Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 79
Lượt truy cập: 1008395
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT TRẮC NGHIỆM DI TRUYỀN TRONG NƯỚC MIẾNG DÀNH CHO CÁC BỐ MẸ TƯƠNG LAI.

Một trắc nghiệm nước miếng của các bố mẹ tương lai sẽ cho phép phát hiện nguy cơ mắc phải trăm thứ bệnh trước khi thụ thai.

GENETIQUE. “ Hãy bảo vệ em bé khỏi bị hơn 100 loại bệnh với một xét nghiệm đơn giản nước miếng, ngay trước khi có thai. ” Đó là điều hứa hẹn bởi một công ty còn non trẻ ở Californie, Counsyl, với “ trắc nghiệm di truyền vạn ứng ” (test génétique universel). Với 349 dollars, hay ngay cả miễn phí trong khung cảnh của vài cơ quan bảo hiểm y tế, công ty đề nghị phân tích ADN nước miếng của các bố mẹ tương lai trong mục đích nói trước nguy cơ của vài bệnh di truyền xảy ra cho hậu duệ. Đã được thực hiện trong khoảng 100 nhà hộ sinh Hoa Kỳ từ vài tháng nay, trắc nghiệm cũng có thể được yêu cầu trên Internet. “ Các kết quả được gởi trong hai đến ba tuần, một thời hạn mà chúng tôi có thể giảm xuống còn dưới một tuần khi khẩn cấp, ví dụ trong khung cảnh của một chu kỳ thụ thai in vitro ”, một phát ngôn viên của công ty Counsyl đã chỉ rõ như vậy. Hiện nay, trắc nghiệm di truyền vạn ứng (test génétique universel) đã có thể phát hiện những biến dạng di truyền (variants génétiques) tương ứng với hơn 100 bệnh di truyền, trong đó có mucoviscidose, drépanocytose (một bất thường của hémoglobine của các hồng cầu) hay bệnh Tay-Sachs (được đặc trưng bởi những rối loạn nhãn khoa và thần kinh).

MỘT DỊCH VỤ LÀM ĂN CÓ LỢI CỦA Y KHOA BÁO TRƯỚC (MEDECINE PREDICTIVE).

Mặc dầu hiếm nhưng nghiêm trọng, những bệnh lý này có mẫu số chung là đơn gène (monogénique) (do bất thường của một gène duy nhất) và được truyền theo tính lặn (de façon récessive) : chúng chỉ được thể hiện nơi một cá thể nếu hai allèle của gène đều mang bệnh : allèle được thừa hưởng của mẹ và allèle phát xuất từ cha. Nếu chỉ một trong hai allèle này bị biến dị, cá thể không bị một triệu chứng nào, được gọi là dị hợp tử (hétérozygote) hay người lành mang bệnh (porteur sain). Những vấn đề có thể xảy ra nếu người chồng cũng mang biến dạng di truyền (variant génétique). Trong trường hợp này, nguy cơ của cặp vợ chồng có một đứa con mắc bệnh là một trên bốn. Nói chung, những người lành mang bệnh chỉ hay biết những đặc điểm di truyền của họ sau trường hợp bệnh đầu tiên trong gia đình. Trái lại, mục đích của trắc nghiệm Counsyl là phát hiện họ trước, nhằm đề nghị một lời khuyên di truyền (conseil génétique). Lời khuyên này có thể dẫn đến một chấn đoán trước thụ thai (diagnostic préimplantatoire), nếu thai nhi được thụ thai trong khung cảnh một thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro), hay những trắc nghiệm tiền sinh (test prénatal) trong trường hợp một thụ thai tự nhiên.

“ Khoảng 35 đến 40% những người được trắc nghiệm là những người mang ít nhất một bất thường di truyền. Và cả vợ lẫn chồng bị liên hệ trong 0,6 đến 0,8% ”, một bài báo vừa mới được đăng tải trong Technology Review đã chỉ rõ như vậy. Công ty Counsyl nhấn mạnh rằng trắc nghiệm di truyền của hãng đã được hiệu chính bởi những nhà nghiên cứu của những đại học có uy tín (Havard, Stanford, Yale) và xác nhận rằng một bài báo khoa học đang sắp được công bố. Đối với Ramji Srinivasan, giám đốc của công ty, tham vọng là tạo một trắc nghiệm tương đương với những trắc nghiệm thai nghén được thực hiện ở nhà ”.
Khả năng thực hiện các trắc nghiệm di truyền trên Internet không phải là hoàn toàn mới. Trong những năm qua, tiếp theo sau sự giải mã của bộ gène người (génome humain), nhiều hãng đã lao vào trong dịch vụ làm ăn sinh lợi của y khoa báo trước (médecine prédictive). Chỉ với vài trăm euro, các công ty này hứa hẹn với các khách hàng sẽ báo trước tính nhạy cảm của họ đối với những bệnh thông thường : ung thư, các bệnh tim mạch ...Ở Pháp, phần lớn các chuyên gia rất chỉ trích tính thích đáng của các check-up di truyền này.
(LE FIGARO 3/2/2010)

2/ MỘT LOẠI THUỐC CHO PHÉP THẮNG ĐƯỢC BỆNH LAO.

Những thuốc kháng sinh mới vô cùng có hiệu quả có thể diệt được trực khuẩn Koch, nguyên nhân của bệnh lao. Các nhóm nghiên cứu của Inserm và của Viện Pasteur vừa khám phá ra những loại thuốc, lần đầu tiên, có khả năng loại bỏ vi khuẩn bên trong các tế bào miễn dịch (các đại thực bào), trong đó nó ẩn mình sau khi gây nhiễm. Ngoài ra, các thuốc này có hiệu quả chống lại các giống gốc cực kỳ đề kháng (souches ultrarésistantes) với các kháng sinh được sử dụng hiện nay. Để đạt được kết quả này, các tác giả đã tạo nên một mô hình giả gây nhiễm (modèle de simulation d’infection) các đại thực bào bởi vi khuẩn và đã cho mô hình này chịu tác dụng của 53.000 hợp chất khả dĩ có một hoạt tính kháng khuẩn. Trong số 135 chất được giữ lại, nhiều chất, thuộc một họ dẫn xuất từ benzamide, có tác dụng trừ tiệt hoàn toàn vi khuẩn trong 10 ngày. “ Chúng tôi bắt đầu trắc nghiệm những thuốc ứng viên này trên các mô hình động vật. Nếu tính hiệu quả của chúng được xác nhận in vivo, sẽ còn cần phải tấn công giai đoạn phát triển để tạo nên những thuốc thật sự, Priscille Brodin, người phụ trách các công trình ở Viện Pasteur de Corée đã đánh giá như vậy. Nhưng để thực hiện giai đoạn này sẽ cần thời gian khoảng một chục năm.”
(SCIENCES ET VIE 2/2010)

3/ TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA CÁC FLAVONOIDE CỦA RƯỢU VANG, TRÀ, CACAO.

Viện hàn lâm dược học quốc gia hôm qua đã thảo luận về những đóng góp có lợi lên tim và não bộ của những chất được chứa trong vài loại thức ăn.

PREVENTION. Rượu vang, trà, chocolat, là chủ yếu, và những thực phẩm khác chứa những chất flavonoides, có những tác dụng chống oxy hóa (antioxydant) và chống viêm, với một hiệu quả bảo vệ lên tim và não bộ. Từ 15 năm nay, các nghiên cứu gia tăng về những chất được chứa trong thực phẩm này. Hôm qua, Viện dược học quốc gia đã dành một trong những buổi họp để bàn về những tác dụng lên sức khỏe của những chất flavonoides đầy hứa hẹn này. Tuy nhiên, trong khi nhiều xí nghiệp dược phẩm đề nghị các viên thuốc mà chất căn bản là flavonoides, thì viện hàn lâm lại đánh giá rằng những dữ kiện hiện nay không cho phép khuyến khích các “ điều khẳng định sức khỏe ” (“ assertions santé ”) của các chất bổ trợ dinh dưỡng (adjuvants alimentaires).

Lịch sử của các flavonoides bắt đầu trong những năm 1990, với sự phát hiện của nghịch lý Pháp (paradoxe français) : các người Pháp, đặc biệt trong vùng Tây Nam, có một tỷ lệ tử vong do tim mạch thấp hơn so với những nơi khác, mặc dầu một sự tiêu thụ cao các chất mỡ bảo hòa (một yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng). Ngoại lệ này được quy cho sự tiêu thụ rượu vang đỏ, đặc biệt cao ở Pháp. Các flavonoides (các hợp chất polyphénol) của rượu đã được nhận diện như là các chất trung gian của tác dụng có lợi này. Và nhiều công cuộc điều tra dịch tễ học đã cố gắng phân tích mối liên hệ giữa chế độ ăn uống giàu flavonoides và các bệnh tim mạch (đột qụy, nhồi máu) hay thoái hóa thần kinh (bệnh Alzheimer, Parkinson).

“ Toàn bộ các thông tin có được như thế cho thấy một khuynh hướng chung tán trợ cho việc liên kết giữa sự tiêu thụ rượu vang đỏ có mức độ (một hay hai ly mỗi ngày), (trên mức này, những tác dụng có hại của rượu làm đảo ngược khuynh hướng), của sự tiêu thụ trà xanh hay trà đen và cacao và tỷ lệ tử vong nguồn gốc tim mạch hay thoái hóa thần kinh, GS Jean-Claude Stoclet, ủy viên của Hội hàn lâm dược học (đại học Strasbourg) đã giải thích như vậy.

Vậy có vẻ hợp lý khi đưa ra giả thuyết, theo đó sự tiêu thụ đều đặn của vài loại trái cây giàu flavonoides hay những chế phẩm phát xuất từ đó, rượu vang đỏ, một vài nước nho vắt, trà xanh và đen (trong một chừng mực ít hơn), cacao, được liên kết với một sự giảm tỷ lệ tử vong… ”

SỰ ỨC CHẾ CỦA MỘT VÀI GENE .

Bằng cớ chính thức chỉ có thể được mang lại, sau những thử nghiệm lâm sàng so sánh một chế độ ăn uống giàu flavonoides với một chế độ ăn uống nghèo flavonoides. Chúng ta hãy ghi nhận rằng hầu hết các công trình nghiên cứu không phát hiện mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu flavonoide và ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu thí nghiệm, trên cấy tế bào hay mô hình động vật, đã phát hiện một tác dụng của các flavonoides lên thành trong của các huyết quản, với một sự gia tăng của các yếu tố giãn mạch và chống tăng sinh (facteurs vasodilatateurs en antiprolifératifs). Những chất này cũng tác dụng bằng sự ức chế của vài loại gène, để dẫn đến một tác dụng kháng viêm.

Người ta tìm thấy ở đâu các flavonoides này ? Nhiều trăm flavonoides khác nhau đã được nhận diện. Mặc dầu có nhiều điều không chắc chắn, nhưng có vẻ như rằng các flavonoides có một tác dụng bảo vệ, thuộc về các lớp của các flavonols (rượu vang đỏ, trà, cacao) và của các chất anthocyanines (các trái cây đỏ, quả anh đào, cassis). “ Khi tính đến các dữ kiện mới đây về các hiệu quả và các cơ chế tác dụng của vài flavonoides, ta có thể dễ bị cám dỗ khi chủ trương ngay từ bây giờ một sự tăng cường flavonoides trong chế độ ăn uống, GS Stoplet đã đánh giá như vậy. Cần phải cưỡng lại sự cám dỗ này : ngoài những điều không chắc chắn về bản chất của các hợp chất hữu ích, về những lượng cần phải cho, không hoàn toàn loại bỏ sự hiện diện của những tác dụng phụ. ” Đối với GS François Chast, chủ tịch của Viện hàn lâm dược khoa, “ trên cơ sở của các dữ kiện hiện nay, một sự tăng cường các cố gắng nghiên cứu có vẻ được biện minh và khẩn cấp ”.
(LE FIGARO 28/1/2010)

4/ ARN CÓ THỂ PHONG BỀ VIRUS CỦA VIÊM GAN C.

Một phép điều trị di truyền (traitement génétique) mới chống lại virus của viêm gan C, đã được trắc nghiệm nơi khỉ. Thuốc mới này có hai ưu điểm so với những thuốc cổ điển : nó hiệu quả ngay cả nhiều tháng sau khi đã cho thuốc và không gây nên đề kháng với virus. Giải thích : để tăng sinh, virus của viêm gan C cần gắn vào một phân tử nhỏ ARN, miR-122, hiện diện rất nhiều trong gan. Do đó, Robert Lanford (tổ chức nghiên cứu sinh y học San Antonio, Hoa Kỳ) và Henrik Orum (Santaris Pharma, Đan Mạch) đã có ý nghĩ phong bế ARN này bằng cách sử dụng một ARN khác, bổ sung, gắn vào đúng nơi bám của virus của viêm gan C. Điều trị như thế đã cho phép làm giảm số virus trong máu của các con khỉ được dùng để nghiên cứu. Điều trị này đã là đối tượng của một thử nghiệm lâm sàng được gọi là giai đoạn I, nhằm trắc nghiệm tính vô hại của nó nơi một số nhỏ những người tình nguyện mạnh khỏe. Theo những đánh giá của OMS, viêm gan C gây bệnh cho gần 3% dân số thế giới.
(SCIENCES ET VIE 2/2010)

5/ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ (DEMENCE) LIÊN KẾT VỚI CÁC TIỀN SỬ CAO HUYẾT ÁP.


Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã nghiên cứu mối liên hệ giữa huyết áp của các phụ nữ lúc họ được đưa vào trong công trình nghiên cứu Women’s Health initiative (WHI), điều trị cao huyết áp và những bất thường của chất trắng (substanche blanche) não bộ. Công trình nghiên cứu này là một phần của WHI Memory Study (WHIMS), bao gồm 1.424 phụ nữ, 65 tuổi hoặc hơn, chịu một sự kiểm tra hàng năm huyết áp cũng như một IRM não bộ của họ.

Lewis Kuller và các cộng sự viên đã quan sát thấy rằng những người tham dự vốn cao huyết áp (14/9 hoặc hơn) vào lúc đầu công trình nghiên cứu, cho thấy những thương tổn của chất trắng trên scan IRM, được thực hiện 8 năm sau, nhiều hơn một cách đáng kể so với những người huyết áp bình thường. Các thương tổn thường xảy ra hơn trong thùy trán (lobe frontal), trung tâm kiểm soát cảm xúc và nhân cách của não bộ, hơn là trong các thùy chẩm (occipital), đỉnh (pariétal) và thái dương (temporal). Huyết áp vào lúc đầu công trình nghiên cứu rất có liên quan với các thể tích của các thương tổn của chất trắng.

Những kết quả này xác nhận mối liên hệ giữa cao huyết áp/điều trị kiểm soát cao huyết áp và những bất thường của chất trắng não bộ. Các dữ kiện cũng biện minh cho sự kiểm tra chặt chẽ và chính xác của huyết áp, ở giai đoạn sớm trong cuộc đời, như là phương cách khả dĩ, và có lẽ duy nhất, để phòng ngừa chứng sa sút trí tuệ (démence).

“ Các phụ nữ phải được khuyến khích kiểm soát huyết áp của họ khi họ còn trẻ tuổi hay ở lứa tuổi trung niên, nhằm ngăn ngừa những vấn đề quan trọng về sức khỏe về sau này trong cuộc đời. Sự phòng ngừa và sự điều trị kiểm soát cao huyết áp và những rối loạn mạch máu não có thể là liệu pháp phòng ngừa tốt nhất hiện nay của chứng sa sút trí tuệ ”, BS Kuller đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/1/2010)

6/ BỆNH ALZHEIMER: HƯỚNG ĐIỀU TRỊ CỦA CÁC THUỐC CHỐNG CAO ÁP.

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ gợi ý rằng các chất đối kháng của các thụ thể angiotensine (antagonistes des récepteurs de l’angiotensine) không những làm hạ huyết áp, mà đồng thời còn bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer và những dạng sa sút trí tuệ khác.

Chứng sa sút trí tuệ (démence), cũng như bệnh Alzheimer, là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với y tế cộng đồng, nhất là dân số người già không ngừng gia tăng. Loại bệnh lý này gây nên những phí tổn quan trọng vì lẽ bệnh nhân thường lưu trú dài lâu trong một nhà dưỡng lão (maison de repos) hay trong một cơ sở điều trị khác.

Các nguyên nhân của chứng sa sút trí tuệ, và đặc biệt là bệnh Alzheimer, là phức tạp. Tuy nhiên dường như ngày càng rõ ràng rằng 3 yếu tố nguy cơ đóng một vai trò thiết yếu : tuổi tác cao, sự tích tụ của bêta-amyloide trong não bộ, và tình trạng hư hỏng của hệ tim mạch. Thật vậy các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ tim mạch ở tuổi trung niên (tăng cholestérol-huyết, cao huyết áp và bệnh đái đường) góp phần vào sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ. Điều này giải thích sự quan tâm đối với các thuốc tác dụng chống lại những yếu tố nguy cơ này. Hy vọng rằng những loại thuốc này cũng làm giảm tỷ lệ mắc phải chứng sa sút trí tuệ.

SỰ GIẢM ĐÁNG KỂ.

Nhà thống kê Nien-Chen Li và các cộng sự viên (Boston University School of Public Health, USA) đã tiến hành một công trình nghiên cứu để kiểm tra xem một lớp đặc biệt của các thuốc cao huyết áp, các chất đối kháng của các thụ thể của angiotensine (antagonistes des récepteurs de l’angiotensine), có thật bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer hay không. Công trình nghiên cứu bao gồm 819.491 người trên 65 tuổi (98% là đàn ông) bị một bệnh tim mạch. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá trong nhóm người tham gia này tỷ lệ mắc phải sa sút trí tuệ từ năm 2002 đến 2006.

Họ đã so sánh 3 loại : một nhóm nhận các chất đối kháng của các thụ thể của angiotensine, một nhóm sử dụng inhibiteur ACE và một nhóm thứ ba đã nhờ đến các loại thuốc khác để chống lại các bệnh tim mạch (ngoại trừ các statines).

Phân tích cho thấy rằng, trong nhóm người chủ yếu là nam giới, các chất đối kháng của các thụ thể của angiotensine được liên kết với một sự giảm đáng kể của tỷ lệ và của sự tiến triển của bệnh Alzheimer và những dạng khác của chứng sa sút trí tuệ, so sánh với những inhibiteur ACE và những loại thuốc khác được sử dụng. Người ta cũng đã chứng thực rằng các chất đối kháng của các thụ thể angiotensine có một tác dụng bổ sung nếu chúng được phối hợp với một inhibiteur ACE. Những người đã nhận phối hợp này phát triển bệnh sa sút trí tuệ ít hơn và ít bị đưa nhanh đến một cơ sở điều trị hơn, so với nhóm chỉ nhận các inhibiteur ACE.

“ Nếu chúng ta khám phá một phương cách hiệu quả đề phòng ngừa chứng sa sút trí tuệ, điều đó sẽ có một tác động to lớn lên y tế cộng đồng ”, các giáo sư của đại học Calgary đã viết như vậy trong một bài xã luận của tạp chí BMJ.

“ Sự theo đuổi các nghiên cứu cho phép xác nhận tính hữu ích của các thuốc chống cao áp, đặc biệt là các thuốc chống cao áp của lớp các chất đối kháng của các thụ thể angiotensine (antagonistes des récepteurs de l’angiotensine), đối với chỉ định này ”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/1/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 51 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (18/11/2007)

3/ THUỐC CHỐNG TĂNG HUYẾT ÁP CHỮA BỆNH ALZHEIMER .

Theo một nghiên cứu được tiến hành bởi BS.Pasinetti, các thuốc chống tăng huyết áp có thể làm giảm đáng kể nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer. Các nhà nghiên cứu này đã dành 2 năm để khảo sát một ngàn thứ thuốc khả dĩ có những hiệu quả dương tính lên bệnh Alzheimer và chứng sa sút trí tuệ.Trong số 55 thuốc chống tăng huyết áp được chọn lựa, có 7 loại thuốc tỏ ra có hứa hẹn bởi vì tuồng như chúng ngăn ngừa sự sản xuất beta amyloide. Các công trình được tiến hành trên một mẫu chuột Alzheimer đã chứng tỏ rằng propranolol, carvédilol, losartan, nicardipine, amiloride, hydralazine và valsartan ngăn ngừa sự sản xuất beta amyloide nơi động vật này. Các tác giả nghĩ rằng nếu các dữ kiện này được xác nhận nơi người thì chúng ta sẽ có một phương cách mới điều trị bệnh Alzheimer. Tuy nhiên còn nhiều việc cần phải làm bởi vì vai trò tiềm năng của các thuốc này hiện đang còn trong thí nghiệm

Các nghiên cứu lâm sàng về sự ngăn ngừa và điều trị bệnh Alzheimer còn cần phải được thực hiện nếu như muốn nhận diện những thuốc có hoạt tính anti-oligomérique lên beta amyloide. Những thuốc này phải được cho với liều lượng không ảnh hưởng lên huyết áp của những bệnh nhân Alzheimer có huyết áp bình thường.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 9/11/2007)


7/ MẠCH, TỶ LỆ TỬ VONG TIM MẠCH VÀ THỂ DỤC : CÁC PHỤ NỮ ĐƯỢC ƯU ĐÃI.

Một mạch tim tăng cao lúc nghỉ ngơi được liên kết với một nguy cơ tử vong do suy động mạch vành lớn hơn. Các phụ nữ tập thể dục thấy nguy cơ này giảm đi rất nhiều.

Javaid Nauman và các cộng sự viện (đại học Trondheim, Na Uy) đã khảo sát mối liên hệ giữa các nhịp đập của tim lúc nghỉ ngơi và nguy cơ tử vong do suy động mạch vành. Họ cũng đã tự hỏi không biết mối liên hệ này có bị ảnh hưởng bởi sự tập thể dục hay không.

Các dữ kiện của họ được căn cứ trên một nhóm khoảng 50.000 người trưởng thành khỏe mạnh (24.999 đàn ông, 25.089 phụ nữ). Vào lúc thực hiện công trình (1984-1986), người ta đã thu góp các dữ kiện về lối sống (trong đó có sự luyện tập thể dục). Các yếu tố ảnh hưởng lên nguy cơ tim mạch, trong đó có mạch tim lúc nghỉ ngơi, cũng đã được đo.

Suốt trong thời gian theo dõi (trung bình 18 năm), 6033 người đàn ông và 4.442 người đàn bà bị chết do hậu quả của một bệnh tim mạch.

Phân tích cho thấy rằng khi mạch tim gia tăng lúc nghỉ ngơi, tỷ lệ tử vong do tim mạch cũng tăng cao, đặc biệt là tỷ lệ tử vong do bất túc động mạch vành và cơn đau thắt ngực (angor). Đối với mỗi gia tăng mạch tim 10 đập mỗi phút, nguy cơ tử vong do suy động mạch vành gia tăng nơi các phụ nữ 18%. Dầu sao đó là điều xảy ra nơi các phụ nữ dưới 70 tuổi. Trên lứa tuổi này, hiệu quả biến mất. Nơi những người đàn ông mà mạch tim gia tăng theo cùng tỷ lệ, thì nguy cơ tử vong gia tăng 10% trong nhóm những người trẻ tuổi nhất và 11% trong nhóm những người lớn tuổi hơn.

Điều đáng ngạc nhiên là vai trò của tập thể dục : Việc tập thể dục dường như bù lại nguy cơ liên kết với mạch tim nhanh lúc nghỉ ngơi. Nhưng điều chứng thực này chỉ áp dụng đối với các phụ nữ : những phụ nữ thực hiện nhiều hoạt động vật lý có một nguy cơ chết vì bất túc động mạch vành thấp hơn, dầu cho mạch của họ lúc nghỉ ngơi như thế nào. Một sự bù trừ như thế không được thấy nơi các người đàn ông.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/1/2010)

8/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1 THỂ NẶNG : SỰ THÀNH CÔNG CỦA CÁC PHẪU THUẬT GHÉP NHỮNG TẾ BÀO TỤY TẠNG.

GS François Pattou là trưởng khoa ngoại tổng quát và nội tiết của CHRU de Lille, giám đốc của đơn vị INSERM 859. Tạp chí khoa học “ Diabetes Care ” xác nhận những kết quả dài lâu của bước tiến bộ mà GS François Pattou bình luận.

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh đái đường loại 1 ?
GS François Pattou : Bệnh đái đường loại 1 tương ứng với một trường hợp trên 10 trường hợp bệnh đái đường, khi có sự phá hủy hoàn toàn và không đảo ngược của những tế bào của tụy tạng tiết insuline, được gọi là “ các đảo nhỏ Langerhans ”. Sự vắng mặt insuline ngăn cản việc sử dụng đường (nhiên liệu cần thiết cho tất cả các chức năng của chúng ta) bởi toàn thể các tổ chức mô của cơ thể, do đó tạo nên sự nghiêm trọng của bệnh này ! Những triệu chứng đầu tiên được thể hiện bởi một sự gầy ốm, khát nước mãnh liệt và một sự gia tăng nước tiểu. Khi đó người ta đo nồng độ đường trong máu, nếu cao một cách bất thường, thì đó là dấu hiệu của bệnh đái đường.

Hỏi : Điều trị thông thường của bệnh đái đường loại 1 là gì ?
GS François Pattou : Điều trị gồm có :
  • Mỗi ngày chích nhiều mũi tiêm insuline (mà bệnh nhân tự quản lý lấy nhờ một bút tiêm (stylo injecteur) hay một bơm tiêm mang theo người (pompe portable).
  • Một sự kiểm tra nghiêm ngặt chế độ ăn uống (cung cấp đường và mỡ phải được hạn chế).
  • Một hoạt động vật lý đều đặn nhằm làm giảm nồng độ đường-huyết.

Tất cả các bệnh nhân đái đường này kiểm tra đường huyết của họ nhiều lần mỗi ngày (bằng cách sử dụng một máy đọc đường huyết (lecteur de glycémie) sau khi đã tự chích vào đầu ngón tay). Trong trường hợp quá liều insuline, họ có nguy cơ bị hạ dưỡng huyết (hypoglycémie), có thể là nguồn gốc của các biến chứng thần kinh.

Hỏi : Những kết quả thu được với điều trị này là gì ?
GS François Pattou : Trong phần lớn các trường hợp, các bệnh nhân đái đường loại 1 đã học cách kiểm soát bệnh của mình và sống một cách bình thường. Một vài người trong số những bệnh nhân này, với thời gian, không còn có thể đạt quân bình nồng độ đường trong máu của họ và ngày càng bị các giảm đường huyết, mà họ không cảm thấy, đó mới là nguy hiểm ! Khi đó họ có nguy cơ bị hôn mê đái đường (coma diabétique), đôi khi có thể đe dọa tiên lượng sinh tồn. Với năm tháng trôi qua, sự gia tăng của nồng độ đường trong máu có thể dẫn đến những biến chứng, như bệnh võng mạc (rétinopathie), bệnh tim mạch, hay một suy thận cần phải ghép thận.

Hỏi : Vậy chính những bệnh nhân gặp khó khăn này là đối tượng của phẫu thuật ghép những tế bào tụy tạng. Protocole của phẫu thuật ghép là gì ?
GS François Pattou : Đó là một phương pháp sinh học còn đang được thí nghiệm, chỉ liên hệ đến những bệnh nhân trưởng thành bị một thể rất nặng. Mục đích là cung cấp cho cơ thể những tế bào sản xuất insuline và điều hòa sự tiết của chúng. Protocole gồm trước hết trích các đảo nhỏ Langerhans từ một tụy tạng được lấy nơi một người cho đã chết. Rồi, giai đoạn hai, bằng tiêm truyền, đưa những đảo nhỏ Langerhans này vào trong tĩnh mạch của gan người bệnh. Sau đó, những tế bào tụy tạng này sẽ đo thường trực nồng độ đường trong máu và phóng thích liều insuline cần thiết cho cơ thể.

Hỏi : Vậy có một nguy cơ bị thải bỏ (rejet) hay không ?
GS François Pattou : Có. Do đó cần liên kết với thủ thuật ghép này một điều trị chống thải bỏ (traitement anti-rejet) để cho các tế bào được ghép không bị tiêu hủy bởi hệ miễn dịch.

Hỏi : Những bất tiện của điều trị chống thải bỏ này là gi ?
GS François Pattou : Do làm giảm các phòng vệ miễn dịch, điều trị chống thải bỏ gây nên những nguy cơ nhiễm trùng hay sự xuất hiện vài loại ung thư. Những bệnh nhân được ghép này phải được theo dõi.

Hỏi : Đến nay, những kết quả thu được từ những thủ thuật ghép này là gì ?
GS François Pattou : Cùng với bà đồng nghiệp chuyên về bệnh đái đường của tôi, BS Vantyghem, chúng tôi đã tiến hành một công trình nghiên cứu đầu tiên vào năm 2003 trên 14 bệnh nhân. Hiện nay, 8 trong số những người được ghép này vẫn lành mạnh, sống bình thường và không còn phải nhận một mũi tiêm insuline nào nữa. Trong số 6 bệnh nhân khác, thì ba bệnh nhân, mặc dầu được ghép, phải tiếp tục lại những liều insuline tối thiểu nhưng không còn bị một hiện tượng hạ đường huyết nào nữa. 3 bệnh nhân sau cùng, 5 năm sau khi được ghép, đã đánh mất các vật ghép (greffon) và trở lại tình trạng trước đây. Kết luận : hơn một nửa các bệnh nhân được ghép hôm nay không cần đến insuline, đây là một đầu tiên trên thế giới trong điều trị những bệnh nhân đái đường vô cùng nặng này !
(PARIS MATCH 21/1-27/1/2010)

9/ ĂN ÍT NHANH HƠN ĐỂ ÍT BÉO PHÌ HƠN.

ALIMENTATION. Ăn ít nhanh hơn cho phép chống lại một cách hiệu quả bệnh béo phì. Đó là điều được chứng tỏ bởi mandomètre, một chiếc máy lạ kỳ được hiệu chính bởi Per Sodersten, thuộc Viện Karolinsa, Stockholm (Thụy Điển) và tuần này được trình bày trên site Internet của British Medical Journal. Chiếc cân trò bé nhỏ này được đặt dưới đĩa ăn và được nối với một máy vi tính, tác dụng như một tên “ mật thám ” nằm vùng để đo tốc độ khi người ta ăn.

Suốt trong bữa ăn, một biểu đồ hiện lên trên màn ảnh, tùy theo trọng lượng thức ăn được lấy trong đĩa và tùy thuộc vào thời gian cần thiết để hấp thụ nó. Người sử dụng sau đó có thể so sánh đường cong được phát sinh như vậy với đường cong lý tưởng được xác định trước đây bởi nhà dinh dưỡng. Một khi đã ăn xong, máy vi tính chỉ rõ là bữa ăn đã được ăn quá nhanh hay không hoặc là quá chậm. Nhờ những chỉ dẫn được cung cấp bởi bệnh nhân, mandomètre cũng tính mức độ no nê (taux de satiété) và so sánh, luôn luôn theo cùng nguyên tắc, với một đường cong “ bình thường ”.

Một nhóm nghiên cứu của clinique de l’obésité của bệnh viện nhi đồng Bristol (Anh), được điều khiển bởi giáo sư Julian Hamilton-Shield, đã nghiên cứu ảnh hưởng của sự sử dụng mandomètre trên 106 thiếu niên bị tăng thể trọng, tuổi từ 9 đến 17, được so sánh với một nhóm chứng.Tất cả được khuyến khích luyện tập thể thao trong ít nhất một giờ mỗi ngày và theo một chế độ ăn uống cân bằng, được xác định bởi Food Standards Agency Anh.

Các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng các thiếu niên tham gia công trình nghiên cứu của họ đã có thói quen ăn quá nhanh. Nhưng sau một năm họ đã chứng thực rằng những người sử dụng mandomètre đã ăn vào những khẩu phần thực phẩm với lượng ít quan trọng hơn và với một tốc độ ăn giảm 1%. Nhất là, chỉ số khối lượng cơ thể (IMC > 25: tăng thể trọng và > 30 : bệnh béo phì) đã hạ trung bình 2,1 điểm. Sự cải thiện đáng kể này được duy trì trong 6 tháng sau khi ngưng sử dụng máy. Điều này gợi ý một sự cải thiện dài lâu của hành vi ăn uống. Kết quả đáng lưu ý khác : nồng độ cholestérol tốt trong máu (HL) đã tăng cao hơn một cách đáng kể. Để so sánh, nơi các trẻ thuộc nhóm chứng (không sử dụng mandomètre nên ăn nhiều và nhanh), chỉ số khối lượng cơ thể (IMC) đã 3 lần thấp hơn, với một sự gia tốc 4% thời gian cần để ăn.

“ Bằng cách tập trung vào tốc độ hấp thụ và khối lượng thức ăn được ăn vào của bữa ăn và bằng cách tăng cường cảm giác no nê, máy mandomètre bổ sung một cách hữu ích cho những phương pháp hiện đang có sử dụng (còn hiếm hoi) để chống lại chứng béo phì của các thiếu niên, mà không cần phải nhờ đến thuốc men ”, các tác giả của công trình nghiên cứu trong BMJ đã ghi nhận như vậy.
(LE FIGARO 18/1/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 104 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (4/12/2008)

2/ ĂN KHÔNG THÍCH THÚ LÀM DỄ PHÁT SINH CHỨNG BÉO PHÌ

Để giữ thân hình mảnh khảnh, không gì bằng sự cảm thấy thích thú trong khi ăn! Thật vậy, những người bị gia tăng thể trọng (surpoids) là kết quả của sự thiếu hụt trong việc hoạt hóa những trung tâm não bộ phụ trách về sự thích thú (plaisir) và do đó ăn nhiều hơn để bù trừ sự thiếu hụt này, theo Eric Stice thuộc đại học Texas. Nhờ những kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ, ông ta đã theo dõi sự đáp ứng của đường vòng khen thưởng (circuit de récompense) nơi những thiếu nữ đang nhấm nháp milk-shake au chocolat. Vùng này của não bộ tiết dopamine, chất dẫn truyền thần kinh gây nên một cảm giác thích thú, tỷ lệ với lượng thức ăn được ăn vào. Đây là một phương cách của cơ thể cho biết là tình trạng no nê đã đạt được. Nơi vài thiếu nữ, dopamine được tiết không được đầy đủ và các thụ thể của dopamine hiện diện với số lượng thấp hơn. Thế mà chính những thiếu nữ này lại có chỉ số khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) cao nhất sau một năm thí nghiệm. Một hướng để tìm những thuốc mới chống bệnh béo phì.
(SCIENCE ET VIE 12/2008)


10/ TRÀ XANH HIỆU QUẢ TRONG SỰ NGĂN NGỪA UNG THƯ PHỔI.

Nguyên nhân đầu tiên của tử vong ở Đài Loan là ung thư phổi.

Rất nhạy cảm với tai ương này, nhóm nghiên cứu của BS I-Hson Lin (Chung Shan Medical University) đã tiến hành một cuộc điều tra về những thói quen sinh sống của 170 bệnh nhân bị ung thư phổi và của 340 người chứng lành mạnh. Những kết luận của công trình nghiên cứu mới đây đã được trình bày tại hội nghị về những cơ chế phần tử, nguồn gốc của ung thư phổi, ở Colorado (Californie). Các kết quả gây ngạc nhiên : nơi những người hút thuốc không uống trà xanh, nguy cơ được nhân lên 12,7 lần so với những người hút thuốc nhưng uống trà xanh (ngay cả chỉ uống một tách mỗi ngày). Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ sự hiện diện của những profil di truyền được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ mắc phải ung thư này. Nơi những người có mức độ nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique) thuận lợi, trà xanh làm gia tăng tác dụng bảo vệ. Các chất có lợi, được chứa trong trà xanh, có một tác dụng lên tính ổn định của các tế bào và các gène của chúng. Đó là các polyphénol, các chất chống oxy hóa (antioxydant) được biết rõ, thí dụ như épigallocatéchine, có tác dụng 200 lần mạnh hơn vitamine E.
(PARIS MATCH 4/2-10/2/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (8/2/2010)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san kho

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969