Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 28
Lượt truy cập: 1009007
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ RƯỢU VANG CÓ ĐƯỢC CHỨNG MINH LÀ TỐT CHO SỨC KHỎE HAY KHÔNG ?

Ngày nay chúng ta thường chấp nhận rằng một sự tiêu thụ có mức độ nhưng đều đặn rượu vang đỏ (vin rouge) (một hay hai ly mỗi ngày) bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch. Đó là “ nghịch lý Pháp ” (paradoxe français) nổi tiếng từ 40 năm nay. Các cổ nhân đã nói rằng “ ruợu ngon làm vui trái tim của con người ”(Le bon vin réjouit le cœur de l’homme).

Gần chúng ta hơn, Louis Pasteur đã không do dự khi xác nhận rằng“ rượu vang là nước uống lành mạnh nhất và vệ sinh nhất mà ta có được. Tuy vậy những tác dụng có hại của rượu đúng là được xác lập. Rượu vang phải chăng là ngoại lệ trong số các nước uống được pha chế cồn (boissons alcoolisées) hay phải chăng chính cách uống “ theo kiểu Pháp ”, có chừng mực nhưng đều đặn mà ta phải quy kết ?

Nhiều công cuộc điều tra dịch tễ học với những kết quả nói chung giống nhau ủng hộ cho giả thuyết về một tác dụng bảo vệ của rượu vang đỏ, (mà những nước uống có chất cồn khác không có được), được thể hiện chủ yếu bởi một sự giảm huyết áp và các nguy cơ bị tai biến mạch máu não và tim.

Nhưng những thử nghiệm lâm sàng dài hạn, cho phép rút ra những kết luận về các hiệu quả của một sự tiêu thụ có mức độ rượu vang, trên thực tế không thể thực hiện được. Thật vậy, xét vì tiến triển rất chậm của các bệnh tim mạch, để cho những kết quả về mặt thống kê có giá trị, trong nhiều năm buộc cần phải có một chế độ kiểm soát nghiêm ngặt nơi một số rất lớn những người tình nguyện, được chia thành những người chứng và những người được điều trị,

NHỮNG THÍ NGHIỆM KHÔNG HOÀN TOÀN.

Ngoài cồn (alcool), rượu vang chứa các chất polyphénols, trong số đó có những hợp chất tạo nên sắc màu rượu vang đỏ, dường như có khả năng bảo vệ cơ thể chống lại những tác dụng có hại của “ stress oxy hóa ”, một hiện tượng oxy hóa (oxydation) các hợp chất trong tế bào, gia tăng với tuổi tác và can thiệp trong các bệnh mãn tính có liên quan với sự lão hóa.

Polyphénols của rượu vang, hay sự liên kết của chúng với những nồng độ nhỏ cồn, có thể tham dự vào những tác dụng bảo vệ của rượu vang lên hệ tim mạch. Tuy nhiên những kết luận này được rút ra từ những thí nghiệm trên các tế bào hay động vật, hay những thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn. Nhiều nghi vấn khoa học tồn tại về sự hấp thụ bằng đường tiêu hóa và số phận của các chất polyphénols này trong cơ thể .

Mặt khác, các polyphénols này được tìm thấy trong các loại thức ăn khác : chúng hiện diện với những lượng quan trọng trong vài nước vắt nho đỏ (raisin rouge), nhưng cũng có mặt trong các trái cây đỏ, trong vài loại rau xanh, trong trà và cacao, với cùng những tác dụng bảo vệ.

Nhưng người ta cũng chứng thực rằng tỷ lệ tử vong tim mạch thấp nhất được quan sát chủ yếu trong miền nam nước Pháp và trong những nước khác của vùng Địa trung hải ; thế mà, ở đó rượu vang cạnh tranh với những thành phần khác của món ăn cổ truyền của những vùng này, các trái cây và các rau xanh, không quên dầu olive.

Xét vì nhiều điều không chắc chắn về những tác dụng có thể có lợi của rượu vang (vin), ngược với những tác dụng có hại được xác lập của cồn (alcool), do đó khuyến nghị tiêu thụ đều đặn rượu vang, ngay cả với lượng vừa phải, vì một lý do không phải là sự lạc thú thưởng thức một cách khôn ngoan, là điều không thận trọng.
(LE FIGARO 8/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 97 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 16/10/2008 )

6/ RƯỢU VANG ĐỎ CHỐNG LẠI UNG THƯ PHỔI

Sự tiêu thụ có mức độ rượu vang đỏ (vin rouge) làm giảm nguy cơ bị ung thư phổi nơi các người đàn ông. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trong “Cancer Epidemiology, Biomarkers and Prevention”, một tờ báo của Hiệp hội nghiên cứu chống ung thư của Hoa Kỳ. Tính chất bảo vệ này là do khả năng chống oxy hóa của resveratrol, một phân tử hiện diện dồi dào trong rượu vang đỏ. Công trình nghiên cứu, được thực hiện giữa năm 2000 và 2003 trên hơn 80.000 người đàn ông, đã cho thấy rằng nguy cơ bị ung thư phổi giảm 60% nơi những người nghiện thuốc uống 1 đến 2 ly rượu vang đỏ mỗi ngày.
(LE SOIR 8/10/2008)

9/ UỐNG ÍT RƯỢU CHỐNG BỆNH SUY TIM

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã cho thấy rằng một sự tiêu thụ rượu mức độ thấp đến trung bình dường như làm giảm nguy cơ bị suy tim nơi những người cao huyết áp.

Điều chứng thực này là của Luc Djousse và J.Michael Gaziano (Havard Medical School, Boston, Hoa Kỳ) từ các kết quả của Physician’s Health Study . Điều này có liên quan những bệnh nhân với tiền sử nhồi máu cơ tim hay đái đường cũng như những bệnh nhân không có những bệnh lý này.

Trong quá khứ, việc uống rượu đã được đặt trong mối liên quan với một sự gia tăng huyết áp và khi sự gia tăng này quan trọng, sẽ dẫn sự giãn tim. Trái lại, điều chưa được rõ ràng đó là hiệu quả, nơi những người cao huyết áp, của một sự tiêu thụ rượu ở mức độ thấp đến trung bình. Chính điều này đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu phân tích các dữ kiện liên quan đến 5.153 người đàn ông cao huyết áp được tuyển mộ trong công trình Physicians’ Health Study.

Những người tham dự, không có những tiền sử tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim hay ung thư vào lúc thực hiện công trình nghiên cứu, đã được theo dõi trong 18 năm. Tuổi trung bình vào lúc bắt đầu nghiên cứu là 58 tuổi. So sánh với nhóm uống ít hơn một ly rượu mỗi tuần, những người uống nhiều có nguy cơ 11% thấp hơn (một đến 4 ly mỗi tuần) đến 62% thấp hơn (8 ly hoặc nhiều hơn mỗi tuần) phát triển một suy tim.

Cơ chế chính xác qua đó rượu có một tác dụng bảo vệ nơi những người cao huyết áp vẫn luôn luôn không được làm sáng tỏ. Có thể đó là do tác dụng lợi tiểu của nó, hoặc là do sự tăng cao nồng độ adiponectine mà nó gây ra trong huyết tương? Thật vậy, trong những mô hình động vật, người ta thấy rằng adiponectine bảo vệ chống lại các bệnh tim.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 7/10/2008)

Thời Sự Y Học Số 103 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/11/2008 )

8/ RƯỢU VANG : MỘT NGUỒN BỔ SUNG POLYPHÉNOLS

Ở Pháp, người dân có một cơ may mà những người Mỹ thèm muốn. Mặc dầu có một chế độ ăn uống giàu nước chấm (sauce), phó mát, đồ thịt lợn thổ địa, gratins, nhưng người Pháp vẫn giữ một tỷ lệ bị nhồi máu cơ tim tương đối thấp. Vùng của nước Pháp, nơi tỷ lệ mắc bệnh nhồi máu cơ tim thấp nhất, thật lạ lùng chính là nơi mà món ragout là chúa tể, đó là miền Tây Nam nước Pháp. Cái “nghịch lý Pháp” (french paradox) này từ lâu đã được xem như đặc biệt liên kết với sự tiêu thụ rượu vang đỏ, thông thường ở Pháp hơn là ở bên kia Đại tây dương, ở đây bia và whisky được ưa thích hơn.

Sự kiện một sản phẩm tổng hợp có tác dụng giống polyphénol, được chứa trong vỏ của trái nho, có thể làm giảm nguy cơ bị béo phì và bị bệnh đái đường, có cho phép kết luận rằng chính sự tiêu thụ nho giải thích “cái nghịch lý Pháp” hay không? “Thật vậy chất polyphénol (resveratrol) được chứa chủ yếu trong nho đen. Thế mà chất này sau đó lại được thấy nhất trong rượu vang đỏ. Nhưng có lẽ phải uống hàng trăm lít rượu trong ngày để có được một liều lượng có hiệu quả chống lại chứng béo phì và bệnh đái đường”. Thế mà uống trên ba ly rượu vang mỗi ngày đối với đàn ông và hai đối với phụ nữ, các biến chứng do rượu sẽ bắt đầu xuất hiện. Cái “nghịch lý Pháp” có lẽ có thể được giải thích một phần bởi rượu vang, nhưng cũng có những yếu tố khác can dự vào.
(LE FIGARO 6/11/2008)

Thời Sự Y Học Số 105 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/12/2008 )

5/ MỘT CHẤT CHỐNG BÉO PHÌ ĐẦY HỨA HẸN XUẤT PHÁT TỪ RƯỢU VANG

Pháp đã khám phá một chất tổng hợp có tác dụng giống với vài thành phần của rượu vang và cho phép chuột giữ một trong lượng không thay đổi mặc dầu co một chế độ ăn uống tăng calo (un régime hypercalorique).

Những nhà nghiên cứu người Pháp đã nhận diện một chất được mệnh danh hiện nay là SRT 1720, cho phép các chú chuột tiếp tục một chế độ ăn uống giàu mỡ, nhưng không béo phì, không trở nên bị bệnh đái đường, đồng thời cải thiện hiệu năng cơ. Các kết quả của những công trình này, được công bố hôm qua trong tạp chí Hoa Kỳ Cell Metabolism, hết sức làm lưu ý công nghiệp dược phẩm, bởi vì có ít nhất ba hãng dược phẩm đang phát triển một thứ thuốc phát xuất từ những nghiên cứu này.

Tất cả bắt đầu cách nay vài năm, khi các thầy thuốc người Pháp khám phá ra rằng một trong những polyphénols được chứa trong vỏ của trái chanh đen, resvératrol, bảo vệ chuột chống lại bệnh đái đường và chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu khi đó cho thấy rằng phân tử resvératrol tác dụng lên cả hai bệnh lý này bằng cách làm hoạt hóa một protéine của cơ thể được gọi là Sirt 1. Sirtris, một hãng Hoa Kỳ có cơ sở ở Boston, quyết định đầu tư vào khái niệm này và hiện nay đang trắc nghiệm một thứ thuốc có chất cơ bản là resvératrol để chống lại bệnh đái đường mỡ (diabète gras), cũng được gọi là bệnh đái đường loại 2. Các nhà nghiên cứu người Pháp của Viện di truyền và sinh học phân tử và tế bào, nguồn gốc của những khám phá đầu tiên này, sau đó bắt đầu tìm kiếm những phân tử tổng hợp cho phép hoạt hóa chất protéine Sirt 1, chất có ảnh hưởng một cách quan trọng lên thể trọng và nguy cơ bị bệnh đái đường. Sau cùng, họ nhận diện một hợp chất tổng hợp tương tự với resvératrol trên bình diện hóa học, SRT 1720 và quyết định trắc nghiệm chất này trên hàng chục con chuột được cho những chế độ ăn uống khác nhau.

MỘT HIỆU QUẢ KÉO DÀI.

Những kết quả của công trình nghiên cứu được công bố trong Cell Metabolism thật đặc biệt đáng quan tâm. Những chú chuột được điều trị với SRT 1720 và chịu một chế độ ăn uống rất giàu mỡ đã không lên một gam trọng lượng nào và không phát triển khối lượng mỡ (masse grasse), trái với những con chuột được nuôi cùng cách thức nhưng không được điều trị với loại thuốc này. Ngoài ra không có chú chuột nào được điều trị với SRT 1720 bị bệnh đái đường cả, trong khi những con chuột khác có một sự đề kháng với insuline sau chế độ ăn uống quá nhiều mỡ. Rõ ràng là thuốc SRT 1720 bảo vệ chống lại chứng béo phì và bệnh đái đường loại 2. Thời gian tác dụng lên chuyển hóa kéo dài : tác dụng xuất hiện ngay tuần lễ thứ tư và tiếp tục trong suốt thời gian quan sát các chú chuột hoặc 15 tuần

“Những con chuột được điều trị bởi thuốc SRT 1720 đã giữ một trọng lượng không thay đổi mặc dầu chế độ ăn uống nhiều mỡ, trong khi những chú chuột khác đã tăng 2/3 trọng lượng của chúng. Thuốc này kích thích sự sử dụng mỡ, một cách tương tự như điều mà chúng ta quan sát trong trường hợp hạn chế calo, mặc dầu thức ăn giàu mỡ mang lại sự thặng dư năng lượn” , BS Jérome Feige (Viên di truyền và sinh học phân tử Illkirch) đã giải thích như vậy.

Nhiều hãng dược phẩm đã khởi đầu những thứ nghiệm để trắc nghiệm SRT 1720 chống lại chứng béo phì, bệnh đái đường. Một vài hãng cho là hợp lý đánh giá tác động của nó lên những bệnh khác liên quan với tuổi tác, và nhất là trong bệnh Alzheimer. Công việc vẫn gay go. Đến mãi ngày nay, các thuốc chống béo phì đã không có cơ may, vì lẽ chúng hầu như bị rút ra khỏi thị trường sau vài năm, do những tác dụng phụ của chúng.
(LE FIGARO 6/11/2008)

Thời Sự Y Học Số 106 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 19/12/2008 )

4/ RƯỢU VÀ CÁC HUYẾT QUẢN

Nếu một hoặc hai ly rượu vang mỗi ngày có thể có lợi cho tim và các huyết quản, thì trái lại sự hấp thụ những lượng lớn rượu trong một khoảng thời gian giới hạn làm gia tăng nguy cơ bị xơ mỡ động mạch (athérosclérose). Một thí nghiệm được thực hiện in vitro bởi John P.Cullen và các cộng sự viên (Đại Học Rochester, Hoa Kỳ) đã làm sáng tỏ một cơ chế khả dĩ. Những liều lượng cao acétaldéhyde, chất chuyển hóa chính của rượu, có thể kích thích sự dính kết của các bạch cầu mono (monocytes) với hậu quả là làm gia tốc quá trình xơ mỡ động mạch.

Vậy rượu dường như gây nên những tác dụng đối nhau, tùy theo cách uống : uống có mức độ (1-2 ly mỗi ngày) có một tác dụng bảo vệ tim. Nhưng hoàn toàn trái lại nếu ta “ tiết kiệm ” những nồng độ có ích hàng ngày trong năm, để uống chúng chỉ trong một lần vào dịp đêm Giáng Sinh.
(LE GENERALISTE 18/12/2008)


2/ UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG : VẪN CÒN QUÁ NHIỀU NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỬ VONG CÓ THỂ TRÁNH ĐƯỢC.

Những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) mới xuất hiện, nhưng chẩn đoán sớm vẫn là cơ bản.

ONCOLOGIE. Ở Pháp ung thư đại-trực tràng (cancer colorectal) chịu trách nhiệm mỗi năm 17.000 trường hợp tử vong trên 37.000 trường hợp mới được phát hiện. Đó là ung thư đứng thứ ba về tần số mắc bệnh, đứng thứ hai đối với tỷ lệ tử vong. Hơn những loại ung thư khác, ung thư này, gây bệnh cho 3 người đàn ông đối với hai phụ nữ, được liên kết với sự lão hóa. “ Cứ 100.000 người đàn ông, người ta đếm được 10 trường hợp ung thư đại-trực tràng mới mỗi năm nơi những người trên 50 tuổi, so với gần 400 trường hợp nơi những người 70 đến 80 tuổi ”, GS Philippe Rougier, trưởng khoa dạ dày-ruột và ung thư tiêu hóa của bệnh viện Ambroise Paré, Boulogne, đã chỉ rõ như vậy.

Mặc dầu các điều trị đã tiến bộ nhiều, nhưng hiệu quả của chúng tùy thuộc phần lớn vào chẩn đoán sớm những khối u này. Thế mà, vẫn còn 40% các chẩn đoán ung thư đại-trực tràng được thực hiện trong khi đã có các di căn. Do đó có chiến dịch hiện nay của Inca và của bộ y tế nhằm khuyến nghị những người từ 50 đến 74 tuổi cần đi thăm khám phát hiện bệnh.

Nguồn gốc của ung đại-trực tràng là một polype được biến hóa một cách âm thầm thành ung thư ác tính. 1/3 những người trên 65 tuổi có những polype hiền tính, hay các u tuyến (adénome), trên niêm mạc của đại tràng hay trực tràng. Cứ 10 u tuyến thì có một sẽ đạt đường kính 1cm, và trong số các u tuyến này thì một trên bốn sẽ thoái hóa thành ung thư. Thật là may mắn, ung thư đại-trực tràng tiến triển một cách chậm chạp, trung bình trong khoảng thời gian 10 năm. Nhưng không có một triệu chứng nào cho phép nhận diện nó trong suốt thời kỳ này. Chỉ có xét nghiệm phát hiện (test de dépistage) mới có thể phát hiện một ít hémoglobine trong phân, dấu hiệu khả dĩ của một polype đang chảy máu. Chính vì vậy, việc thăm khám phát hiện được lập lại mỗi hai năm nơi những người từ 50 đến 74 tuổi là rất quan trọng.

VỆ SINH ĐỜI SỐNG

Thuốc lá, rượu, tăng thể trọng, nhàn rỗi không hoạt động và chế độ ăn uống tăng calo nhiều thịt làm dễ sự xuất hiện của ung thư này, có tần số sụt giảm trong những nước có chế độ ăn uống đặt ưu tiên vào các sợi. Chỉ 3% các trường hợp là do một bệnh di truyền, bệnh polip gia đình (polypose familiale) hay hội chứng Lynch, mà việc chẩn đoán là quan trọng để theo dõi các người thân thích. Trong 17% các trường hợp, một ung thư đại-trực tràng nơi một người bà con cấp độ 1 (parent au premier degré) biểu hiện một tố bẩm gia đình (prédisposition familiale) nhân nguy cơ lên hai lần. Nhưng 80% các trường hợp là những ung thư riêng rẻ. Quá 50 tuổi, những biến đổi của sự chuyển vận ruột, các cơn đau bụng, sự hiện diện máu trong phân khiến bệnh nhân phải đi thăm khám. Khi sự phát hiện dương tính (3% các trường hợp) và nơi những bệnh nhân có nguy cơ, một thủ thuật soi đại tràng cho phép xác định một polype khả nghi, khi đó được lấy đi và phân tích cơ thể bệnh lý.

Ngoại khoa vẫn là điều trị ưu tiên của ung thư đại-trực tràng. Một mình phẫu thuật cũng đủ để điều trị 70% đến 80% các ung thư nông (cancers superficiels) hay các ung thư được giới hạn nơi ruột. Nhưng những ung thư này chỉ chiếm 1/3 các trường hợp. Khi các hạch kế cận bị xâm nhập hay khi ung thư đã tạo nên các di căn trong những cơ quan khác, điều trị khi đó cũng phải cần đến hóa học liệu pháp (chimiothérapie). “ Khi ung thư vẫn được giới hạn ở ruột già và các hạch lân cận, hóa học liệu pháp làm giảm 50% nguy cơ tái phát sau mổ, và 30% đến 40% nguy cơ tử vong, GS Rougier đã giải thích như vậy. Khi có các di căn, hóa học liệu pháp trở nên điều trị chính. Liệu pháp này làm thoái biến các khối u trong 50% các trường hợp. Nơi 1% các bệnh nhân, sự thoái biến này đủ để cho phép phẫu thuật viên lấy đi các di căn ở gan và ở phổi, biến đổi một căn bệnh nan y (maladie incurable) thành bệnh có khả năng có thể chữa lành (maladie potentiellement curable).”

Bên cạnh liệu pháp hóa học cổ điển (chimiothérapie clasique), phối hợp 5-fluorouracile, irinotécan (Campto) và oxaliplatine (Eloxatin), mới đây đã xuất hiện những liệu pháp nhắm đích (thérapies ciblées), ức chế một cách đặc hiệu một giai đoạn của quá trình ung thư. “ Bevacizumab (Avastin) được hướng chống lại VEGF, một yếu tố tăng trưởng cần thiết cho sự tạo mạch (vascularisation), do đó cho sự phát triển của khối u. Cetuximab (Erbitux) và panitunumab (Vectibix) ức chế thụ thể đối với EGF, giai đoạn đầu tiên của một đường hướng về sự tăng sinh không kiểm soát được của các tế bào, GS Pierre Laurent-Puig, phụ trách đơn vị ung thư sinh học của bệnh viện Georges-Pompidou (Paris) đã giải thích như vậy. Nhưng hai loại thuốc sau không có hiệu quả nếu khối u có một biến dị của gène Kras, hoặc 1/3 các trường hợp. Vậy sự biến dị này được tìm kiếm một cách hệ thống. Y khoa cá thể hóa (médecine personnalisée) này sẽ được phát triển, được căn cứ đồng thời trên sự nghiên cứu các biến đổi di truyền của khối u, cho phép tiên đoán sự đáp ứng của nó, và về di truyền dược liệu (pharmacogénétique), cho phép thích ứng điều trị và độc tính của nó với các tham số của bệnh nhân.” Sự ức chế những đường tín hiệu tế bào (voies de signalisation cellulaire) khác (đặc biệt là MAP kinases, PI3kinases và IGF1) dường như cũng đáng quan tâm.

Ngày nay, khi bệnh được chẩn đoán vào giai đoạn đầu tiên hết, tỷ lệ sinh tồn sau 5 năm đạt 94% : những con số tự chúng nói lên sự tán trợ cho công tác điều tra phát hiện.
(LE FIGARO 15/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 97 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 16/10/2008 )

8/ CHIẾN DỊCH PHÁT HIỆN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG CHO 16 TRIỆU NGƯỜI PHÁP

Viện quốc gia ung thư Pháp phát động một chiến dịch thông tin đại chúng.

16 triệu người Pháp tuổi từ 50 đến 74 tuổi sẽ nhận tại nhà trong những tháng sắp đến một lá thư khiến họ yêu cầu các bác sĩ gia đình tham gia vào chiến dịch phát hiện ung thư đại tràng.

Ung thư đại trực tràng là một trong những ung thư thầm lặng tăng sinh trong ruột của chúng ta mà không biểu hiện triệu chứng, ít nhất là lúc ban đầu. Đó thường là những polype, những cục bướu ở bề mặt của đại tràng, biến hoá, trở thành ung thư, và cuối cùng nếu không được chẩn đoán và điều trị, xâm nhập những mô chung quanh. Trên thế giới, mỗi năm có 437.000 người chết vì một ung thư đại tràng. Trong số những người này, có gần 100.000 người châu Âu, đàn ông và đàn bà, trẻ em và già cả : ung thư đại tràng chiếm 15% của tất cả các ung thư ác tính và ở Pháp, có 33.500 trường hợp mới được khám phá mỗi năm, kèm theo 16.000 trường hợp tử vong.

GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG 10%

Thế mà có hai phương tiện chiến lược để điều tra phát hiện kịp thời các khối u, mà viện quốc gia ung thư muốn đặt dưới sự sử dụng của người dân, thành hai thời kỳ. Trắc nghiệm đầu tiên là tìm kiếm máu ẩn (không có thể nhìn thấy được) trong phân (Hémoccult 2), được đề nghị một cách hệ thống cho những người từ 50 đến 74 tuổi, bằng thư gởi đến nhà. Những người này lấy hẹn với bác sĩ gia đình của họ để được thực hiện xét nghiệm và người thầy thuốc này sẽ gởi mẫu nghiệm đến các phòng xét nghiệm.

Nếu trắc nghiệm Hémoccult dương tính (hoặc 2% các trường hợp), một nội soi đại tràng (coloscopie: khám đại tràng bằng một hệ thống quang học dưới gây mê tổng quát) phải được thực hiện. Các con số cho thấy : đối với 100 xét nghiệm phân dương tính, nội soi đại tràng sẽ tìm thấy 5 đến 10 ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế đã cho thấy rằng nếu xét nhiệm Hémoccult được thực hiện trên một bộ phận quan trọng của dân chúng (ít nhất 50%), sự điều tra phát hiện sẽ hiệu quả làm giảm 15% tỷ lệ tử vong mà không làm biến đổi số những trường hợp mới. Ngày nay, 17 nước châu Âu đã bắt đầu thực hiện một chương trình điều tra phát hiện đại trà nhưng ở Trung tâm Quốc tế nghiên cứu về ung thư ở Lyon, người ta đánh giá rằng “chưa có nước nào thật sự đã thiết lập chương trình này trên toàn bộ lãnh thổ”. Ở Pháp, cần phải 10 triệu công dân chịu một điều tra phát hiện như vậy mới tránh được 1.500 tử vong mỗi năm. Nhưng không chắc chắn chút nào có thể đạt được mục tiêu đó. “Ở Nhật Bản, trên 120.000 trường hợp mới được phát hiện mỗi năm, chỉ có 6.500 trường hợp là chịu sự điều tra phát hiện đại chúng của một dân chúng rất có kỹ luật”,

“Nhưng sau hết, dầu tương đối không có hiệu quả, việc điều ta phát hiện đại chúng do Pháp đề nghị, đang được thực hiện trên căn bệnh này, và các người Pháp có thể tự mình phát hiện lấy bằng cách yêu cầu làm nội soi đại tràng. Kết quả sau cùng sẽ là phát hiện tốt hơn ở một giai đoạn sớm hơn và suy cho cùng, chính đó là điều chủ yếu”.
: (LE FIGARO 10/9/2008)


3/ NHÚC NHÍCH CỬ ĐỘNG LÀ TỐT CHO TIM, NHÚC NHÍCH CỬ ĐỘNG HƠN NỮA LẠI CÒN TỐT HƠN.

Tim và các mạch máu là những cơ quan đầu tiên được hưởng sự gia tăng của hoạt động vật lý. Lợi ích đã xuất hiện sau 2,5 giờ tập thể dục mỗi tuần. Những điều đạt được lại còn rõ rệt hơn nếu hoạt động vật lý tích cực hơn.

Đó là điều được tiết lộ bởi công trình nghiên cứu của Andrea Chromitek và các cộng sự viên (Havard Medical School, Boston, MA), được công bố trong Heartwire, và trình bày nhân hội nghị Dịch tễ học Bệnh Tim mạch và Phòng ngừa và Dinh dưỡng, Hoạt động vật lý, và Chuyển hóa 2210, ở San Francisco. Phân tích được căn cứ trên các dữ kiện liên quan đến 43.647 người đã tham gia vào Health Professionals Follow-Up Study. Các nhà nghiên cứu hướng sự chú ý vào hoạt động vật lý của những người tham dự, ngay lúc khởi đầu công trình nghiên cứu vào năm 1986, và sau đó mỗi 2 năm, cho đến năm 2004. Các dữ kiện đã xét đến số giờ hoạt động vật lý được thực hiện mỗi tuần và tương đương chuyển hóa (équivalent métabolique), là một thước đo sự tiêu thụ năng lượng (tiêu thụ năng lượng lúc gắng sức/tiêu thụ năng lượng lúc nghỉ ngơi). Đối với cùng một tương đương năng lượng, các nhà nghiên cứu đã có thể chứng thực một nguy cơ tim mạch thấp hơn nơi những người đã thực hiện những hoạt động vật lý mạnh hơn (chạy, đi xe đạp) so với nhóm chỉ thực hiện những hoạt động nhẹ (đi dạo). Ngoài ra, nguy cơ dường như giảm lúc số giờ tập luyện mỗi tuần gia tăng. Nguy cơ thấp nhất được quan sát nơi những người đàn ông đã thực hiện mỗi tuần 6 đến 7,9 giờ cố gắng vật lý cường độ mạnh.

Nguy cơ hơi cao hơn (nhưng không phải một cách đáng kể) nơi những người thực hiện những hoạt động mạnh trong hơn 8 giờ mỗi tuần.Vậy sự lo ngại những cố gắng mạnh mẽ có hại cho tim là không có căn cứ.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/3/2010)

4/ NHỮNG NGƯỜI CHA VÀ NGƯỜI MẸ CỦA VIÊN THUỐC NGỪA THAI.

Ludwig Haberlandt (1885-1932), nhà sinh lý học người Áo. Ông là người đầu tiên chứng minh rằng có thể làm cho một phụ nữ tạm thời vô sinh bằng cách cấp một hormone nữ. Vào năm 1919, ông ghép (implanter) các buồng trứng của thỏ cái thụ thai lên các thỏ cái không mang thai, làm cho chúng vô sinh trong nhiều tháng. Vào năm 1930, ông hiệu chính chế phẩm kích thích tố (préparation hormonale) infecunfin nhưng không nhận được trợ cấp để trắc nghiệm chế phẩm này. Ông tự tử.

Carl Djerassi (1923), nhà hóa học Áo-Mỹ. Vào năm 1951, Djerassi phát triển hormone tổng hợp nữ noréthindrone (hay noréthistérone), cộng tác với nhà hóa học Mễ tây cơ Luis E. Miramontes và nhà hóa học Hongrie George Rosenkraz. Tuy nhiên ông không phải là người đầu tiên thực hiện những nghiên cứu này. Thật vậy, chính nhà hóa học người Mỹ Russell Marker, năm 1940, phân lập progestérone từ củ từ (igname) Mễ tây cơ, một loại cây có củ ăn được. Noréthindrone là hormone tổng hợp nữ đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn sau khi chuyển vận qua hệ dạ dày-ruột. Djerassi không nhận thức rằng khám phá của ông cũng được sử dụng như thuốc ngừa thai uống (contraceptif oral).

Gregory Pincus (1903-1967), nhà sinh học Hoa Kỳ. Vào năm 1952,

Pincus và thầy thuốc phụ khoa John Rock bắt đầu nghiên cứu về progestérone. Nhà sinh học Hóa-Mỹ Min Chueh Chang đã khám phá ra rằng chế phẩm của Djerassi có thể ngăn trở sự rụng trứng và như thế có thể dùng làm thuốc ngừa thai. Pincus thực hiện những trắc nghiệm trên các phụ nữ ở Porto Rico vào năm 1956. Mẫu nghiệm của ông được pha trộn với một hormone nữ khác, oestrogène, nhằm sản xuất một viên thuốc phối hợp (pilule combinée). Ông được sự ủng hộ của BS Edris Rice-Wray. Ông này kết luận rằng Enovid mang lai một sự bảo vệ đáng tin cậy 1100% nhưng có quá nhiều tác dụng phụ. Piccus và Rock tiếp tục thí nghiệm và Enovid được thương mãi hóa từ năm 1957 như là thuốc chống lại những hành kinh đau đớn. Vào năm 1960, chính phủ Hoa Kỳ bật đèn xanh để thương mãi hóa Enovid như là thuốc ức chế sự rụng trứng. Vào ngày 23 tháng 7 năm 1960, viên thuốc ngừa thai đầu tiên được chính thức tung ra thị trường.

Ferdinand Peeters (1918-1998), thầy thuốc phụ khoa Bỉ. Vào năm 1959, cùng với các cộng sự viên của ông Marcel Van Roy và H.Oeyen, ông bắt đầu những trắc nghiệm lâm sàng trên SH 513, một chế phẩm có chất cơ bản là acétate de noréthistérone, được phát triển bởi hãng bào chế Đức Schering. Năm 1960, ông đi Berlin để trình bày những kết quả của công trình nghiên cứu của ông. Viên thuốc của Peeters cũng hiệu quả như viên thuốc của Pincus nhưng có liều lượng thấp hơn và không có các tác dụng phụ. Sau một loạt trắc nghiệm, hãng Schering thương mãi hóa viên thuốc của Peeters, đặt tên là Anovlar, bắt đầu từ 1/2/1961. Viên thuốc mà hàng triệu phụ nữ sẽ sử dụng là viên thuốc của một người Bỉ.

Margaret Sanger (1879-1966), người theo chủ nghĩa nữ quyền Hoa Kỳ.

Katharine McCormick (1875-1967), phụ nữ đòi quyền bầu cử Hoa Kỳ và là nhà từ thiện.

Kinh nghiệm có được lúc sống với những phụ nữ sống trong cảnh bần cùng trong khu phố Lower East Side ở Nữu Ước làm Margaret Sanger ý thức được sự cần thiết phải tìm cho được một phương tiện ngừa thai có hiệu quả. Vào năm 1951, bà gặp Gregory Pincus nhân một bữa ăn tối. Nhờ ông ta bà có được một số tiền nơi Planned Parenthood Federation of American. Vào năm 1953, bà nhận được sự ủng hộ của Katharine McCormick, người phụ nữ giàu có và là nhà từ thiện, đấu tranh cho quyền bầu cử của phụ nữ. Bà đã cấp 2 triệu dollars mà Pincus và Rock cần đến để phát triển Enovid.
(VIF EXPRESS 9/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 98 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (23/10/2008 )

1/ CÁC PHUƠNG PHÁP NGỪA THAI QUA THỜI GIAN

Tùy theo thời kỳ và nơi chốn, ước muốn giới hạn sinh đẻ được thể hiện vì những lý do dân số, đạo đức, thẩm mỹ hay một cách giản đơn là để tách sự khoái lạc với sự sinh sản. Dầu thế nào đi nữa, trong bất cứ thời kỳ nào và trong tất các các nền văn minh, sự ngừa thai là một bộ phận của cuộc sống hàng ngày và tạo nên một mối quan tâm quan trọng. Do đó con người đã tưởng tượng ra rất nhiều phương pháp để cứu chữa những hậu quả không được mong muốn của động tác giao hợp. Từ những phương thức êm ái nhất đến những phương cách thô bạo nhất, sau đây là một sơ lược những phương tiện ngừa thai ngày xưa.

Những tài liệu bắt đầu có từ hơn 4000 năm chỉ rõ rằng những người cổ Ai Cập sử dụng các viên đạn âm đạo (suppositoires vaginaux), được cấu tạo bởi bột men (pâte de levain), mật hay phân cá sấu để bảo vệ chống lại một thai nghén không được mong muốn.Tuy nhiên, người ta xác nhận rằng các sản phẩm này phải được đưa vào trong âm đạo trước khi giao hợp, điều này tạo nên một sự kiện đáng lưu ý vào thời kỳ đó, nhưng tiếc thay rất mau bị chóng quên vì lẽ hầu hết các phương pháp về sau này đều được quy định dùng sau khi sinh. Để bảo vệ chống lại các bệnh phong tình, các người lính Ai cập che phủ bộ phận sinh dục của họ bằng ruột cừu và như thế cho ra đời những túi dương vật (préservatif) đầu tiên, 3000 năm trước công nguyên.

Những phương pháp khác còn được mô tả trong papyrus de Berlin (1.300 trước công nguyên), trong đó người ta nhận thấy những chỉ dẫn về một sự hun khói (fumigation) kết hợp với một hỗn hợp gồm có mỡ, cỏ và bia ngọt để uống vào lúc thức dậy, suốt trong 4 ngày ! Có lẽ hiệu quả hơn : những phụ nữ Ai Cập không do dự đưa vào trong âm đạo của họ một nửa của quả trái cây được khoét rỗng để che phủ cổ tử cung, mặt khác, dạng mũ cổ tử cung (cape cervicale) này có lẽ đã được chính Cléopâtre sử dụng.

LÀM MAU LÊN CHỨ !

Trong thời cổ Hy lạp, các thầy thuốc cho toa các công thức pha chế phát xuất từ cổ truyền dân gian. Soranos d’Ephèse và các đồ đệ chủ trương, nơi những phụ nữ quá trẻ hay có cuộc sống bị đe dọa nếu có thai, không được làm sẩy thai, mà phải sử dụng những phương pháp nhằm không để cho tinh dịch của người đàn ông đi vào trong tử cung. Để được như vậy họ cho những lời khuyên rất chính xác như đưa vào trong tử cung những thuốc đạn (suppositoire) chứa những sản phẩm có tác dụng làm thắt chặt cổ tử cung (nghệ, acacia, mandragore...) hoặc đóng lối vào của cổ tử cung với các nút (tampon) bằng len. Họ cũng khuyên các phụ nữ đứng dậy ngay sau mỗi lần giao hợp, hách xì, bước, nhảy, làm những cử động thô bạo và đừng do dự khi phải bước lên các xe bò (tình trạng đường xá thời đó rất thuận lợi cho những rung chuyển !). Nếu, mặc dầu những lời khuyên này, tinh trùng vẫn đi vào tử cung, Soranos chủ trương trích máu (saignée) nhưng thường tránh làm sẩy thai. Các loại thuốc sắc (tisanes) khác nhau còn được pha chế và tiêu thụ vì những tính chất ngừa thai. Trong số những thuốc sắc này, chúng ta hãy kể dầu olive, dây thường xuân (lierre), cây liễu, cây phong (peuplier), cây thông tuyết (cèdre), bạc hà cay (menthe poivrée), cây đào gai (aubépine). Việc kiêng nhịn (abstinence) trong những thời kỳ sinh sản dĩ nhiên được khuyên nhủ mặc dầu bây giờ chúng ta biết rằng tiền nhân hiểu lầm về chu kỳ kinh nguyệt. Những người La mã sử dụng cùng những phương thức, đồng thời nhờ đến thụt rửa âm đạo sau giao hợp (douche vaginale postcoitale). Để làm được điều đó, các nhà quý tộc phải nhờ đến một người nô lệ sau mỗi lần giao hợp. Họ cũng chế tạo một loại túi dương vật được cấu tạo bởi ruột và bàng quang động vật. Điều kỳ lạ là thời Thượng Cổ người ta không đề cập đến phương pháp rút dương vật (retrait), mặc dầu thoạt nhìn điều này rất là hiển nhiên. Tuy nhiên phương pháp rút dương vật này được ghi chú trong Thánh kinh với câu chuyện Oran, trong Talmud và nơi những người musulman.

TRIỆT ĐỂ HƠN : GIẾT CON MỚI ĐẺ

Dĩ nhiên những người thời xưa đã không luôn luôn có thể làm chủ được việc sinh đẻ như họ mong muốn, do đó họ đã dùng một phương pháp triệt để hơn nhiều, đó là giết con mới đẻ (infanticide) ! Đó là chuyện thường xảy ra ở thời Thượng cổ, là thời người ta ít coi trọng cuộc sống của các trẻ em. Dầu đó là Hippocrate, Soranos hay Platon, tất cả đều nhất trí xét đoán “ những trẻ nào nên được nuôi nấng dạy dỗ ” . Hãy nhắc lại rằng, ở Rome người cha có quyền sanh sát đối với các con mình và tuyên bố, vài ngày sau khi sinh, ông ta sẽ giữ lại để nuôi dưỡng trẻ vừa mới được sinh ra đời hay không. Chính những người Do thái có lẽ quyết định không thực hiện việc giết trẻ con sau khi sinh nữa.Vào thế kỷ thứ VI, Mahomet cấm điều đó trong khi ở Châu Âu việc này được hủy bỏ bởi Charlemagne vào thế kỷ thứ VIII. Vào thời Trung Cổ, còn những phương pháp khác xuất hiện và được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nhưng, nếu người ta loại trừ những dây nịt tiết trinh (ceintures de chasteté), thì phương pháp ngừa thai trong thời kỳ này không tiến triển được bao nhiêu vì bị kềm hãm bởi Giáo Hội Cơ Đốc. Thật vậy, ngay vào thời kỳ đầu của đạo Cơ Đốc, suốt trong nhiều thế kỷ, Giáo Hội căn cứ hôn nhân trên sự sinh đẻ và lên án sự khoái lạc và sự ngừa thai. Về sự việc này ít có văn bản chỉ cho chúng ta thấy dân chúng thời Trung cổ kiểm soát sinh sản như thế nào, nếu họ dám làm ! Không nên quên rằng vào thời kỳ này, mọi phương thức ngừa thai, gồm cả rút dương vật (retrait), đều được xem như là một tội phạm và sẽ bị trừng trị. Vậy chính ở Châu Á là nơi mà các túi dương vật (préservatifs) tiến triển. Những túi này được chế tạo bằng giấy lụa dầu (papier de soie huilée) ở Trung Quốc và bằng vảy rùa (écaille de tortue) hay bằng da thuộc (cuir) ở Nhật bản, nơi đây túi dương vật mang tên Kabuta-gata.

TÚI DƯƠNG VẬT THỜI TRANG

Ở châu Âu, phải đợi đến thế kỷ XVI và sự bùng nổ của bệnh giang mai thì các lính trận mới chịu bảo vệ lấy mình. Nhà cơ thể học và giải phẫu học người Ý Gabriel Fallope phát minh một loại bao bằng vải nhẹ, được tẩm một thứ nước sắc gồm có cỏ và nước miếng, mà ông gọi là túi dương vật (sac pénien).

Vào thế kỷ XVII, túi dương vật được làm bằng lụa hoặc nhung và được trang trí bởi một đai màu giữ nó vào vị trí. Từ nay túi dương vật này là một phần của hoạt động sinh dục và trở nên một vật phụ thời trang của những nhà quý tộc và ngay cả của vua chúa.

CHANH KHOÉT RỖNG HAY TÚI DƯƠNG VẬT?

Vào thế kỷ sau, người Venise Giacomo Casanova, nổi tiếng về những tình nhân, đã quảng cáo về chanh được khoét rỗng (citron évidé) và về túi dương vật, hai phương pháp mà ông sử dụng rộng rãi để chống lại những hậu quả của cuộc đời “sôi động” của ông. Chính Casanova đã đặt tên “capote anglaise” (chiếc áo khoác Anh) cho cái khúc ruột (bout de boyau) này, lúc nói rằng “tôi phải giam mình trong một khúc da chết (un bout de peau morte) để chứng tỏ rằng tôi đúng là còn sống”. Nữ hầu tước Sévigné đã định nghĩa túi dương vật như sau: “Đó là một áo giáp chống khoái lạc và một mạng nhện chống nguy hiểm”. Đúng là bao dương vật chưa tiện nghi lắm cũng như chưa được tin cậy lắm. Rửa âm đạo (douche vaginale) với alun, sulfate kẽm, muối Eratus, dấm và chlorure de soude, thời đó được sử dụng nhưng luôn luôn sau động tác giao hợp. Những ống tiêm đầu tiên và các dụng cụ để tiêm âm đạo xuất hiện. Cần ghi nhận rằng chậu rửa đít (bidet) xuất hiện ở Pháp vào thời đó, phần lớn được dùng để rửa chân...

ÁO KHOÁC BẢO ĐẢM 5 NĂM.

Việc sử dụng và sự thương mãi của túi dương vật được hợp pháp hóa sau Cách mạng Pháp. Vào giữa thế kỷ XIX, hãng Goodyear Tire and Rubber phát minh túi dương vật bằng cao su, có thể rửa được và được bảo đảm năm năm! Như thế, sau mỗi lần sử dụng, áo choàng (capote) được rửa, sấy khô và rắc tan. Người ta cũng gọi túi dương vật là “đối thủ bảo vệ”, “túi khoái lạc”. Năm 1880, túi dương vật bằng latex đầu tiên được sản xuất và những tiến bộ đáng kể về màng ngăn (diaphragme) xuất hiện. Cùng năm, Walter John Rendell, dược sĩ Luân Đôn, hiệu chính một vòng đỡ (pessaire), được cấu tạo bởi quinine và bơ cacao, dễ tan ở đáy âm đạo. Phương pháp này giành được thành công nhanh chóng và được phân phát khắp toàn thế giới. Vào đầu thế kỷ XX, nhiều phương pháp ngừa thai xuất hiện. Chúng ta có thể kể phương pháp Ogino, mang tên thầy thuốc người Nhật đã phát minh ra nó. Sự kiêng không giao hợp được khuyên giữa ngày thứ 12 và 16 của chu kỳ kinh nguyệt và phương pháp này đã sinh ra hàng ngàn em bé Ogino ! Còn phương pháp Knauss nhằm định ngày phóng noãn bằng cách theo dõi nhiệt độ, thì lại tỏ ra có hiệu quả đối với những người muốn mang thai hơn là đối với những người muốn được bảo vệ. Sau đó là sự xuất hiện của vòng ngừa thai (stérilet) và thuốc ngừa thai (pilule contraceptive). Vào năm 1961, túi dương vật được bôi trơn (préservatif lubrifié) đầu tiên được đưa ra thị trường.

Còn việc chống thụ thai ở nam giới thì sao? Có chứ, ngoài túi dương vật, đàn ông cũng tham gia kiểm soát sinh đẻ từ những năm 70! Tuy nhiên từ slip làm nóng đến các dược phẩm hormone mới, còn cần phải thực hiện những tiến bộ quan trọng. Suốt trong nhiều thế kỷ, các phương pháp ngừa thai và phá thai đã dựa trên những kiến thức thường sai lầm về cơ thể học và sinh lý học! Dĩ nhiên, trước khi nghĩ đến sự ngừa thai... phải tự hỏi về sự thụ thai!
: (SEMPER 5/2008)

Thời Sự Y Học Số 143 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/09/2009 )

5/ CHẲNG BAO LÂU NỮA VIÊN THUỐC NGỪA THAI CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA (PILULE DU SURLENDEMAIN) SẼ XUẤT HIỆN TRÊN THỊ TRƯỜNG.

CONTRACEPTION . Viên thuốc này, theo nguyên tắc của viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau (pilule du lendemain), có thể uống trong 5 ngày sau một giao hợp có nguy cơ, và không chỉ uống vào ngày hôm sau.

Sau viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau là viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain). Một viên thuốc ngừa thai cấp cứu mới, được sử dụng trong 5 ngày sau một giao hợp có nguy cơ, theo dự kiến sẽ xuất hiện trong các hiệu thuốc của Pháp từ nay đến cuối tháng chín. Được đặt tên là EllaOne, viên thuốc được thương mãi hóa bởi HRA Pharma, với liều duy nhất, đã được Châu Âu cấp giấy phép cho lưu hành vào tháng năm, và chờ đợi đèn xanh cuối cùng của Cơ quan dược phẩm châu Âu (EMEA : Agence européenne du médicament) ngày 24 tháng chín. Sau đó thuốc sẽ được thương mãi hóa ở Pháp rồi rất nhanh ở Anh và Đức.

EllaOne cũng sẽ là đối tượng của nhiều bài thuyết trình khoa học ở hội nghị phụ khoa châu Âu, diễn ra vừa qua ở Rome. Theo những công trình nghiên cứu lâm sàng, hiệu quả của nó sẽ là khoảng 95%, hằng định trong 5 ngày, hoặc tương ứng với thời gian sống của các tinh trùng. Trong số 1.241 phụ nữ đã tham gia vào công trình nghiên cứu chính cho đến cùng, 26 (hoặc 2,1%) đã bị có thai. Con số này là dưới tỷ lệ 5,5% của các phụ nữ sẽ có thể bị mang thai nếu họ đã không sử dụng một phương pháp ngừa thai nào. ElleOne do đó tránh được khoảng 3/5 các thai nghén được chờ đợi ”, EMEA đã xác nhận như vậy. Về các tác dụng phụ, thường đó là những cơn đau bụng hay những rối loạn kinh kỳ.

“ HIỆU QUẢ LÂU HƠN ”

Tính hiệu quả của levonorgestrel (Norlevo), viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain) được thương mãi hóa vào năm 1999, là không thay đổi trong 24 giờ đầu, nhưng chỉ còn 60% sau 48 đến 72 giờ. Mặt khác việc uống thuốc được khuyên trong 12 giờ đầu nếu có thể được, chậm nhất là 3 ngày sau giao hợp không hoặc kém được bảo vệ.

Theo phòng bào chế HRA Pharma, sự tương phản về hiệu năng giữa hai dược phẩm được giải thích bởi sự khác nhau về cách tác dụng. “ Levonorgestrel là một progestatif, nó ức chế sự phóng noãn nhưng không còn tác dụng nữa kể từ lúc cao điểm của sự tiết LH (pic de LH : sự tiết hormone làm phát khởi sự phóng noãn), Luc Massart giám đốc của HRA Pharma đã giải thích như vậy. EllaOne, mà hoạt chất là ulipristal acetate, là một chất điều biến đặc hiệu (un modulateur spécifique) của các thụ thể đối với progertérone (SPRM). Nó cũng ức chế sự phóng noãn, nhưng vẫn có hiệu quá lâu hơn, cho đến khi vỡ các noãn nang (rupture folliculaire). Thế mà đó lại là thời kỳ có nhiều giao hợp nhất.” EllaOne cũng có thể gây nên những biến đổi ở niêm mạc tử cung, mặt khác EMEA đã chỉ rõ như vậy. Theo hãng bào chế HRA Pharma, tính chất này mang lại hy vọng về những lợi ích trong một vài bệnh của tử cung. “ Các thử nghiệm đang được tiến hành trong bệnh lạc nội mạc tử cung (endométriose) và các u xơ tử cung (fibromes utérins) ”, Luc Massart lại còn ghi nhận như vậy.

Tuy nhiên vài hiệp hội cơ đốc giáo lo ngại về việc xuất hiện của dược phẩm mới này, mà về phương diện hóa học họ xem là giống với viên thuốc làm sẩy thai RU486. Mặt khác, các công trình nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng RU486, chất đối kháng của progestérone, cũng có hiệu quả như là thuốc ngừa thai cấp cứu, mặc dầu nó không được cho phép luu hành trên thị trường trong mục đích này.

“ MỘT TIẾN BỘ THẬT SỰ ”

Đối với Bs Elisabeth Anbeny, thầy thuốc phụ khoa và chủ tịch của Hiệp hội ngừa thai của Pháp, thì không có một chút mập mờ nào. “ EllaOne ngăn cản sự phóng noãn, trong khi RU486 chống lai sự làm tổ của trứng ở tử cung, bà nhấn mạnh như thế. Đó là một tiến bộ thật sự so với Norlevo, mà chúng ta đã chứng kiến những thất bại không thể bàn cãi vào đâu được. ” Theo bà vẫn còn tồn tại hai vấn đề. Viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) sẽ chỉ có thể được cấp với đơn thuốc của BS, trái với Norlevo, được bán tự do. Về giá cả, viên thuốc mới này hẳn phải đắc hơn nhiều so với viên thuốc của ngày hôm sau đang được sử dụng hiện nay (giá khoảng 7,5 Euro).

Mỗi năm, khoảng 1 triệu hộp thuốc ngừa thai cấp cứu (Norlevo và générique) được bán ở Pháp. Điều này không nghĩa lý gì, so với 25 triệu tình huống nguy cơ mang thai (quên uống thuốc, tai biến préservatif..) mà các công dân gặp phải mỗi năm. Và không đáng kể gì, so với 200.000 sẩy thai mỗi năm trong đất nước của chúng ta.
(LE FIGARO 8/9/2009)

Thời Sự Y Học Số 146 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/11/2009 )

4/ NGỪA THAI CẤP CỨU : VIÊN THUỐC NGỪA THAI CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA (PILULE DU SURLENDEMAIN) VÀ SAU ĐÓ...

Thuốc ngừa thai cấp cứu phụ nữ, dùng trong 5 ngày sau một giao hợp không được bảo vệ, “ viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau nữa ” (pilule du surlendemain), như Kristina Gemzell (Thụy Điển) đã đặt tên như thế nhân Hội nghị lần thứ 8 của Hiệp hội Phụ Khoa Châu Âu, được dùng để thay thế lévonorgestrel (LNG), điều trị chuẩn cho đến ngày hôm nay, có hiệu quả nhưng với một hoạt tính giảm dần trong 72 giờ. Thật vậy, acétate d’ulipristal (UPA) có nhiều ưu điểm : an toàn hơn lévonorgestrel, thuốc ngừa thai mới này ngăn cản một cách hoàn toàn hơn sự rụng trứng và chỉ có ít các tác dụng phụ.

Acétate d’ulipristal (UPA), chất điều biến chọn lọc (modulateur sélectif) của các thụ thể của progestérone, hoạt tính bằng đường miệng, tác dụng bằng cách liên kết với một ái lực rất mạnh với các thụ thể của progestérone người. Cơ chế tác dụng nguyên phát có thể là một sự ức chế hay một sự làm chậm lại sự rụng trứng. Sau khi cho bằng đường miệng một liều duy nhất 30 mg, UPA nhanh chóng được hấp thụ và đỉnh cao nồng độ huyết thanh đạt được khoảng 1 giờ sau khi uống, đồng thời có một thời gia bán hủy dài (32,4 giờ), góp phần duy trì một hoạt tính không thay đổi trong 120 giờ.

Sự ngừa thai cấp cứu bằng hormone, được sử dụng cho đến nay (1,5 mg lévonorgestrel), thường được gọi là “ viên thuốc ngừa thai của ngày hôm sau ” (pilule du lendemain), có hiệu quả giảm một cách đáng kể ngay ngày thứ ba (giữa 48 và 72 giờ chỉ còn 58% hiệu quả).

Những công trình nghiên cứu lâm sàng được tiến hành với UPA, ở Bắc Mỹ và châu Âu, nơi hơn 4.000 phụ nữ, đã cho thấy một hiệu quả tăng cao khoảng 95%. Hiệu quả này không thay đổi suốt trong 5 ngày, đúng đắn với thời gian sống còn của một tinh trùng trong tử cung, trái với điều đã được quan sát lúc sử dụng LNG (lévonorgestrel) (hoạt động 72 giờ, giảm với thời gian từ 95% đến 58% giữa 0-24 giờ và 48-72 giờ). UPA có một độ dung nạp tốt, có thể so sánh với lévonogestrel.

THỰC TIỄN.
  • Uống một viên thuốc trong 120 giờ (5 ngày) theo sau một giao hợp không hay kém được bảo vệ.
  • UPA vẫn rất hiệu quả cho đến ngày thứ 5 sau một giao hợp không được bảo vệ.
  • Thuốc có thể được uống vào bất cứ lúc nào của chu kỳ kinh nguyệt.
  • Một thai nghén phải được loại trừ trước khi dùng thuốc.
  • Không nên cho bú trong suốt 36 giờ sau khi uống UPA, do tính chất thích mỡ của thuốc.
  • Trong trường hợp mửa trong 3 giờ sau khi uống, phải uống một viên thứ hai.
  • Hầu hết các phụ nữ (80,8%) có kinh vào lúc được dự kiến hay trong thời hạn 7 ngày quanh thời kỳ này (6,1% có kinh 7 ngày sớm hơn và 13,1% 7 ngày chậm hơn). Tuy nhiên, nếu lévonorgestrel (LNG) làm ngắn chu kỳ 2,1 ngày, UPA trung bình kéo dài nó 2,6 ngày.
  • Không có một thay đổi đáng kể nào đã được nhận thấy về thời gian và lưu lượng của kinh kỳ.

(LE JOURNAL DU MEDECIN 20/10/2009)

Thời Sự Y Học Số 154 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 28/12/2009 )

1/ MỘT ÍT LỊCH SỬ VỀ SỰ CHỐNG THỤ THAI.

Lịch sử của viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) tất nhiên liên kết với lịch sử của sự chống thụ thai (contraception). Tài liệu xưa cổ nhất bàn về sự chống thụ thai, papyrus để Kahun, đã có cách nay 4000 năm và mô tả các thuốc chống thụ thai với chất căn bản là bột men (levain), được sử dụng bởi các phụ nữ trong thời Ai Cập cổ đại. Sau đó, suốt trong nhiều thế kỷ, các túi dương vật (préservatif) bằng da cừu, dê, rắn,v...v đã được sử dụng trong nhiều xã hội, nhất là ở Pháp.

Kỷ nguyên chống thụ thai hiện đại đã bắt đầu với những nghiên cứu khoa học về chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ. Chính vào năm 1901, nhà sinh lý học người Áo Ludwig Haberlandt (1885-1932) đã thực hiện một khám phá chủ yếu : ông đã chứng minh rằng kinh nguyệt phụ thuộc vào các hormone (các hormone não bộ kích thích nang trứng FSH và thể vàng (LH) và những hormone buồng trứng oestradiol và progestérone), được sản xuất bởi não bộ và các buồng trứng. Vào năm 1921, nhà nghiên cứu này đã cho thấy rằng, việc tiêm các trích chất buồng trứng của thỏ có thai cho phép làm tuyệt sinh sản tạm thời, bằng cách ngăn cản hay làm chậm lại sự rụng trứng của người phụ nữ. Điều này đã khiến nhà nghiên cứu chế ra thuốc chống thụ thai bằng hormone (contraceptif hormonal) đầu tiên dưới dạng tiêm chích, chứa các hormone phát xuất từ sự thanh lọc các trích chất của buồng trứng. Những thuốc chống thụ thai đầu tiên này là quá đắt nên không thể được thương mãi hóa với quy mô lớn...

CÁC HORMONE TỔNG HỢP.

Chính vì thế mà Margaret Sanger, nữ y tá và người sáng lập kế hoạch hóa gia đình ở Nữu Ước, và Katherine Dexter McCormick, nhà sinh vật học nữ Hoa Kỳ, đã thuyết phục nhà sinh vật học và thầy thuốc Hoa Kỳ Gregory Pincus (1903-1967) phát triển một viên thuốc dễ phổ cập hơn. Chính Pincus đã nghĩ đến việc cho progestérone và oestradiol để phong bế sự rụng trứng. Ông đã có ý nghĩ đó sau khi đã thực hiện, một cách nhân tạo, sự ngăn cản rụng trứng bằng cách cho các động vật cái hai chất progestérone và oestradiol này.

Viên thuốc chống thụ thai có chất căn bản hormone tổng hợp đầu tiên đã có từ năm 1955. Vào năm 1956, viên thuốc này đã được trắc nghiệm trên 250 phụ nữ cư ngụ trong một vùng ngoại ô nghèo của Porto , trước khi Cơ quan dược phẩm Hoa Kỳ cho phép thương mãi hóa nó vào tháng năm 1960.

Nếu ở Đức, viên thuốc chống thụ thai đầu tiên được phát hành ngay năm 1961 bởi hãng dược phẩm Đức Schering, thì ở Pháp, phải đợi đến năm 1967 viên thuốc này mới được bán ở các hiệu thuốc. Chính đạo luật của dân biểu Lucien Neuwirth đã bật đèn xanh để đưa thuốc bán ra thị trường, bãi bỏ đạo luật 30 tháng 7 năm 1920, khi đạo luật này, nhằm chấn hưng dân số, đã cấm mọi biện pháp chống thụ thai. Từ đó, các thành phần tổng hợp và các liều lượng của viên thuốc chống thụ thai đã thay đổi, bởi vì tất cả các phụ nữ không phản ứng như nhau đối với sự sử dụng loại thuốc này : cùng một viên thuốc chống thụ thai, vài phụ nữ cảm thấy nhiều phản ứng phụ trong khi những phụ nữ khác lại không cảm thấy một phản ứng nào.

LÀM GIẢM CÁC TRƯỜNG HỢP SẨY THAI.

Vào năm 1975, hãng Schering đã đưa ra thị trường “ viên thuốc vi liều lượng ” (pilules minidosées) đầu tiên (cũng được gọi là “ minipilule ” ; 20 đến 30 microgramme oestrogène, thay vì 50). Những viên thuốc này đã dần dần thay thế những viên thuốc chống thụ thai có liều lượng mạnh, được gọi là những “ viên thuốc liều lượng bình thường ” (pilules normodosées), chứa các hormone tổng hợp, progestérone đơn độc hay kết hợp với oestrogène. Ưu điểm của “ viên thuốc vi liều lượng ” (pilule minidosée) : thuốc có ít những tác dụng phụ hơn (lên cân, ứ máu ở vú, nguy cơ ung thư vú, ung thư cổ tử cung...).

Ngày nay, mỗi ngày có hơn 110 triệu phụ nữ dùng thuốc chống thụ thai thuộc loại này (pilules minidosées). Còn về viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain), “ Norlevo ”, thuốc chống thụ thai này đã được đưa ra thị trường bởi hãng bào chế HRA Pharma ở Pháp (quốc gia đầu tiên cho phép lưu hành) vào tháng sáu 1999. Sự sử dụng thuốc này đã được dân chủ hóa bắt đầu từ năm 2000, khi Ségolène Royal, khi đó là thứ trưởng Bộ Giáo dục, đã mang lại cho nước Pháp đạo luật 13/12/2000, liên quan đến sự chống thụ thai cấp cứu (contraception d’urgence). Đạo luật quy định rằng các thuốc chống thụ thai cấp cứu, vì đã được chứng tỏ về mặt an toàn, nên “ không phải cần toa bác sĩ ” nữa. Ngoài ra, bản văn của đạo luật này chỉ rõ rằng, các thuốc chống thụ thai cấp cứu (contraceptifs d’urgence) có thể được phát miễn phí “ cho các các thiếu nữ vị thành niên, mong muốn được giữ bí mật, trong các hiệu thuốc hay, trong trường hợp đặc biệt, bởi một nữ y tá, trong các trường học đệ nhị cấp ”, Mục tiêu của chính quyền lúc đó là để giảm các trường hợp sẩy thai. Đó là lý do tại sao từ đó viên thuốc của ngày hôm sau được bán tự do.

Đối với viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) EllaOne, Ủy ban châu Âu đã đồng ý cho phép để đưa ra thị trường vào tháng năm 2009. Sau đó viên thuốc bé nhỏ màu trắng này đã được trình bày, dành riêng cho thế giới, tại Hội Nghị Châu Âu lần thứ 8 của Hiệp Hội Phụ Khoa, được tổ chức ở Rome từ 10 đến 13 tháng 9. Từ 24/9, bởi vì Cơ quan các dược phẩm của Châu Âu đã bật đèn xanh cho phép đưa thuốc này ra thị trường, nên người ta có thể mua nó với toa bác sĩ nơi các hiệu thuốc ở Pháp, Đức và Anh. Trong tương lai, cũng như viên thuốc của ngày hôm sau, viên thuốc của ngày hôm sau nữa sẽ được bán tự do, sau khi thuốc đã được chứng tỏ về mặt an toàn.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)

2/ VIÊN THUỐC CỦA NGÀY HÔM SAU NỮA.

Đó là một cuộc cách mạng nhỏ về chống thụ thai cấp cứu (contraception d’urgence) : mười năm sau khi tung ra thị trường viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain), cho phép tránh có thai ngoài ý muốn sau một giao hợp không hay kém được bảo vệ (vỡ túi dương vật, quên uống thuốc), giờ đây là “ viên thuốc của ngày hôm sau nữa ” (pilule du surlendemain). Ở Pháp EllaOne đã được bán từ cuối tháng chín : viên thuốc màu trắng 30 mg có tác dụng cho đến 5 ngày sau giao hợp, với một tỷ lệ hiệu quả không bị mang thai trung bình hơn 98%. Nhưng, cũng như viên thuốc của ngày hôm sau (hay Norlevo), tính hiệu quả này giảm dần với thời gian.

THUỐC NGỪA THAI CẤP CỨU.

Cho phép chống lại có thai ngoài ý muốn và do đó chống lại sẩy thai (200.000 trường hợp mỗi năm ở Pháp), sự chống thụ thai cấp cứu cho đến nay được thực hiện dưới dạng Norlevo trong nhiều nước trên thế giới : Nam Phi, Algérie, Anh, Bỉ, Pháp, Israel, Maroc, Mễ tây Cơ...và từ 22/4/2009 ở Hoa Kỳ đối với những người trên 17 tuổi ! Không nên lẫn lộn giữa sự chống thụ thai cấp cứu, cho phép tránh bị mang thai, do đó được sử dụng khi có một xét nghiệm thai nghén dương tính, với viên thuốc làm sẩy thai (pilule abortive) RU 486, được đưa vào Pháp năm 1988 và có thể sử dụng trong trường hợp có thai được xác nhận để gây nên sẩy thai...

Ở Pháp, mỗi năm, cứ 3 phụ nữ có một bị nguy cơ có thai ngoài ý muốn. Số lượng lý thuyết của các giao hợp có nguy cơ liên kết với việc quên uống thuốc được ước tính không dưới 22 triệu mỗi năm. Và mỗi năm, khoảng 1 triệu hộp thuốc chống thụ thai cấp cứu được bán ra.

Một cách cụ thể, hoạt chất của EllaOne, một phân tử tổng hợp được gọi là “ ulipristal acétate ”, gắn vào các thụ thể của hormone sinh dục progestérone, nơi não bộ và các buồng trứng. Như thế, nó ngăn cản các thụ thể này kích thích sản xuất các protéine (đặc biệt là hormone “ LH ”), đóng một vai trò trong việc chương trình hóa của sự rụng trứng và sự chuẩn bị niêm mạc tử cung để tiếp nhận trứng thụ tinh. Phân tử “ levonorgestrel ”, được chứa trong viên thuốc của ngày hôm sau (pilule du lendemain) và các progestatifs của viên thuốc chống thụ thai, đều có cùng cơ chế hoạt động như vậy. Nhưng nhờ cấu trúc phân tử đặc biệt, gây một sự tương tác khác với thụ thể của progestérone, nên EllaOne, trái với Norlevo và viên thuốc ngừa thai, tác dụng ngay cả khi quá trình rụng trứng đã được khởi động.

CẦN ĐƠN THUỐC BÁC SĨ.

Viên thuốc của ngày hôm sau nữa (pilule du surlendemain) chỉ được cấp với toa thuốc của bác sĩ : một biện pháp an toàn đối với tất cả các loại thuốc mới, trước khi được bán tự do, phải chứng tỏ tính an toàn trên một số lượng lớn các bệnh nhân. Được bào chế bởi hãng HRA Pharma (cũng sản xuất Norlevo), EllaOne (viên thuốc của ngày hôm sau nữa) giá đắc hơn viên thuốc của ngày hôm sau (Norlevo) : gần 50 euro thay vì 7,50 euro. Vào lúc Norlevo được đưa ra thị trường vào năm 1999, hoạt chất của EllaOne tung đã được chế tạo bởi viện dược phẩm Hoa Kỳ, Research Triangle Institute. Nhưng đã phải cần 10 năm để hãng HRA Pharma, sau khi được các quyền thế giới về thuốc này, mới thực hiện tốt một số tối thiểu các công trình nghiên cứu về tính hiệu quả và mức độ an toàn của sản phẩm trên người. EllaOne đã được trắc nghiệm trên 4000 phụ nữ khi những người này đòi hỏi một ngừa thai cấp cứu giữa 2 và 5 ngày sau một giao hợp không được bảo vệ hay được bảo vệ kém. Kết quả : chỉ 1,6% là có thai. Vào lúc này, HRA Pharma không dự kiến loại thuốc ngừa thai cấp cứu hiệu quả hơn, nhưng suy nghĩ đến khả năng sử dụng hoạt chất của EllaOne để chống lại một vài bệnh tật.

VÀ NGÀY MAI ?

Theo Philippe Bouchard, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết của bệnh viện Saint-Antoine(PARIS), làm việc với nhiều hãng dược phẩm về sự chống thụ thai. “ Vào lúc này, không có những công trình nghiên cứu về một thuốc chống thụ thai cấp cứu hiệu năng hơn EllaOne ”. Ngược lại, nhà chế tạo thuốc EllaOne cố gắng xác định xem chất hoạt hóa của viên thuốc ngừa thai này (ulipristal acétate) có thể có hiệu quả chống lại vài bệnh của phụ nữ hay không, mà vài nghiên cứu đầu tiên trên động vật hay người cho phép nghĩ như vậy. Đặc biệt đó là trường hợp u xơ tử cung (fibrome). Khối u này, phát triển từ cơ của tử cung, thường là hiền tính, nhưng đôi khi nó có những triệu chứng rất bất lợi : gây bệnh cho 20 đến 40% các phụ nữ từ 30 đến 45 tuổi, căn bệnh này có thể gây nên những kinh nguyệt thường xuyên và nhiều, các cơn đau vùng hố chậu, đau bụng quặn, trướng bụng, thậm chí những vấn đề về khả năng sinh đẻ. Đến nay, điều trị u xơ tử cụng có thể cần đến phẫu thuật cắt bỏ, một can thiệp ngoại khoa nặng nề, đòi hỏi nhập viện nhiều ngày.

MỘT HOẠT CHẤT RẤT HOẠT TÍNH.

Thế mà các công trình nghiên cứu đầu tiên trên người đã cho thấy rằng hoạt chất của EllaOne có thể “ làm tan ” các khối u xơ tử cung. Do đó có thể tưởng tượng rằng một ngày nào đó có thể thay thế phẫu thuật nặng nề cắt bỏ u xơ bằng uống một viên thuốc đơn thuần ? Các kết quả đầu tiên là đáng phấn khởi nhưng cần ít nhất 4 năm nghiên cứu để xác nhận chúng.

Căn bệnh khác có thể một ngày nào đó được điều trị bằng viên thuốc của ngày hôm sau nữa : ung thư vú.

Tuy nhiên các nghiên cứu đến nay đã không vượt qua giai đoạn thí nghiệm trên động vật. Viên thuốc chống thụ thai này cũng có thể hiệu quả chống lại bệnh lạc nội mạc tử cung (endométriose), một bệnh phụ khoa tiến triển, gây bệnh cho 10 đến 15% các phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ, và được biểu hiện bởi những cơn đau vùng chậu dữ dội, ra nhiều kinh kỳ, và ngay cả có thể dẫn đến vô sinh. Sau cùng, hoạt chất của EllaOne có thể dùng để điều chế một thuốc chống thụ thai chính quy. Nhưng lại nữa, không có thông tin chính xác nào được đưa ra , bí mật công nghiệp buộc phải thế.
(SCIENCE ET VIE 12/2009)


5/ MỘT PHƯƠNG THUỐC TRUNG HOA CHỐNG LẠI NHỮNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM.

Được trắc nghiệm cách nay khoảng một chục năm ở Châu Á trên các nạn nhân bị tai biến mạch máu não, một hợp chất của dược điển Trung Hoa làm quan tâm giới nghiên cứu y học Phương Tây để điều trị những bệnh nhân đã bị bệnh này. Cocktail, có tên gọi Danqi Piantan Jiaonang, được bào chế từ 9 hợp chất có nguồn gốc thực vật và 5 có nguồn gốc động vật. Mặc dầu những kết quả đầy hứa hẹn ở Trung Hoa và ở Đông Nam Á, cocktail này phải được đánh giá trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn ở tầm cỡ quốc tế. Nhất là cơ chế phân tử của thuốc này vẫn cần phải được làm sáng tỏ. Đó là điều vừa được trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm dược lý của đại học Nice. Các chú chuột đã nhận dược phẩm này ba giờ sau một tai biến mạch máu não. 30 giờ sau, nhồi máu não đã thu giảm, và các con chuột đã phục hồi tốt hơn các chức năng não bộ của chúng. Trong não bộ của các con chuột này, các đường vòng tế bào thần kinh (circuits neuronaux) mới đã phát triển, hợp chất Trung Hoa hoạt hóa sự tổng hợp của một yếu tố tăng trưởng được biết là kích thích tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale). “ Đó là lần đầu tiên mà một hợp chất chống tai biến mạch máu não tác động lên sự phục hồi chức năng ”, Catherine Heurteaux, thuộc đại học Nice đã tuyên bố như vậy. Các công trình nghiên cứu dược lý được tiếp tục, và các thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành.
(SCIENCE ET VIE 4/2010)

6/ CÁC BALADEUR LÀ NHỮNG MỐI NGUY THẬT SỰ CỦA THÍNH GIÁC.

Hôm qua, Ngày của thính giác (Journée de l’audition) điểm tình hình về những hành vi có nguy cơ của các thanh thiếu niên. Hơn 40% những người trẻ tuổi này đã bị chứng ù tai (acouphène).

SURDITE. Trong khi việc thăm khám các thầy thuốc nhãn khoa thường là một bộ phận của những thăm khám thường niên không tránh được đối với một đại đa số người Pháp, thì không phải vậy đối với việc thăm khám các thầy thuốc Tai Mũi Họng. “ Nếu võng mạc có 120 triệu tế bào, thì tai trong (oreille interne) chỉ đếm được 16.000 tế bào (13.000 khuếch đại các âm thanh và 3000 cho phép nghe chúng) ”, BS Gérald Fain, chuyên gia Tai Mũi Họng ở Paris đã nêu lên như vậy. Thế mà, việc kiểm tra đều đặn thính giác của mình cho phép có những điểm quy chiếu (points de répère).

Hôm qua, nhân Ngày của Thính giác (Journée de l’audition), hiệp hội tổ chức sự tập hợp này đã công bỏ một cuộc điều tra về chủ đề. Các kết quả rất bổ ích. Sự vấn chẩn (interrogatoire) đã được thực hiện trên 1.001 những người trẻ từ 12 đến 25 tuổi. Kết quả là những thanh thiếu niên này sử dụng baladeur trung bình một giờ rưởi mỗi ngày với một thời gian nghe liên tục một giờ. Những người sử dụng nhiều nhất là các thiếu niên từ 15 đến 17 tuổi với thời gian nghe trung bình 2 giờ 5 phút. Mặt khác, 40% các thanh thiếu niên được hỏi tuyên bố đã cảm thấy các tiếng ù tai (acouphène) sau khi nghe baladeur và lúc ra khỏi discothèque.

Khi các thanh thiếu niên đi thăm khám, thường là quá muộn. Đó là trường hợp đối với chàng thanh niên 19 tuổi đã cảm thấy một tiếng rít trong tai sau một đêm dạ vũ ở discothèque. Anh ta chỉ đi khám một thầy thuốc 4 ngày sau và được chẩn đoán là bị chứng điếc vĩnh viễn (surdité définitive). Hiện nay, người thầy thuốc bất lực khi đứng trước sự phá hủy của những tế bào của tai trong này. Ngoài điều trị bằng corticoides thuốc uống dùng trong khoảng 8 ngày, các hướng điều trị là khả mong manh. Do đó cần phải tự bảo vệ. Một trong những giải pháp, dĩ nhiên, là mang các vật bảo vệ trong các lỗ tai của mình. “ Nghỉ ngơi âm thanh (repos sonore) cũng là một cách tự gìn giữ, GS Frachet, trưởng khoa Tai Mũi Họng thuộc bệnh viện Avicenne, Bobigny, đã phát biểu như vậy. Khi ta thỉnh thoảng đi ra ngoài lúc ở trong một hộp đêm, không sử dụng một baladeur một cách liên tục hay tránh xa các baffles lúc nghe hòa nhạc : xa 2 m ta chia nguy cơ cho 4.”

Trái với các định kiến, tất cả chúng ta không bình đẳng trước tiếng ồn.“ Nếu bạn ở trong một discothèque, và cường độ của tiếng nhạc quá mạnh, đừng an lòng khi người ở cạnh bạn nói với bạn rằng anh ta chịu được tốt cường độ đó, GS Bruno Frachet đã giải thích như vậy. Cũng vậy, vài người sẽ trở thành điếc ngay phát súng đầu tiên trong khi những kẻ khác lại sẽ chịu được nó rất tốt.”

Công trình nghiên cứu, được tiến hành nhân Ngày Thính Giác (Journée de l’audition) cũng nêu ra sự kiện là 75% trong số các thiếu niên 12-14 tuổi không biết decibels biểu hiện cái gì. Thế mà một iPod được mua ở Châu Âu được giới hạn ở mức 100dB, điều này tương đương với mức thính giác của một hộp đêm hay với một TGV phóng với vận tốc 300 km/ giờ ! Để so sánh, 75 dB tương ứng với một máy hút đang hoạt động và 15 dB tương ứng với một marteau-piqueur. “ Nghe baladeur với âm độ 100 dB, thật là quá lớn ! Pascal Petitpas, giám đốc của laboratoire d’essai của Fnac đã kêu lên như vậy, nguy cơ đối với tai đã được xác nhận ở âm lượng 80 dB. ” Một ý kiến được chia xẻ bởi BS Fain : “ Nghe iPod với âm lượng 100 dB, đó là tự tử vậy ! ”

Dẫu sao đi nữa, một vài người không thỏa mãn với âm lượng này, và tháo cương máy để gia tăng cường độ âm thanh. Đó là chưa kể ở Hoa Kỳ, những máy này được bán với một giới hạn 115 dB, hoặc một âm lượng cao hơn rõ rệt so với điều được thực hiện ở Châu Âu. Mặc cho “ trận dịch rối loạn đích giác ” (épidémie de troubles auditifs), theo lời diễn đạt của BS Fain, các thông điệp với mục đích phòng ngừa khó có thể đến với quần chúng, huống hồ là các thanh thiếu niên. “ Những lời khuyên thận trọng được đưa ra bởi những người đứng tuổi, lại không biết rằng âm nhạc phải được nghe với cường độ mạnh, GS Frachet đã phàn nàn như vậy. Thông điệp của họ được cảm nhận như là thiến hoạn (castrateur) trong khi giới trẻ không đánh giá tốt biên giới giữa lạc thú và sự nguy hiểm.” Cũng như đối với các bao thuốc lá, tại sao không viết trên các baladeur, “ tiếng ồn làm điếc tai ”, BS Fain đã yêu cầu như vậy ?
(LE FIGARO 12/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 157 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 18/1/2010 )

3/ CỨ MƯỜI THIẾU NIÊN THÌ CÓ MỘT BẮT ĐẦU BỊ CHỨNG ĐIẾC.

Đó là một cấp cứu nội khoa rất thường không được hay biết. Sau khi xem xong một buổi hòa nhạc hay đi ra từ một hộp đêm, cảm giác như một lỗ tai “ bị bít lại ”, ù tai hay chóng mặt có thể là những biểu hiện cùa một chấn thương âm thanh cấp tính (TSA : traumatisme sonore aigu), đe dọa chức năng thính giác. “ Nhiều trong số những bệnh nhân này, nói chung là trẻ tuổi, không thăm khám hay thăm khám muộn khi những thương tổn đã trở thành vĩnh viễn, BS Jean-Michel Klein, tổng thư ký của Công đoàn quốc gia của các thầy thuốc chuyên khoa Tai Mũi họng, đã lấy làm tiếc như vậy. Tuy nhiên, theo ông một điều trị rất sớm bằng corticoides, sau một bilan với thính lực đồ (audiogramme), có thể giới hạn sự mất thính giác.

Trên bình diện cơ thể học, sự mất thích giác này được thể hiện bởi một sự biến đổi của những tế bào tiêm mao (cellules ciliées) của tai trong (oreille interne). 15.000 tế bào này, rất quan trong đối với chức năng thính giác nhưng lại mỏng manh, có thể bị “ nổ tung ” dưới tác dụng của áp suất gây nên trong ốc tai (cochlée) do một sự tiếp xúc âm thanh ở những mức độ rất cao. Ngưỡng đau đớn (seuil douloureux) nằm ở 120 décibel, nhưng những chấn thương âm thanh (traumatisme sonore) cấp tính xuất hiện ở mức cao hơn nhiều so với ngưỡng này.

CÁC BALADEURS MP3 ĐƯỢC CHO LÀ THỦ PHẠM..

( Chú thích : Baladeur là máy điện tử nhỏ xíu tái tạo âm thanh và hình ảnh, được trang bị bởi các tai nghe (écouteurs), nhằm sử dụng cá nhân và thường người sử dụng di động. Các baladeur này rất được ưa thích bởi các thiếu niên ).

Trong thực tiễn, các triệu chứng có thể hồi phục được trong vài giờ, nhưng những bệnh cảnh “ mệt thính giác ” (fatigue auditive) này hẳn phải được xem như là một báo động, Jean-Michel Klein đã nhấn mạnh như thế. Trong vài trường hợp, các tế bào tiêm mao (cellules ciliées) bị phá hủy một cách không vãn hồi được, gây nên những rối loạn thường trực của thính giác, kèm theo tiếng ù tai hay không. Theo một điều tra cách nay vài năm, những chấn thương âm thanh cấp tính này không phải là ngoại lệ : chúng ảnh hưởng lên 1400 người mỗi năm ở Pháp. Các âm nhạc khuếch đại (hòa nhạc, discothèque..) là nguyên nhân đầu tiên, đứng trước tiếng súng bắn, tiếng nổ, pháo, còi báo động và ngay cả điện thoại cầm tay. Mặt khác, những tiếng động quá mạnh có thể gây nên thủng màng nhĩ hay sai khớp chuỗi các xương nhỏ do một hiện tượng sóng va chạm (onde de choc). Những thương tổn này của tai giữa (oreille moyenne), cổ điển trong những vụ nổ do khủng bố, có thể xảy ra, nhưng hiếm, trong các buổi hòa nhạc.

Nhưng ngoài những tai nạn cấp tính này, các thầy thuốc và giới hữu trách đặc biệt quan tâm đến các baladeur MP3, làm gia tốc quá trình lão hóa của tai trong. Theo một báo cáo châu Âu, 50 đến 100 triệu công dân của Liên Hiệp Châu Âu sử dụng hàng ngày những chiếc máy số (appareils numériques) này, và 10 triệu có nguy cơ trở nên điếc vì nghe chúng quá mạnh và quá thường xuyên. Mức âm thanh của các baladeur chẳng bao lâu sẽ được giới hạn bởi Uỷ Ban châu Âu.

MỘT PHẾ TẬT NẶNG..

Patrick Arthaud, chủ tịch công đoàn của các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (audioprothésiste) Pháp cũng ghi nhận rằng các môn đồ của MP3 đã trở thành quen (accoutoumance) với những cường độ âm thanh mạnh (qua trung gian của các chất dẫn truyền thần kinh), tạo nên một dạng phụ thuộc (dépendance). “ Thật là lệch lạc, ta đã thành công làm giảm các chứng điếc do nghề nghiệp bằng cách cải thiện biện pháp phòng ngừa, và rồi ta lại sẽ quan sát thấy một sự gia tăng của các chứng điếc, hậu quả của việc nghe nhạc giải trí ”, Patrick Arthaud nói tiếp như vậy, đồng thời nhấn mạnh đến sự phế tật nặng gây nên bởi chứng điếc trong cuộc sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp.

Những môn đồ đầu tiên của các baladeurs (các walkmans của những năm 1980) phải chăng đã trở thành điếc ? Khó mà biết được nếu không có gần như hoàn toàn những nghiên cứu dịch tễ học về vấn đề này. Các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (prothèse auditive) (audioprothésiste) có cảm giác đang đặt máy (appareiller) cho những người trẻ tuổi hơn, nhưng tiến triển này có thể do chiến dịch thông tin tốt hơn. Tuy nhiên, một điều tra trong giới học đường đã cho thấy rằng trước 17 tuổi, cứ 10 thiếu niên thì có 1 bị khởi đầu của chứng điếc với một sự mất thính lực hơn 20 dB. Trong những năm qua nhiều chiến dịch phòng ngừa đã được thực hiện nơi giới trẻ.
(LE FIGARO 11/1/2010)


7/ ĐIỀU TRỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG....CA HÁT.

Cứ mỗi 4 phút, một tai biến mạch máu não xảy ra ở Pháp. Khi cơn đột qụy gây thương tổn bán cầu đại não trái, nơi định vị của trung tâm nói (centre de la parole), thì các nạn nhân bị mất đi khả năng diễn đạt (capacité d’élocution). Tuy vậy, vài bệnh nhân trong số những người bị á khẩu (aphasique : mất ngôn ngữ) này lại có thể ca hát. Vì vậy, một đường lối điều trị, liệu pháp âm điệu (MTP : thérapie d’intonation mélodique), đã được thực hiện bởi Gottfried Schlaug, thầy thuốc thần kinh thuộc đại học Havard, Boston. Trong hội nghị ở San Diego vào tháng hai vừa rồi, ông đã trình bày những trường hợp phục hồi lời... hát (parole chantée) ! Các bệnh nhân, không có khả năng thốt ra những lời có thể hiểu được, đã thành công, sau những buổi luyện tập, hát “ happy birthday ” hay thể hiện một nhu cầu, như “ tôi khát ”. Theo nhà nghiên cứu, những tác dụng của liệu pháp này được tăng cường khi các bệnh nhân nhấn các nhịp bằng đôi bàn tay, một động tác được cho là kích thích phần bên phải của não bộ.

Thật vậy, các hiệu quả của liệu pháp âm điệu đã được nghiên cứu một cách song hành nhờ chụp hình ảnh não bộ (IRM chức năng). Gottfried Schlang và nhóm nghiên cứu của ông như thế đã cho thấy rằng âm nhạc kích thích các vùng của não bộ khác với những vùng phụ trách lời nói. Sự tuyền đạt bằng miệng (communication orale) dường như dùng hai đường thần kinh khác nhau : nếu để phát biểu một bài nói, chính bán cầu đại não bên trái bị kích thích ; nếu để diễn đạt bằng lời hát, chính bán cầu đại não bên phải, và đôi khi cả hai. Liệu pháp âm điệu (MTP) do đó dựa vào tính dẻo (plasticité) của não bộ và sự tạo thành những nối kết tế bào thần kinh (connexions neuronales) mới trong bán cầu não lành mạnh.

Một thử nghiệm lâm sàng với 30 bệnh nhân á khẩu (aphasiques) đang được tiến hành.
(SCIENCE ET AVENIR 4/2010)

8/ UNG THƯ : HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ LÀM GIẢM CÁC NGUY CƠ.

BS Thierry Bouillet, thầy thuốc chuyên khoa ung thư (CHU Avicenne de Bobigny), bình luận những công trình nghiên cứu chứngminh tác dụng có lợi của hoạt động vật lý đối với vài loại ung thư.

Hỏi : Đối với những ung thư nào, hoạt động vật lý được liên kết với một sự giảm nguy cơ ?
BS Thierry Bouillet : Theo những kết quả đồng quy của nhiều công trình nghiên cứu quốc tế, có một sự giảm thật sự tỷ lệ của các ung thư của vú, đại tràng, nội mạc tử cung (cancer de l’endomètre) và tuyến tiền liệt với một hoạt động vật lý đều đặn và có cường độ trung bình.

Hỏi : Những hoạt động vật lý nào được khuyên thực hiện và theo nhịp độ nào ?
BS Thierry Bouillet : Những hoạt động gây nên một sự tiêu hao năng lượng đủ và được thực hiện ít nhất 3 giờ mỗi tuần. Những môn thể thao như tennis, bơi lội, karaté, golf…những bài tập gymnastique và ngay cả bước nhanh.

Hỏi : Làm sao giải thích cơ chế của sự bảo vệ này ?
BS Thierry Bouillet : Bắt đầu từ một mức tiêu hao năng lượng đủ, ta biến đổi các sự tiết của oestrogène, insuline và những hormone khác phát xuất từ các mô mỡ. Tất cả các hormone này tạo nên các yếu tố tăng trưởng, nghĩa là những chất kích thích của các tế bào ung thư đã hiện diện trong cơ thể. Thế mà, ngay cả lúc lành mạnh, tất cả chúng ta sản xuất các tế bào ung thư, nhưng chúng bị phá hủy một cách hệ thống bởi hệ miễn dịch (ngoại trừ trong vài trường hợp chúng có thể tăng sinh, đặc biệt dưới tác dụng của một sự tăng hoạt tính hormone có hại).

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào chứng minh những tác dụng phòng ngừa của hoạt động vật lý ?
BS Thierry Bouillet : Để đánh giá ảnh hưởng của hoạt động vật lý lên tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú, một công trình nghiên cứu rộng lớn của Pháp (E3N), đã thực hiện trong 12 năm, trên 90.509 phụ nữ (tuổi từ 30 đến 65), tất cả đều khỏe mạnh lúc ban đầu. Nơi những phụ nữ thực hiện tối thiểu 5 giờ hoạt động vật lý mỗi tuần, người ta ghi nhận một sự thu giảm 25% nguy cơ ! 5 công trình nghiên cứu quốc tế khác đã xác nhận những dữ kiện này. Về ung thư đại tràng, tôi có thể kể cho ông các kết quả của 2 công trình phân tích méta (tập hợp các quan sát trên nhiều trăm ngàn người). Nơi những người đã thực hiện đều đặn một hoạt động vật lý, người ta đã ghi nhận một sự thu giảm 25% ung thư đại tràng (các kết luận được công bố trong “ British Journal of Cancer ” và “ Colorectal Disease ”)

Hỏi : Mức độ đáng tin cậy của những kết quả này là gì ?
BS Thierry Bouillet : Mức độ đáng tin cậy là không chối cải được bởi vì tất cả các công trình nghiên cứu này được tiến hành với một phương pháp học rất nghiêm túc trên một số lượng người rất lớn...và trong những thời kỳ dài. Các kết luận luôn luôn giống nhau : 26 đến 30% ung thư ít hơn với một hoạt động vật lý đều đặn !

Hỏi : Những người có nguy cơ nào được khuyên phải tự tiêu hao năng lượng ?
BS Thierry Bouillet : Những người bị bệnh đái đường, những người tăng cao thế trọng, những người mà một thành phần trong gia đình (hay nhiều) đã bị một ung thư. Đối với những người sau cùng này, theo một cuộc điều tra Hoa Lan được thực hiện trên 725 bệnh nhân (được công bố vào nam 2010 trong “ Breast Cancer Research Treatment ”), sự giảm nguy cơ là...40% !

Hỏi : Hoạt động vật lý cũng góp phần làm giảm các nguy cơ tái phát hay không ?
BS Thierry Bouillet : Sự giảm này đã được chứng minh đối với những truồng hợp ung thư vú và đại tràng. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế tìm thấy lại những kết quả y hệt, kết luận một sự thu giảm 50% nguy cơ tái phát nơi những người đã duy trì sự thực hiện một hoạt động vật lý đều đặn và đủ mạnh sau khi điều trị những ung thư này.

Hỏi : Những điều chứng thực này có khiến thiết lập một điều trị đặc hiệu hay không ?
BS Thierry Bouillet : Ở Pháp, 9 cơ sở hoạt động vật lý được thích nghi trong ung thư học mới đây đã được thiết lập trong nhiều bệnh viện khác nhau (trong đó có Viện Gustave-Roussy ở Villejuif và bệnh viện Avicenne ở Bobigny). Từ ít lâu nay, một văn bằng đại học (thể thao và ung thư) đã được thành lập ở đại học Paris-XIII ở Bobigny (dưới sự chỉ đạo của GS Laurent Zelek) để đào tạo các huấn luyện viên y khoa thể thao (éducateurs médicaux sportifs).
(PARIS MATCH 18/3-24/3/2010)

9/ PHẢI CHĂNG ĐIỀU TRỊ CÁC THOÁT VỊ ĐĨA PHẢI LUÔN LUÔN LÀ NGOẠI KHOA ?

Người ta ước tính rằng 60% đến 80% dân chúng đau lưng ít nhất một lần trong cuộc đời của họ ? Trong phần lớn các trường hợp, cơn đau được định vị ở phần thấp của lưng, tương ứng với các đốt sống thắt lưng. Những rối loạn này đặc biệt thường xảy ra trong thăm khám khoa khớp nhưng cũng trong các phòng mạch của các thầy thuốc đa khoa. Phí tổn xã hội-kinh tế của chúng là quan trọng bởi vì những chứng đau lưng này chịu trách nhiệm 20% các trường hợp nghỉ việc và 7% các tai nạn lao động, với những hậu quả thường khó khăn.

Việc điều trị chứng đau lưng đòi hỏi thời gian để nghe những lời than vãn của bệnh nhân, đòi hỏi kinh nghiệm và một sự thăm khám chăm chú. Nguồn gốc của một đau đốt sống càng khó xác lập khi không có sự tương quan giữa cường độ của đau đón và hình ảnh X quang.

Đĩa liên đốt sống (disque intervertébral) là một loại sụn đặc biệt có vai trò giảm chấn (amortisseur) với một phần ngoại biên cứng hơn, annulus, và một phần trung ương ngấm nước (hydraté), nucleus. Các ứng lực (contraintes) và sự lặp đi lặp lại những gắng sức sẽ gây nên những vết rạn nứt với sự di chuyển của nucleus : đó là thoát vị đĩa (hernie discale).

Bắt đầu từ 40 tuổi, chứng thoát vị đĩa được liên kết với những thương tổn hư khớp (lésions d’arthrose) ít nhiều lan rộng và được đặc trưng bởi một sự phá hủy của sụn với các cấu tạo xương, các chòi xương (ostéophytes).Thoát vị đĩa không thấy được trên phim chụp X quang đơn giản. Những phim chụp này đặc biệt hữu ích để không bỏ sót một khối u, một ung thư, một viêm khớp đốt sống gây cứng liền khớp (spondylarthrite ankylosante) hay một nhiễm trùng đĩa-đốt sống (infection disco-vertébrale). Chụp hình ảnh hiện đại, scanner hay IRM, cho phép chứng tỏ sự hiện hữu cơ thể học của thoát vị đĩa, nhưng không cho phép một kết luận mặc nhiên nào về những hậu quả lâm sàng của nó.

CÁC CẦU TRÚC THẦN KINH.

Tùy theo định vị của thoát vị, đau lưng có thể lan tỏa ra sau đùi và cẳng chân, đó là chứng thần kinh tọa (sciatique), hay ra phía trước đùi, đó là chứng đau dây thần kinh đùi (névralgie du nerf crural). Phải biết rằng trong hơn 80% các trường hợp, đau đớn biến mất một cách ngẫu nhiên trong một thời hạn có thể lên đến 6 tháng.

Những trường hợp buộc phải can thiệp ngoại khoa tức thời là hiếm. Có thể đó là một cơn đau cực kỳ dữ dội, đề kháng với các thuốc giảm đau quan trọng, với liệt cơ năng hay nhất là với các biến chứng thần kinh tiến triển. Các biến chứng này liên kết ở những mức độ khác nhau với những rối loạn cơ vòng và những bại liệt của chi dưới, tùy thuộc vào vị trí của thoát vị đĩa. Các rối loạn tiến triển làm phải dự kiến ngay một can thiệp ngoại khoa. Những bại liệt ban đầu có thể được điều trị nội khoa trừ khi ta chứng thực một sự trầm trọng dần dần.

Dầu cho kỹ thuật được sử dụng là gì, can thiệp ngoại khoa có mục đích làm mất sự đè ép (décompression) của các cấu trúc thần kinh trong ống sống (canal rachidien). Nơi người trẻ, vài phẫu thuật viên đề nghị bổ sung sự nạo đĩa (curetage discal) bằng sự thiết đặt một đĩa liên đốt sống giả (prothèse discale intervertébrale). Lợi ích của kỹ thuật này vẫn còn là đối tượng của các cuộc tranh luận.

Ngoại khoa của thoát vị đĩa không phải là thuốc chữa bá bệnh. Giải phẫu có thể đưa đến biến chứng viêm đĩa đốt sống (spondyldiscite) do nhiễm trùng bệnh viện (infection nosocomiale). Sau phẫu thuật, chứng bại liệt không thoái lui nhanh hơn so với hồi phục chức năng (rééducation) đơn độc. Các cơn đau vẫn có thể tồn tại không thay đổi, thậm chí nặng thêm. Để giải thích, trước đây người ta nêu ra các hiện tượng sẹo hóa sợi (fibrose cicatricielle). Ngày nay người ta nghĩ đó là do các thương tổn của các rễ thần kinh, thường là vĩnh viễn, do huyết khối mạch máu (thrombose vasculaire). Đối với các thầy thuốc ngoại khoa, chính sách chờ đợi quá mức và thái độ ngẫm nghĩ của vài thầy thuốc khoa thấp khớp làm dễ những thương tổn của các rễ thần kinh này.
(LE FIGARO 8/2/2010)

10/ MỘT LIỆU PHÁP GEN CẢI THIỆN CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH PARKINSON.

NEUROLOGIE. Bằng cách tiêm 3 loại gène vào trong não bộ của các động vật linh trưởng mô hình (primates modèles) của bệnh Parkinson, các nhà nghiên cứu người Pháp đã thành công điều trị chúng, mà không gây nên những tác dụng phụ gây phế tật.

Run rẩy, cứng các chi, giảm sự đi lại : những triệu chứng của bệnh Parkinson rất là gây phế tật. Bệnh lý này, mà khoảng 100.000 người Pháp mắc phải, được liên kết với sự thoái hóa của các tế bào sản xuất dopamine trong não bộ. Thuốc chuẩn để điều trị bệnh Parkinson ? L-dopa. Nhưng thuốc này gây nên những cử động không kiểm soát được, loạn vận động (dyskinésie). Do đó lợi ích của liệu pháp gène (thérapie génique) được hiệu chính bởi một nhóm các nhà nghiên cứu người Pháp ; liệu pháp này cho phép điều trị các con khỉ macaque mô hình của bệnh, mà không gây nên những tác dụng phụ.

VIRUS VÔ HẠI.

Tính độc đáo của điều trị này dựa trên sự sử dụng đồng thời của 3 loại gène thiết yếu cho sự tổng hợp dopamine. Các nhà nghiên cứu đã đưa 3 gène này vào trong một virus được làm vô hại. Virus này được lựa chọn vì khả năng của chúng vận chuyển một lượng quan trọng những thông tin di truyền. virus này sau khi đã được biến đổi như thế, được chích vào trong striatum của khỉ macaque, vùng của não bộ thiếu dopamine trong bệnh này. Virus truyền 3 gène này cho các tế bào thần kinh và các tế bào này đã bắt đầu chế tạo chất dẫn truyền thần kinh.

Các kết quả thu được rất là đáng khởi. Sự sản xuất dopamine, được đo in vivo, đã đạt một mức lên đến 50% mức bình thường. Tất cả các con khỉ macaque được điều trị đã có một sự cải thiện những rối loạn của chúng trong 12 tháng theo dõi. Khả năng cử động đặc biệt đã trở lại 80% của mức bình thường. Sau hết, nếu so sánh với việc uống thuốc L-dopa, liệu pháp gène này đã không gây nên loạn vận động (dyskinésie). Được áp dụng vào một nhóm các con khỉ macaque “ parkinsoniens ” mà khởi đầu được điều trị bằng L-dopa, liệu pháp gène đã gây nên giảm số các các con khỉ macaque parkinsonien.

SỰ SẢN XUẤT LIÊN TỤC.

“ Giả thuyết của chúng tôi là : việc cho cách quản cần thiết của các liều thuốc uống L-dopa gây nên một sự kích thích từng hồi của não bộ, nguồn gốc của những biến chứng loạn vận động (dyskinésie) này, Béchir Jarraya, thầy thuốc ngoại thần kinh và nhà nghiên cứu CEA-Inserm đã giải thích như vậy. Sự sản xuất tại chỗ và liên tục của dopamine do liệu pháp gène của chúng tôi mang lại củng cố lý lẽ này.” Liệu pháp gène này có thể được sử dụng ngay khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện, được dùng riêng rẻ hay bổ sung L-dopa.

Được khích lệ bởi thành công này, các nhà khoa học đã phát động một thử nghiệm lâm sàng trên các người bệnh Parkinson ở bệnh viện Henri-Mondor (Créteil). “ Tình trạng của 6 bệnh nhân đã được điều trị đã được cải thiện ở những mức độ khác nhau, phép điều trị tỏ ra được dung nạp tốt ”, Stéfane Palfi, thầy thuốc ngoại thần kinh điều khiển thử nghiệm này, đã loan báo như vậy. “ Những công trình này thể hiện một bước tiến quan trọng, Etienne Hirsch, chuyên viên về bệnh Parkinson ở CNRS, về phần mình đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, cũng như mọi can thiệp ngoại thần kinh, liệu pháp gène cũng có những nguy cơ xuất huyết.”
(LA RECHERCHE 12/2009)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Parkinson - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (29/3/2010)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san kho

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969