retrait), mặc dầu thoạt nhìn điều này rất là hiển nhiên. Tuy nhiên phương pháp rút dương vật này được ghi chú trong Thánh kinh với câu chuyện Oran, trong Talmud và nơi những người musulman.

TRIỆT ĐỂ HƠN : GIẾT CON MỚI ĐẺ

Dĩ nhiên những người thời xưa đã không luôn luôn có thể làm chủ được việc sinh đẻ như họ mong muốn, do đó họ đã dùng một phương pháp triệt để hơn nhiều, đó là giết con mới đẻ (infanticide) ! Đó là chuyện thường xảy ra ở thời Thượng cổ, là thời người ta ít coi trọng cuộc sống của các trẻ em. Dầu đó là Hippocrate, Soranos hay Platon, tất cả đều nhất trí xét đoán “ những trẻ nào nên được nuôi nấng dạy dỗ ” . Hãy nhắc lại rằng, ở Rome người cha có quyền sanh sát đối với các con mình và tuyên bố, vài ngày sau khi sinh, ông ta sẽ giữ lại để nuôi dưỡng trẻ vừa mới được sinh ra đời hay không. Chính những người Do thái có lẽ quyết định không thực hiện việc giết trẻ con sau khi sinh nữa.Vào thế kỷ thứ VI, Mahomet cấm điều đó trong khi ở Châu Âu việc này được hủy bỏ bởi Charlemagne vào thế kỷ thứ VIII. Vào thời Trung Cổ, còn những phương pháp khác xuất hiện và được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nhưng, nếu người ta loại trừ những dây nịt tiết trinh (ceintures de chasteté), thì phương pháp ngừa thai trong thời kỳ này không tiến triển được bao nhiêu vì bị kềm hãm bởi Giáo Hội Cơ Đốc. Thật vậy, ngay vào thời kỳ đầu của đạo Cơ Đốc, suốt trong nhiều thế kỷ, Giáo Hội căn cứ hôn nhân trên sự sinh đẻ và lên án sự khoái lạc và sự ngừa thai. Về sự việc này ít có văn bản chỉ cho chúng ta thấy dân chúng thời Trung cổ kiểm soát sinh sản như thế nào, nếu họ dám làm ! Không nên quên rằng vào thời kỳ này, mọi phương thức ngừa thai, gồm cả rút dương vật (retrait), đều được xem như là một tội phạm và sẽ bị trừng trị. Vậy chính ở Châu Á là nơi mà các túi dương vật (préservatifs) tiến triển. Những túi này được chế tạo bằng giấy lụa dầu (papier de soie huilée) ở Trung Quốc và bằng vảy rùa (écaille de tortue) hay bằng da thuộc (cuir) ở Nhật bản, nơi đây túi dương vật mang tên Kabuta-gata.

TÚI DƯƠNG VẬT THỜI TRANG

Ở châu Âu, phải đợi đến thế kỷ XVI và sự bùng nổ của bệnh giang mai thì các lính trận mới chịu bảo vệ lấy mình. Nhà cơ thể học và giải phẫu học người Ý Gabriel Fallope phát minh một loại bao bằng vải nhẹ, được tẩm một thứ nước sắc gồm có cỏ và nước miếng, mà ông gọi là túi dương vật (sac pénien).

Vào thế kỷ XVII, túi dương vật được làm bằng lụa hoặc nhung và được trang trí bởi một đai màu giữ nó vào vị trí. Từ nay túi dương vật này là một phần của hoạt động sinh dục và trở nên một vật phụ thời trang của những nhà quý tộc và ngay cả của vua chúa.

CHANH KHOÉT RỖNG HAY TÚI DƯƠNG VẬT?

Vào thế kỷ sau, người Venise Giacomo Casanova, nổi tiếng về những tình nhân, đã quảng cáo về chanh được khoét rỗng (citron évidé) và về túi dương vật, hai phương pháp mà ông sử dụng rộng rãi để chống lại những hậu quả của cuộc đời “sôi động” của ông. Chính Casanova đã đặt tên “capote anglaise” (chiếc áo khoác Anh) cho cái khúc ruột (bout de boyau) này, lúc nói rằng “tôi phải giam mình trong một khúc da chết (un bout de peau morte) để chứng tỏ rằng tôi đúng là còn sống”. Nữ hầu tước Sévigné đã định nghĩa túi dương vật như sau: “Đó là một áo giáp chống khoái lạc và một mạng nhện chống nguy hiểm”. Đúng là bao dương vật chưa tiện nghi lắm cũng như chưa được tin cậy lắm. Rửa âm đạo (douche vaginale) với alun, sulfate kẽm, muối Eratus, dấm và chlorure de soude, thời đó được sử dụng nhưng luôn luôn sau động tác giao hợp. Những ống tiêm đầu tiên và các dụng cụ để tiêm âm đạo xuất hiện. Cần ghi nhận rằng chậu rửa đít (bidet) xuất hiện ở Pháp vào thời đó, phần lớn được dùng để rửa chân...

ÁO KHOÁC BẢO ĐẢM 5 NĂM.

Việc sử dụng và sự thương mãi của túi dương vật được hợp pháp hóa sau Cách mạng Pháp. Vào giữa thế kỷ XIX, hãng Goodyear Tire and Rubber phát minh túi dương vật bằng cao su, có thể rửa được và được bảo đảm năm năm! Như thế, sau mỗi lần sử dụng, áo choàng (capote) được rửa, sấy khô và rắc tan. Người ta cũng gọi túi dương vật là “đối thủ bảo vệ”, “túi khoái lạc”. Năm 1880, túi dương vật bằng latex đầu tiên được sản xuất và những tiến bộ đáng kể về màng ngăn (diaphragme) xuất hiện. Cùng năm, Walter John Rendell, dược sĩ Luân Đôn, hiệu chính một vòng đỡ (pessaire), được cấu tạo bởi quinine và bơ cacao, dễ tan ở đáy âm đạo. Phương pháp này giành được thành công nhanh chóng và được phân phát khắp toàn thế giới. Vào đầu thế kỷ XX, nhiều phương pháp ngừa thai xuất hiện. Chúng ta có thể kể phương pháp Ogino, mang tên thầy thuốc người Nhật đã phát minh ra nó. Sự kiêng không giao hợp được khuyên giữa ngày thứ 12 và 16 của chu kỳ kinh nguyệt và phương pháp này đã sinh ra hàng ngàn em bé Ogino ! Còn phương pháp Knauss nhằm định ngày phóng noãn bằng cách theo dõi nhiệt độ, thì lại tỏ ra có hiệu quả đối với những người muốn mang thai hơn là đối với những người muốn được bảo vệ. Sau đó là sự xuất hiện của vòng ngừa thai (stérilet) và thuốc ngừa thai (pilule contraceptive). Vào năm 1961, túi dương vật được bôi trơn (préservatif lubrifié) đầu tiên được đưa ra thị trường.

Còn việc chống thụ thai ở nam giới thì sao? Có chứ, ngoài túi dương vật, đàn ông cũng tham gia kiểm soát sinh đẻ từ những năm 70! Tuy nhiên từ slip làm nóng đến các dược phẩm hormone mới, còn cần phải thực hiện những tiến bộ quan trọng. Suốt trong nhiều thế kỷ, các phương pháp ngừa thai và phá thai đã dựa trên những kiến thức thường sai lầm về cơ thể học và sinh lý học! Dĩ nhiên, trước khi nghĩ đến sự ngừa thai... phải tự hỏi về sự thụ thai! Nguồn: (SEMPER 5/2008)

2/ VIÊN THUỐC CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA.

Đó là một cuộc cách mạng nhỏ về chống thụ thai cấp cứu (contraception d’urgence) : mười năm sau khi tung ra thị trường viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain), cho phép tránh có thai ngoài ý muốn sau một giao hợp không hay kém được bảo vệ (vỡ túi dương vật, quên uống thuốc), giờ đây là “ viên thuốc của ngày hôm sau nữa ” (pilule du surlendemain). Ở Pháp EllaOne đã được bán từ cuối tháng chín : viên thuốc màu trắng 30 mg có tác dụng cho đến 5 ngày sau giao hợp, với một tỷ lệ hiệu quả không bị mang thai trung bình hơn 98%. Nhưng, cũng như viên thuốc của ngày hôm sau (hay Norlevo), tính hiệu quả này giảm dần với thời gian.

THUỐC NGỪA THAI CẤP CỨU.

Cho phép chống lại có thai ngoài ý muốn và do đó chống lại sẩy thai (200.000 trường hợp mỗi năm ở Pháp), sự chống thụ thai cấp cứu cho đến nay được thực hiện dưới dạng Norlevo trong nhiều nước trên thế giới : Nam Phi, Algérie, Anh, Bỉ, Pháp, Israel, Maroc, Mễ tây Cơ...và từ 22/4/2009 ở Hoa Kỳ đối với những người trên 17 tuổi ! Không nên lẫn lộn giữa sự chống thụ thai cấp cứu, cho phép tránh bị mang thai, do đó được sử dụng khi có một xét nghiệm thai nghén dương tính, với viên thuốc làm sẩy thai (pilule abortive) RU 486, được đưa vào Pháp năm 1988 và có thể sử dụng trong trường hợp có thai được xác nhận để gây nên sẩy thai...

Ở Pháp, mỗi năm, cứ 3 phụ nữ có một bị nguy cơ có thai ngoài ý muốn. Số lượng lý thuyết của các giao hợp có nguy cơ liên kết với việc quên uống thuốc được ước tính không dưới 22 triệu mỗi năm. Và mỗi năm, khoảng 1 triệu hộp thuốc chống thụ thai cấp cứu được bán ra.

Một cách cụ thể, hoạt chất của EllaOne, một phân tử tổng hợp được gọi là “ ulipristal acétate ”, gắn vào các thụ thể của hormone sinh dục progestérone, nơi não bộ và các buồng trứng. Như thế, nó ngăn cản các thụ thể này kích thích sản xuất các protéine (đặc biệt là hormone “ LH ”), đóng một vai trò trong việc chương trình hóa của sự rụng trứng và sự chuẩn bị niêm mạc tử cung để tiếp nhận trứng thụ tinh. Phân tử “ levonorgestrel ”, được chứa trong viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain) và các progestatifs của viên thuốc chống thụ thai, đều có cùng cơ chế hoạt động như vậy. Nhưng nhờ cấu trúc phân tử đặc biệt, gây một sự tương tác khác với thụ thể của progestérone, nên EllaOne, trái với Norlevo và viên thuốc ngừa thai, tác dụng ngay cả khi quá trình rụng trứng đã được khởi động.

CẦN ĐƠN THUỐC BÁC SĨ.

Viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) chỉ được cấp với toa thuốc của bác sĩ : một biện pháp an toàn đối với tất cả các loại thuốc mới, trước khi được bán tự do, phải chứng tỏ tính an toàn trên một số lượng lớn các bệnh nhân. Được bào chế bởi hãng HRA Pharma (cũng sản xuất Norlevo), EllaOne (viên thuốc của ngày hôm sau nữa) giá đắc hơn viên thuốc của ngày hôm sau (Norlevo) : gần 50 euro thay vì 7,50 euro. Vào lúc Norlevo được đưa ra thị trường vào năm 1999, hoạt chất của EllaOne tung đã được chế tạo bởi viện dược phẩm Hoa Kỳ, Research Triangle Institute. Nhưng đã phải cần 10 năm để hãng HRA Pharma, sau khi được các quyền thế giới về thuốc này, mới thực hiện tốt một số tối thiểu các công trình nghiên cứu về tính hiệu quả và mức độ an toàn của sản phẩm trên người. EllaOne đã được trắc nghiệm trên 4000 phụ nữ khi những người này đòi hỏi một ngừa thai cấp cứu giữa 2 và 5 ngày sau một giao hợp không được bảo vệ hay được bảo vệ kém. Kết quả : chỉ 1,6% là có thai. Vào lúc này, HRA Pharma không dự kiến loại thuốc ngừa thai cấp cứu hiệu quả hơn, nhưng suy nghĩ đến khả năng sử dụng hoạt chất của EllaOne để chống lại một vài bệnh tật.

VÀ NGÀY MAI ?

Theo Philippe Bouchard, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết của bệnh viện Saint-Antoine(PARIS), làm việc với nhiều hãng dược phẩm về sự chống thụ thai. “ Vào lúc này, không có những công trình nghiên cứu về một thuốc chống thụ thai cấp cứu hiệu năng hơn EllaOne ”. Ngược lại, nhà chế tạo thuốc EllaOne cố gắng xác định xem chất hoạt hóa của viên thuốc ngừa thai này (ulipristal acétate) có thể có hiệu quả chống lại vài bệnh của phụ nữ hay không, mà vài nghiên cứu đầu tiên trên động vật hay người cho phép nghĩ như vậy. Đặc biệt đó là trường hợp u xơ tử cung (fibrome). Khối u này, phát triển từ cơ của tử cung, thường là hiền tính, nhưng đôi khi nó có những triệu chứng rất bất lợi : gây bệnh cho 20 đến 40% các phụ nữ từ 30 đến 45 tuổi, căn bệnh này có thể gây nên những kinh nguyệt thường xuyên và nhiều, các cơn đau vùng hố chậu, đau bụng quặn, trướng bụng, thậm chí những vấn đề về khả năng sinh đẻ. Đến nay, điều trị u xơ tử cụng có thể cần đến phẫu thuật cắt bỏ, một can thiệp ngoại khoa nặng nề, đòi hỏi nhập viện nhiều ngày.

MỘT HOẠT CHẤT RẤT HOẠT TÍNH.

Thế mà các công trình nghiên cứu đầu tiên trên người đã cho thấy rằng hoạt chất của EllaOne có thể “ làm tan ” các khối u xơ tử cung. Do đó có thể tưởng tượng rằng một ngày nào đó có thể thay thế phẫu thuật nặng nề cắt bỏ u xơ bằng uống một viên thuốc đơn thuần ? Các kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi nhưng cần ít nhất 4 năm nghiên cứu để xác nhận chúng.

Căn bệnh khác có thể một ngày nào đó được điều trị bằng viên thuốc của ngày hôm sau nữa : ung thư vú.

Tuy nhiên các nghiên cứu đến nay đã không vượt qua giai đoạn thí nghiệm trên động vật. Viên thuốc chống thụ thai này cũng có thể hiệu quả chống lại bệnh lạc nội mạc tử cung (endométriose), một bệnh phụ khoa tiến triển, gây bệnh cho 10 đến 15% các phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ, và được biểu hiện bởi những cơn đau vùng chậu dữ dội, ra nhiều kinh kỳ, và ngay cả có thể dẫn đến vô sinh. Sau cùng, hoạt chất của EllaOne có thể dùng để điều chế một thuốc chống thụ thai chính quy. Nhưng lại nữa, không có thông tin chính xác nào được đưa ra , bí mật công nghiệp buộc phải thế.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)

Đọc thêm :

3/ DIANE DE POITIERS, CHẾT VÌ ĐÃ MUỐN TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ.

Các sợi tóc của bà Diane de Poitiers chứa những nồng độ vàng rất cao, một nguồn thuốc nước thanh xuân (élixir de jouvence) mà bà đã uống đều đặn vào mỗi sáng lúc ngủ dậy.

PHÁP Y HỌC. Có lẽ chính vì muốn tìm kiếm sự vĩnh hằng mà Diane de Poitiers đã bị thiệt mạng. Qua đời vào năm 1566 ở lứa tuổi 66, người nhân tình của vua Pháp Henri II có lẽ đã tự gây ngộ độc bởi vàng khi bà sử dụng chất này để cố giữ cho trẻ và đẹp mãi, các nhà nghiên cứu người Pháp, đã tiết lộ như vậy. BS Philippe Charlier, thuộc khoa Pháp Y của bệnh viện Raymond-Poincaré de Graches, và các đồng nghiệp của ông, sau khi phân tích các sợi tóc và các chất cặn trong mô của bà ái phi Diane de Poitiers, đã công bố các công trình nghiên cứu của mình trong British Medical Journal.

Được kê đơn rộng rãi vào thế kỷ XX bởi các thầy thuốc nhằm làm thuyên giảm bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide), thật vậy, vàng đã từng được ca tụng ngay cả vào thời Thượng Cổ vì được cho là có khả năng làm tái sinh. Vào thế kỷ XIV, Philippe Charlier nhấn mạnh, các dung dịch vàng uống được đã rất được biết tiếng ở triều đình Pháp. Alexandre de La Tourette đã cung hiến ngay cả bài diễn văn ngắn ngủi của mình về các tính chất tuyệt diệu của vàng uống được cho vua Henri III. Ngày nay các nhà chế tạo mỹ phẩm đưa các hạt của chất kim loại quý báu này vào trong các kem nhằm chống tuổi già (crème anti-age). Và các thầy thuốc chuyên khoa về thẩm mỹ học mạng da bằng các chỉ vàng để lấp đầy các nếp nhăn và cải thiện sự giãn da (relachement cutané).

HỘI CHỨNG NGỘ ĐỘC MÃN TÍNH.

Diane de Poitiers phải chăng muốn gìn giữ vẻ thanh xuân và sắc đẹp của mình vì tình yêu đối với Henri II (nhỏ hơn 20 tuổi) hay để tiếp tục tập luyện cật lực các môn thể thao mà bà ưa chuộng (bơi lội, săn bắn và cỡi ngựa) ? Từ nay dường như người ta biết được chắc chắn rằng bà ái phi của vua Henri II đã bị chết vì các ảo tưởng về chất vàng uống được, khi bà uống đều đặn “ nước canh ” của chất kim loại này vào mỗi buổi sáng, như nhà văn Brantome đã gợi ý. Mặt khác, nhà văn này đã ghi nhận rằng, vào lúc cuối cuộc đời mình, bà nữ công tước của Valentinois “ có vẻ mặt đẹp biết bao, tươi mát biết dường nào và cũng dễ thương biết mấy như còn ở lứa tuổi 30 ”. Tuy nhiên còn cần phải chứng minh về mặt khoa học việc tiêu thụ vàng mãn tính này. Đó là điều mà các nhà nghiên cứu người Pháp đã thực hiện lúc phân tích một mớ tóc của Diane de Poitiers, được bảo tồn trong lâu đài Anet (Eure-et-Loir), nơi bà đã từng cư ngụ. Họ cũng đã nghiên cứu các chất bã phân hủy của bà ái phi, đã được nhận diện vào năm 2008 lúc các khai quật khảo cổ ở nghĩa trang Anet. Theo truyền thống, các hài cốt được ướp xác đã được chôn trong lòng đất bởi các nhà cách mạng vào năm 1795, sau khi họ đã làm uế tạp quan tài của bà.

Các khám nghiệm độc chất học đã tìm thấy những nồng độ vàng rất cao, 500 lần trị số trung bình, trong các sợi tóc. Theo các tác giả, một nồng độ như thế, trên bình diện lâm sàng, có thể tương ứng với một hội chứng ngộ độc mãn tính vàng với các rối loạn tiêu hóa (ăn không ngon, nôn, mửa, tiêu chảy), các sợi tóc mỏng đi, sắc da xanh tái (do thiếu máu), xương dễ vỡ. Những trường hợp tử vong do ngộ độc này đã được mô tả trong tư liệu y học. Thật vậy, Diane de Poitiers đã có những triệu chứng này. Mặc dầu hoạt động tích cực ở ngoài trời, bà vẫn được mô tả như là xanh xao. “ Các sợi tóc của bà thanh mịn và dễ gãy, xương bà dễ vỡ và bà gần như rụng răng gần hết ”, Philippe Charlier đã nói thêm như vậy. Ông xác nhận rằng đây không phải là do bị ô nhiễm. Vì không phải là hoàng hậu, nên bà ái phi Diane de Poitiers đã không mang vương miện bằng vàng, và như thế các sợi tóc và mô của bà ít có khả năng bị ô nhiễm bởi các nữ trang khác. Ngoài ra, vàng không được sử dụng vào những lúc ướp xác.

Các công trình của những người Pháp đã cho phép rút ra những kết luận khác rất lý thú đối với lịch sử y khoa. Vào năm 1565, Diane de Poitiers, vốn là nữ vận động viên thể thao giỏi, đã được điều trị bởi thầy thuốc ngoại khoa nổi tiếng Ambroise Parré vì một gãy xương hở của cẳng chân sau khi bị ngã ngựa. “ Sự thăm khám các xương, được lành sẹo tốt, không bị viêm màng xương (périostite) và gần như không bị mất đi chiều dài, cho thấy rằng Ambroise Parré, nhà tiền phong trong kỹ thuật rửa sạch các vết thương, đúng là làm việc một cách đúng đắn, Philippe Charlier đã nêu lên như vậy. Đối với ông, đúng là Ambroise Parré, người cha đẻ của môn ngoại khoa hiện đại, cũng là người báo trước trong lãnh vực răng giả tháo lắp được (prothèses dentaires amovibles), đã làm cho bà bệnh nhân nổi tiếng của mình hưởng được những thành quả này. Điều này giải thích tại sao Diane de Poitiers, môn đồ của thói ăn chơi của giới thượng lưu, đã có thể tiếp tân, cho mãi đến tận cuối đời mình, mặc dầu răng đã rụng gần hết. Sau khi đã tiết lộ tất cả các bí quyết của mình, Diane de Poitiers chẳng bao lâu hẳn lại được nằm yên nghỉ lần nữa.
(LE FIGARO 23/12/2009)

4/ VITAMINE D VÀ CÁC LÃO NIÊN : GIẢM NGUY CƠ TÉ NGÃ.

Cơ giàu các thụ thể tế bào đối với vitamine D, do đó vitamine này có một tác dụng trực tiếp lên sức mạnh của cơ. Một phân tích méta Hoa Kỳ-Thụy Sĩ, lấy lại những kết quả của 8 công trình nghiên cứu được tiến hành nơi 2.426 lão niên trên 65 tuổi hoặc hơn, cho thấy rằng sự cung cấp, trong vòng ít nhất 3 tháng, một liều lượng vitamine D đi từ 700 đến 1.000 đơn vị quốc tế mỗi ngày, làm giảm khoảng 20% nguy cơ bị té ngã.
(PARIS MATCH 22/10-28/10/2009)
Đọc thêm :

5/ CÁC PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ H1N1 : NHỮNG THẬN TRỌNG CẦN THIẾT.

GS Dominique Luton, tổng thư ký của Collège national des gynécologues et obstétriciens, chỉ rõ cho các bà mẹ tương lai những biện pháp cần thực hiện

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi tại sao người ta khuyến nghị các phụ nữ có thai tiêm chủng chống bệnh cúm H1N1 ?
G.S Dominique Luton : Với thời gian nhìn lại và các kết quả khác nhau của những công trình nghiên cứu mà chúng ta có được hôm nay, về các nhóm dân trên thế giới đã phát triển một dạng nghiêm trọng của bệnh cúm này, chúng ta đã quan sát thấy rằng những phụ nữ có thai là những người có nguy cơ mắc phải bệnh cúm A thể nặng. Do đó cán cân lợi ích-nguy cơ ngã về phía sự chủng ngừa.

Hỏi : Có sự khác nhau nào giữa vaccin có chất bổ trợ (adjuvant) và vaccin không có chất bổ trợ ?
G.S Dominique Luton : Vaccin có chất bổ trợ bao gồm một chất làm gia tốc quá trình của sự sinh miễn dịch : nó “ doper ” những cơ quan phòng ngự của cơ thể chống lại virus H1N1. Tác dụng của nó, mạnh hơn, gây nên một phản ứng viêm nào đó của hệ miễn dịch. Vì vậy, người ta ưa thích tiêm một vaccin không có chất bổ trợ nơi phụ nữ có thai hơn. Phản ứng này, mặc dầu tạm thời, nhưng có khả năng gây nên những phản ứng phụ hiếm. Những vaccin không có chất bổ trợ không phải vì thế mà kém hiệu quả hơn !.

Hỏi : Vaccin không có chất bổ trợ này được tiêm một hay hai mũi ?
G.S Dominique Luton : Sơ đồ tiêm chủng đã được biến đổi và hiện nay bao gồm một mũi tiêm duy nhất.

Hỏi : Những tác dụng phụ được quan sát nơi những phụ nữ có thai là những tác dụng nào ?
G.S Dominique Luton : Những tác dụng có hại được gán một cách chắc chắn cho việc tiêm chủng chống H1N1 này với một vaccin không có chất bổ trợ chủ yếu là những phản ứng viêm tại chỗ (đau đớn, đỏ da…) và vài phản ứng tổng quát như các hội chứng cúm giả không nghiêm trọng. Đối với tôi cũng hữu ích ghi nhận rằng người ta đã không quan sát thấy một tác dụng phụ nào nơi các em bé sinh ra từ các bà mẹ được tiêm chủng.

Hỏi : Sự tiêm chủng này được khuyến nghị vào tháng nào ?
G.S Dominique Luton : Bắt đầu từ tam cá nguyệt thứ hai bởi vì hầu hết các biến chứng liên kết với H1N1 xảy ra vào sáu tháng cuối của thai nghén. Do đó người ta ưa thích hơn tránh mọi tiêm chủng vaccin vào tam cá nguyệt đầu tiên.

Hỏi : Ngoài sự tiêm chủng, những biện pháp bảo vệ nào cần được thực hiện ?
G.S Dominique Luton :
  • Biện pháp đầu tiên là tuân theo tất cả những thận trọng chung : rửa tay đều đặn với gel nước-cồn, tránh chừng nào tốt chừng ấy ôm hôn, bắt tay, mọi tiếp xúc với những người bị cúm hay có chung quanh họ những người bị bệnh cúm, cũng tránh những vùng tập trung đông người...
  • Nếu một phụ nữ có thai không được tiêm chủng có những triệu chứng của H1N1, người phụ nữ này phải đi khám càng nhanh càng tốt để nhận một điều trị kháng virus phòng ngừa.
  • Trong chừng mực có thể được, mỗi bà mẹ tương lai bị hội chứng cúm phải, được lấy bệnh phẩm và dùng thuốc kháng virus trong lúc chờ đợi kết quả của bệnh phẩm.

Hỏi : Ông khuyên các phụ nữ có thai tránh những nơi đông người nhưng, hiện nay, để được chủng ngừa, họ phải đi đến một trung tâm có độ tập trung người lớn...
G.S Dominique Luton : Để tránh mọi nguy cơ lây nhiễm, họ có thể mang một mặt nạ bảo vệ và ở cách xa người đứng gần nhất trên 1m. Trong tình huống này, sự truyền virus ít có khả năng xảy ra.

Hỏi : Sau khi sinh em bé, những người thân cận có phải được tiêm chủng không ?
G.S Dominique Luton : Đó là điều được mong muốn. Nếu không, phải tránh ôm hôn, cũng như tránh tiếp xúc trực tiếp và nhiều lần.

Hỏi : Người ta vừa quan sát thấy một sự biến dị của virus…vaccin không có chất bổ trợ sẽ còn tiếp tục bảo vệ hay không ?
G.S Dominique Luton : Khi người ta nói biến dị, đó là một sự biến đổi của một phần của mật mã di truyền của H1N1, có thể ảnh hưởng lên những chức năng khác nhau của virus, làm cho nó trở nên hung dữ ít hay nhiều và có thể được nhận biệt bởi các kháng thể ít hay nhiều. Hiện nay, sự biến dị được quan sát không làm xét lại tính hiệu quả của sự chủng ngừa.
(PARIS MATCH 17/12-23/12/2009)

6/ TA CÓ THỂ TRẮNG BẠC MÁI ĐẦU CHỈ TRONG VÒNG MỘT ĐÊM ?

Không, sự bạc đầu luôn luôn diễn ra từ từ ; ngoại trừ trong những tình huống bệnh lý, lúc đó ta quan sát thấy sự trắng đột ngột của một mái tóc muối tiêu.

Một giai thoại đã kể lại rằng, mái tóc của hoàng hậu Marie-Antoinette đã hoàn toàn bạc trắng vào đêm trước khi lên đoạn đầu đài, vào năm 1793. Ngày nay, hội chứng Marie-Antoinette để chỉ một tình huống trong đó tất cả các sợi tóc đều bạc trắng cùng một lượt. Cũng có thể gọi là hội chứng Thomas More, vì lẽ ông ta cũng thấy mái tóc của mình bạc trắng một lượt, trong tháp Luân Đôn, vào đêm trước khi bị hành quyết, vào năm 1535. Từ đó, những trường hợp tóc bị bạc trắng nhanh đã được mô tả, đặc biệt trong Đệ Nhị Thế Chiến, nơi những người đã sống sót sau những trận dội bom. Vậy nguyên nhân và sự giải thích của hội chứng này là gì ?

Trước hết chúng ta hãy nhắc lại sự sắc tố hóa (pigmentation) của tóc là do đâu ? Màu sắc của tóc là do các hạt hắc tố (mélanine), được chứa trong vỏ (cortex) của sợi tóc. Hắc tố (mélanine) được sản xuất bởi các tế bào hắc tố hoạt động (mélanocytes actifs) của đơn vị sắc tố hóa (unité de pigmentation), định vị trong hành của nang lông (bulbe du follicule pileux), quanh gai bì (papille dermique). Các các tế bào hắc tố tiếp xúc với các tế bào của chất căn bản(matrice) là các tế bào tế bào sừng (kératinocytes). Những tế bào sừng này, lúc tăng sinh, sản sinh ra sợi tóc. Lúc tiếp xúc với các tế bào hắc tố, các tế bào sừng (kératinocyte) tích chứa hắc tố (mélanine), và chính như thế mà tóc mọc ra đã có sắc tố, kể từ gốc của nó.

Trái với các tế bào hắc tố hoạt động (mélanocytes actifs), các tế bào hắc tố nằm yên (mélanocytes dormants) không sản xuất hắc tố. Những tế bào này không nằm trong hành (bulbe), mà tạo thành một kho dự trữ các tế bào gốc trong bao ngoài của nang lông. Thế mà, vào cuối mỗi chu kỳ, nang lông tan rã đi, tóc rụng xuống, và đơn vị sắc tố hoá (unité de pigmentation) cũng bị tiêu hủy. Khi nang lông được tái tạo, đơn vị sắc tố hóa được tái sinh từ kho dự trữ những tế bào gốc hắc tố (mélanocytes souches). Điều này cho phép sự mọc lại của một sợi tóc có sắc tố, thế chỗ cho sợi tóc trước. “ Điệp khúc ” của các tế bào hắc tố của mỗi nang lông đảm bảo sự thường trực của một mái tóc được nhuộm màu. Nhưng thế thì tại sao các sợi tóc lại bạc trắng ?

Trước đây, người ta nghĩ rằng sự bạc trắng được liên kết với sự ngưng tổng hợp và sự chuyển của hắc tố. Thật vậy, tóc bạc là do một sự giảm dần số các tế bào hắc tố, trong đơn vị sắc tố hóa cũng nhưng trong kho dự trữ. Khi số các tế bào hắc tố hoạt động đạt một ngưỡng giới hạn, lượng hắc tố được tổng hợp, được chuyển vào sợi tóc đang tăng trưởng, không còn đủ nữa để sợi tóc được sắc tố hóa : tóc trở nên trắng bạc. Tất cả các sợi tóc đều trắng khi tất cả các tế bào hắc tố của đơn vị sắc tố hóa và của kho dự trữ đã biến mất. Ngoài ra, sự vắng biểu hiện của enzyme TRP-2 (tyrosinase related protein-2) đẩy mạnh sự biến mất của các tế bào hắc tố. Không có enzyme này, các tế bào hắc tố của nang lông trở nên nhạy cảm hơi đối với các tấn công của môi trường, đặc biệt là đối với các gốc tự do oxy hóa (radical libre oxydant), và do đó sự bạc trắng của tóc được tăng nhanh.

BẠC TRẮNG “ TRONG MỘT ĐÊM ”.

Như thế, sự trắng bạc tóc xảy ra dần dần. Nhưng thế thì, một mái tóc có thể bạc trắng trong vòng một đêm như thế nào ? Hội chứng này, được mệnh danh là “ sự bạc tóc đột ngột ” (canitie subite), ngày nay được lý giải như là một phản ứng tự miễn dịch : hệ miễn dịch của cơ thể dường như tạo một phản ứng thải bỏ (réaction de rejet) đột ngột của hệ sắc tố của các nang lông. Nếu sự tấn công này xảy ra trên một mái tóc màu muối tiêu, chứa đồng thời các sợi tóc được sắc tố hóa và những sợi khác đã bạc trắng, thì chỉ có những sắc tố là sẽ “ bị thải bỏ ”, và do đó bị đánh mất, trong khi những sợi tóc trắng thì được tha miễn. Sự bạc trắng mái đầu “ trong một đêm ” là do một sự thải bỏ chọn lọc của những sợi tóc có sắc tố.
(POUR LA SCIENCE 12/2009)

7/ BỆNH CẬN THỊ TIẾN TRIỂN MẠNH.

Tỷ lệ những người bị cận thị đã chuyển từ 25% lên đến gần 42% trong 30 năm ở Hoa Kỳ.

NHÃN KHOA. Bệnh cận thị một phần lớn vẫn là một bí ẩn. Người ta biết cách đo lường mức độ cận thị, điều chỉnh nó, mổ nó, người ta biết “ cơ học” của sự rối loạn quang học của mắt, thế nhưng người ta còn biết rất tồi nguồn gốc và các nguyên nhân của nó. Một công trình nghiên cứu mới đây về quan điểm này gây quan ngại : các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa chứng thực rằng tỷ lệ những người bị cận thị đã chuyển, trong dân chúng Hoa Kỳ, từ khoảng 25% vào đầu những năm 1970 lên đến gần 42% vào đầu những năm 2000 (Archives of Ophtalmology, tháng 12/2009).

Để đi đến kết quả này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các dữ kiện thu lượm được nhân các cuộc điều tra quốc gia về y tế. Cuộc điều tra 1971-1972 nhằm vào hơn 5000 người, tuổi từ 12 đến 54 tuổi, cuộc điều tra từ 1999 đến 2004 bao gồm gần 10.000 người. Những dữ kiện thu lượm được mới đây dựa trên cùng các tiêu chuẩn như các tiêu chuẩn được dùng vào đầu những năm 1970 về cận thị. Khi đó, có 25% những người cận thị và, 33 năm sau, tỷ lệ những người cận thị là 41,6%. Những người da đen (chuyển từ 13% lên 33,5%) cũng như những người da trắng (chuyển từ 26,3% lên 43%) đã chịu cùng sự tiến triển.

Cận thị là một khuyết tật của mắt, khiến các hình ảnh được tạo thành, không phải trên võng mạc, mà trước võng mạc. Mắt có thể được so sánh với một máy chụp hình: giác mạc (cornée) là kính ngoài, đồng tử là cửa điều sáng (diaphragme), thủy tinh thể là zoom của nó và võng mạc là phim tiếp nhận (pellicule réceptrice). Một con mắt cận thị không còn có khả năng tạo những hình ảnh rõ ràng trên võng mạc đối với những vật ở xa. Sự đưa vật đến gần cho phép hình ảnh được tạo thành trên võng mạc. Vậy một người cận thị nhìn gần rất rõ nhưng nhìn xa thì mờ.

MỘT CHẤN ĐOÁN TỐT HƠN.

Ở Pháp, người ta ước tính 39% dân chúng bị cận thị ở những mức độ khác nhau. Người ta nhận thấy những tỷ lệ như thế gần như khắp nơi trên thế giới. Với những sự khác nhau giữa các vùng nông thôn và thành thị và cũng tùy theo mức phát triển của các nước. Mặc dầu ngày này người ta chẩn đoán các rối loạn khác nhau của thị giác tốt hơn cách nay 30 năm, và mặc dầu điều trị có hiệu quả hơn, nhưng các nguyên nhân của sự gia tăng quan trọng của số người bị cận thị vẫn rất được tranh cãi. Chính vì thế, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ kết luận công trình nghiên cứu bằng một lời kêu gọi nghiên cứu : “ Nhận diện các yếu tố nguy cơ chịu trách nhiệm sự gia tăng số những người cận thị có thể cho phép thiết đặt những chiến lược ít tốn kém chống lại chứng bệnh này.” Người ta cho rằng các nguyên nhân cận thị gồm nhiều yếu tố. Hai yếu tố chính, ngoài tuổi tác, là di truyền và những yếu tố môi trường. Người ta đã chứng tỏ rằng vài cận thị thể nặng và, trong một mức độ nào đó cận thị nói chung, được liên kết với di truyền. Sinh ra trong một gia đình không có người cận thị ít có nguy cơ sẽ bị cận thị. Trong trường hợp ngược lại, nguy cơ đặc biệt được gia tăng. Vài hình dạng mắt làm dễ sự xuất hiện những bất thường này.

Nhưng người ta cũng biết, mà không thể định mức một cách chính xác, rằng chế độ ăn uống, các thói quen trong đời sống, nơi cư trú, trình độ văn hóa, số năm đi học, sự sử dụng thuờng xuyên các màn ảnh của máy vi tính hay của máy truyền hình chẳng hạn, đóng một vài trò trong sự tiến triển, nếu không muốn nói là trong sự xuất hiện của chứng cận thị. Việc sử dụng thường xuyên thị giác nhìn gần cũng có thể là một yếu tố làm dễ bệnh cận thị nhưng cũng có nhiều lý thuyết khác như lý thuyết về sự tiếp xúc ánh sáng trong thời thơ ấu.“ Các kết quả này của những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ rất là đáng lưu ý và người ta cũng chứng thực cùng điều đó ở đây, một thầy thuốc chuyên khoa mắt Paris đã xác nhận như vậy. Không nghi ngờ gì nữa lối sống hiện đại của chúng ta hẳn phải làm dễ sự xuất hiện các chứng cận thị. Và có lẽ làm gia tốc sự xuất hiện của chúng. Nhưng vẫn không thể định mức một cách chính xác yếu tố nào là quan trọng nhất. Thật là đáng tiếc. ”
(LE FIGARO 16/12/2009)

8/ STRESS VÀ SỰ GIA TĂNG CỦA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

Nhiều công trình nghiên cứu khác nhau quy một cách rõ ràng trách nhiệm của lối sống tây phương (đặc biệt là stress) vào sự gia tăng của số và những trường hợp càng ngày càng sớm của bệnh đái đường khắp nơi trên thế giới.

Bệnh đái đường là một bệnh nhiều yếu tố (maladie multifactorielle), liên kết những yếu tố môi trường phát khởi “ không được biết ”, những yếu tố di truyền làm dễ (HLA DR3/DR4) và những yếu tố miễn dịch (các tế bào lympho, các tự kháng thể). Không có một độc chất nào, không có một vi khuẩn nào là nguyên nhân trực tiếp và mặc dầu bệnh đái đường kèm theo một sự mất điều hòa của hành vi ăn uống, nhưng vai trò của ăn uống vẫn còn đang gây tranh cãi. Những điều nghịch lý của bệnh đái đường và của chứng béo phì là những bệnh lý này bây giờ đang phát triển trong các dân thiếu dinh dưỡng và các nước nghèo. Trái lại, dường như càng ngày càng được chấp nhận rằng lối sống Tây phương góp phần vào sự gia tăng của bệnh đái đường. Ngoài những yếu tố khác ra, sự lo âu, sự căng thẳng và chứng trầm cảm có vẻ đóng một vai trò trong sự phát khởi của bệnh đái đường, bằng cách gây nên một phản ứng thích ứng (réaction d’adaptation) (hay báo động), làm phóng thích các hormone làm gia tăng đường huyết (hormones hyperglycémiantes) (cortisol, adrénaline) và làm gia tăng sự đề kháng đối với insuline (insulinorésistance). Công trình nghiên cứu Whitehall Study II là một công trình nghiên cứu có mục tiêu đánh giá mối liên hệ giữa stress và nguy cơ xuất hiện bệnh đái đường loại 2. Số người tham dự gồm 5.895 công chức người châu Âu, đàn ông và phụ nữ, không bị bệnh đái đường (tuổi trung bình 35-55 tuổi), được đăng ký giữa năm 1991và 2004. Chẩn đoán đái đường loại 2 được xác lập trên cơ sở một tam giác tăng đường huyết. Các dữ kiện được thu thập qua một bảng câu hỏi. Sự căng thẳng lúc làm việc được đánh giá bởi “ Job Strain Questionnaire ”, có tính đến yêu cầu tâm lý (những bó buộc thời gian, tổng số công việc, tính chất phức tạp của công tác..), sự tự do trong quyết định và sự hỗ trợ xã hội (sự ủng hộ của các đồng nghiệp ..).

NGUY CƠ TĂNG GẤP ĐỐI NƠI PHỤ NỮ.

Sự căng thẳng liên kết với công việc tương quan với một sự gia tăng 60% nguy cơ phát triển bệnh đái đường loại 2 nơi các phụ nữ, nhưng không xảy ra nơi các đàn ông. Sự gia tăng nguy cơ này được quan sát đối với một công việc, liên kết một yêu cầu cao về mặt tâm lý với khả năng quyết định thấp và một hỗ trợ xã hội kém. Mối tương quan này vẫn có ý nghĩa về mặt thống kê sau khi điều chỉnh tình trạng xã hội kính tế hay những yếu tố căng thẳng không phải do công việc ; mối tương quan giảm bớt 20% sau khi điều chỉnh lối sống, chứng béo phì và những yếu tố nguy cơ khác của bệnh đái đường loại 2. Ngược lại, mỗi thành phần được lấy riêng rẻ (yêu cầu về mặt tâm lý đòi hỏi tâm lý, sự tự do quyết định và sự hỗ trợ xã hội) không liên kết với nguy cơ phát triển bệnh đái đường loại 2. So với những người không bị bệnh đái đuờng, những bệnh nhân đã phát triển một bệnh đái đường loại 2 là lớn tuổi hơn, có một việc làm với cấp bật thấp và bị ảnh hưởng hơn bởi những biến cố của cuộc đời của họ. Trên bình diện sinh học, họ có một nồng độ HDL- cholestérol ít cao hơn và một chỉ số khối lượng cơ thể (IMC), một huyết áp thu tâm, một nồng độ triglycéride và CRP cao hơn.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/11/2009)

9/ KHI TRÍ NHỚ ĐẾN VÀO LÚC NGỦ.

Một kích thích âm thanh hay khứu giác trong lúc ngủ trưa làm tăng cường các hiệu năng.

NEUROLOGIE. Học vào lúc đang ngủ. Ý tường làm ước mơ, và không chỉ những các sinh viên vào thời kỳ thi cử. Mà còn đối với các nhà khoa học, đó đã là một hiện thực. Càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu xác nhận rằng giấc ngủ đóng một vai trò chủ yếu trong các quá trình ghi nhớ (mémorisation). Ken Paller, thuộc đại học Northwestern (Illinois) và nhóm nghiên cứu vừa vượt qua một giai đoạn mới lúc chứng minh rằng một kích thích thính giác trong lúc ngủ trưa cho phép làm tăng cường trí nhớ.

Các công trình của họ, được công bố mới đây trong tạp chí Science, đã nhờ đến một phương pháp học độc đáo. Các nhà nghiên cứu đã dạy cho cho 12 thanh niên ghi nhớ vị trí chính xác của 50 hình ảnh trên một màn ảnh ordinateur. Mỗi hình ảnh được chiếu đồng thời với một âm thanh đặc trưng (thí dụ con mèo với tiếng mèo kêu). Sau đó, các người tình nguyện được yêu cầu làm một giấc ngủ trưa, trong đó các tiếng ồn tương ứng với 25 trong số các đồ vật, được diễn lại nơi họ. Lúc thức dậy, mặc dầu đã không ý thức các âm thanh được nhắc lại, họ đã đặt lại lên màn ảnh các hình ảnh tương ứng với các âm thanh này, tốt hơn là 25 âm thanh khác. Cùng thí nghiệm, nhưng không có ngủ trưa, đã không cải thiện các hiệu năng.

Vào năm 2007, trên cùng một nguyên tắc tương tự, Jan Born, thuộc đại học Lubeck (Đức) đã nhờ đến một sự kích thích có tính chất khác : một mùi thơm của hoa hồng, được phát ra trong một buổi luyện tập (ghi nhớ các cặp bài) rồi một lần nữa trong lúc ngủ. Việc lập lại khứu giác này đã “ booster ” một cách rõ rệt điểm số đối với các trắc nghiệm trí nhớ ngày hôm sau nếu trắc nghiệm được thực hiện trong một giai đoạn của giấc ngủ sâu. Khi đó tác dụng là số không nếu mũi được hít trong giấc ngủ nghịch lý (sommeil paradoxal) (giai đoạn của các giấc mơ). “ Hai công trình nghiên cứu này, bổ sung cho nhau, chứng tỏ rằng những kích thích khứu giác và âm thanh trong giấc ngủ sâu có thể làm gia tăng sự ghi nhớ ”, Paul Salin, nhà nghiên cứu của CNRS ở Lyon đã bình luận như thế. “ Khi ta ngủ, ta vẫn nhạy cảm với môi trường âm thanh, ánh sáng, và nhiệt. Nhưng sự việc những tiếng động có thể tham gia vào một quá trình ghi nhớ là điều mới và đáng quan tâm, GS Damien-Léger (trung tâm ngủ của bệnh viện Hôtel-Dieu, Paris) đã ghi nhận như vậy. Những công trình này cũng làm vững thêm ý tưởng cho rằng sự ghi nhớ một dữ kiện có hiệu quả hơn khi ta liên kết nó với một cảm giác hơn là khi nó xảy ra một cách đơn thuần ”.

Theo các chuyên gia, hai giai đoạn giấc ngủ can thiệp để cắm sâu vào những ký ức : giấc ngủ chậm (sommeil lent) đặc biệt có vai trò trong sự ghi nhớ tuyên ngôn (mémorisation déclarative) (ý thức), trong khi đó việc củng cố trí nhớ xúc cảm (mémoire émotionnelle) (thí dụ những ký ức về những biến cố đau buồn hay hạnh phúc) sẽ được thực hiện nhất là trong giấc ngủ nghịch lý.

“ Nhóm nghiên cứu của Jan Born đã cho thấy rằng một kích thích điện cường độ thấp của da đầu, được đặt trong các giai đoạn ngủ chậm, có thể làm gia tăng đáp ứng đối với các trắc nghiệm ngày hôm sau ”, Paul Salin đã kể lại như thế.

Nhưng trong cuộc sống thực, các thí nghiệm kích thích cảm giác đã khá gây thất vọng. Mãi đến nay, không bao giờ có ai đã có thể học một tiếng nước ngoài lúc đang ngủ với một CD phát âm. Không nên phóng đại quá mức tác động của các tái hoạt hóa, bởi vì một phần lớn trí nhớ của chúng ta là do thị giác, thế mà hệ thị giác lại bị phong bế trong lúc ngủ ”, Paul Salin đã nói như vậy. Một điều chắc chắn, hãy tối ưu hóa các đêm ngủ của mình sẽ cho phép cải thiện các trí năng. Những thí nghiệm, được tiến hành bởi Pierre Maquet, thuộc đại học Liège (Bỉ) mới đây đã xác nhận rằng một sự học việc được kèm theo sau bởi một đêm ngủ ngon là có hiệu quả hơn để ghi nhớ về lâu về dài. “ Ngủ, đó không phải là đánh mất thời gian, người chuyên gia này đã nhấn mạnh như vậy.Giấc ngủ sẽ thuận lợi cho việc duy trì một sự vận hành tốt chức năng não bộ. Nó cũng có lợi cho hệ miễn dịch và hormone.”
(LE FIGARO 2/12/2009)

10/ CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI

(tiếp theo TSYH số 153)

TIÊM CHỦNG (tiếp theo)

53/ Đại dịch có phải là một công việc làm ăn tốt đối với công nghiệp dược phẩm ?

Các số doanh thu, sinh ra do đại dịch năm 2009, có thể đạt đến 6 tỷ dollar (4 tỷ euro). Cúm A mang lại doanh thu khoảng 1 tỷ euro cho mỗi trong 3 hãng chế tạo vaccin chính, hãng bào chế Pháp Sanofi-Aventis, hãng Anh GlaxoSmithKline (GSK) và hãng Thụy Sĩ Novartis. Được bán từ 6,25 đến 10 euro mỗi đơn vị cho chính phủ Pháp, và ít đắt hơn nhiều cho các nước nghèo, vaccin không cho phép vượt khỏi những giới hạn rất cao. “ Về loại hợp đồng quy mô lớn này, các chính phủ thường thương thuyết những biểu giá rất “sít sao ” , Thierry Verrecha đã xác nhận như vậy. Hãng Roch, đã thương mãi hóa thuốc kháng virus Tamiflu, và GSK, hãng cạnh tranh nó, bán Relenza, hẳn cũng hưởng lợi từ đại dịch này. Từ năm 2004, 270 triệu liều Tamiflu đã được đặt hàng bởi 96 nước.Việc bán thuốc này mang lại một số doanh thu 1,3 tỷ euro năm 2009, hoặc 4,2% các buôn bán của hãng Roche. Để đối đầu với sự đổ đến của các đơn đặt hàng, các hãng bào chế đã gia tăng khả năng sản xuất, đạt 400 triệu điều trị mỗi năm đối với hãng Roche và 190 triệu mỗi năm đối với GSK.

54/ Các hợp đồng được ký ở Pháp với các hãng bào chế chính xác nói những gì ?

Thay mặt Nhà nước, Eprus (Etablissemet de préparation et de réponse aux urgences sanitaires) đã ký những hợp đồng với Novartis (16 triệu liều), Sanofi-Aventis (28 triệu liều), GSK (50 triệu liều) và Baxter (50.000 liều).

Các hợp đồng xác định các đặc điểm của sản phẩm, số lượng phải được cung cấp, các kỳ hạn giao hàng, các điều khoản kiểm soát chất lượng của sản phẩm và những bổn phận mỗi bên ký hợp đồng. Tất cả hợp đồng đều chứa một khoảng về trách nhiệm của nhà bào chế. Trách nhiệm này sẽ được cam kết nếu sản phẩm thiếu sót (ví dụ bị ô nhiễm).

TRƯỜNG HỌC VÀ XÍ NGHIỆP

55/ Ông chủ có thể buộc tôi làm việc tại nhà không ?

Cũng như mọi biến đổi của một yếu tố thiết yếu của hợp đồng lao động, làm việc tại nhà cũng cần sự đồng ý trước của người ăn lương, cũng như một văn bản sửa đổi hợp đồng lao động. Việc từ chối làm việc ở nhà có thể dẫn đến sự cho thôi việc kinh tế (licenciement économique). Nếu người ăn lương đưa ra tranh cãi trước hội đồng hòa giải lao động, người chủ sẽ phải biện minh mệnh lệnh làm việc tại nhà.

56/ Tôi có thể thương thuyết với ông chủ tôi làm việc tại nhà để tránh bị lây nhiễm không ?

Vâng, nhưng ông chủ không bắc buộc phải chấp nhận tình huống này.

57/ Những biện pháp phòng ngừa trong xí nghiệp về mặt vệ sinh ?

Một cách tổng quát, giới chủ có bổn phận thông báo những người làm công về những nguy cơ đối với sức khỏe và về những biện pháp được thực hiện để đối phó.

Trong trường hợp cúm A, những biện pháp này nằm trong kế hoạch liên tục hoạt động (plan de continuité de l’acitivité), không bắt buộc trong khu vực tư nhân, nhưng rất được khuyến nghị bởi chính quyền. Đặc biệt đó là thiết lập những biện pháp vệ sinh (rửa tay đều đặn, khử trùng các phòng ốc, có để sử dụng các dụng cụ như các dung dịch nước-cồn...), dự kiến một dự trữ đầy đủ các mặt nạ hô hấp (masques respiratoires), giới hạn sự tiếp xúc vật lý giữa các người với nhau... Văn kiện duy nhất đánh giá các nguy cơ phải được cập nhật hóa.

58/ Có nên cấm không gian mở (open space) hay không ?

Lý tưởng là vâng. Trong thế giới thực, các không gian làm việc chung phải được bảo quản và chùi dọn một cách tăng cường và hàng ngày.

Người chủ phải kiểm tra rằng những biện pháp này được áp dụng một cách đúng đắn. Trong các văn phòng tập thể, việc mang một mặt nạ chống phóng thải (masque antiprojections) có thể được khuyến nghị.

59/ Có phải giảm số các buổi hội họp lúc làm việc không ?

Được chừng nào tốt chừng đó. Vào cao điểm của đại dịch, các buổi thảo luận chuyên đề (séminaires) và các buổi hội thảo (colloques) cũng có thể phải được hoãn lại, thay vào đó là những buổi hội nghị qua điện thoại (conférences téléphoniques), các trao đổi thông tin qua internet hay những hội nghị bằng mắt (visioconférences).

Nếu những cuộc hội họp quy tụ nhiều người cùng một nơi không thể tránh được, cần áp dụng những biện pháp thận trọng. Bàn ghế đặc biệt phải được lau chùi trước và sau mỗi lần tụ tập, và những người tham dự sẽ phải tôn trọng một khoảng cách bảo vệ y tế (distance de protection sanitaire) khoảng ít nhất 1 mét.

60/ Các con tôi bị đau, tôi được quyền nghỉ theo chế độ nào ?

Luật lao động dự kiến rằng, để có thể ở cạnh con bị ốm dưới 16 tuổi, người ăn lương có thể được nghỉ không ăn lương 3 ngày mỗi năm (5 ngày mỗi năm nếu trẻ bị bệnh dưới 1 tuổi hay nếu như người ăn lương đảm nhận ít nhất 3 trẻ dưới 16 tuổi), với giấy chứng nhận của bác sĩ. Các thỏa ước tập thể hay các thỏa thuận xí nghiệp có thể dự kiến những kỳ nghỉ dài hơn, thậm chí ăn lương.

61/ Các đồng nghiệp của tôi bị bệnh, ông chủ có thể yêu cầu tôi làm bổ sung bao nhiêu giờ ?

Ông chủ có một hạn mức hàng năm những giờ bổ sung (220 giờ hay một thời gian được ấn định bởi thỏa thuận tập thể). Để sử dụng nó, ông ta phải thông báo với ủy ban xí nghiệp, bằng không với các đại diện công nhân viên, và thanh tra lao động. Sự từ chối thực hiện những giờ bổ sung là một lỗi có thể đưa đến việc sa thải những người ăn lương.
(LE MONDE 5/11/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (28/12/2009)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san khoa

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969