Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 33
Lượt truy cập: 1028460
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ TẠI SAO CÀNG NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU UNG THƯ ?

Giáo Sư Maurice Tubiana,
Thầy thuốc chuyên khoa ung thư
,
Hội viên của Viện Hàn làm Y Học quốc gia


Từ năm mươi năm qua, số các trường hợp ung thư đã gia tăng ở Pháp, do sự gia tăng dân số, từ 45 triệu năm 1950 lên 65 triệu hôm nay, và là do sự kéo dài của tuổi thọ, từ 59 lên 81 tuổi. Thế mà ung thư, thường hiếm trước 45 tuổi, sau đó gia tăng với tuổi tác. Ngoài ra, sự khám nghiệm thăm dò (dépistage) phát hiện những ung thư nhỏ không tiến triển ; những ung thư này đáng lý ra đã không bao giờ được phát hiện ; việc phát hiện những vi ung thư (microcancer) hiền tính này là cái giá phải trả để chẩn đoán sớm các ung thư tiến triển. Những sự kiện này giải thích rằng, mặc dầu sự gia tăng số các trường hợp ung thư, tỷ lệ chết vì một ung thư mỗi năm đã giảm nơi các phụ nữ khoảng 0,5% và ở Pháp đó là một trong những tỷ lệ thấp nhất trên thế giới. Mặt khác, các người Pháp có một trong những tuổi thọ dài nhất trên thế giới, điều này chứng tỏ rằng môi trường và điều trị nằm trong số những nước tốt nhất.

Để đi xa hơn, phải xem xét tiến triển của những loại ung thư khác nhau. Số các trường hợp ung thư vú đã gia tăng, vì nhiều lý do : trước hết có một sự gia tăng tỷ lệ của các phụ nữ tăng thể trọng (surpoids), điều này làm dễ tỷ lệ mắc phải những ung thư này sau thời kỳ mãn kinh. Sau đó, một thai nghén trước 25 tuổi làm giảm nguy cơ của ung thư vú. Thế mà ngày nay, hơn một nửa những thai nghén đầu tiên xảy ra sau 30 tuổi ; sau cùng, có những điều trị bằng hormone thay thế của chứng mãn kinh, cần phải giới hạn vào những trường hợp cần thiết về mặt y khoa. Tuy vậy, từ năm 1990, tỷ lệ tử vong do ung thư vú giảm , nhờ những chẩn đoán sớm hơn và nhờ những điều trị hiệu quả hơn. Tần số của những ung thư khác đã giảm : tỷ lệ mắc phải ung thư dạ dày được chia 5 từ năm 1950, mặc dầu dạ dày là tạng bị tiếp xúc nhất với các chất gây ung thư hiện diện trong thức ăn. Sự giảm tỷ lệ ung thư dạ dày là do một chế độ ăn uống giàu các sản phẩm tươi hơn và do sự điều trị chống lại các nhiễm trùng dạ dày.

Ung thư cổ tử cung vào năm 1939 là ung thư thường xảy ra nhất nơi phụ nữ ; loại ung thư này gần như đã biến mất nơi các phụ nữ thực hiện đều đặn những frottis cổ tử cung-âm đạo ; than ôi ! ¼ các phụ nữ không thực hiện những xét nghiệm này, đôi khi vì những lý do văn hóa. Trong những trường hợp này, cần phải nhờ đến sự tiêm chủng chống lại virus papillome vào tuổi dậy thì. Cũng cần khẩn trương tiêm chủng một cách có hệ thống các thiếu niên chống lại viêm gan B, là nguồn gốc của ung thư gan, những loại ung thư này ở Pháp tương đối thường xảy ra.

Nơi các người đàn ông, nguy cơ chết vì một ung thư đã gia tăng từ năm 1950 đến 1990, rồi đã giảm khoảng 1% mỗi năm, nhưng tuy vậy nguy cơ chết vì ung thư vẫn là một trong những nguy cơ cao nhất ở Châu Âu. Tiến triển này theo tiến triển của sự tiêu thụ thuốc lá và rượu, là nguyên nhân của ½ của những ung thư nam giới (1/4 của các ung thư nữ giới). Ở Pháp, chỉ có sự gia tăng giá cả, với điều kiện ít nhất là 10%, mới có thể làm hạ chứng nghiện thuốc lá. Cần khẩn trương thực hiện điều đó và chống lại chứng nghiện rượu.

Nhưng số các trường hợp ung thư mới đã gia tăng từ năm 1985. Môi trường thường được quy trách nhiệm nhưng những công trình nghiên cứu được tiến hành bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (CIRC) cho thấy rằng ảnh hưởng của môi trường là thấp. Ngược lại, các ung thư tuyến tiền liệt (cancer de la prostate) đã trở nên thường xảy ra hơn mặc dầu tỷ lệ tử vong lại giảm. Sự gia tăng này là do việc đưa vào xét nghiệm định lượng PSA, không những cho phép chẩn đoán sớm nhưng cũng cho phép phát hiện những bệnh hiền tính của tuyến tiền liệt. Hơn một nửa các người đàn ông trên 60 tuổi có những ung thư nhỏ không tiến triển, vẫn trong tình trạng ngấm ngầm không triệu chứng. Vậy đúng là PSA dẫn đến một sự phát hiện gia tăng số các trường hợp ung thư tiến triển.

Rốt cục chỉ có số các trường hợp lymphome non hodgkinien đã gia tăng mà người ta không biết tại sao. Ngoài việc đấu tranh chống lại thuốc lá và rượu, chỉ cần cho áp dụng những quy tắc vệ sinh là đủ : theo dõi thể trọng, tập thể dục (5 giờ mỗi tuần), hạn chế sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, giới hạn việc cho hormone vào những trường hợp được biện minh về mặt y khoa. Điều này đòi hỏi sự can đảm về phía các thầy thuốc và của Nhà nước, nhưng cũng đòi hỏi một thông tin hợp lý.
(LE FIGARO 15/3/2010)

2/ NGỦ TRƯA CÓ HẠI ?

Một công trình nghiên cứu mới đây đã quan sát thấy, trong dân chúng người Hoa lớn tuổi, một sự liên kết hơi gây ngạc nhiên giữa các giấc ngủ trưa (một thói quen rất thường thấy và được chấp nhận về mặt xã hội ở Trung Quốc) và bệnh đái đường. Sau khi thực hiện sự điều chỉnh đối với nhiều yếu tố có khả năng gây lẩn lộn, nhất là một tình trạng sức khỏe xấu có thể biện minh cho một giấc ngủ gà vào ban ngày, các tác giả kết luận rằng rất có thể có một mối liên hệ nhân quả (un lien de cause effet) giữa hai hiện tượng này : ngủ trưa thường hơn và giấc ngủ dài hơn (>30 phút) là nguyên nhân của một nguy cơ gia tăng bị bệnh đái đường.
(LE GENERALISTE 18/3/2010)

3/ BỆNH TỰ KỶ (AUTISME) : HƯỚNG DI TRUYỀN.

Thái độ xử trí đối với bệnh có nhiều dạng khác nhau này đã biến đổi một cách cơ bản trong 10 năm qua.

NEUROLOGIE. Bệnh tự kỷ (autisme) là một bệnh có nhiều thể dạng, nhưng có cùng những tính chất chung làm nền tảng cho chẩn đoán. Theo chiều hướng này, bệnh tự kỷ là một tổng hợp các dấu hiệu, một “ hội chứng ” hơn là một bệnh đơn độc và duy nhất. Ở Pháp, bệnh này ảnh hưởng lên 400.000 người (theo OMS), với một nguy cơ 4 lần cao hơn đối với các thiếu niên trai.

Chính thầy thuốc thần kinh-tâm thần (neuropsychiatre) Hoa Kỳ Léo Kanner lần đầu tiên vào năm 1943 đã dùng thuật ngữ này để mô tả những trẻ em nhỏ tuổi bị một rối loạn sớm và toàn bộ của sự phát triển của các tương tác xã hội và tình cảm (interactions sociales et affectives). Chữ tự kỷ, khởi thủy được mượn từ tâm thần học (psychiatrie) của người lớn, để chỉ sự thu mình lại (repli sur soi) rất rõ rệt của các trẻ em bị bệnh này.

“ Đôi khi bố mẹ, ngay năm đầu tiên, cảm nhận được hành vi đặc biệt của em bé, được đánh dấu bởi một thái độ hững hờ, sự vắng bóng của những tiếp xúc thị giác, của những nụ cười, của những lời nói líu lo... Tất cả những dấu hiệu mà qua đó em bé thường chứng tỏ mối quan tâm đặc biệt của nó đối với thế giới chung quanh ”, GS Catherine Berthélémy, thầy thuốc tâm thần trẻ em (pédopsychiatre) của CRHU Bretonneau de Tours đã giải thích như vậy. Nhưng ngay cả khi sự thăm dò phát hiện của những em bé có nguy cơ phải càng ngày càng sớm để có thể đề nghị một thái độ điều trị thích ứng càng sớm càng tốt, mặc dầu vậy chẩn đoán vẫn khó xác nhận trước 3 tuổi. “ Thật vậy, chẩn đoán chỉ dựa vào những dấu hiệu hành vi. Ngày nay không có một phương tiện sinh học hay di truyền nào để chẩn đoán căn bệnh này ”, người thầy thuốc đã nhấn mạnh như vậy.

Chẩn đoán sớm dựa vào sự hiện diện đồng thời của ba loại rối loạn hành vi : rối loạn của quá trình xã hội hóa (trouble de socialisation) (đứa bé, với vẻ mặt không diễn cảm, dường như cô đơn, chỉ chơi một mình, ít có tiếp xúc tình cảm và cư xử với người ta như thể đó là những đồ vật) ; rối loạn trao đổi (trouble de communication) (nó không nói, hay nói nhưng không tìm kiếm sự đối thoại) ; rối loạn thích nghi (trouble de l’adaptation) (một sự thay đổi nhỏ trong môi trường quanh nó có thể gây nên những cơn lo âu hay hung dữ, những hoạt động của nó ít đa dạng, lặp đi lặp lại, với những cử động khuôn sáo như vỗ tay, đu đưa...). “ Chính bộ ba này, được thể hiện bởi những mức độ khác nhau, xác định bệnh tự kỷ. Do đó trong cùng một ngày có khi tôi thực hiện chẩn đoán này nơi một đứa trẻ rất thông minh và một đứa trẻ khác rất thiểu năng ”, Catherine Barthélémy đã nhấn mạnh như vậy.

Thật vậy những biểu hiện này được tìm thấy trong những thể nặng, được đánh dấu bởi một sự chậm phát triển trí tuệ tột bực và sự vắng mặt của ngôn ngữ, cũng như trong bệnh Asperger, thể của người bị bệnh tự kỷ với những khả năng thông minh đôi khi ngoại hạng, được minh họa bởi Dustin Hoffman trong phim Rain Man. “ Nơi những người bị bệnh tự kỷ có trình độ cao này, một chẩn đoán đầu tiên vào năm 50 tuổi, sau một một cuộc sống lang thang điều trị, không phải là ngoại lệ, GS Marion Leboyer, thầy thuốc tâm thần phụ trách cụm bệnh viện Chenevier-Mondor de Créteil đã xác nhận như vậy.

Nguồn gốc của bệnh tự kỷ vẫn là một bí ẩn. Nơi 10% đến 20% các em bé, bệnh tự kỷ được gọi là “ hội chứng ” ( “ syndromique ”), bởi vì được liên kết với một bệnh di truyền hay bệnh chuyển hóa làm dễ (X fragile, sclérose tubéreuse, trisomie 21...). Nhưng trong 80% các trường hợp, người ta không biết được nguyên nhân. Tuy nhiên, những tiến bộ được thực hiện trong những năm qua từ nay cho phép loại bỏ cái quan niệm từ lâu đã ngự trị, quan niệm cho rằng căn bệnh do sự thu mình sớm của đứa bé này được gây nên bởi một mối quan hệ được cảm nhận như là âm tính với bà mẹ. Ngay vào những năm 1970, những tiến bộ của thần kinh học đã dẫn đến giả thuyết về một loạn năng não bộ (dysgonctionnement cérébral) và đã cho phép sự phát triển của các liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapies cognitives et comportementales) mới “ mặc dầu chưa có một điều trị nào trong những thái độ xử trí đa dạng này đã thực sự được chuẩn nhận về mặt khoa học cả ”, GS Barthélémy đã xác nhận như vậy. Người ta thường liên kết các liệu pháp nêu trên với rispéridone, một thuốc làm giảm sự lo âu và sự hung dữ liên kết với bệnh tự kỷ nhưng thuốc này không tác dụng trực tiếp lên căn bệnh.

SỰ CỘNG TÁC ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG.

Từ năm 2003, các công trình nghiên cứu đã nhận diện, nơi động vật hay trong những gia đình có nhiều người bị bệnh này, những biến dị trên các gène có liên hệ trong sự giao tiếp của các tế bào thần kinh. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa rằng bệnh tự kỷ có ít nhất một thành phần di truyền. Chẩn đoán một ngày nào đó có thể bị đảo lộn, và có lẽ về lâu dài cả các điều trị cũng vậy. Các hormone như mélatonine, thậm chí ocytoxine, dường như cũng can thiệp vào. Những tiến bộ của phép chụp hình ảnh não bộ gợi ý rằng một vùng đặc biệt của não bộ được liên kết với bệnh tự kỷ. Sự chuyển đổi từ một quan niệm phân tâm học (conception psychoanalytique) qua một cái nhìn thần kinh-sinh học (une vision neurobiologique) hơn về bệnh tự kỷ không phải luôn luôn được diễn ra mà không có sự va chạm giữa các người chuyên nghiệp, nhưng dần dần dẫn đến một sự công tác được tăng cường của các thầy thuốc tâm thần, các chuyên gia di truyền học và các thầy thuốc thần kinh. Không còn mặc cảm tội lỗi, các gia đình có con bị bệnh tự kỷ cũng càng ngày càng tham gia vào cuộc cách mạng đang diễn biến này.
(LE FIGARO 8/2/2010)


4/ DRACULA : MỘT NGƯỜI SỢ ÁNH SÁNH (PHOTOPHOBIQUE) NỒI TIẾNG.

Dracula, tên thật là Vlad III, là một nhân vật lịch sử trở nên huyền thoại. Hoàng tử của thế kỷ XV chứ không phải là bá tước, ông ưa thích xem máu chảy hơn là uống nó. Vậy đó hoàn toàn không phải là một quỷ hút máu (vampire) ! Trên thực tế, có lẽ ông bị bệnh porphyrie, một bệnh di truyền hiếm autosomique tính trội, gây bệnh cho khoảng một trên 10 đến 50 ngàn người. Những người bị bệnh porphyrie không chịu được ánh sáng mặt trời, do sợ ánh sáng (photophobie) nhưng cũng do nhạy cảm với ánh sáng (photosensibilité) làm bỏng rát da… và các lợi răng của họ, đến độ làm biến dạng mặt và làm cho các chiếc răng nổi dô ra. Ngoài ra, chứng rậm lông (hypertrichose) và sự thiếu máu của các bệnh nhân này khiến họ có một vẻ mặt nhợt nhạt và đáng lo ngại. Sự hấp thụ tỏi có thể làm trầm trọng bệnh porphyrie và gây nên những cơn dữ dội qua diallyl disulfide mà nó chứa. Người ta kể rằng hàng ngàn các trường hợp porphyrie được liệt kê ở Nam Phi được truyền bởi những hậu duệ của cùng một tổ tiên duy nhất, di cư đến Cap vào thế kỷ XII. Porphyrie cũng có thể được phát khởi do sự hấp thụ vài sản phẩm hóa học, dầu đó là tự nhiên hay tổng hợp. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, việc tiêu thụ lúa mì được xử lý bởi một chất diệt nấm (hexachlorobenzène), vào những năm 60, đã gây nên một dịch bệnh porphyrie thật sự. Dracula phải chăng đã trở thành cái điều mà ông đã là, do sự hấp thụ vài loại cây mọc trong vùng Carpates ? Dầu sao đi nữa, vào thời đó khi sự hiện hữu của “ dịch bệnh ” này được cáo giác với báo chí Hoa Kỳ, 5000 người mắc bệnh porphyrie đã bị đặt cách ly. Huyền thoại về ma cà rồng (vampire : quỷ hút máu) có ảnh hưởng lên các đám đông nhiều hơn là ý kiến của các thầy thuốc.
(LE GENERALISTE 18/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 63 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 09/02/2008 )

6/ PORPHYRIE (RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA PORPHYRINE)

Các rối loạn chuyển hóa porphyrine tạo nên một nhóm bệnh hiếm (khoảng 1 trường hợp trên 10.000 đến 50.000), đặc trưng bởi các rối loạn di truyền hay thụ đắc của sinh tổng hợp hème (nhóm ngoài của hémoglobine chứa porphyrine), trong đó các enzymes phụ trách các giai đoạn khác nhau của sự tổng hợp hème, bị khiếm khuyết một phần hoặc toàn phần.

Do các enzymes này bị thiếu hụt, porphyrine và các tiền chất (précurseurs) như acide delta-aminolévulinique (ALA) và porphobilinogène (PBG) được tích tụ trong các mô hoặc được thải trong nước tiểu hoặc trong phân. Porphyrie di truyền là những bệnh đơn gène (maladie monogénique), phần lớn được truyền theo cách nhiễm sắc thể thường, tính trội. Porphyrie mắc phải là do ngộ độc bởi kim loại nặng.

Các cơn porphyrie cấp tính với các triệu chứng lâm sàng không phải luôn luôn gợi ngay chẩn đoán, nhưng các thầy thuốc không thể không biết các triệu chứng này, bởi vì những sai lầm chẩn đoán và điều trị có thể gây nên tai họa. Thế thì khi nào phải nghĩ đến cơn porphyrie cấp tính? Chẩn đoán có thể được nghi ngờ trước một phụ nữ trẻ (25-35 tuổi trong 90% các trường hợp) kêu đau bụng dữ dội, không khu trú, đau các vùng thắt lưng lan xuống các chi dưới, kèm theo nôn mửa và táo bón. Khám bụng bình thường trên bình diện lâm sàng và quang tuyến. Nước tiểu có màu đỏ hoặc nhuộm màu khi gặp ánh sáng. Một bệnh sử gia đình porphyrie sẽ góp phần vào chẩn đoán, được xác nhận bởi đo nồng độ ALA và PGB trong nước tiểu. Phải nhập viện khẩn cấp để được điều trị đặc hiệu. Biến chứng đáng sợ là bại liệt hô hấp, và phải đưa vào phòng hồi sức nếu có các triệu chứng thần kinh.

PORPHYRIE VÀ VÀI GIAI THOẠI LỊCH SỬ

Porphyrie là một trong hai bệnh di truyền (bệnh kia là bệnh ưa chảy máu, hémophilie) đã giáng vào hoàng gia Anh. Bệnh porphyrie đã xuất hiện với Marie Stuart, hoàng hậu Ecosse. Marie Stuart, suốt đời đã bị những đợt rối loạn tâm thần và những cơn đau bụng, có lẽ đã bị vướng víu bởi căn bệnh này trong cuộc đấu tranh chống lại các thủ đoạn của hoàng hậu Anh, Elizabeth. Cuối cùng Elizabeth đã bắt giam và hành quyết Marie Stuart. Chắt gái của Marie Stuart là Henriette d’Angleterre, chết năm 29 tuổi, có lẽ là do một cơn porphyrie cấp tính. Henriette là vợ của Philippe d’Orléans, anh của Louis XIV.Chính Bossuet đã đọc bài điếu văn nổi tiếng vào lúc mất của Henriette. Lúc đọc bài điếu văn này ông đã thốt lên: «Ôi đêm trường tai hại ! Ôi đêm trường khủng khiếp ! Thình lình vang lên như một tiếng sét cái tin lạ lùng này : Đức bà đang chết ! Đức bà đã chết!». Một hậu duệ khác của dòng họ Stuart là Georges III. Trị vì nước Anh từ năm 1760 đến 1820 và đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh giành độc lập của Hoa Kỳ và các cuộc chiến với Napoléon, Georges III đã bị nhiều cơn ảo giác và hoang tưởng, được gán cho bệnh porphyrie. Các nhà viết sử cho rằng việc nhà vua đã có một vài quyết định ít đúng đắn có thể đã ảnh hưởng lên tiến trình của lịch sử. Georges III đã bị thay thế bởi một quan nhiếp chính khi nhà vua bắt đầu cho rằng các cây trong công viên của ông là vua nước Phổ. Dạng bệnh di truyền này được biểu hiện nơi nhiều con cháu hậu duệ thuộc các triều đại Stuart và Hanovre.
(LE GENERALITE 7/2/2008)


5/ SUY THẬN : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA GHÉP THẬN VƯỢT QUÁ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THẨM TÁCH THẬN.

NEPHROLOGIE. Các phẫu thuật ghép thận thường làm các bệnh nhân bị suy thận sợ hãi, nhưng xét về mặt chất lượng sống và tỷ lệ sinh tồn, cũng như về mặt kinh tế, thì ghép thận rõ rệt ưu việt hơn nhiều so với thẩm tách thận (dialyse rénale). Đó là điều mà các nhà chuyên gia muốn nhắc lại, hai ngày trước Ngày thế giới về thận, được tổ chức hôm 1/3. Trên bình diện thuần tài chánh, năm đầu tiên sau khi ghép thận tổn phí khoảng 46.000 euros. Sau đó hóa đơn hàng năm là 7600 euro, trong khi hóa đơn của một thẩm tách thận (dialyse rénale) lên đến 70.000 euro. Vào năm 2007, Quỹ Bảo hiểm-bệnh tật quốc gia đã chi phí 4 tỷ euro cho suy thận, 82% dành cho các thẩm tách và 18% dành cho ghép thận. Tuy nhiên chúng ta phải biết rằng không phải tất cả những người bị suy thận đều có thể là ứng viên của ghép thận, ví dụ trường hợp những bệnh nhân đái đường bị biến chứng suy thận. Nhưng hai công cuộc điều tra chưa từng có, được công bố hôm nay trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire, làm sáng rõ tính chất ưu việt của các ghép thận về mặt chất lượng sống.

Nhóm nghiên cứu của Serge Briançon (Trường Y Tế Cộng Đồng, Nancy) đã quan tâm đến 832 bệnh nhân được thẩm tách thận và 1061 người được ghép thận. Dầu cho các tham số được đo là gì (trạng thái vật lý, đau đớn, sức khỏe tâm thần, sức sống...), chất lượng sống của những người được ghép (greffés) cao hơn chất lượng sống của những người được thẩm tách (dialysés), mặc dầu vẫn dưới chất lượng sống của dân chúng nói chung. Nhìn toàn bộ, chất lượng sống tốt hơn trong nam giới. “ Tất cả những biện pháp khả dĩ để cải thiện khả năng được ghép và làm giảm thời gian lúc thực hiện thẩm tách sẽ phải được thực hiện. Hiệu quả có lợi này được quan sát ngay cả nơi người già ”, các tác giả đã kết luận như vậy. Tuổi tác ngày nay sẽ không còn là một yếu tố hạn chế nữa, GS Briançon đã nói thêm như vậy. Ngày nay, ở Pháp, khoảng 37.000 người được điều trị bằng thẩm tách và 31.000 đã được ghép thận. Tuy nhiên tần số của điều trị bằng thẩm tách hay ghép thận thay đổi theo vùng lãnh thổ.

Hiện nay, ở Pháp, hơn 90% các trường hợp thận được ghép phát xuất từ những người cho đã chết (donneurs décédés). “ Từ năm 1958, Pháp là nước tiền phong về việc lấy thận trên xác chết, Denis Glotz, trưởng khoa thận và ghép thuộc bệnh viện Saint Louis, Paris đã giải thích như vậy. Mặt khác, một vài thầy thuốc có thái độ rất ngập ngừng khi lấy thận nơi những người cho còn sống (donneur vivant).” Tuy vậy, từ năm 1958, Pháp chỉ có một trường hợp tử vong trong số những người cho này mà thôi.
(LE FIGARO 9/3/2010)

6/ NGĂN NGỪA CÁC HUYẾT KHỐI TRÊN STENT : ĐIỀU TRỊ MỚI.

GS Michel Desnos, trưởng khoa tim bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, giải thích tiến bộ quan trọng với sự thương mãi hóa mới đây ở Pháp thuốc prasugrel.

Hỏi : Trong những trường hợp nào khiến ta phải thực hiện một angioplastie đồng thời đặt stent và protocol là gì ?
GS Michel Desnos : Angioplastie là thủ thuật nhằm đưa một quả bóng nhỏ (baloonet) vào trong các động mạch của tim (các động mạch vành), để mở lỗ bị hẹp. Trong đại đa số các trường hợp, để tránh sự hẹp tái phát, người ta thiết đặt một loại lưới sắt nhỏ, được gọi là stent. Có hai chỉ định chính đối với thủ thuật này. 1. Nhồi máu cơ tim khi động mạch vành bị bít bởi một cục máu đông. 2. Những cơn đau ngực không kiểm soát được bằng điều trị ngoại khoa, bởi vì cơn đau xảy ra do động mạch bị hẹp. Ở Pháp, người ta thực hiện khoảng 120.000 angioplastie với đặt stent mỗi năm. Và con số này không ngừng gia tăng.

Hỏi : Những kết quả thu được là gì ? Những biến chứng là những biến chứng nào ?
GS Michel Desnos : Về nhồi máu cơ tim, từ 10 năm qua, kỹ thuật này đã cho phép một sự thu giảm một nửa tỷ lệ tử vong. Nhưng cũng như mọi sự can thiệp, có những nguy cơ có thể xảy ra trong khi làm thủ thuật hay xuất hiện thứ phát. Người ta quan sát thấy 2 biến chứng muộn. 1. Một sự hẹp trở lại (resténose) : sau 3 đến 6 tháng động mạch lại bị hẹp lại ở cùng vị trí trước đây. 2. Một sự tắc (occlusion) : động mạch bị trít lại hoàn toàn với huyết khối (thrombose) trên stent (2 đến 3%), một tai biến trầm trọng có thể dẫn đến tử vong (trong 40% các trường hợp).

Hỏi : Mãi đến nay, làm sao ta có thể ngăn ngừa những biến chứng này ?
GS Michel Desnos : Khi sự hẹp trở lại xuất hiện ở cùng một chỗ, ta có thể thực hiện một sự nong giãn mới. Để ngăn ngừa sự xuất hiện một huyết khối (thrombose), ta kê đơn một điều trị chống kết tụ tiểu cầu (traitement antiagrégant plaquettaire), sẽ ngăn cản sự tạo thành một cục máu đông (caillot) trong máu. Trong ít nhất năm đầu sau khi đặt stent, ta kê đơn hai thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégant) là aspirine kết hợp với clopidogrel (Plavix) và sau đó nói chung chỉ còn một thứ thuốc.

Hỏi : Những thất bại nơi các bệnh nhân được điều trị phòng ngừa này là do đâu ?
GS Michel Desnos : Chủ yếu do 3 nguyên nhân. 1. Một sự tuân thủ điều trị kém của các bệnh nhân, quên uống thuốc hay ngừng điều trị không được biện minh (ví dụ để chữa răng hay nội soi tiêu hóa). 2. Sự hiện hữu của vài loại bệnh liên kết, đặc biệt là bệnh đái đường. 3. Một sự đề kháng đối với clopidogrel do những bất thường di truyền được biểu hiện nơi gan : nơi 25% các bệnh nhân, chất chống ngưng kết này tỏ ra không có hiệu quả.

Hỏi : Liệu pháp mới nhất dành cho các trường hợp đề kháng với điều trị cổ điển là gì ?
GS Michel Desnos : Đó là prasugrel, một chất chống ngưng kết tiểu cầu mới được thương mãi hóa ở Pháp. Đối với những bệnh nhân đề kháng này, thuốc prasugrel có hiệu quả hơn và tác dụng của nó ít được liên kết với chuyển hóa gan hơn và do đó ít nhạy cảm hơn với những bất thường di truyền. Người ta kê đơn thuốc này với liều lượng 10 milligramme mỗi ngày, liên kết với 75 đến 325 mg aspirine.

Hỏi : Những thử nghiệm nào đã chứng tỏ hiệu quả của prasugrel ?
GS Michel Desnos : Công trình nghiên cứu lớn “ Triton ” (được công bố trong “ New England Journal of Medicine ”) đã được thực hiện trên hơn 13.000 bệnh nhân đã bị một nhồi máu cơ tim và mang stent (trong 700 bệnh viện của 30 nước). Các nhà nghiên cứu đã so sánh trong vòng một năm những bệnh nhân được điều trị cổ điển (aspirine +clopidogrel) với những bệnh nhân được điều trị bởi aspirine và prasugrel. Kết quả : thuốc mới đã tỏ ra có hiệu quả hơn do làm giảm 52% các huyết khối trên stent.

Hỏi : Điều trị mới này có gây nên những phản ứng phụ hay không ?
GS Michel Desnos : Điều trị với prasugrel có một nguy cơ gây xuất huyết, nhất là nơi não bộ, ít xảy ra hơn (2,4% các xuất huyết với clopidogrel so với 1,8% với prasugrel).

Hỏi : Người ta có thể giảm mối nguy hiểm này không ?
GS Michel Desnos : Có, bằng cách không cho thuốc này nơi các bệnh nhân có nguy cơ cao hơn : những người trên 75 tuổi, những người đã bị một tai biến mạch máu não, những người cân nặng dưới 60kg.
(PARIS MATCH 1/3-17/3/2010)

7/ HEN PHẾ QUẢN : MỘT VACCIN ?

Tỷ lệ lao phổi tăng cao ở Nhật Bản, do đó cần tiêm chủng tích cực. Nơi các trẻ em được tiêm chủng, các thầy thuốc Nhật đã chứng thực tỷ lệ hen phế quản 2 đến 3 lần ít hơn. Theo nhóm nghiên cứu của GS Gilles Marchal thuộc Viện Pasteur, BCG có một tác dụng chống hen phế quản. Những nhà nghiên cứu của Viện Pasteur đã sử dụng một giống gốc của trực khuẩn lao được làm bất hoạt bằng cách làm mất nước (déshydratation). Giống gốc này khác với vaccin sống được làm giảm độc lực (vaccin vivant atténué) ở chỗ nó không gây nên một sự cảm ứng (sensibilisation) chống lại bệnh lao. Lợi ích của giống gốc này là ở khả năng kích thích các tế bào miễn dịch hiệu quả nhất chống lại phản ứng viêm loại hen phế quản. Nơi các động vật gậm nhấm, sau khi hít các dị ứng nguyên, đã phát triển một hen phế quản thể nặng tương tự với dạng hen phế quản nơi người, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng những động vật gậm nhấm được điều trị bởi BCG được làm mất nước này, bảo tồn một chức năng hô hấp bình thường. Khả năng bảo vệ có được độc lập với dị ứng nguyên và tồn tại từ 3 đến 4 tháng. Sau đó, phải tiêm nhắc lại BCG.

Hy vọng không phải là chữa lành bệnh hen phế quản với liệu pháp được dung nạp tốt này, mà làm ổn định nó đồng thời giảm việc phải nhờ đến các thuốc giãn phế quản hay các corticoides.
(PARIS MATCH 18-24/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 163 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (01/3/2010)

7/ BCG CÓ THỂ TRỞ NÊN MỘT ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH HEN PHẾ QUẢN.

Các nhà nghiên cứu của Viện Pasteur đã hiệu chính một điều trị mới của bệnh hen phế quản nhờ vaccin chống bệnh lao. “ Ở Nhật Bản, là nơi bệnh lao thường xảy ra, bệnh hen phế quản nơi những trẻ em được tiêm chủng bởi BCG xảy ra 3 lần ít hơn, Gilles Marchal đã kể lại như vậy, từ đó nảy ra ý tưởng tiêm chủng BCG để điều trị bệnh hen phế quản. Với điều kiện có thể làm bất hoạt được BCG ”. Bởi vì BCG chứa các trực khuẩn Koch sống nhưng được làm giảm độc lực, nên có nguy cơ gây nên những phản ứng miễn dịch và các áp-xe trong trường hợp tiêm lập lại. Thu được bằng quá trình làm mất nước toàn bộ, giống gốc mới, vô hại và được đặt tên là BCG EFD (Extended Freeze-Dying), vừa chứng tỏ tính hiệu quả của nó trên chuột. “ Đúng là có một phản ứng viêm, nhưng BCG EFD kích thích hệ miễn dịch để kềm chế phản ứng viêm này ”, Gilles Marchal đã giải thích như vậy. Điều trị này có thể xuất hiện trên thị trường từ nay đến 5 năm. Điều trị cần bốn mũi tiêm mỗi năm và sẽ không có những tác dụng phụ.
(SCIENCE ET VIE 3/2010)


8/ BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG : 3 GENES LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH.

Tiến bộ lớn và mới nhất trong bệnh thoái hóa điểm vàng liên quan với tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge) là khám phá 3 gène có liên quan trong sự xuất hiện của bệnh này. “ Bây giờ chúng ta biết được vai trò quan trọng của tố bẩm di truyền (prédisposition génétique), GS José-Alain Sahel đã xác nhận như vậy. Từ nay đến vài năm nữa, bằng một xét nghiệm máu ta sẽ có thể xác định một nguy cơ gia tăng, thiết đặt một sự theo dõi sớm và một biện pháp phòng ngừa bằng những quy tắc chế độ ăn uống. Nhất là, sự giáo dục bệnh nhân có nguy cơ sẽ tạo khả năng điều trị rất sớm ! ”. Bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) khởi đầu bằng một sự tích tụ các mảnh và những tế bào chết trong các cơ quan nhận cảm ánh sáng (photorécepteurs) của võng mạc và các mô nâng đỡ. Vào một giai đoạn tiến triển, sự đổi mới của những cơ quan cảm thụ ánh sáng không còn thực hiện được nữa và bệnh nhân mất thị giác trung ương (vision centrale). Ở Pháp, đó là một vấn đề y tế công cộng thật sự : 1,5 triệu người bị bệnh này và hơn 200.000 người bị tật nguyền nặng. Điều đáng sợ nhất của các bệnh nhân là tình trạng phụ thuộc (dépendance), bởi vì DMLA có thể xảy ra cả hai bên mắt. “ Chúng tôi trấn an các bệnh nhân của chúng tôi bằng cách nói với họ rằng họ sẽ luôn luôn vẫn còn thị giác ngoại biên (vision périphérique), mặc dầu trung tâm của võng mạc bị thương tổn, và rằng họ sẽ phải học sử dụng thị giác ngoại biên này để bù trừ phần nào phế tật ”, GS José-Alain Sahel đã giải thích như thế. Có hai dạng tiến triển : dạng ướt (forme humide), có thể xảy ra rất đột ngột, được đặc trưng bởi sự tạo thành những mạch máu mới (néovaisseaux), và dạng khô (forme sèche), trong đó những cơ quan nhận cảm ánh sáng bị teo di và biến mất dần dần. “ Tần số mắc bệnh trung bình là 1% vào lúc 55 tuổi, 10% vào lúc 65 tuổi, 25% vào lúc 75 tuổi và 60% vào lúc 90 tuổi, GS José-Alain Sahel đã xác nhận như vậy. Với sự kéo dài tuổi thọ, người ta dự kiến tăng gấp đôi những con số này vào năm 2050. ” Những triệu chứng đầu tiên được biểu hiện bởi những vấn đề thích nghi đối với sự thay đổi ánh sáng. Hai dấu hiệu phải khiến đi thăm khám càng sớm càng tốt : một vết cố định (une tache fixe), ổn định trong thị trường, hay một sự biến dạng các hình ảnh.

MỘT THĂM KHÁM VÕNG MẠC, TỪNG TẾ BAO MỘT

Ở Quize-Vingts, nhóm của GS Sahel thuộc một trong những nhóm có hiệu năng nhất trong lãnh vực chẩn đoán DMLA : “ Từ tháng giêng năm 2009, chúng tôi sử dụng một kỹ thuật thiên văn (technique d’astronomie) cho phép nhìn thấy từng tế bào nhận cảm ánh sáng (cellule photoréceptrice) của võng mạc.Nhờ kỹ thuật này và nhờ những tiến bộ của các hệ thống như chụp lớp quang học (tomographie optique), các chuyên gia chẳng bao lâu nữa sẽ có thể quyết định điều trị theo các tiêu chuẩn khách quan và rất là chính xác. Những tiêu chuẩn này cũng sẽ cho phép họ đánh giá tính hiệu quả của điều trị với một chất lượng chưa từng có. Hãy tưởng tượng xem các thầy thuốc ngoại thần kinh sẽ hạnh phúc biết bao nếu họ có thể quan sát từng tế bào thần kinh một ! ”. Trước giai đoạn đặc biệt này, các kỹ thuật chẩn đoán đã hưởng rộng rãi các tiến bộ công nghệ học. Thí dụ từ 3 năm qua, các bệnh nhân có thể được phát hiện nhờ các hình chụp đơn giản của đáy mắt.

ĐIỀU TRỊ DẠNG ƯỚT (FORME HUMIDE) : MỘT SỰ CẢI THIỆN NGOẠN MỤC.

Một giai đoạn quan trọng đã được vượt qua trong những năm qua với sự xuất hiện của các anti-VEGF, các tác nhân chống sinh mạch (antiangiogénique), ngăn cản sự tạo thành các huyết quản mới trong võng mạc và giới hạn sự phù nề. Các loại thuốc này (mà đầu đàn là ranibizumab) là rất có hiệu quả khi chúng được tiêm sớm vào trong mắt mỗi tháng. “ Trong 90% các trường hợp, ta quan sát thấy một sự ổn định của căn bệnh, và trong hơn 10%, một sự cải thiện nhỏ, GS Sahel đã xác nhận như vậy. Kỹ thuật này đã là có tính cách mạng bởi vì, trước đây, với các kỹ thuật bằng laser và quang động (techniques au laser et photodynamiques), chỉ dưới 20% các bệnh nhân được ổn định mà thôi. Những bệnh nhân khác đánh mất thị giác trung ương. Không còn có thể đọc cũng như nhận diện các gương mặt nữa, bị cản trở không thể đi ra đường, họ chịu một phế tật khủng khiếp ! Sự thay đổi tiên lượng này tuyệt vời.” Những nghiên cứu đang được tiến hành để cải thiện thêm nữa chất lượng của các bệnh nhân : người ta đang nghiên cứu chế tạo các loại thuốc giọt có tác dụng kéo dài (được sử dụng mỗi 6 tháng).

NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐÁNG PHẤN KHỞI ĐỐI VỚI DẠNG KHÔ.

“ Tiến bộ lớn, GS Sahel đã giải thích như vậy, có liên quan đến các giai đoạn sớm mà ta có thể làm chậm tiến triển của bệnh lại nhờ một cocktail các chất chống oxy hóa (oxydants), làm tăng cường sự hóa sắc tố của võng mạc. Nhưng các nghiên cứu đang tiến triển : các nhóm nghiên cứu, trong đó có nhóm của chúng tôi, đang trắc nghiệm hai loại thuốc mới. Một vài loại thuốc nhằm giới hạn sự tích tụ của các chất đọng (dépôts) trong võng mạc (kháng vitamine A), những chất khác phong bế phản ứng viêm (các chất điều biến của các complément). Những thử nghiệm này, ở giai đoạn 2, là đáng phấn khởi. Sẽ còn phải chờ đợi những kết quả của giai đoạn 3 rồi mới phát biểu được.”

Đối với những người mà bệnh ở một giai đoạn tiến triển và rất bị trở ngại do mất thị giác trung ương, chúng tôi phát triển société Essilor des lunettes mang các caméra nhỏ xíu cho phép lúc nhìn chiếu các hình ảnh được phóng đại trong những vùng ngoại biên mà bệnh nhân còn thấy được. Những prototype đầu tiên đã gần như sẵn sàng. Các trung tâm cải tạo đã được thành lập để dạy cho những bệnh nhân phế tật sử dụng tốt hơn đôi mắt của họ. Ở Viện thị giác, chúng tôi đang hiệu chính đủ loại công nghệ học nhằm cải thiện chất lượng sống, ví dụ một GPS sẽ chỉ rõ rất chính xác cho người sử dụng vị trí, môi trường của mình.
(PARIS MATCH 5/1-1/1/2009).

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 82 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/6/2008 )

6/ SỰ TIÊU THỤ CÁ NGĂN NGỪA VÀI BỆNH MÙ LÒA.

Những người tiêu thụ các oméga-3 sẽ giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge)

Ở Pháp, sự thoái hóa điểm vàng do tuổi tác gây bệnh, ở những mức độ khác nhau, cho hơn 500.000 người. Sự thoái hóa của vùng trung tâm võng mạc này được thể hiện bởi một sự giảm thị lực trung tâm, có thể dẫn đến mù lòa sau nhiều năm tiến triển. Mặc dầu các nguyên nhân của căn bệnh nghiêm trọng và thường xảy ra này vẫn không được biết đến, nhưng rõ ràng rằng một vài yếu tố làm dễ căn bệnh này như tuổi tác và thuốc lá. Sự tiếp xúc quá mức với ánh sáng cũng được cho là có liên hệ, nhưng không có chứng cớ tuyệt đối.

Vậy người ta có thể bảo vệ chống lại căn bệnh này hay không ? Các nhà nghiên cứu Úc đại lợi vừa khảo sát vấn đề này, và kết luận trong một công trình nghiên cứu được công bố tuần này trong Archives of Ophtalmology, rằng những người có một chế độ ăn uống giàu cá hay ăn bổ sung những thức ăn có oméga 3 sẽ có một nguy cơ bị DMLA ít hơn.

Các oméga-3 là những chuỗi acide béo không bảo hoà mà người ta tìm thấy nhiều nhất trong cá mỡ : cá hồi (saumon), cá thu (maquereau), cá trích (hareng)…, trong cây cai dầu (colza), các quả hồ đào. Vào đầu những năm 1990, các chất mỡ này được gán cho nhiều tác dụng tốt, không phân biệt đúng hay giả.

Mặc dầu nhiều nghiên cứu đã phát hiện một nguy cơ bị tai biến tim mạch ít hơn nơi những người tiêu thụ nhiều cá, nhưng những thử nghiệm phòng ngừa cơn đau tim bằng oméga-3 đã hơi gây thất vọng hơn. Chính trong bối cảnh này mà các thầy thuốc Úc đại lợi ở Melbourne đã quyết định xem xét một cách hoàn toàn, mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu cá hay oméga-3 và nguy cơ bị bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA). Để thực hiện điều này, họ đã xem lại 9 công cuộc điều tra được công bố trong 20 năm qua về chủ đề này, và đã sưu tập thành một phân tích méta trên 88.974 người.

Những kết quả của công trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng những người tiêu thụ nhiều oméga-3 nhất, dầu đó là cá hay các bổ sung thực phẩm, có 38% nguy cơ bị một thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) ít hơn, so sánh với những người tiêu thụ ít nhất. Như vậy, sự việc ăn cá hai lần mỗi tuần liên kết với một nguy cơ bị DMLA thấp hơn.

CẦN NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ

“Phân tích của chúng tôi gợi ý rằng sự tiêu thụ cá và các thức ăn giàu oméga-3 được liên kết với một nguy cơ bị DMLA ít hơn”, các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Như vậy có phải ăn cá hay dùng oméga-3, ngay cả khi chúng ta vẫn khỏe mạnh, để ngăn ngừa hoặc kềm hãm sự thoái hóa này hay không?

Các tác giả tỏ ra thận trọng không muốn bước thêm bước nữa, đánh giá rằng trước khi có những khuyến nghị chính thức, thì bây giờ phải thực hiện, không phải là những điều tra quan sát như đã làm cho từ trước cho đến nay, mà phải thực hiện những thử nghiệm điều trị quy mô lớn. Các thử nghiệm này nhằm so sánh tiến triển của thị lực của những người dùng oméga-3 so với những người không dùng chất bổ sung này.

Bằng cách nào các oméga-3 làm giảm nguy cơ bị DMLA? Theo Elaine Chong, tác giả chính của công trình nghiên cứu, các acides béo này là một thành phần sinh tử của võng mạc và một sự thiếu hụt có thể sẽ đóng một vai trò trong việc gây ra bệnh này. Cũng phải biết rằng vào tháng 2 năm 2008, các thầy thuốc Úc Đại Lợi của đại học Sidney đã chứng tỏ rằng những người bị DMLA cũng có một nguy cơ tim mạch gia tăng. Điều này khiến các nhà nghiên cứu nghĩ rằng cùng những yếu tố ảnh hưởng lên tim (huyết áp cao, cholestérol máu cao, nghiện thuốc lá...) cũng gây thương tổn ở mắt và có liên hệ trong sự phát sinh bệnh DMLA. Như thế, tác dụng thuận lợi do oméga-3 lên tim cũng có thể được giải thích ở mắt.

Hiện nay, đó chỉ là một giả thuyết.Trong tất cả mọi trường hợp, không gì có thể ngăn cản chúng ta ăn cá hai lần mỗi tuần, hoặc nhiều hơn nếu trái tim của chúng ta muốn như vậy, ngoại trừ các phụ nữ có thai.
(LE FIGARO 11/6/2008)

Thời Sự Y Học Số 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/6/2009 )

10/ CÁ, HỒ ĐÀO VÀ OLIVE CHỐNG BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC (DMLA).

Việc gìn giữ một thị giác tốt cũng có thể phụ thuộc vào chế độ ăn uống. Trong les Archives d’Ophtalmologie, một tạp chí của Hoa Kỳ, được công bố hôm nay, các thầy thuốc người Úc của đại hoc Sidney cho thấy rằng một chế độ ăn uống giàu hồ đào (noix), cá hay dầu olive, làm giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Hiện nay, ở Pháp, sự biến đổi thị giác trung tâm này cùa võng mạc tác động lên 500.000 người, ở những mức độ khác nhau. Ngược lại, những axít béo được gọi là trans (những chất béo thực vật được bảo hòa bởi một phương thức công nghiệp để cải thiện sự tiêu thụ chúng) có một tác dụng có hại lên thị giác. Hiện nay, ở Pháp cũng như trong những nước kỹ nghệ hóa khác, DMLA là nguyên nhân chính của thị lực kém (malvoyance) nơi những người trên 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ dĩ nhiên là tuổi tác, cũng như tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và hút thuốc lá.

Để đánh giá mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và DMLA, các nhà nghiên cứu người Úc đã quan tâm đến chế độ ăn uống, và đặc biệt là sự tiêu thụ mỡ, của 2454 người tuổi hơn 65, từ năm 1992 đến 1994 và đã chụp hình võng mạc. 10 năm sau, các kết quả cho thấy rằng những người ăn cá, ít nhất một lần mỗi tuần (nhưng cũng ăn hồ đào và dầu olive) có tỷ lệ bị DMLA 30% thấp hơn. Sự tiêu thụ càng quan trọng thì nguy cơ càng ít cao.

Một công trình nghiên cứu thứ hai, được công bố trong cùng tạp chí, đã kết luận rằng một sự tiêu thụ quá mức axít trans (hiện diện trong viennoiserie công nghiệp, biscuit và vài món ăn tiền chế khác) làm gia tăng nguy cơ bị DMLA.

Những công trình nghiên cứu này, nếu được xác nhận, chứng tỏ một cách rõ ràng một mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sự biến đổi võng mạc do bệnh DMLA.
(LE FIGARO 12/5/2009)


9/ SỰ LÃO HÓA TẾ BÀO : THỂ THAO CÓ LỢI ?

Nhóm nghiên cứu của GS Ulrich Laufs (đại học Saarland, Hambourg) vừa cho thấy rằng hoạt động vật lý tác động trực tiếp lên các tế bào bằng cách hoạt hóa télomérase, một enzyme chủ chốt của các quá trình lão hóa (processsus de sénescence).Vai trò của télomérase là sản xuất các télomère, những mảnh nhỏ của ADN nằm ở đầu mút của các nhiễm sắc thể, cần thiết cho sự truyền của các gène từ một tế bào mẹ đến các tế bào của nó khi nó phân chia. Nhưng, vào mỗi phân chia tế bào, các télomère bị rút ngắn đến độ, vì đã quá ngắn, nên không còn có sự phân chia nào có thể thực hiện được nữa : tế bào bị chết. Người ta có thể đo lường hoạt tính của télomérase và độ dài của các télomère trong các bạch cầu và như thế đánh giá sự lão hóa tế bào. Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu hai biến số này nơi động vật (chuột chạy trên một bánh xe được so sánh với chuột nhàn rổi) và nơi người (những người lành mạnh ít thể thao so với những vận động viên nghề nghiệp và các vận động viên marathon). Hoạt động thể thao tác động thuận lợi lên télomérase và làm giảm sự co ngắn của các télomère của chúng. Vậy hoạt động vật lý làm dễ tuổi thọ của các tế bào của chúng ta.
(PARIS MATCH 28/1-3/2/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Thể Dục Thể Thao - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

10/ NHIỀU TÁI PHÁT UNG THƯ VÚ HƠN NẾU PHÓNG XẠ LIỆU PHÁP CHẬM TRỄ.

Các phụ nữ càng chờ đợi trước khi thực hiện một phóng xạ liệu pháp (radiothérapie) sau ngoại khoa bảo tồn (chirurgie conservatrice) vú, nguy cơ bị tái phát tại chỗ sẽ càng lớn.

“ Hãy bắt đầu phóng xạ liệu pháp càng nhanh càng tốt, đó là thông điệp của một nhóm nghiên cứu quy tụ những người Mỹ, Nhật và Canada. Nói chung, người ta xem một khoảng thời gian 4 đến 6 tuần (giữa lúc phẫu thuật ngoại khoa và lúc bắt đầu phóng xạ liệu pháp) là hợp lý trong điều trị ung thư vú. Nhóm nghiên cứu quốc tế đã khảo sát mối liên hệ giữa độ dài của khoảng thời gian này và nguy cơ tái phát. Để thực hiện điều đó, nhóm nghiên cứu đã tập hợp các dữ kiện liên quan đến 18.050 phụ nữ Mỹ được chẩn đoán ung thư vú vào một giai đoạn sớm giữa năm 1991 và 2002. Các phụ nữ này đã được phẫu thuật bảo tồn vú và chịu một phóng xạ liệu pháp nhưng hóa học liệu pháp (chimiothérapie) thì không. Thời gian theo dõi kéo dài 5 năm.

Những kết quả cho thấy rằng sự thực hiện phóng xạ liệu pháp sau một thời hạn 6 tuần sau điều trị ngoại khoa được liên kết với một sự gia tăng đáng kể của nguy cơ tái phát tại chỗ. Một phụ nữ trên 4 (30%) đã tham gia công trình nghiên cứu này chỉ bắt đầu phóng xạ liệu pháp sau 6 tuần và 734 phụ nữ (4%) đã bị một tái phát tại chỗ trong một thời gian 5 năm. Một phân tích đã phát hiện mối liên hệ liên tục giữa thời gian chờ đợi trước khi làm phóng xạ liệu pháp và nguy cơ tái phát.

Các tác giả của công trình nghiên cứu này, được công bố trong BMJ, kết luận rằng việc thực hiện càng nhanh càng tốt phóng xạ liệu pháp có thể làm giảm nguy cơ tái phát tại chỗ. Trong một bài báo, Ruth Jack và Lars Holmberg (King’s College London) khẩn khoản để người ta áp dụng những biện pháp cần thiết nhằm làm giảm chừng nào có thể được khoảng thời gian giữa ngoại khoa và phóng xạ liệu pháp.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/3/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/3/2010)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san kho

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969