Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 34
Lượt truy cập: 1028461
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY CÓ LỢI CHỐNG LẠI BỆNH ALZHEIMER ?

Các kết quả ly kỳ đã thu được trên chuột nhưng cần phải được xác nhận.

NEUROLOGIE. Ngay đúng vào giữa cuộc luận chiến về tính độc hại khả dĩ của các điện thoại cầm tay đối với sức khỏe, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ lại tạo một mối bất ngờ. Thật vậy, các công trình nghiên cứu trên chuột của họ, vừa được công bố trong tạp chí chuyên khoa Journal of Alzheimer’s Disease, gợi ý rằng một sự tiếp xúc lâu dài với các sóng điện từ, được phát ra bởi các điện thoại di động, có thể ngăn ngừa căn bệnh Alzheimer, và ngay cả có thể làm thoái biến các thương tổn của nó. Mãi đến nay, đúng hơn, các điện thoại cầm tay bị nghi ngờ gây nên những khối u não. Những kết quả thu được bởi Gary Arendash, thuộc trung tâm nghiên cứu về bệnh Alzheimer ở Florida, có vẻ ly kỳ ngoạn mục, nhưng rất còn sơ khởi và vẫn cần được xác định, các chuyên gia người Pháp đã đánh giá như vậy.

Gary Arendash là nhà nghiên cứu được công nhận trong lãnh vực của bệnh Alzheimer, là một trong những nhà tiền phong của hướng tiêm chủng đối với bệnh này. Ông đã đi từ giả thuyết cho rằng một sự sử dụng mạnh và lâu dài của điện thoại cầm tay có thể có hại đối với não bộ và đặc biệt là trí nhớ. Để kiểm chứng điều đó, nhóm nghiên cứu của ông đã tiến hành những thí nghiệm nơi 96 con chuột, trong đó nhiều con bị biến đổi về mặt di truyền để làm phát khởi bệnh Alzheimer. Hai giờ mỗi ngày, trong 7 đến 9 tháng, những động vật này đã chịu tác dụng, không phải trực tiếp từ những điện thoại cầm tay, mà từ một antenne phát ra những sóng điện từ có tần số cao. Các nhà nghiên cứu đều ngạc nhiên bởi vì những tác dụng của sự tiếp xúc này (tương ứng nơi người một điện thoại cầm tay được gắn chặt vào tai nhiều giờ mỗi ngày trong nhiều năm) đã là có lợi.

“ MỘT HƯỚNG ĐÁNG LƯU Ý ”

Trước hết, các chú chuột có tố bẩm về mặt di truyền mắc bệnh Alzheimer nhưng được tiếp xúc sớm và dài lâu với các sóng điện từ đã được bảo vệ chống lại bệnh này. Hiệu năng của chúng đối với các trắc nghiệm trí nhớ (định hướng trong một mê cung) đã tỏ ra giống với các hiệu năng của các động vật lành mạnh. Còn đáng ngạc nhiên hơn, các chú chuột vốn đã bị bệnh, cũng đã tìm lại được trí nhớ của mình. Và trong não bộ của chúng, các mảng amyloide (một trong những chữ ký cơ thể học của bệnh Alzheimer) đã thoái lui. Về những chú chuột không bị biến đổi về mặt di truyền, trí nhớ của chúng cũng được gia tăng nhờ một sự tiếp xúc lâu dài với các sóng điện từ. “ Bởi vì chúng tôi đã sử dụng các tham số điện từ y hệt với các điện thoại cầm tay, và bởi vì trí nhớ của các con chuột của chúng tôi đã được đánh giá với những phương pháp giống với những trắc nghiệm nơi người, nên chúng tôi nghĩ rằng những kết quả của chúng tôi có thể rất thích đáng nơi người ”, Garen Arendash đã nhấn mạnh như vậy. Theo ông, những tác dụng bảo vệ của các sóng điện từ lên trí nhớ, một phần có thể được giải thích bởi một sự gia tăng lưu lượng máu trong não bộ. Trong những thời kỳ tiếp xúc với máy điện thoại cầm tay, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận một sự tăng nhẹ của nhiệt độ não bộ nơi các cobaye. Hiện tượng này, có lẽ đóng một vai trò trong sự thoái lui của các mảng amyloide, đã được ghi nhận duy nhất nơi các con chuột bị bệnh, sau nhiều tháng thí nghiệm. “ Các sóng điện từ có thể là một điều trị không dược lý và không xâm nhập của bệnh Alzheimer ”, các nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy, đồng thời kêu gọi thận trọng khi suy diễn những khám phá của họ lên người. Đứng trước các công trình chưa từng có này, các chuyên gia người Pháp vẫn tỏ ra dè dặt. “ Đó là một hướng nghiên cứu đáng lưu ý, được đề nghị bởi một nhóm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng những kết quả của họ cần được thực hiện lại ”, GS Jean-Jacques Hauw, thầy thuốc bệnh lý thần kinh thuộc đại học Pierre-et-Marie-Curie, Paris, đã bình luận như vậy. Ông nói rõ rằng mô hình động vật được sử dụng bởi nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ là có giá trị, nhưng vẫn còn xa với căn bệnh Alzheimer của người. GS Philippe Amouyel (Inserm), nhà nghiên cứu bệnh Alzheimer, thẳng thừng phê phán về phương pháp thực hiện. Trong các thí nghiệm này, chính toàn bộ cơ thể của động vật được cho tiếp xúc với các sóng điện từ, chứ không chỉ có đầu mà thôi, ông đã nhận xét như vậy. “ Nhất là số lượng các con chuột được dùng làm thí nghiệm là khá thấp và được chia thành nhiều nhóm nhỏ chịu nhiều trắc nghiệm. Ngoài ra, vài kết quả được quan sát có thể là do sự tình cờ ”
(LE FIGARO 8/1/2010)

2/ BƯỚC NHANH HƠN ĐỂ SỐNG LÂU HƠN.

Hai tin tốt lành đối với sức khỏe của trái tim chúng ta, bởi vì dễ áp dụng. Tin vui đầu tiên là mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và nguy cơ tim mạch. Một công trình nghiên cứu, đã theo dõi hơn 28.000 người và mới đây được trình bày ở hội nghị thường niên của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ, chứng minh rằng những bệnh nhân có những nồng độ vitamine D thấp, dưới 30ng/ml, có nguy cơ hai lần nhiều hơn bị suy tim, tai biến mạch máu não hay bệnh động mạch vành, hơn những bệnh nhân có những nồng độ bình thường. Những kết quả khá đủ thuyết phục để bắt đầu tiến hành nhanh chóng các thử nghiệm lâm sàng nhằm đánh giá lợi ích của việc cho bổ sung vitamine D, đặc biệt có nhiều trong gan cá.

Tin tốt lành thứ hai liên quan đến nhịp bước của chúng ta. Về điểm này, chính một nhóm nghiên cứu người Pháp của Inserm (đại học Paris-VI-Pierre-et-Marie Curie UMRS 708) đã theo dõi 3200 người trong suốt 5 năm. Công trình đã tiết lộ rằng chúng ta bước càng ít thì nguy cơ chết do tim càng gia tăng. Như thế, tốc độ của các di chuyển có thể là một chỉ dấu (indicateur) đáng tin cậy. Vậy bước nhanh là rất có lợi vì lẽ tỷ lệ tử vong 44 lần cao hơn nơi những người di chuyển một cách chậm chạp.
(SCIENCE ET AVENIR 1/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 95 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (3/10/2008)

4/ CHẠY ĐỂ LÀM NGỪNG LẠI THỜI GIAN

Theo các nhà nghiên cứu của Hoa Kỳ, chạy bộ đều đặn làm chậm lại những tác dụng của tuổi già.

Chúng ta biết rằng hoạt động vật lý được liên kết với sự gìn giữ sức khỏe trong mọi loại tuổi tác, nhưng còn hiệu quả của chúng với thời gian thì sao ? Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã thực hiện một công trình nghiên cứu dài hạn (20 năm) nơi những người trưởng thành, môn đồ của môn chạy bộ. Eliza Chakravarty và các cộng sự viện (Stanford University, California) đã gởi các bảng câu hỏi hàng năm cho 538 thành viên của một câu lạc bộ bóng đá và 423 người chứng ở Californie. Tất cả đều 50 tuổi hoặc hơn vào lúc đầu công trình nghiên cứu năm 1984. Những dữ kiện thu lượm được liên quan đến việc chạy bộ và mức độ thường xuyên tập thể dục, chỉ số khối lượng cơ thể và những tình trạng mất năng lực vật lý (khả năng mỗi ngày bước, mặc quần áo, rửa ráy, đứng dậy từ ghế ngồi, lấy các đồ vật) cho đến năm 2005. Tổng cộng, 284 người chạy bộ và 156 người chứng đã điền tất các các bảng câu hỏi. Khởi đầu, những người hoạt động chạy trung bình 4 giờ mỗi tuần, sau 21 năm theo dõi, thời gian này đã giảm xuống còn khoảng 76 phút mỗi tuần.

Những kết quả cho thấy rằng vào năm 1984, những người chạy bộ trẻ hơn, mảnh dẻ hơn và ít có khuynh hướng hút thuốc hơn những người chứng. Những người chứng này cũng có nhiều tình trạng mất năng lực vật lý hơn những người thể thao, và điều này ở trong mọi thời kỳ theo dõi. Tinh trạng mất năng lực này gia tăng với tuổi tác trong hai nhóm, nhưng ở một mức độ hơi ít hơn đối với những người hoạt động nhất, khoảng 16 năm sau. Mặt khác người ta không nhận thấy tỷ lệ hư khớp (ostéoarthrite) cũng như khớp đầu gối giả (prothèse du genou) cao hơn nơi những người chạy bộ.

Sau 19 năm theo dõi, 15% những người chạy bộ đã chết, so sánh với 34% những người chứng. Những tàn phế vật lý và đường cong sống sót đã tiếp tục phân ly giữa hai nhóm sau 21 năm theo dõi, khi những người tham dự đạt đến tuổi 90.

CHUNG KẾT TỐT ĐẸP

Đối với các tác giả, việc tập thể dục mạnh mẽ (thí dụ chạy bộ) nơi những người tuổi trung niên và đứng tuổi được liên kết với một sự giảm số các tàn phế vật lý trong tuổi già và một chất lượng sống tốt hơn sau 90 tuổi. Do đó, làm sao bảo vệ sức khỏe lúc về già ? Bằng cách tập thể dục. Đối với một trong các tác giả, James Fries, điều này minh họa hoàn toàn lý thuyết sự giảm tỷ lệ mắc bệnh (théorie de compression de morbidité) : việc tập thể dục đều đặn làm kéo dài những năm sống không tàn phế và do đó một cuộc sống có chất lượng cao. “ Tiếp tục một luyện tập thể thao không nhất thiết sẽ kéo dài tuổi thọ, nhưng điều này sẽ giới hạn thời kỳ cuối đời trong đó chúng ta sẽ không còn có khả năng tự mình thực hiện những hoạt động hàng ngày được nữa. Những kết quả cũng tương quan với những thói quen sống tốt hơn nơi những người thể thao nói chung ” .

Nói một cách khác, những người chạy bộ lâu năm có thể lực tốt hơn, có một thời kỳ sống còn lại “ tích cực ” (une espérance de vie active) lớn hơn và có nguy cơ chết sớm, hai lần ít hơn so với những người không hoạt động thâm niên. Dầu đó là những bệnh tim mạch, bệnh ung thư, bệnh thần kinh, bệnh nhiễm trùng hay những bệnh khác.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 29/8/2008)

3/ LÀM SAO HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ NGĂN NGỪA SỰ LÃO HÓA Ở NGAY TRUNG TÂM CÁC TẾ BÀO.

Một công trình nghiên cứu phát hiện các tác dụng bảo vệ của thể dục lên các nhiễm sắc thể.

Tin tốt lành đối với tất cả những ai đã quyết định đặt thể dục trong danh sách các quyết định của họ cho năm 2010. Một công trình nghiên cứu độc đáo, vừa mới được công bố trong tạp chí Circulation, chứng minh rằng việc tập đều đặn một môn thể thao dai sức (sport d’endurance) làm chậm lại sự lão hóa, và điều này xảy ra ở mức tế bào. Theo các công trình của Ulrich Laufs (đại học Saarland, Hambourg), được tiến hành đồng thời nơi chuột và các vận động viên, hoạt động vật lý tác động bằng cách điều hòa sự biểu hiện của télomérase, một enzyme được biết là có vai trò chủ chốt trong quá trình lão hóa và ung thư.

Là những mảnh ADN ở các đầu mút của các nhiễm sắc thể, các télomère ngắn lại trong suốt cuộc đời, khi các tế bào càng phân chia. Khi các télomère này đạt đến một kích thước tới hạn, tế bào không còn có thể tăng sinh và chết. Vậy, sự xói mòn của các nhiễm sắc thể, được ức chế bởi télomérase, là một thành phần trung tâm của sự lão hóa. Trái lại, sự hoạt hóa của enzyme télomérase đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng sinh vài tế bào ung thư. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, nguồn gốc của khám phá enzyme có hai mặt này, đã được thưởng giải Y Học Nobel vào năm 2009.

Nhiều công trình nghiên cứu đã xác lập lợi ích của hoạt động vật lý trong sự ngăn ngừa các bệnh tim mạch. Một sự luyện tập đều đặn cho phép một sự kiểm soát tốt hơn huyết áp, cải thiện nồng độ cholestérol, triglycérides và đường trong máu, điều hòa sự lên cân … Người ta cũng đã chứng tỏ rằng những người hoạt động vật lý tích cực làm giảm các nguy cơ bị một vài ung thư (nhất là ung thư đại tràng, vú và tử cung). Tuy nhiên, các cơ chế phân tử để giải thích những hiệu quả này vẫn ít rõ ràng.

Để làm sáng tỏ những cơ chế này, Ulrich Laufs và các đồng nghiệp trong thời kỳ đầu đã nghiên cứu các con chuột, trong đó một nhóm, trong 3 tuần lễ, đã được huấn luyện cho chạy trong một chiếc bánh xe. So với những động vật vẫn nhàn rỗi, các con chuột thể thao có một sự gia tăng hoạt tính của télomérase ở động mạch chủ và trong các tế bào máu của chúng. Những con chuột này cũng có một sự giảm các dấu hiệu của chết tế bào được chương trình hóa (apoptose).

“ MỘT LOẠI ĐỔNG HỒ NỘI TẠI ”

Để xác nhận những dữ kiện này nơi người, các nhà nghiên cứu Đức sau đó đã chọn lọc nhiều nhóm vận động viên thể thao : một mặt các vận động viên điền kinh nhà nghề tuổi trung bình 20, và chạy 73 km mỗi tuần ; mặt khác, các vận động viên marathon và các vận động viên cuộc đua ba môn (triathlète) tuổi trung bình 51 tuổi. Họ đã được so sánh với hai nhóm chứng gồm những người có sức khoẻ tốt, không hút thuốc. “ Một sự luyện tập vật lý dài lâu làm hoạt hóa men télomérase và làm giảm sự rút ngắn của các télomère trong các bạch cầu ”, các tác giả đã kết luận như vậy, đồng thời xác nhận rằng sự ổn định của kích thước của các télomère là rõ rệt hơn nơi các vận động viên tập luyện từ nhiều thập niên so với những vận động viên trẻ nhất. “ Những công trình nghiên cứu của chúng tôi là một bằng cớ trực tiếp về tác dụng chống già của hoạt động vật lý ”, họ đã đánh giá như vậy. “ Đã từ lâu, các télomère đã được xem như là một loại đồng hồ nội tại cho phép đo lường quá trình lão hóa. Ngày nay dường như chúng đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong việc kiểm soát sự vẹn toàn của tổ chức mô ”, Eric Gilson, nhà nghiên cứu sinh học phân tử và giáo sư ở đại học Y Khoa Nice, đã phản ứng như vậy.

Theo chuyên gia này, các công trình mới đây cho thấy rằng hệ các télomère có liên quan trong sự tạo thành các mạch máu mới (néoangiogénèse), nhưng cũng trong những quá trình viêm và những phản ứng miễn dịch. “ Trong tương lai, về mặt kỹ thuật ta có thể dự kiến đo lường đều đặn kích thước của các télomère của một cá thể cũng như ta thực hiện đo đường huyết hiện nay ”, nhà nghiên cứu người Pháp nói tiếp như vậy. Một nồng độ bất thường khi đo được lý giải như là một tín hiệu báo động, yêu cầu thực hiện một bilan sức khỏe hoàn chỉnh hơn. Còn lại là vấn đề phí tổn.
(LE FIGARO 5/1/2010)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học Bài số 147, Đề Mục: 3/ GIẢI NOBEL LẦN THỨ 100 CHẠY THEO TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ.

4/ MỘT THUỐC KỀM HÃM BỆNH PARKINSON.

Sau cùng, phải chăng chúng ta có được loại thuốc đầu tiên có khả năng làm chậm lại bệnh Parkinson ? Đó là điều được gợi ý bởi nhóm nghiên cứu của Olivier Rascol (Inserm/CHU Toulouse), cộng tác với các nhóm nghiên cứu của Warren Olanow (Hoa Kỳ) và của phòng thí nghiệm Teva (Israel). Rasagiline (Azilect) được kê toa để làm giảm các triệu chứng của bệnh Parkinson (run, cứng đờ) khi chúng trở nên gây cản trở quan trọng. Thế mà những công trình nghiên cứu mới đây dường như chứng tỏ rằng rasagiline cũng có một tác dụng bảo vệ các neurone mà căn bệnh nhắm vào. “ Chúng tôi đã muốn xem thuốc này cũng có thể làm chậm sự tiến triển của sự thoái hóa hay không ”, Warren Olanow đã trình bày như vậy. 1176 bệnh nhân đã được chia thành hai nhóm : một nhóm đã nhận một placebo trong 9 tháng, rồi rasagiline 9 tháng tiếp theo. Nhóm kia đã được điều trị trong 18 tháng với rasagiline. Không ngạc nhiên : sau 9 tháng đầu tiên, tình trạng của các bệnh nhân được điều trị bởi rasagiline được cải thiện. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn, sau 18 tháng và mặc dầu tất cả các bệnh nhân đều được điều trị rasagiline, nhưng sự khác nhau giữa hai nhóm vẫn tồn tại. Thế mà “ nếu rasagiline chỉ tác dụng lên các triệu chứng, thì tác dụng của nó sau 18 tháng đáng lý ra phải giống hệt nhau trong hai nhóm ”, Warren Olanow đã xác nhận như vậy. Kết luận, thuốc hẳn phải kềm hãm sự trở nặng của bệnh. Một tác dụng cần phải được xác nhận bằng một sự theo dõi các bệnh nhân.
(SCIENCE ET VIE 11/2009)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học Bài số 146, Đề Mục: 9/ THUỐC MỚI KỀM HÃM SỰ TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH PARKINSON.

5/ TÂM THẦN HỌC : LITHIUM VẪN LÀ ĐIỀU TRỊ CĂN BẢN CỦA CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC.

Một công trình nghiên cứu lớn xác nhận vai trò của Lithium trong căn bệnh xen kẽ những giai đoạn kích động và trầm cảm này.

Bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), còn được gọi là bệnh lưỡng cực loại 1 (maladie bipolaire de type 1), gây bệnh 1% dân chúng trong dạng “ thuần nhất ” nhưng 4% bị một dạng nhẹ (“ édulcorée ”), tuy nhiên không phải là kém phần đau khổ. Những rối loạn được gọi là lưỡng cực này, được thể hiện bởi những giai đoạn trầm cảm xen kẽ với những lúc kích động, mất ngủ, cảm giác khoái trá, những ý nghĩ vĩ đại… được phân biệt với những trầm cảm phản ứng (dépressions réactionnelles) bởi sự thiếu những yếu tố khởi động rõ ràng. Và nhất là bởi những khác nhau trong điều trị và xử trí. Đã từ nhiều năm nay, một tố bẩm di truyền mạnh có thể là nguyên nhân của những bệnh này. Một vài gia đình có vẻ bị ảnh hưởng hơn so với những gia đình khác.

Trái với những bệnh tâm thần nghiêm trọng khác, đối với loạn tâm thần hưng-trầm cảm và các rối loạn lưỡng cực, có những điều trị tỏ ra có hiệu quả và đảm bảo một đời sống gần như bình thường đối với một tỷ lệ không phải nhỏ các bệnh nhân. Nhưng rất thường những rối loạn này không được chẩn đoán tốt, gây nên một sự chậm trễ trong việc xử lý. Điều trị cơ bản không dựa vào các thuốc chống trầm cảm mà vào các thuốc điều hòa tính khí (régulateurs de l’humeur). Tuần này, tạp chí Anh The Lancet đã xuất bản những kết quả của một thử nghiệm điều trị rất quan trọng, thử nghiệm Balance, mà những kết luận chứng minh một cách chính thức rằng điều trị hiệu quả nhất đối với các rối loạn lưỡng cực là ở chỗ kết hợp của hai thuốc điều hòa tính khí, lithium và valproate. “ Những kết quả này rất là quan trọng, GS Chantal Henry, giám đốc trung tâm chuyên gia về những rối loạn lưỡng cực, thuộc bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) đã giải thích như vậy. Trước hết, những kết quả này đã có được nhờ một công trình nghiên cứu độc lập của công nghiệp dược phẩm. Sau đó, chúng cho phép mang lại những câu trả lời cụ thể bằng cách xác định một loại “ gold standard ” trong điều trị những rối loạn lưỡng cực.

Thử nghiệm, được công bố trong The Lancet, đã được tiến hành bởi một mạng thế giới các thầy thuốc tâm thần chuyên về căn bệnh này. Thử nghiệm được thực hiện trên 330 bệnh nhân trong 41 trung tâm điều trị ở Anh, Ý, Pháp và Hoa Kỳ. Các bệnh nhân được chia thành 3 nhóm : những bệnh nhân của nhóm đầu tiên chỉ nhận lithium, những bệnh nhân của nhóm thứ hai chỉ nhận valproate (một thuốc chống động kinh đã tỏ ra có hiệu quả chống lại những rối loạn tính khí) và những bệnh nhân của nhóm thứ ba nhận một phối hợp của hai thứ thuốc. Tất cả những bệnh nhân này đã được điều trị và theo dõi trong hai năm.

Những kết quả cho thấy rằng 46% các bệnh nhân nhận hai loại thuốc đã không bị tái phát, đặc biệt là không có một đợt hưng phấn (manie) hay trầm uất (dépression) trong hai năm điều trị, so với 41% những bệnh nhân chỉ nhận lithium và 31% đối với những bệnh nhân chỉ nhận valproate. “ Nếu những kết quả này chỉ rõ rằng sự kết hợp của lithium và valproate cho những kết quả tốt nhất, phân tích thống kê cho thấy rằng, sự khác nhau giữa sự sử dụng hai loại thuốc kết hợp với nhau và lithium được dùng riêng rẽ, là không đáng kể, GS Chantal Henri, đã góp phần vào công trình nghiên cứu này cho Pháp, đã xác nhận như vậy.

Những tác dụng ngoạn mục của lithium lên các loạn thần kinh hưng- trầm cảm đối với một số bệnh nhân nào đó (nhưng không phải tất cả) đã được khám phá trong những năm 1970. Tuy vậy thuốc này vẫn không được sử dụng đầy đủ nhất là bởi vì hơi khó quản lý. “ Những liều lượng điều trị không xa lắm những liều lượng gây độc, GS Henry đã nói thêm như vậy. Phải theo dõi đều đặn bệnh nhân. Ngoài ra, sức ép thương mãi của các hãng được phẩm khiến các thầy thuốc cho toa những thuốc mới, dễ quản lý hơn, nhưng có vẻ ít hiệu quả hơn. Các bệnh nhân, đáp ứng tốt với lithium, thấy đời sống mình thật sự thay đổi, với một sự thoái lui các giai đoạn hưng phấn và trầm cảm, thậm chí một sự biến mất đối với vài bệnh nhân. Tất cả các phân tích méta đều cho thấy rằng lithium làm giảm tỷ lệ tự tử và nhập viện nơi những bệnh nhân bị nhưng rối loạn lưỡng cực. Trong công trình nghiên cứu Balance, một số quan trọng các bệnh nhân đã không tái phát chút nào.” Lithium được thương mãi hóa ở Pháp dưới tên Téralithe. Sử dụng liều lượng không đúng đắn, thuốc gây nên một cảm giác khát dữ dội và một nguy cơ bị thương tổn thận và giáp trạng.

Cái khó khăn điều trị là ở chỗ sự trì chậm trong chẩn đoán bệnh này, nhất là trong những thể ít điển hình. “ Công trình nghiên cứu Balance xác nhận rằng ngày nay lithium vẫn là điều trị chọn lựa của những rối loạn lưỡng cực.”, GS Chantal Henry đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 28/12/2009)

6/ NGOẠI KHOA CỦA BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ (CHIRURGIE DE LA CATARACTE) : ĐỪNG DO DỰ NỮA !

Người ta thống kê khoảng 500.000 phẫu thuật được tiến hành mỗi năm ở Pháp. Những triệu chứng đầu tiên là một sự biến đổi của các màu sắc, sự lòa mắt và một cảm giác khó chịu thị giác. Sau đó dần dần được xác lập một sự giảm thị lực : người ta thấy mờ rồi rất mờ. “ Không được điều trị, BS Catherine Albou-Ganem đã xác nhận như vậy, ta có thể đánh mất thị giác, điều này gần như không còn là trường hợp trong đất nước của chúng ta nữa. Chẩn đoán được xác lập bằng một thăm khám đơn giản bởi kính hiển vi sinh học (biomicroscope). Mục đích của can thiệp ngoại khoa là để thay thế thủy tinh thể bị biến đổi bằng một thủy tình thể khác, bằng plastique mềm. Sự gây mê từ nay được thực hiện với các giọt của thuốc nhỏ mắt, được dung nạp rất tốt. Ngày nay, những đường xẻ bé tí (micro-incisions) được thực hiện ở ngoại vi của giác mạc (cornée) khoảng 2mm (thay vì 12 mm cách nay còn vài năm). Sự tiến bộ này có thể được thực hiện là nhờ kỹ thuật ngoại khoa đã trở nên ít gây chấn thương hơn. Trong quá khứ, người ta lấy đi tức thời toàn bộ của thủy tinh thể, nên bắt buộc phải thực hiện, một đường xẻ lớn. Ngày nay, nhà phẫu thuật đưa vào một loại búa đâm (marteau piqueur) bé xíu vô cùng mảnh, làm nghiền vụn thủy tinh thể và hút các mảnh vụn ra, đồng thời để lại cái vỏ ngoại biên của nó. Để thay thế thủy tinh thể bị lấy đi, nhà phẫu thuật đưa vào một implant được gấp lại trong một ống tiêm đặc biệt. Thủy tinh thể sau đó tự mở ra như một cánh dù. Những implant mới nhất, bằng polymère cực kỳ mềm mại, rất có hiệu năng : bằng cách biến đổi độ cong và design của chúng, chất lượng quang học đã được cải thiện rất nhiều. Chúng có thể dễ gấp hơn và gây nên những biến chứng ít hơn.” Phẫu thuật, kéo dài 10 đến 20 phút, hoàn toàn không đau, và sự hồi phục, rất nhanh chóng và hoàn toàn. Với tỷ lệ biến chứng dưới 1%, phẫu thuật này đã tỏ ra có tính chất cách mạng.
(PARIS-MATCH 5/11-11/11/2009)

7/ LIỆU PHÁP GENE CẢI THIỆN CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH PARKINSON.

NEUROLOGIE. Bằng cách tiêm 3 loại gène vào trong não bộ của những động vật linh trưởng mô hình của bệnh, các nhà nghiên cứu Pháp đã thành công điều trị được chúng mà không gây nên những tác dụng phụ gây khó chịu quan trọng.

Run, cứng các chi, giảm khả năng di chuyển : các triệu chứng của bệnh Parkinson gây cản trở quan trọng. Bệnh lý này, gây bệnh cho 100.000 người Pháp, được liên kết với sự thoái hóa, trong não bộ, của những tế bào thần kinh sản xuất dopamine. Thuốc chuẩn để điều trị bệnh Parkinson ? L-dopa. Nhưng thuốc này gây nên những cử động không kiểm soát được, các loạn vận động (dyskinésie). Do đó, lợi ích của liệu pháp gène (thérapie génique), được hiệu chính bởi một nhóm nghiên cứu người Pháp : liệu pháp này đã cho phép điều trị các khỉ macaque mô hình của bệnh, mà không gây nên những tác dụng phụ này.

VIRUS VÔ HẠI.

Tính độc đáo của điều trị này dựa trên sự sử dụng đồng thời 3 gène thiết yếu cho sự tổng hợp của dopamine. Các nhà nghiên cứu đã đưa các gène này vào trong một virus được làm trở thành vô hại. Virus được chọn vì có khả năng chuyên chở một lượng quan trọng các thông tin di truyền. Sau khi đã được biến đổi như vậy, virus này được chủng vào trong striatum của khỉ macaque, tức vùng của não bộ thiếu dopamine trong chứng bệnh này. Virus truyền 3 gène này vào các tế bào thần kinh và những neurone này bắt đầu chế tạo chất dẫn truyền thần kinh.

Những kết quả thu được thật đáng phấn khởi. Sự sản xuất dopamine, được đo in vivo, đã đạt một nồng độ lên đến 50% trị số bình thường. Tất cả các khỉ macaque được điều trị đã có một sự cải thiện trong 12 tháng theo dõi. Nhất là khả năng cử động đã trở lại 80% mức bình thường. Sau hết, so với uống L-dopa, liệu pháp này đã không gây nên những loạn vận động (dyskinésie). Được áp dụng cho một nhóm khỉ macaque mắc bệnh Parkinson, khởi đầu được điều trị bởi L-dopa, lieu pháp gène đã làm giảm số khỉ bị bệnh.

SỰ SẢN XUẤT LIÊN TỤC.

“ Giả thuyết của chúng tôi cho rằng sự cách quãng cần thiết của các liều thuốc uống L-dopa gây nên một sự kích thích não bộ đoạn hồi, là nguyên nhân của những biến chứng này, Béchir Jarraya, thầy thuốc ngoại thần kinh và nhà nghiên cứu của CEA-Inserm, đã giải thích như vậy. Sự sản xuất tại chỗ và liên tục dopamine mà liệu pháp gène mang lại, làm vững chắc cho lý luận này.” Liệu pháp gène có thể được sử dụng ngay khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện, dùng đơn độc hay bổ sung L-dopa.

Được cổ vũ bởi thành công này, các nhà khoa học đã phát động một thử nghiệm lâm sàng trên những người bị bệnh Parkinson ở bệnh viện Henri-Mondor, Créteil. “ Tình trạng của 6 bệnh nhân, được điều trị theo phương pháp này, đã được cải thiện ở những mức độ thay đổi ; điều trị tỏ ra được dung nạp tốt ”, Stéphane Palfi, thầy thuốc ngoại thần kinh điều khiển thử nghiệm này, đã tuyên bố như vậy. “ Những công trình này thể hiện một bước tiến quan trọng, Etienne Hirsch, chuyên gia về căn bệnh ở CNRS, về phần mình, đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, cũng như mọi can thiệp ngoại thần kinh, liệu pháp này có những nguy cơ xuất huyết.
(LA RECHERCHE 12/2009)

8/ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ : MỘT THẾ HỆ IMPLANT MỚI THAY THẾ THỦY TINH THẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH NHIỀU RỒI LOẠN.

Để mổ đục thủy tinh thể (cataracte), các laser mới “ femtoseconde ” cho phép thực hiện các đường xẻ dưới 1 mm, để lấy thủy tinh thể ra khỏi ổ, sau khi nó được làm hóa lỏng bởi laser. Như thế hạn chế chấn thương gây nên bởi các đường xẻ 2mm đang được thực hiện ngày nay. Bởi vì mặc dầu vẫn không thể đưa vào một thủy tinh thể thay thế cổ điển với một đường xẻ dưới 1 mm, các công trình nơi động vật cho thấy rằng, cái túi thủy tinh thể được khoét rỗng có thể được làm đầy, qua một đường xẻ dưới 1mm, bằng cách tiêm vào đó silcone lỏng. “ Chất silicone này gây nên phản ứng trùng hợp (polyméralisation) và một khi được đặt tại chỗ, có thể được điều biến (remodélé) lại bằng laser nhằm điều chỉnh các rối loạn thị giác cổ điển ”, GS Béatrice Cochener (Brest) đã giải thích như vậy. Sự trong suốt được tìm thấy lại và thị giác được điều chỉnh cùng lúc với phẫu thuật. Trong khi kỳ công kỹ thuật này chỉ mới ở giai đoạn thí nghiệm, thì một thế hệ implant mới đang làm đảo lộn phép điều trị bệnh đục thủy tinh thể. Đó là những thấu kính bé xíu trong nhãn cầu, cũng điều chỉnh những rối loạn như cận thị, viễn thị và lão thị. Được gọi là nhiều tiêu cự (multifocal), các implant này có trên bề mặt của chúng những vòng đồng tâm xen kẽ nhau, trong đó những vòng này tái lập thị giác nhìn xa, còn những vòng kia phục hồi thị giác nhìn gần. Như vậy, não bộ tiếp nhận đồng thời những thông tin thị giác được thích ứng với thị giác nhìn gần và nhìn xa và chính não bộ sẽ thực hiện sự chọn lọc tùy theo nơi mà nó chú ý đến. Các implant này mang lại sự thành công đến độ hiện đang phát triển ngoại khoa của “ thủy tinh thể trong ” (chirurgie du cristallin clair), nhằm thay thế một thủy tinh thể lành mạnh bằng một implant nhiều tiêu cự, để điều chỉnh chứng cận thị, lão thị,..Tuy nhiên Christophe Baudouin (Viện thị giác, Paris) không hoàn toàn tán đồng về phẫu thuật này, nhằm điều chỉnh những khuyết tật mà chỉ cần đeo kính để điều trị chúng, “ trong khi đó là một vi phẫu thuật (micro-chirurgie) bao gồm những nguy cơ, mặc dầu rất nhỏ. Ngoài ra, các implant này đòi hỏi những khả năng đáp ứng của não bộ khó mà tiên đoán được trước khi đặt. Chính vì thế mà những implant “điều tiết ” (“ accomodatif ”) đã xuất hiện trong những năm vừa qua. Được chấp thuận ở bên kia Đại Tây Dương, các implant điều tiết này hoạt động như thủy tinh thể, theo các co rút của thể mi (muscle ciliaire) trong lúc điều tiết. Nhưng ở Pháp, các implant này vẫn còn đáng ngờ bởi vì mặc dầu chúng mang lại một thị giác nhìn xa và trung gian, nhưng thị giác nhìn gần lại ít tốt hơn và thường cần phải đeo kính.
(SCIENCE ET VIE 11/2009)

9/ BỆNH HƯ KHỚP GỐI : PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG NƯỚC KHOÁNG NÓNG ĐƯỢC PHỤC HỒI GIÁ TRỊ.

GS Christian-François Roques, chủ tịch của hội đồng khoa học của Hiệp hội Pháp nghiên cứu điều trị nước khoáng nóng, bình luận những kết quả thuyết phục của một công trình nghiên cứu mới đây.

Hỏi : Các bệnh hư khớp gối (arthrose du genou hay gonarthrose) có thường xảy ra không ?
G.S Christian-François Roques : Sau 50 tuổi, các hư khớp gối gây bệnh cho 20% dân chúng, thật là nhiều ! Những người dễ bị chứng bệnh này là những người có một thể trọng gia tăng (surpoids), một sự biến dạng khớp gối và những người đã tập một môn thể thao mạnh, vài công việc nặng nhọc hay những người đã là nạn nhân của chấn thương. Những thương tổn của đầu gối cũng xảy đến nơi những người bị bệnh hư khớp (maladie arthrosique), trong đó những khớp khác bị thương tổn.

Hỏi : Những triệu chứng của bệnh hư khớp gối là gì ?
G.S Christian-François Roques : Những triệu chứng đầu tiên hết được biểu hiện bởi đau lúc bước, lúc lên cầu thang. Rồi thì sau đó, thành hình một sự trở ngại chức năng ảnh hưởng lên những hoạt động hàng ngày. Vào giai đoạn thứ ba của tiến triển, đầu gối bị cứng đi : không thể duỗi ra hoàn toàn, điều này gây nên sự bước khập khiễng. Khi đó bệnh nhân thật sự bị tàn phế.

Hỏi : Nói chung người ta dùng những thứ thuốc nào ?
G.S Christian-François Roques : Đó là những thứ thuốc giảm đau đơn giản, các thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS), những điều trị duy trì. Người ta cũng thực hiện những điều trị tại chỗ : tiêm ngấm (infiltration) cortisone hay acide hyalunonique. Người ta cũng dự kiến phẫu thuật khi không làm giảm được sự đau đớn và trong trường hợp trở ngại chức năng quan trọng.

Hỏi : Kết quả là gì với những phương pháp điều trị này ?
G.S Christian-François Roques : Các loại thuốc có một hiệu quả có mức độ trong việc làm giảm các cơn đau, còn các thuốc kháng viêm thì gây nên vài biến chứng tiêu hóa, tuần hoàn… Về điều trị duy trì, lại nữa, hiệu quả tỏ ra hạn chế. Việc đặt các khớp giả (prothèse du genou) cho những kết quả tốt nhưng đó là một động tác phẫu thuật nặng nề, mà trong thời kỳ hậu phẫu đôi khi có vài nguy cơ.

Hỏi : Trong những trường hợp nào, người ta thực hiện một điều trị bằng nước khoáng nóng (cure thermale) ?
G.S Christian-François Roques : Đối với hư khớp gối, liệu pháp điều trị bằng nước khoáng nóng, trên nguyên tắc, được khuyến nghị đối với tất cả các thể không ở vào một giai đoạn mà giải pháp ngoại khoa được dự kiến (nhưng chúng tôi cũng khuyên điều trị bằng nước khoáng nóng đối với những thể nặng mà ngoại khoa bị chống chỉ định). Mục đích là làm giảm bớt sự đau đớn và cải thiện khả năng vận động bằng những đợt tắm nước nóng, giàu những chất khoáng (nhất là lưu huỳnh), sẽ đi xuyên qua da. Tác dụng giảm đau tác động lên nhưng cơ chế kiểm soát đau đớn, nơi hệ thần kinh (tủy sống và não bộ) và trên các cơ duỗi. Những điều trị này cho phép huy động tốt hơn khớp đồng thời nuôi dưỡng sụn khớp.

Hỏi : Những kết quả của công trình nghiên cứu Thermarthrose, vừa được công bố trong một tạp chí rất nổi tiếng, là gì ?
G.S Christian-François Roques : Công trình nghiên cứu này đã được tiến hành từ năm 2006 đến 2007 trên 462 bệnh nhân bị hư khớp gối (gonarthrose) nặng và được chia thành hai nhóm : một nhóm nhận một điều trị bằng nước khoáng nóng còn nhóm kia là nhóm chứng. 3 trạm điều trị bằng nước khoáng nóng đã được đưa vào : Aix-les-Bains, Balaruc-les-Bains và Dax. Về những đợt điều trị 3 tuần này, những điều trị bao gồm tắm nước khoáng nóng trong bồn tắm, đắp bùn nóng, thể dục dưới nước (aquagym) ở bể bơi có nước khoáng đun nóng, các xoa nắn bằng tay (massages manuels)..Những kết quả, được công bố trong “ Annals of The Rheumatic Diseases ”, tạp chí chuyên về thấp khớp đứng đầu thế giới, đã chứng minh một sự cải thiện rất rõ rệt các cơn đau và của khả năng vận động khớp nơi những bệnh nhân được điều trị bằng nước khoáng nóng, điều này đã cho phép họ giảm sự tiêu thụ các loại thuốc. Kết luận của thử nghiệm : điều trị bằng nước khoáng nóng (cure thermale) có một tác dụng giảm đau hai lần rưởi quan trọng hơn so với những điều trị thông thường.
(PARIS MATCH 29/10-4/1/2009)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 112 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (6/2/2009)

9/ BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE) : NHỮNG HỨA HẸN CỦA NGHIÊN CỨU
G.S Francis Berenbaum, trưởng khoa thấp khớp của bệnh viện Saint-Antoine AP-HP, giải thích những tiến bộ cho phép chống lại những cơ chế thật sự của bệnh hư khớp.

Hỏi : Bệnh khớp này xuất hiện với những triệu chứng nào ?
G.S Francis Berenbaum : Người bị bệnh bắt đầu chỉ kêu đau trong một khớp. Một trong những đặc điểm của bệnh hư khớp là sự đau đớn gia tăng lúc làm một cố gắng và giảm đi khi khớp được nghỉ ngơi. Ngoài những đau đớn, dần dần trở nên mãn tính, các đợt viêm xảy ra, có thể làm sung vùng khớp (với tràn dịch khớp) và làm thức dậy vào đêm. Chẩn đoán được xác nhận bằng chụp X quang. Bắt đầu từ 60 tuổi, tất cả mọi người đều bị hư khớp ít hay nhiều. Mặc dầu có 6 triệu người Pháp có một hư khớp nhưng không phải tất cả đều kêu đau.

Hỏi : Nguyên nhân của bệnh lý khớp này là gi ?
G.S F.B : Ở khớp, do sự thoái hóa, sụn mỏng dần đi. Có nhiều lý do giải thích 1. Một vài enzyme được sản sinh bởi các tế bào sụn bắt đầu phá hủy sụn. 2. Mới đây người ta đã khám phá một hiện tượng song hành khác : nơi khớp bị bệnh, các tế bào xương cũng tham gia vào quá trình tai hại này bằng cách kích thích sự phá hủy sụn. 3. Mô hoạt dịch (tissu synovial) (màng chung quanh khớp) có thể bị viêm. Nhiều yếu tố là nguồn gốc của bệnh hư khớp : di truyền, môi trường, tuổi tác...

Hỏi : Những khớp bia của bệnh lý này ?
G.S F.B : Những khớp của đầu gối (thường xảy ra nhất), của háng và của những bàn tay. Cũng có những hư khớp của vai, của mắt cá, của cùi chỏ...Và của lưng.

Hỏi : Hiện chúng ta có những loại thuốc nào và các kết quả của chúng ra sao ?
G.S F.B : Có 3 loại : một điều trị tổng quát có tác dụng nhanh, một có tác dụng chậm và một chỉ dùng tại chỗ. Tất cả đều nhằm làm giảm những đau đớn, nhưng không có thuốc nào có mục tiêu chữa lành cả. Trong loại đầu, người ta cho những thuốc chống đau, như paracétamol, các AINS (anti-inflammatoires non stéroidiens), tramadol...Song song với những điều trị này, người ta thường thực hiện nơi khớp những tiêm ngấm cortisone (đối với các đợt viêm) và tiêm acide hyaluronique (để giảm tần số các cơn). Một liệu pháp điều trị không dùng thuốc cũng cần thiết (gồm một hoạt động vật lý giữa các cơn). Những kết quả thường tồi: các người bệnh, được thuyên giảm một phần, phải học sống với các phế tật của mình.

Hỏi : Trong lãnh vực nghiên cứu, những bước tiến lớn là những bước tiến nào ?
G.S F.B : Những bước tiến này nằm ở hai mức độ. 1. Mức của điều trị các đau đớn : người ta muốn mang lại một chất lượng tốt hơn nhiều. 2. Ở mức chữa lành, người ta tìm cách làm chậm lại tối đa, hoặc làm ngưng, các thoái hóa khớp này

Hỏi : Về việc làm thuyên giảm các đau đớn, chúng ta đã tiến đến đâu rồi ?
G.S F.B : Những kết quả của một công trình nghiên cứu rộng rãi (giai đoạn II), so sánh với placebo, trên 220 người bị hư khớp gối, vừa được trình bày ở hội nghị thấp khớp Hoa Kỳ. Các bệnh nhân đã nhận một thuốc sinh liệu pháp (biothérapie) mới, nhằm vào các phân tử có liên quan trong sự đau đớn (như các anti-NGF). Điều trị này, nhằm làm giảm đau rất nhiều các bệnh nhân, được cho bằng những mũi tiêm dưới da, đều đặn, cách nhau nhiều tuần. Những kết quả rất là đáng phấn khởi, nhưng với cái giá của những tác dụng phụ (những cảm giác kiến bò trong bàn tay, bàn chân). Một công trình nghiên cứu khác giai đoạn III theo dự kiến được tiến hành với những liều thấp hơn để cải thiện tương quan lợi ích-nguy cơ.

Hỏi : Để làm chậm lại, thậm chí làm ngưng những thoái hóa khớp này, những nghiên cứu hiện nay đi đến đâu rồi ?
G.S F.B : Ngày nay, chúng ta tiến những bước dài trong những công trình có liên quan đến sự rối loạn của những tế bào xương, nhờ các thuốc đã được sử dụng trong điều trị chứng loãng xương, như ranélate de strontium hay một thuốc thuộc họ biphosphonate. Một công trình nghiên cứu rất rộng lớn hiện đang được tiến hành ở giai đoạn III, ở châu Âu và ở Canada, trên hàng trăm bệnh nhân bị hư khớp gối. Người ta chờ đợi những kết quả vào năm 2011. Người ta hy vọng có thể làm vô hiệu hóa được quá trình hủy hoại của sụn. Thử nghiệm khác đang được tiến hành về những tế bào xương : một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, lần này cho calcitonine bằng đường miệng. Trong bối cảnh của những điều trị nhằm làm ngưng quá trình hư khớp, cũng phải nói về những công trình, đang được tiến hành ở châu Âu và Hoa Kỳ, về một yếu tố tăng trưởng, FGF-18, được tiêm vào trong khớp. Những kết quả nơi động vật tỏ ra dương tính và những thử nghiệm nơi người đã bắt đầu được tiến hành.

Hỏi : Cũng có một công trình nghiên cứu đang tiến hành về hư khớp của các bàn tay ?
G.S F.B : Vâng. Nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành ở Pháp và trong các nước châu Âu. Những nghiên cứu này đánh giá tác dụng của một thuốc sinh liệu pháp (biothérapie), adalimumab, nhằm vào một trong những phân tử của phản ứng viêm : TNF alpha. Người ta đang chờ đợi các kết quả vào năm 2010.

Hỏi : Trong trường hợp thành công, những điều trị này cũng sẽ có thể được sử dụng đối với hư khớp háng ?
G.S F.B : Đó là điều chúng ta có thể hy vọng, nhưng sẽ cần các nghiên cứu đặc biệt trước khi có thể xác nhận điều đó. (PARIS MATCH 11/12-17/12/2009)

10/ TUỔI DẬY THÌ ĐÃ CÓ TỪ TRONG TRỨNG NƯỚC.

Đối các cô con gái và các cậu con trai, những yếu tố tăng trưởng sớm trong tử cung và sau khi sinh, dường như ảnh hưởng đồng thời lên các chỉ dấu sớm hay muộn của sự phát khởi tuổi dậy thì.

Người ta nghi ngờ rằng dậy thì sớm (puberté précoce) làm dễ những chứng bệnh khác nhau như ung thư hay chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu người Đức, Nadina Karaolis-Danckert và các cộng sự viên, đã muốn biết xem môi trường của những giây phút đầu tiên của cuộc sống có ảnh hưởng lên sự xuất hiện của tuổi dậy thì hay không.

215 người tham dự (49,8% con gái) vào công trình nghiên cứu DONALD. Trong công trình này người ta thực hiện những phép đo người (mesures anthropométriques) liên tiếp giữa 6 và 13 tuổi để có thể đánh giá tuổi bắt đầu dậy thì và những thông tin liên quan đến trọng lượng vào lúc sinh, sự cho bú sửa mẹ, tốc độ lên cân và những đặc điểm của bố mẹ.Tuổi vào lúc kích thước cơ thể đạt cao điểm và tuổi bắt đầu kinh nguyệt cũng được tính đến.

Những trẻ, cân nặng từ 2.500 đến dưới 3.000 g, có khởi đầu tuổi dậy thì 7 tháng sớm hơn. Những trẻ, đã lên cân nhanh chóng giữa lúc sinh và lúc được 24 tháng, có tuổi dậy thì 4 tháng sớm hơn những trẻ đã lên cân một cách bình thường. Một sự lên cân nhanh chóng cũng được lên kết với một sự đạt sớm cao điểm của tầm vóc và ở nơi các cô con gái, tương ứng với một bắt đầu kinh nguyệt sớm.

Theo các tác giả, đối với các cô con gái và các cậu con trai, những yếu tố tăng trưởng sớm trong tử cung và đau khi sinh dường như ảnh hưởng đồng thời lên các chỉ dấu sớm và chậm của sự phát khởi của tuổi dậy thì, độc lập với sự cấu thành của cơ thể trước tuổi dậy thì.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 15/12/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (11/1/2010)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san kho

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969