Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 74
Lượt truy cập: 1026967
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT LOẠI THUỐC ĐỂ PHÒNG NGỪA UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYỂN.

Theo một công trình nghiên cứu được tiến hành trong 4 năm trên hơn 6000 người đàn ông, dutastéride (Avodart) làm giảm nguy cơ mắc phải ung thư tuyến tiền liệt 23%

SANTE. Ý tưởng cho rằng một loại thuốc, có thể ngăn cản một ung thư xuất hiện, đã bắt đầu từ những năm qua, với nhiều thử nghiệm lâm sàng, đặc biệt chống lại các khối u ung thư thường xảy ra như các ung thư của vú và của tuyến tiền liệt. Tất cả khó khăn là ở chỗ tìm ra một thứ thuốc, mặc dầu có hiệu quả nhưng không có những tác dụng phụ : mọi nguy cơ xảy ra là không thể chấp nhận được khi người ta nhắm vào những người khỏe mạnh và chỉ mong muốn là như vậy. Hôm nay, trong New England Journal of Medicine, các thầy thuốc Hoa Kỳ trình bày những kết quả đáng lưu ý với dustastéride, một loại thuốc ,khi được điều trị đền đặn, cho phép làm giảm 23% nguy cơ mắc phải ung thư tuyến tiền liệt sau 4 năm.

Hiện nay, ở Pháp, ung thư tuyến tiền liệt gây bệnh cho 90.000 người đàn ông mỗi năm và dẫn đến 10.000 tử vong mỗi năm. Sự khác nhau quan trọng giữa số các ung thư xuất hiện và tử vong là do các tiến bộ điều trị cũng như công tác điều tra phát hiện. Sự thăm khám phát hiện bệnh cho phép một chẩn đoán sớm, gồm cả những ung thư có tiên lượng tốt, đáng lý ra không bao giờ được nói đến nếu người ta không tìm kiếm chúng.

Dutastéride (Avodart) là một loại thuốc hiện nay được thương mãi hóa bởi hãng dược phẩm GKS (GlaxoSmithKline) trong bệnh adénome prostatique, và có tác dụng phong bế sự biến đổi testostérone thành dihydrotestostérone, kích thích tố “ làm dễ ” (hormone facilitatrice) trong ung thư tuyến tiền liệt. Các thầy thuốc Hoa Kỳ đã có ý tưởng trắc nghiệm loại thuốc này nhằm ngăn ngừa, trong bối cảnh một thử nghiệm trên 6729 người đàn ông tuổi từ 50 đến 75 tuổi, được xem như là có nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt, trên cơ sở một nồng độ PSA (chất chỉ dấu của ung thư này) tăng cao, nhưng với những sinh thiết âm tính. 6729 người đàn ông có nguy cơ mắc phải ung thư này được chia thành hai nhóm : nhóm thứ nhất (3305 người) nhận 0,5 mg dutastéride mỗi ngày, nhóm thứ hai (3424 người) nhận một placebo, nghĩa là một chất không có một tác dụng dược lý nào cả. Thử nghiệm lâm sàng đã được tài trợ bởi hãng GSK.

Sau 4 năm, 659 người tình nguyện (19,9%) của nhóm dutastéride đã có một ung thư tuyến tiền liệt, so với 858 người (25,1%) trong nhóm placebo. Nhìn toàn bộ, sự dùng thuốc làm giảm 23% nguy cơ. Con số này đạt đến 31,4% đối với những người đàn ông có một thể gia đình của bệnh. Những tác dụng phụ duy nhất được quan sát là một sự giảm nhẹ dục tính và vài khó khăn gia tăng về vấn đề tình dục. Cũng cần ghi nhận một tỷ lệ gia tăng bị nhồi máu cơ tim với dutastéride (0,7%) so với một placebo (0,4%). Những tai biến này là do sự sử dụng đồng thời các alphabloquant (được sử dụng chống cao huyết áp).

Từ nay ta có thể dự kiến thực hiện một sự phòng ngừa như thế trên thực tiễn hay không ? Các chuyên gia không đồng nhất ý kiến và vài người cho rằng cần có thêm những thử nghiệm khác.“ Trước hết phải có những tiêu chuẩn chính xác để xác định các nhóm có nguy cơ, GS Marc Zerbib (khoa niệu bệnh viện Cochin, Paris) đã đánh giá như vậy. Mới đây, các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng một định lượng PSA giữa 40 và 44 tuổi là một xét nghiệm tốt để phân biệt những người đàn ông có nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến. Ở lứa tuổi này, một nồng độ dưới 1,5ng/ml được liên kết với một nguy cơ thấp về sau, trên trị số này, ít nhất một sự theo dõi là cần thiết. ” Tuy nhiên không có vấn đề phải cho một cách hệ thống các thuốc để phòng ngừa nơi những người đàn ông trên 50 tuổi trên cơ sở các tiêu chuẩn ít chọn lọc. “ Tôi không bị quyến rũ bởi chiến lược này, GS Guy Vallancien (thầy thuốc chuyên khoa niệu, Viện Montsouris, Paris) đã thú nhận như vậy, người ta sẽ không dùng thuốc để tránh tất cả các ung thư, điều này sẽ không ngăn cản chúng ta khỏi chết. Hiện nay, chiến lược thực sự đó là phát hiện kịp thời và sau đó quyết định xem có phải điều trị hay không. ”
(LE FIGARO 1/4/2010)

2/ UNG THƯ VÚ : CHỮA LÀNH KHÔNG ĐỂ LẠI DI CHỨNG.

Với tỷ lệ sinh tồn 85% sau năm năm, các thầy thuốc bắt tay vào làm giảm các di chứng dài lâu của các điều trị.

CANCER DU SEIN. Nhờ các tiến bộ trong lãnh vực điều trị và phát hiện bệnh, từ nay đại đa số các ung thư vú có thể chữa lành. Trong số 52.000 trường hợp mới của những ung thư vú được đăng ký mỗi năm ở Pháp, 84% từ nay vẫn còn sống 5 năm sau khi được chẩn đoán. Thế mà những con số này lại còn ngoạn mục hơn đối với những ung thư vú được điều trị ở một giai đoạn sớm. “ Tỷ lệ tái phát sau 10 năm chỉ còn 6%. Cách nay 15 năm, tỷ lệ này lên đến 15% ”, B.S Alain Fourquet, chủ tịch của Hội nghị châu Âu về ung thư vú lần thứ 7, được tổ chức tuần qua ở Barcelone, đã xác nhận như thế.

Nếu hôm qua mối quan tâm chủ yếu là sự chữa lành của các người bệnh, thì bây giờ đây các chuyên gia về ung thư vú có thêm một mục tiêu mới : mang lại cho các bệnh nhân chất lượng cuộc sống tốt hơn chừng nào có thể được. Bởi vì việc cải thiện ngoạn mục tiên lượng của các ung thư vú này làm nổi bật lên nguy cơ của các di chứng và của các tác dụng phụ xảy ra chậm của các điều trị. Trong lúc theo dõi thường quy, các thầy thuốc càng ngày càng thường đối diện với nhiều triệu chứng và bệnh lý, được làm dễ bởi hóa học liệu pháp hay phóng xạ liệu pháp : sự lên cân, những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs), các vấn đề tim mạch…

“Vài tác dụng phụ xuất hiện một hay hai năm sau điều trị, như những rối loạn của sự tập trung hay của trí nhớ. Những tác dụng phụ khác có thể xuất hiện 8 đến 10 năm sau, BS Etienne Brain, thầy thuốc chuyên khoa ung thư của viện Curie đã giải thích như vậy. Ngay cả với những thuốc dường như vô hại, vẫn cần có một sự cảnh giác lâu dài, phải được gộp vào trong quá trình theo dõi.”

Trong những năm qua, nhiều công trình cũng đã được tiến hành để xác định và phòng ngừa tốt hơn những nguy cơ lâu dài của các phóng xạ liệu pháp. Với một thời gian nhìn lại 20 năm, các phóng xạ liệu pháp này làm gia tăng 1,5% tỷ lệ tử vong do tim, theo các công trình nghiên cứu từ những năm 1960-1980. Tuy nhiên, sự quá mức của tỷ lệ tử vong hẳn phải giảm xuống với sự cải thiện của các kỹ thuật từ những năm 1980, BS Fourquet ghi nhận như vậy. Về những ung thư có khả năng gây nên bởi phóng xạ, hiện nay chúng đang được nghiên cứu sát, để hiểu các cơ chế và tìm kiếm những yếu tố tiên đoán (facteurs prédictifs).

Tuy nhiên, trong kinh nghiệm của BS Youlia Kirova, thầy thuốc chuyên khoa phóng xạ liệu pháp, các khối u thứ phát sau liệu pháp phóng xạ, các sarcome hay các ung thư phổi, là “ vô cùng ” hiếm . Ngoài ra, đối với các khối u của phổi, trách nhiệm của phóng xạ liệu pháp thường khó xác nhận, bởi vì trong đại đa số các trường hợp, chúng xảy ra nơi những người hút thuốc, BS Kirova đã nêu lên như vậy. “ Chúng tôi làm việc nhiều để thích ứng phóng xạ liệu pháp với cơ thể học của bệnh nhân, với tuổi tác và với những điều trị đã nhận được ”, thầy thuốc phóng xạ liệu pháp nói thêm. Như thế, các buổi điều trị phóng xạ thường được phân chia (một lần mỗi tuần) nơi những người lớn tuổi.

Những động tác ngoại khoa và những điều trị nội khoa, chúng cũng càng ngày càng được nhắm đích, tùy theo các đặc điểm của khối u. Chiến lược mới này đã bắt đầu với herceptine, một kháng thể gắn vào thụ thể HER2, được đề nghị cho 10-15% các phụ nữ mà nơi họ thụ thể này được hoạt hóa.

MÔI TRƯỜNG CỦA KHỐI U.

Những thuốc khác, ức chế một cách đặc hiệu sự tăng trưởng của khối u hay sự tạo thành của các huyết quản nuôi khối u, được thương mãi hóa hay đang được thử nghiệm. “ Ngày nay chúng ta biết khoảng 20 dạng ung thư vú, và chúng ta đã chứng minh rằng tính không thuần nhất đã hiện hữu ngay vào những giai đoạn sớm của bệnh ”, thầy thuốc cơ thể bệnh lý Anne Vincent-Salomon đã giải thích như vậy.

Các nhà nghiên cứu cũng quan tâm nhiều đến môi trường của khối u, “ bãi cỏ làm dễ sự nảy nở của các tế bào ung thư mà một ngày nào đó chúng ta có thể biến đổi ”, Anne Vincent-Salomont đã giải thích như vậy. Những tiến bộ mọi mặt về sự điều trị này không được làm quên rằng 1/3 các trường hợp ung thư vú đáng lý ra có thể tránh được nếu các phụ nữ ăn ít hơn và tập thể dục nhiều hơn, như các nhà nghiên cứu đã nhắc lại như vậy trong hội nghị Barcelone.
(LE FIGARO 31/3/2010)

3/ TRỌNG LƯỢNG LÚC SINH, MỘT VŨ KHÍ CHỐNG LẠI BỆNH LAO.

Các nhà nghiên cứu của đại học Michigan đã khảo sát nguy cơ mắc phải bệnh lao trong mối liên hệ với chỉ số trọng lượng (indice pondéral) nơi 21.579 trẻ sinh đôi người Thụy Điển, được sinh ra đời giữa năm 1926 và 1958. Họ đã tính toán rằng cứ mỗi 500 g trọng lượng lúc sinh được thêm vào, nguy cơ phát triển một bệnh lao về sau này giảm đi 11% và giảm 8% đối với mỗi 0,2 đơn vị BMI (body mass index : chỉ số khối lượng cơ thể). Nơi những trẻ sinh đôi đồng hợp tử (jumeaux monozygotes), nguy cơ này được giảm 46% đối với 500g trọng lượng được thêm vào lúc sinh và sự liên kết này mạnh hơn nơi con trai (giảm 87% đối với mỗi 500g) so với con gái (16%).

Đối với các tác giả, Eduardo và các đồng nghiệp thuộc Viện Karolinska ở Thụy Điển, những dữ kiện này là quan trọng bởi vì bệnh lao gây nhiễm cho gần 1/3 dân số thế giới. “ Tuy nhiên còn quá sớm khi nói một sự tăng trưởng thai nhi không đầy đủ có làm gia tăng sự nhạy cảm đối với bệnh lao hay không, nhưng những công trinh này gợi ý rằng điều đó có thể đúng trong trường hợp này ”, tác giả công trình nghiên cứu xác nhận như vậy. Công trình nghiên cứu, được thực hiện trên những trẻ sinh đôi cho phép kiểm soát nhiều yếu tố di truyền và môi trường ảnh hưởng lên sự xuất hiện của bệnh lao, xác nhận mối liên hệ nhân quả này.

Các công trình nghiên cứu này cũng cho phép hiểu tốt hơn những nguồn gốc của sự phát triển của các bệnh tật, một lãnh vực nghiên cứu đang mới xuất hiện. “ Sự tiếp xúc tiền sinh đối với các tấn công của môi trường, đặc biệt là sự kém dinh dưỡng nơi người mẹ, có thể chương trình hóa (programmer) cái điều sẽ xảy đến sau này trên bình diện của những đáp ứng miễn dịch của chúng ta đối với sự nhiễm trùng, có lẽ nhờ sự chương trình hóa của hệ miễn dịch (la programmation du système immunitaire). Công trình nghiên cứu của chúng tôi là một ví dụ ”, Eduardo Villamor đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 23/3/2010)

4/ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG : SỰ NGHIÊN CỨU BÙNG NỔ.

Dầu bạn nghĩ thế nào về Balzac thì nghĩ, khi ông viết rằng bệnh thiên đầu thống (migraine) chỉ là một cái cớ của phụ nữ để trốn tránh nghĩa vụ vợ chồng, thì chứng bệnh thiên đầu thống này quả là một bệnh có nguồn gốc di truyền, được mang bởi các nhiễm sắc thế 19, 1 và 2. Ngoài ra, trên 8 triệu người Pháp bị liên hệ bởi chứng bệnh này, thì 2,8 triệu là những người đàn ông (35%). Cơn đau xảy ra là do sự kích thích của các màng não, gây nên sự truyền trong não bộ của các tín hiệu đau đớn, qua đường thần kinh và mạch máu. Thế mà, tính chất khó tiên đoán được của các cơn và tính chất lập đi lập lại của chúng có thể là một nguồn phế tật : 50% các người bị bệnh thiên đầu thống bị nhiều hơn một cơn mỗi tháng.

Tại sao ít bệnh nhân bị thiên đầu thống được theo dõi đến thế ? “ Ở Trung tâm cấp cứu các bệnh đau đầu của bệnh viện Labiboisière, 10.000 bệnh nhân đến thăm khám mỗi năm, trong đó có 4700 bệnh nhân thiên đầu thống. Một vài người đã được theo dõi, những người khác thì không, cũng như trên toàn thể lãnh thổ, 47% các bệnh nhân bị thiên đầu thống tự điều trị lấy. Trên 53% những bệnh nhân còn lại đã thăm khám bác sĩ, nhưng 1/3 trong số này đã không bao giờ trở lại nữa. Vậy cuối cùng chỉ có một thiểu số người bị bệnh thiên đầu thống là được điều trị vì vấn đề này ”, BS Dominique Valade, người phụ trách trung tâm duy nhất này ở Châu âu, đã lấy làm tiếc như vậy.

KHÔNG CẦN ĐIỀU TRỊ DUY TRÌ.

Nguy cơ chính, khi người ta xoay xở tự điều trị lấy, là một sự lạm dụng thuốc, một sự quen thuốc (accoutumance) và sau cùng, một sự trầm trọng của các cơn đau đầu : 3% những người bị thiên đầu thống (240.000 người) bị liên hệ bởi vấn đề này. Thật đáng tiếc, bởi vì sự xuất hiện của các triptans (một lớp thuốc gây nên co mạch), trong những năm 1990, đã cách mạng hóa việc điều trị cơn thiên đầu thống, ngoại trừ những bệnh nhân có những tiền sử mạch máu và những bệnh nhân không có quyền sử dụng triptans.

Sự xuất hiện vào tháng 1/2009 của một triptan dưới dạng đông khô (lyophilisat), không phải uống nước, lại còn làm gia tăng khả năng phản ứng rất nhanh, một bảo đảm cho tính hiệu quả. Bằng cách cho phép hoạt động trở lại trong vòng dưới 2 giờ trong hơn 2/3 các trường hợp, các triptan là một phương tiện tốt, đối với những người đau thiên đầu thống có ít cơn, hoàn toàn không cần phải điều trị duy trì.

“ Nhằm làm giảm tần số và cường độ của các cơn, các điều trị duy trì (traitements de fond) dựa trên sự uống thuốc hàng ngày, một hay nhiều viên. Điều này được biện minh khi bệnh thiên đầu thống gây phế tật, nhưng không được được minh khi vài cơn được làm thuyên giảm nhanh chóng. Chính vì vậy, từ nay, tùy theo sự trở ngại gây nên bởi các cơn đau, tùy thuộc các bệnh nhân đau thiên đầu thống quyết định họ sẵn sàng theo hay không theo một điều trị duy trì như thế ”, BS Vandale nói tiếp như vậy. Ngoại lệ duy nhất : triptans và các chất kháng viêm không có thể được sử dụng hơn 12 lần mỗi tháng, nếu không sẽ bị nguy cơ quen thuốc, nhưng điều trị duy trì cần thiết khi các cơn đau lập lại quá thuờng xuyên. Khi đó, điều trị duy trì dựa trên sự sử dụng các bêta-bloquant, inhibiteur calcique, antisérotoninergique, các thuốc chống động kinh hay các thuốc chống trầm cảm

Sau các triptans, chúng ta chờ đợi các gepans (olcégepan và telcagepan) từ nay đến năm 2012. Những thuốc này tác dụng một cách trực tiếp lên dây thần kinh chịu trách nhiệm của bệnh thiên đầu thống và không có tác dụng lên huyết quản như trường hợp của các triptans. “ Ưu điểm chính yếu : các bệnh nhân có một tiền sử nhồi máu cơ tim, các tai biến mạch máu não hay cao huyết áp sau cùng có thể hưởng các thuốc mới này. Cũng vậy đối với các 5 HT1F (các chất đối kháng đặc hiệu của sérotonine), được chờ đợi từ nay đến năm 2013 ”, BS Valade đã nhận xét như vậy.

Bên cạnh các điều trị của cơn bệnh, một điều trị duy trì được dự kiến xuất hiện từ nay đến 2014. Điều trị này đang còn ở trong giai đoạn thí nghiệm. Đó là một chất giảm đau mạnh, gần giống kétamine (một thuốc gây mê), rất hiệu quả chống lại đau đớn và không có tác dụng làm quen thuốc.

Còn về những người đau thiên đầu thống mãn tính, người ta cũng không quên họ : gần 800.000 bệnh nhân bị vấn đề này. Họ bi đau đầu thống 15 ngày hoặc hơn mỗi tháng, với ít nhất 8 ngày migraine, nhưng không lạm dụng thuốc.

“ Nơi những bệnh nhân này, hai hướng điều trị rất hứa hẹn. Hướng phát triển nhất, đó là Botox, đang chờ đợi được cho phép đưa ra thị trường. Với mỗi liều tiêm mỗi 90 ngày, thuốc cho phép chuyển từ một bệnh thiên đầu thống mãn tính (migraine chronique) sang một bệnh thiên đầu thống xảy ra từng đợt (migraine épisodique) và làm giảm việc sử dụng các thuốc cắt cơn, như đã được chứng tỏ bởi hai công trình nghiên cứu (Preempt 1 và 2), BS Valade đã thông báo như vậy. Sau đó hướng thứ hai là sự kích thích của dây thần kinh Arnold, có can dự trong sự truyền các tín hiệu đau đớn lên não bộ, bằng một máy kích thích (stimulateur) nhỏ được đặt nơi điểm phát xuất của dây thần kinh này, ở phía sau đầu : hiện nay máy kích thích này là đối tượng của một công trình nghiên cứu thế giới mà các kết quả được chờ đợi trong hai năm nữa.

(LE FIGARO 29/3/2010)

Đọc thêm : Cấp cứu nội thần kinh số 2: Thiên Đầu Thống (Migraine Headaches)

Quote

Thời Sự Y Học Số 152 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 14/12/2009 )

9/ MIGRAINE : ĐIỀU TRỊ MỚI ĐẺ CÓ MỘT HIỆU QUẢ NHANH HƠN.

GS Dominique Valade, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, trưởng khoa Cấp cứu đau đầu của bệnh viện Lariboisière, giải thích những lợi ích của rizatriptan (Maxalt).

Hỏi : Ông có thể định nghĩa cái điều mà ông thường gọi là một migraine (bệnh thiên đầu thống)?
G.S Dominique Valade : Đó là một bệnh nguồn gốc di truyền, gây nên bởi các nhiễm sắc thể 19,1 và 2. Ở Pháp có 8 triệu người bị bệnh migraine. Để có thể xác định đúng chẩn đoán, phải đảm bảo rằng bệnh nhân đã bị ít nhất 5 lần một cơn kéo dài từ 4 đến 72 giờ. Một đặc điểm : đau đầu bắt đầu ở một phía rồi lan ra toàn thể đầu. Trong đại đa số các trường hợp, migraine kèm theo nôn hay mửa cũng như một sự khó chịu đối với ánh sáng và tiếng động.

Hỏi : Có nhiều loại migraine hay không ?
G.S Dominique Valade : Có hai loại chính.
  • Các migraine “ không có tiền triệu (aura) ”, thường xảy ra nhất (80% các trường hợp migraine), xuất hiện nhanh và không có triệu chứng báo trước.
  • Các migraine “ với tiền triệu ”, được đi trước bởi những triệu chứng thần kinh như rối loạn thị giác (với những điểm sáng), lời nói.

Một nửa những người migraine có nhiều hơn một cơn mỗi tháng, điều này rất trở ngại cho đời sống nghề nghiệp, gia đình và xã hội của họ.

Hỏi : Những điều trị thường cho là gì ?
G.S Dominique Valade : Có hai loại.
  • Các thuốc dùng trong trường hợp lên cơn.
  • Một điều trị duy trì.

Vài thuốc họ triptans có hiệu quả với điều kiện được sử dụng sớm, ngay lúc đầu cơn migraine, khi đau đầu còn có cường độ nhẹ. Các thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) cũng có thể được cho. Các điều trị duy trì là một phương cách phòng ngừa : chúng được cho nhằm làm giảm tần số, cường độ và thời gian của các cơn (tùy theo bệnh nhân : các beta-bloquant, các thuốc chống trầm cảm, các antisérotonine, các thuốc chống động kinh...)

Hỏi : Những thuốc này tác dụng như thế nào ?
G.S Dominique Valade : Trong trường hợp lên cơn, điều trị làm thuyên giảm trong vòng dưới 2 giờ, 20% đến 30% các bệnh nhân, điều này có thể có vẻ dài lâu khi ta đau đầu. Nơi những người khác, thuốc cần nhiều thời gian hơn.

Bởi vì migraine xảy ra đột ngột, nên các bệnh nhân không luôn luôn có sẵn một ly nước bên cạnh để uống viên thuốc ; họ thường dùng thuốc quá muộn để có thể được làm thuyên giảm nhanh chóng. Các thuốc chống viêm có bất tiện là gây nên một rối loạn tiêu hóa. Tính hiệu quả kém của các triptans khi chúng được sử dụng trong lúc migraine đã trở nặng, giải thích tại sao nhiều bệnh nhân không quan tâm đến điều trị của họ. Sự không tuân thủ điều trị hiện nay rất quan trọng, khoảng 70%.

Hỏi : Vì lý do gì, rizatriptan (MAXALT) đặc biệt có hiệu quả ?
G.S Dominique Valade : Thuốc này cũng thuộc vào lớp các triptans, nhưng nó được thương mãi hóa dưới một dạng thuốc hòa tan dưới lưỡi trong vòng hai hay ba giây. Thuốc phải được sử dụng càng sớm càng tốt trong khi cơn đau đầu còn nhẹ.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào được thực hiện với loại thuốc này là gì ?
G.S Dominique Valade : Một công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên 188 bệnh nhân. Những kết quả đã cho phép nhận xét rằng 24% người đã được thuyên giảm trong 30 phút và rằng, nơi một số rất lớn (66%), cơn đau đã biến mất trong vòng chưa được hai giờ. Điều chứng thực khác : nơi 63% các bệnh nhân, những triệu chứng mửa kèm theo cũng đã biến mất nhanh chóng.

Tóm lại những ưu điểm của thuốc chống migraine này là gì ?
  • Trong bất cứ trường hợp nào, không cần phải có ly nước bên cạnh, chỉ cần mang một viên thuốc theo mình để làm ngưng cơn migraine rất nhanh chóng, điều này cải thiện đáng kể chất lượng sống.
  • So sánh với các điều trị thông thường, thuốc này có một tác dụng nhanh lên một số lớn hơn những người bị migraine.
  • Rizatriptan chứng tỏ một hiệu quả tốt lên các triệu chứng liên kết.
(PARIS MATCH 26/11[*] 2/12/2009)


5/ RUỘT THỪA CÓ THẬT SỰ LÀ VÔ DỤNG HAY KHÔNG ?

Trong khi vài người coi thường “ vết tích của tiến hóa ” này, thì những kẻ khác lại thấy ở đó một khúc cơ quan phòng vệ chống lại nhiễm trùng.

Ruột thừa mà chúng ta quan tâm là ruột thừa-manh tràng (appendice iléo-coecal). Nếu chúng ta biết nó, chính trước hết là vì sự viêm nhiễm cấp tính gây nên ruột thừa viêm (appendicite). Theo một công trình nghiên cứu mới đây, 360.000 người chịu một phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa mỗi năm ở Pháp.

Ruột thừa là một ống hình trụ nhỏ với 5-12 cm chiều dài, có một xoang ở trung tâm với đường kính 3-7 mm, nối với manh tràng (caecum), đoạn đầu của đại tràng, gần lối vào của ruột non. Các thành của ruột thừa được bọc bởi những tế bào lymphoide của hệ phòng vệ chống lại các nhiễm trùng, cũng như các hạch bạch huyết phân tán trong toàn cơ thể.

Cơ quan nhỏ bé này nằm gần với các vi khuẩn sống trong ruột già, nhất là các vi khuẩn không sinh bệnh cần thiết cho sự tiêu hóa. Ruột thừa có thể bị nhiễm trùng khi các vi khuẩn sinh bệnh xuất hiện. Nếu ruột thừa viêm không được nhanh chóng xử trí, các nguy cơ sẽ rất nhiều : áp xe, viêm phúc mặc, thậm chí tử vong.

Sau nhiều thế kỷ bất lực đứng trước tai ương này, người ta đã tìm thấy phương thuốc để điều trị các bệnh nhân. Các thầy thuốc ngoại khoa thực hiện cắt bỏ ruột thừa, một động tác ngoại khoa thường quy nhằm lấy đi ruột thừa bị tắc (appendice obstrué).

Khi một ruột thừa viêm được chẩn đoán, tỷ suất của lợi ích giữa việc lấy ruột thừa đi trên các nguy cơ gặp phải khi phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa, cao đến độ vài thầy thuốc ngoại khoa có khuynh hướng đề nghị các phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa được gọi là phòng ngừa trên ruột thừa lành mạnh, trong vài tình huống hiếm hoi. Đó là trường hợp đối với những người phải sống rất cô lập trong một thời gian dài, xa mọi cấp cứu ngoại khoa, trong trường hợp du hành bằng đường biển xa ngoài khơi dài ngày, trong những cuộc thám hiểm nam cực hay bắc cực, trong những chuyến bay không gian,..

Hành động ngoại khoa này gần giống với phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa được gọi là trắng (appendicectomie blanche), được thực hiện trên một ruột thừa lành mạnh, khi can thiệp ngoại khoa bụng không có dính dáng gì đến ruột thừa viêm. Thầy thuốc ngoại khoa lợi dụng cuộc mổ này để thực hiện sự cắt bỏ ruột thừa lành mạnh.

Nhưng những sự cắt bỏ các ruột thừa lành mạnh để phòng ngừa phải chăng luôn luôn được biện minh ? Câu hỏi này đôi khi dấy lên những cuộc tranh luận lớn trong cộng đồng y khoa, là nơi những ưu điểm và những nguy cơ của những phẫu thuật như thế được tranh cãi.

Theo những người ủng hộ cắt bỏ ruột thừa với mục đích phòng ngừa, việc loại bỏ một cơ quan có khả năng gây nên những hệ lụy lớn về sức khỏe là điều được mong muốn. Ngoài ra, nhiều người trong số những người này cho rằng ruột thừa chỉ là một vết tích của quá trình tiến hoá (un vestige évolutif), đã từng đóng một vai trò nơi các tổ tiên xa xăm của chúng ta, nhưng vai trò này bây giờ không còn nữa. Mặt khác, người ta không còn thấy ruột thừa nữa nơi nhiều động vật có vú, ngoại trừ những động vật ăn cỏ. Một lý lẽ khác được đưa ra để nghi ngờ về tình hữu ích của ruột thừa là các tế bào lympho của nó không hiện diện suốt đời. Số lượng những tế bào lympho này cực đại vào tuổi trưởng thành, rồi chúng teo đi và biến mất sau 70 tuổi.

Đôi khi, người ta gợi ra khả năng cho rằng cục u nhỏ bé này có thể đóng một vai trò thiết yếu trong sự cân bằng sinh học của chúng ta. Những người chống lại việc cắt bỏ ruột thừa trắng (appendicectomie blanche) tố cáo tính cách dễ dàng mà người ta đôi khi thực hiện việc cắt bỏ ruột thừa nơi những người không cần phải làm như vậy. Dẫu sao, không có gì bảo chúng ta rằng việc can thiệp ngoại khoa này biết đâu lấy đi nơi chúng ta một cơ quan lành mạnh hữu ích !

Những công trình nghiên cứu mâu thuẫn nhau đều đặn trở lại ánh đèn sân khấu. Vào năm 1964, đã xuất hiện một công trình nghiên cứu thống kê trên một nhóm 914 người chết vì ung thư đại tràng, trong đó 18% chịu một phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa, tỷ lệ cao hơn tỷ lệ của dân chúng nói chung (chỉ 10%). Từ đó người ta đã kết luận rằng ruột thừa có thể đóng một vai trò bảo vệ đối với ung thư này. Nhưng một công trình nghiên cứu về sau lại bác bỏ kết quả này.

Mới đây hơn, ở Hoa Kỳ, William Parkes, thuộc Đại học Duke, đã cho thấy rằng, thật ra ruột thừa là một bể chứa quý báu của vi khuẩn chí ruột (flore intestinale), có thể bảo vệ ruột trong trường hợp bị nhiễm trùng. Kết cục : những giả thuyết, những kết quả sơ khởi và không một chắc chắn nào về lợi ích buộc chúng ta phải bảo tồn càng lâu càng tốt cái khúc cơ quan bé nhỏ này.
(POUR LA SCIENCE 4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 151 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 7/12/2009 )

7/ RUỘT THỪA KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CỤC BƯỚU VÔ DỤNG.

Từ hàng triệu năm nay, ruột thừa chứa một quần thể vi khuẩn (flore bactérienne) trong trường hợp bệnh ruột.

Ruột thừa chẳng dùng vào việc gì cả. Nó chỉ mang lại những bất tiện mà thôi. Nó có thể bị viêm và bị nhiễm trùng, đó là điều mà người ta gọi là“ ruột thừa viêm ”. Khi đó người phẫu thuật phải lấy nó đi để tránh ruột thừa viêm, khi thủng, gây nên viêm phúc mạc, một biến chứng có ảnh hưởng xấu lên tiên lượng sinh tồn. Vậy ruột thừa chỉ là một vết tích bí hiểm của quá trình tiến hóa. Richard Darwin xem nó như là vết tích của một thời kỳ xa xăm, lúc đó tổ tiên của chúng ta sống trong các rừng cây và nuôi sống nhờ các lá cây. Darwin đặt nền móng giả thuyết này trên sự kiện là nhiều động vật ăn cỏ cũng có một ruột thừa, nhưng hình dạng rất khác.

Từ nhiều năm nay, một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của Đại học Duke (Bắc Carolina) công kích kịch liệt điệp khúc về sự vô dụng của ruột thừa. Theo họ cái cục bướu khoảng 10 cm nằm ở đầu ruột già này có một vài trò thật sự. Ruột thừa dùng làm nơi trú ẩn đối với các “ vi khuẩn tốt ” (bonnes bactéries), nằm phủ kín các thành ruột của chúng ta. Khi ỉa chảy nặng, các vi khuẩn này được che chở trong chỗ trú ẩn tự nhiên này, rồi từ đó chúng có thể tăng sinh trở lại trong ruột. Nơi người và các động vật linh trưởng, sự thông thương giữa ruột và ruột thừa không diễn ra trực tiếp. Sự thông thương này được thực hiện qua một chỗ phình có vai trò như là một hàng rào chặn.

100.000 TỶ VI KHUẨN

Lời giải thích của các nhà nghiên cứu thật hấp dẫn và nhất là lời giải thích này đi theo chiều hướng của nhiều khám phá mới đây cho thấy vai trò thiết yếu của các vi khuẩn ruột trong sự tiêu hóa các thức ăn và sức khỏe của mỗi cá thể. Nơi một người trưởng thành, người ta ước tính rằng quần thể ruột được cấu tạo bởi 100.000 tỷ vi khuẩn, hoặc một trọng lượng toàn thể 1,5kg. Những vi khuẩn này nằm chất đống thành các lớp chồng lên nhau dọc theo ống tiêu hóa, tạo thành những biofilm bảo vệ ruột chống lại các vi khuẩn độc hại hay những tấn công bên ngoài. Một dự án châu Âu (MetaHIT) mới đây đã được phát động để séquencer toàn bộ các bộ gen (génome) vi khuẩn của ruột người. Những kết quả có thể làm biến đổi nhận thức của chúng ta về sức khoẻ con người.

Nhóm nghiên cứu được dẫn dắt bởi William Parker tiếp tục công trình nghiên cứu của mình. Các nhà sinh học này vừa công bố một công trình nghiên cứu trong đó họ cho thấy rằng ruột thừa đã hiện hữu từ hơn 80 triệu năm, dưới các hình dạng khác nhau, nơi nhiều loài động vật có vú, trong đó có các linh trưởng và vài động vật gặm nhấm (Journal of Evolutionary Biology, 10/2009). Nếu ruột thừa đã tồn tại lâu như thế trong thế giới sinh vật, đó đúng là bởi vì nó có một ưu điểm tiến hóa, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy trong phần kết luận của họ. “ Trong những nước phát triển, chúng ta được bảo vệ. Chúng ta không uống nước bị ô nhiễm, Vậy chúng ta không cần ruột thừa, William Parker đã nhận xét như vậy. Trong những nước ở phía Nam với tình trạng y tế ít tốt hơn, những trường hợp ruột thừa viêm nhiều hơn.” nói một cách khác, chỉ chính nơi đó mà ruột thừa mới còn có lý do tồn tại.

“ Để kiểm tra tính chất có căn cứ của giả thuyết này, Dusko Ehrlich, nhà nghiên cứu ở Inra và điều phối viên của dự án MetaHIT đã xác nhận như vậy, cần phải so sánh sự tái định cư vi khuẩn sau một điều trị kháng sinh nơi những người có ruột thừa và nơi những người không còn có nó nữa.”
(LE FIGARO 6/12/2009)

6/ NHỮNG BIẾN DỊ LÀ NGUỒN GỐC CỦA TẬT NÓI LẮP.

Các biến dị là nguồn gốc của tật nói lắp (bégaiements), theo công trình phân tích của các gène của 123 người Pakistan nói lắp, trong số đó có 46 người có những mối liên hệ gia đình. Những biến dị này, nằm trên nhiễm sắc thế số 12, gây nên sự biến đổi của lysosome, một cơ quan tử tế bào (organite cellulaire), quan trọng trong sự điều hòa của chuyển hóa. Công trình nghiên cứu các người bị tật nói lắp sống ở Tây phương sau đó đã cho thấy rằng phần lớn họ đều mang cùng những biến dị như những người Pakistan. 9% cũng có những biến dị trên hai gène khác, cũng có liên quan trong sự điều hòa của chuyển hóa. Vấn đề còn lại đối với các nhà nghiên cứu của Viện quốc gia Hoa Kỳ về những rối loạn trao đổi (troubles de la communication), là làm sao hiểu được mối liên hệ giữa những bất thường chuyển hóa này và rối loạn của sự diễn đạt (trouble de l’élocution).
(SCIENCE ET VIE 4/2010)

7/ NGOẠI KHOA CỨU BỆNH ĐỘNG KINH.

NEUROLOGIE. 500.000 : đó là con số những người Pháp bị bệnh động kinh (épilepsie), nghĩa là các nạn nhân của các cơn bất ngờ do một sự loạn năng của hoạt động điện của não bộ. Vào lúc bắt đầu phóng điện (décharges électriques), vài bệnh nhân bất tỉnh và co giật, trong khi những người khác chỉ có các “ cơn vắng ” (absences) hay những rối loạn rất khu trú (các cơn bán phần, crises partielles). Thông thường nhất, động kinh xảy ra nhưng não bộ không bị thương tổn hay, ít nhất không có một thương tổn nào được nhận diện. Nhưng trong 1/3 các trường hợp, động kinh được liên kết với một dị tật (malformation) hay một thương tổn trong não bộ.
2/3 các bệnh nhân động kinh đáp ứng tốt với các thuốc chống động kinh và như thế hẳn phải có một cuộc sống bình thường, ngoại trừ là đối tượng của những phân biệt đối xử. “ Còn lại 1/3 các bệnh nhân động kinh mà khoảng 20 loại thuốc chống động kinh không ngăn cản được các cơn. Không cần phải thử tất cả các thuốc để tin chắc điều đó : 48% các bệnh nhân động kinh được kiểm soát ngay bởi vị thuốc đầu tiên, nếu được chọn lựa tốt. Nhưng trong trường hợp thất bại, chỉ 13% được kiểm soát với một thuốc chống động kinh khác. Và sau hai lần thất bại, các cơ may tìm được một điều trị thích hợp, rơi xuống còn 1%, GS Alexis Arzimanoglou, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh nhi đồng, trưởng đơn vị điều trị của Viện các bệnh động kinh của trẻ em và thiếu niên và chủ tịch của Liên đoàn chống bệnh động kinh của Pháp, đã xác nhận như vậy. Như thế, vào lúc đó đã đặt ra câu hỏi là không biết ta có thể mổ được hay không ”.
Ngày nay, ngoại khoa của bệnh động kinh là đối tượng của nhiều nghiên cứu. Thế mà không được mất một giây phút nào.Thật vậy, nơi những bệnh nhân đề kháng với các điều trị, tính chất không thể tiên đoán được của các cơn thường là nguồn gốc của phế tật, không kể đến một nguy cơ gia tăng bị các biến chứng trong khi các cơn co giật diễn ra. Do đó, các bệnh nhân động kinh đề kháng với các điều trị, hưởng được những tiến bộ mới nhất của ngoại khoa, nhưng họ còn phải là những bệnh nhân có thể mổ được. Vì ngoại khoa nhằm lấy đi phần não bộ bé xíu chịu các phóng điện, nên vùng bị thương tổn phải được nhận diện tốt và có thể tiếp cận mà không đụng phải những vùng quan trọng như các vùng của ngôn ngữ hay của những chức năng sinh tồn khác

CẤP CỨU ĐỐI VỚI CÁC TRẺ EM.

Trái với một định kiến, không phải phẫu thuật đặt ra vấn đề (các thầy thuốc ngoại thần kinh làm chủ được các kỹ thuật !) mà bilan trước khi mổ mới là vấn đề. Mặt khác, không phải là một sự tình cờ khi bilan thường cần đến 6 tháng và các danh sách chờ đợi có thể lên đến 18 tháng, nhất là nơi trẻ em. Vì phải đảm bảo rằng các cơn động kinh phát xuất từ một ổ duy nhất và phải xác định một cách rất chính xác vùng cần phải lấy đi, nên các xét nghiệm thông thường (điện não đồ với ghi các cơn, IRM…) là cần thiết, nhưng không phải luôn luôn đủ. Ngoài ra phải thường thực hiện một xét nghiệm được gọi là “ stéréo ECG ”. Thủ thuật này nhằm cắm các điện cực vào trong não bộ, ở mức hay chung quanh vùng bị nghi ngờ, rồi ghi hoạt động điện trong nhiều ngày hay nhiều tuần, trong khoa động kinh (service d’épileptologie). Sau đó, sự phân tích của các biểu đồ ghi này cho phép biết được, với độ chính xác từng millimètre, những vùng nào cần phải lấy đi, mà không được quên một vùng bị nghi ngờ nào cả, nếu không sẽ thất bại.

Thế mà, đó mới là điểm chính yếu bởi vì có nhiều bệnh nhân phải chờ xét nghiệm này và có ít chỗ có khả năng thực hiện nó : khoảng một chục nơi dành cho những người lớn, nhưng chỉ có hai nơi dành cho các trẻ em. Tuy vậy chính các trẻ em mới cần mổ cấp cứu hơn nếu ta muốn hy vọng cứu được sự phát triển tâm thần-vận động và sự học vấn của chúng.

Can thiệp phẫu thuật được thực hiện một cách cổ điển bằng cách cắt bỏ ngoại khoa ổ gây động kinh. Những thử nghiệm đang được tiến hành để phá hủy những thương tổn rất nhỏ với một liệu pháp phóng xạ rất khu trú, theo một thủ thuật được gọi là “ con dao gamma ” (gamma-knife).

Trong bối cảnh này, trên 3000 bệnh nhân động kinh là ứng viên của giải phẫu, chỉ có 400 là được mổ, trong đó chỉ có 100 trẻ em. Và mặc dầu tổn phí trung bình của bilan và phẫu thuật là cao ( gần 20.000 euro cho mỗi bệnh nhân), nhưng phí tổn này được giảm đi ngay năm thứ 8 và ngay cả sớm hơn nếu ta xét đến những phí tổn gián tiếp gây nên bởi một bệnh động kinh được kiểm soát kém (une épilepsie mal équilibrée) (thất nghiệp, tự tử, nghỉ học nghỉ việc của người bệnh hay nghỉ việc của bố mẹ.). Với một tỷ lệ chữa lành 40% nơi những người được mổ và hơn 50% sau cùng trở nên nhạy cảm với các loại thuốc chống động kinh, thì đó là một điều hứa hẹn cho một sự trở lại cuộc sống bình thường, với điều kiện là không được quá muộn.

(LE FIGARO 1/3/2010)

Đọc thêm : Cấp cứu nội thần kinh số 7: Co Giật (Seizures)

Quote

Thời Sự Y Học Số 116 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 6/3/2009 )

7/ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA CỦA BỆNH ĐỘNG KINH : THÊM MỘT CƠ MAY

B.S Francine Chassoux (thầy thuốc thần kinh) và G.S Bertrand Devaux (thầy thuốc ngoại thần kinh), bệnh viện Sainte-Anne, đã giải thích những lợi ích của phương pháp ngoại khoa, được công bố trong tạp chí “ Neurochirurgie ”.

Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh động kinh ?
B.S Francine Chassoux : Bệnh lý này được thể hiện bởi các cơn lặp lại, có thể được biểu hiện bởi những triệu chứng gây bất hoạt khác nhau. Khi bệnh kéo dài, các bệnh nhân bị gây phế tật nghiêm trọng trong đời sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp của họ. Mỗi cơn động kinh tương ứng với một loại phóng điện quá mức, được phát ra trong não bộ bởi một nhóm neurone. Sự phóng điện này có thể vẫn khu trú (gây nên những rối loạn thần kinh xảy ra ngắn hạn và thay đổi), và khi đó người ta nói là động kinh bán phần (épilepsie partielle) (60% các trường hợp), hay lan ra toàn thể não bộ và khi đó gọi là động kinh toàn thể (épilepsie généralisée) (40% các trường hợp), được thể hiện một cách nghiêm trọng, thí dụ với các co giật, tăng tiết nước bọt và hôn mê kéo dài vài phút.

Hỏi : Thường thường làm sao điều trị hai dạng động kinh này ?
B.S Francine Chassoux : Đối với những bệnh nhân bị các cơn động kinh toàn thể, người ta kê đơn một điều trị chống động kinh bằng đường miệng.Với điều trị này, hiện nay người ta thu được 80% những kết quả tốt với sự biến mất của các cơn. Những bệnh nhân phát triển những cơn bán phần (crises partielles), có thể được điều trị với cùng những thứ thuốc hay những thuốc của một loại khác. Trong trường hợp này, những kết quả tốt thường không vượt quá 60%. Nơi những người động kinh đề kháng với điều trị, người ta thường khám phá thấy một thương tổn não bộ như là một bất thường bẩm sinh, một khối u hiền tính hay một vết sẹo

Hỏi : Thế thì trong trường hợp nào người ta có thể giải phẫu.
B.S Francine Chassoux : Người ta chỉ có thể mổ những bệnh nhân động kinh có những cơn bán phần (crises partielles). Và trước khi giải phẫu, cần thực hiện một bilan toàn bộ, gồm có điện não đồ kết hợp với vidéo, IRM, TEP (tomographie par émission de positons) để định vị vùng phát sinh động kinh khởi đầu các cơn. Để có thể lấy đi bằng phẫu thuật vùng gây động kinh này, phải có 3 tiêu chuẩn không thể thiếu được. 1. Sự hiện diện chỉ một ổ gây động kinh. 2. Một vùng vỏ não được khu trú và tuơng đối nhỏ. 3. một định vị có thể tiếp cận, được phân biệt với một vùng não bộ rất có chức năng.

Hỏi : Những kỹ thuật khác nhau nào được sử dụng đối với những bệnh nhân đề kháng với thuốc ?
B.S Francine Chassoux : Có 4 kỹ thuật chính. 1. Ngoại khoa cổ điển cắt bỏ bằng mở sọ (chirurgie de résection “à crâne ouvert”) (cortectomie), là thông thường nhất. 2. Ngoại khoa phá hủy nhắm đích (chirurgie de destruction ciblée) bằng ngoại quang tuyến (radiochirurgie) hay nhiệt đông (thermocoagulation), đối với những thương tổn nhỏ nằm ở trung tâm não bộ và đối với những bệnh nhân không muốn chịu ngoại khoa cổ điển. 3. Ngoại khoa tách nối (chirurgie de déconnection), nhằm cô lập vùng bị thương tổn với phần còn lại của não bộ. Phương pháp này được áp dụng cho các ổ gây động kinh quá rộng nên không thể lấy ra được. 4. Ngoại khoa điều biến (chirurgie de modulation), được thực hiện trong trường hợp chống chỉ định của những phương pháp trước. Phương pháp này nhằm chống lại sự phát sinh các phóng điện (décharges électriques) chịu trách nhiệm các cơn (bằng cách cắm một điện cực nơi cổ, nối với một bộ phận dẫn nhịp).

Hỏi: Những kết quả thu được với tất cả những kỹ thuật khác nhau này là những kết quả nào?
B.S Francine Chassoux : Những kết quả được đặt tương quan với các định vị và các nguyên nhân. Với kỹ thuật cắt bỏ cổ điển, người ta đã thành công hủy bỏ các cơn trong 60 đến 90% các trường hợp. Với sự phá hủy nhắm đích (destruction ciblée) bằng ngoại quang tuyến (radiochirurgie), những kết quả có vẻ tương đương. Kỹ thuật nhiệt đông (thermocoagulation) đang được đánh giá. Những kết quả của ngoại khoa tách nối (chirurgie de déconnection) thì thay đổi : nơi vài bệnh nhân người ta hủy bỏ được các cơn trong 70% các trường hợp. Kỹ thuật điều biến (technique de modulation) làm giảm 50-90% các triệu chứng nhưng không chữa lành bệnh.Theo ý tôi, còn quá ít các bệnh nhân được gởi đến các kíp chuyên môn ngoại khoa này, và nhất là quá chậm. Ở Pháp, trên 12.000 ứng viên lý thuyết, người ta chỉ mổ 400 trường hợp mỗi năm, trong đó khoảng 100 trẻ em !
(PARIS MATCH 19-25/2/2009)

Thời Sự Y Học Số 108 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/1/2009 )

4/ ĐỘNG KINH : NGOẠI KHOA RẤT HIỆU QUẢ NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN NHIỀU

Neurologie : Trong các trường hợp mà thuốc men không hiệu quả, việc nhờ đến con dao mổ cho phép những tỷ lệ chữa lành quan trọng và những di chứng hiếm khi xảy ra.

Quá ít, quá muộn. Mặc dầu có thể cải thiện một cách đáng kể đời sống và ngay cả hy vọng sống thêm (espérance de vie) của một vài người bị bệnh động kinh, ngoại khoa vẫn ít được sử dụng và được thực hiện quá chậm, các thầy thuốc Hoa Kỳ trong ấn bản vừa qua của Jama, tờ báo của Hiệp hội y sĩ Hoa Kỳ, đã phàn nàn như vậy. Một điều chứng thực hoàn toàn được chia sẻ bởi các chuyên viên người Pháp. “Phải thôi cho rằng điều trị ngoại khoa bệnh động kinh là một điều trị của cơ may cuối cùng. Trái lại có thể đó là điều trị có khả năng tốt nhất không được bỏ qua”, G.S Bertrand Devaux, thầy thuốc ngoại thần kinh của bệnh viện Sainte-Anne (Paris) đã tóm tắt như vậy trong báo cáo mới đây về những điều trị ngoại khoa của bệnh động kinh ở Pháp.

Là bệnh mãn tính gây phế tật, có thể bắt đầu từ tuổi ấu thơ, động kinh có liên quan từ 0,5 đến 1% dân số thế giới, hoặc gần 500.000 người ở Pháp. Những nguyên nhân gây nên những phóng điện bất thường ở các tế bào thần kinh này rất là nhiều. Cũng như các triệu chứng của các cơn động kinh cũng vậy, tùy thuộc vào vị trí của các thương tổn.

Trong hầu hết các trường hợp, bệnh được kiểm soát bởi một điều trị nội khoa, nhưng các loại thuốc vẫn không có hiệu quả nơi 20 đến 30% các bệnh nhân. Chính những người được gọi là “đề kháng với dược” (pharmaco-résistant) này, đôi khi rất tàn phế trong cuộc sống hàng ngày, là đối tượng mà phẫu thuật có khả năng nhằm đến. Tuy nhiên không phải tất cả mọi trường hợp đều có thể mổ được. Phẫu thuật chỉ có thể được đề nghị khi thương tổn não, nguồn gốc của các cơn động kinh, được khu trú trong một vùng mà sự cắt bỏ ít có nguy cơ đưa đến các di chứng trên bình diện chức năng.

BILAN TIỀN PHẪU NẶNG NỀ

Công trình nghiên cứu được công bố trong Jama bởi B.S Hyunmi Choi (thầy thuốc thần kinh của Đại Học Columbia, Nữu Ước), được thực hiện trên bệnh động kinh của thùy thái dương (épilepsie du lobe temporal), thể thông thường nhất của bệnh nơi người trưởng thành, và là một trong những thể thường đề kháng nhất đối với các thuốc chống động kinh. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ cho thấy rằng nơi những bệnh nhân ở lứa tuổi trung bình (35 tuổi), giải phẫu cho phép làm gia tăng 5 năm hy vọng sống thêm (espérance de vie) so với điều trị nội khoa. Thật vậy, BS Choi nhắc lại, bệnh động kinh đề kháng với thuốc làm gia tăng tỷ lệ tử vong do những tai nạn chết người xảy ra sau các cơn, do các cơn nặng (cơn động kinh liên tục), do tự tử hay chết đột ngột.

Còn các kết quả về chất lượng sống, theo cùng công trình nghiên cứu, chúng biện minh cho ưu thế của điều trị ngoại khoa nơi 96% các bệnh nhân. Những lợi ích của phẫu thuật (cải thiện rõ rệt các cơn, hoặc kể cả chữa lành) vượt xa hơn nhiều những nguy cơ của can thiệp ngoại khoa. Tuy vậy, như chủ bút của tờ Jama xác nhận, “ không những phần lớn các ứng viên của phẫu thuật đã không bao giờ được giới thiệu đến một phẫu thuật viên, mà những bệnh nhân được mổ thường quá chậm để có thể ngăn ngừa những phế tật sinh lý và xã hội của bệnh động kinh. ”

Trung bình, ở Hoa Kỳ, can thiệp ngoại khoa được thực hiện sau hơn 20 năm tiến triển của bệnh. Một tình trạng có thể được so sánh với Pháp. Khoảng 400 bệnh nhân bị động kinh (trong đó 100 là trẻ em) được mổ mỗi năm trong một trong 17 trung tâm của Pháp, hoặc khoảng một nửa của các nhu cầu. “Quá nhiều bệnh nhân vẫn được theo dõi rất lâu bởi những thầy thuốc không biết rõ ngoại khoa hoặc không có một cái nhìn dương tính về phẫu thuật”, G.S Devaux đã nhấn mạnh như thế.

Tính toàn bộ, từ lúc bắt đầu đến cuối những năm 1950, ở bệnh viện Sainte-Anne, phẫu thuật của bệnh động kinh đã được thực hiện nơi 5.000 bệnh nhân ở Pháp. Những kết quả, được phân tích nơi 2000 bệnh nhân được mổ trong số này, là một trong những kết quả tốt nhất, ở trình độ quốc tế. Trái với một thành kiến, những di chứng thần kinh là khá hiếm (2,5% các trường hợp), và tỷ lệ tử vong là ngoại lệ (0,15%). Tỷ lệ chữa lành là khoảng 80% trong trường hợp các động kinh vùng thái dương (épilepsie temporale). Những kết quả còn tốt hơn nhiều trong nhi khoa, đối với vài khối u bẩm sinh và những dị tật phát triển của não bộ. Theo GS Devaux, nhiên hậu, phẫu thuật này hẳn phải được thực hiện càng ngày càng nhiều nơi các trẻ em, và một phần trong số các trẻ em này có thể được mổ “để phòng ngừa”, ngay khi thương tổn gây động kinh được khám phá. Mới đây, nhóm phẫu thuật Sainte-Anne đã can thiệp để điều trị một dị tật não nơi một bé gái chỉ bị một cơn động kinh. Tuy vậy, bilan tiền phẫu là nặng nề đối với các bệnh nhân. Bilan có thể đặc biệt cần những xét nghiệm xâm nhập như SEEG (stéréoélectroencéphalographie), trong đó những điện cực được cắm trực tiếp trong não bộ để định vị thương tổn gây động kinh. Những phương pháp này càng ngày càng được thay thế bởi những kỹ thuật chụp hình hiện đại, thí dụ TEP (tomographie à émission de positons), kết hợp với IRM (imagerie par résonance magnétique). Sự kết hợp của hai xét nghiệm này cho phép chẩn đoán và do đó mổ các thương tổn, đặc biệt là những dị tật (malformations) trước đây không được phát hiện.

Về các kỹ thuật mổ, chúng hiện đang trên đà tiến triển. Cắt bỏ vùng bị bệnh vẫn là cổ điển nhất. Càng ngày càng có những phương pháp thay thế ít xâm nhập hơn : kích thích dây thần kinh phế vị, ngoại quang tuyến (radiochirurgie), đốt điện (electrocoagulation) hay déconnexion.
(LE JOURNAL DU FIGARO 8/12/2008)

Thời Sự Y Học Số 98 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 23/10/2008 )

3/ ĐỘNG KINH : NHỮNG PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI

Giáo sư Michel Baulac, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh của bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Paris, giải thích từ nay điều trị như thế nào 40% những bệnh nhân động kinh đề kháng với các liệu pháp cổ điển.

Hỏi : người ta thường che dấu là bị một bệnh động kinh, căn bệnh còn bị kiêng kỵ về mặt xã hội. Thật ra, định nghĩa của động kinh là thế nào ?
G.S Michel Baulac : Đó là một bệnh lý thường xảy ra, ở châu Âu cứ 1000 người thì có một người bị bệnh, trong đó cứ hai bệnh nhân thì một là trẻ em. Người ta chỉ thật sự chẩn đoán động kinh khi các cơn tái diễn. Các cơn này tương ứng với một đợt phóng điện (une décharge électrique) bất bình thường của các nơ ron nằm trên trên một bề mặt rộng ít hay nhiều của vỏ não. Các triệu chứng thay đổi tùy theo vị trí và mặt rộng của vùng bị ảnh hưởng. Nhiều nguyên nhân có thể là nguồn gốc của những cơn động kinh này : khối u, sẹo sau chấn thương, dị dạng đủ loại, nhưng cũng có tố bẩm di truyền.

Hỏi : Những dạng khác nhau của cơn động kinh là gì ?
G.S Michel Baulac : Vâng. Có hai dạng chính. 1. Cơn động kinh toàn thể (crise convulsive généralisée) trong đó sự phóng điện nơ ron tỏa lan. Cơn được phát khởi bằng một sự mất tri giác tức thời kéo dài vài phút, bệnh nhân té đột ngột, cứng toàn bộ thân thể, tăng tiết nước bọt và những rung giật ở các chi : cơn rất gây ấn tượng đối với những người chung quanh! Những cơn động kinh toàn thể khác, ít gây thương tổn hơn, chỉ đưa đến vắng ý thức (absence) vài giây hay những rung giật ngắn ngủi của các chi. 2. Những cơn động kinh cục bộ (crises partielles), có những triệu chứng tương ứng với vùng bị ảnh hưởng : những rối loạn thị giác, các ảo giác (hallucinations), những cử động không tự ý và vắng ý thức kéo dài vài phút đối với vài bệnh nhân, với mất toàn bộ sự làm chủ hành vi, do đó tình trạng mất năng lực quan trọng khi các cơn xảy ra thường xuyên.

Hỏi : Những người động kinh sống trong lo sợ sẽ xảy ra một cơn động kinh mới… Những dấu hiệu báo trước là những dấu hiệu nào ?
G.S M.B : Có khi vài người phát khởi một cơn nhỏ (minicrise) vài chốc lát trước khi cơn trở nên nghiêm trọng hơn. Nếu có đủ thời gian (khoảng 10 phút), một thuốc có tác dụng nhanh đôi khi có thể tránh được cơn xảy ra. Nhưng hầu hết các bệnh nhân không có một dấu hiệu báo trước nào, do đó cần có một điều trị thường trực.

Hỏi: Cho đến nay, những điều trị cổ điển là những điều trị nào, và những chỉ định của chúng?
G.S M.B: Một tiến bộ mới đây là khả năng điều trị các bệnh nhân “à la carte“. Có nhiều thuốc chống động kinh với cách tác dụng khác nhau nhưng mục đích đều giống nhau: ngăn cản sự biểu hiện các triệu chứng. Không có một loại thuốc nào có thể chữa lành được bệnh. Đối với các cơn động kinh toàn thể, valproate (Dépakine), lamotrigine (Lamictal) là được sử dụng nhiều nhất nhưng không phải là không có những tác dụng phụ, do đó cần theo dõi đều đặn. Đối với những cơn động kinh cục bộ, thuốc thường được cho là carbamazépine (Tégrétol) vẫn có thế cho những tác dụng phụ; lévétiracétam (Keppra) là một lựa chọn khác.

Hỏi : Với những phương thức điều trị thuốc bằng đường miệng, những kết quả thu được là những kết quả nào ?
G.S M.B : Chúng cho phép kiểm soát các cơn nơi 60% các bệnh nhân.

Hỏi : Như vậy đối với 40% những bệnh nhân còn lại, cần những điều trị hiệu quả hơn. Điều trị mới được hiệu chính gần đây đối với những bệnh nhân đề kháng này là gi ?
G.S M.B : Trước hết, vài bệnh nhân được gọi là đề kháng dược liệu (pharmacorésistant) có thể là những ứng viên của một can thiệp ngoại khoa, nhằm lấy đi vùng não bộ gây nên các cơn động kinh. Về mặt thuốc men, chúng ta có những thuốc mới chống động kinh, được cho bằng đường miệng. Trong số những thuốc mới nhất, zonisamide và lacosamide đã được trắc nghiệm trong nhiều công trình nghiên cứu quốc tế, trong đó chúng đã chứng tỏ một hiệu quả thật sự trong việc làm giảm tần số xảy ra các cơn. Những thuốc này có ưu điểm là có hoạt tính nơi những bệnh nhân đề kháng nhất.

Hỏi : Người ta có nhận thấy những tác dụng phụ không ?
G.S M.B : Người ta đã ghi nhận những cảm giác chóng mặt, chứng ngủ gà, tình trạng dễ mệt mỏi và vài rối loạn tính khí.

Hỏi : Khi nào các bệnh nhân động kinh mới có thể hưởng liệu phát rất mới này ?
G.S M.B : Zonisamide đã được chấp thuận bởi các giới hữu trách Châu Âu và đã được thương mãi hóa ở Pháp từ nhiều tháng nay. Lacosamide vừa mới được sự chấp thuận của châu Âu và chẳng bao lâu sẽ có để sử dụng ở Pháp. Những điều trị các bệnh nhân đề kháng bằng những thuốc mới này là một bước tiến quan trọng.

Hỏi : Có chống chỉ định đối với những thuốc mới này không ?
G.S M.B : Mọi dự định thai nghén phải được chuẩn bị trước một cách cẩn thận và vài loại thuốc cần phải tránh. FDA, cơ quan y tế tối cao của Hoa Kỳ, vừa gợi ý rằng tất cả các thuốc chống động kinh mới có thể làm dễ các ý nghĩ tự tử (idées suicidaires). Do đó cần áp dụng mọi biện pháp thận trọng nơi những bệnh nhân trầm cảm có nguy cơ bị động kinh hơn.

Hỏi : Những thuốc mới này đã được thương mãi hóa trong các nước khác chưa ?
G.S M.B : zonisamide khởi đầu đã được phát triển ở Nhật Bản trong những năm 90, sau đó được đưa vào Hoa Kỳ năm 2000.Vậy chúng ta hưởng được một kinh nghiệm rộng rãi.Thời gian nhìn lại ngắn hơn đối với lacosamide.

Sau cùng, phải nhấn mạnh những tiến bộ mới đây đối với vài dạng động kinh tàn phá của trẻ em, với sự hiệu chính những thuốc rất trọng điểm, gọi là orphelins. Những tiến bộ này thể hiện đúng tất cả những cố gắng hiện nay của nghiên cứu chống lại bệnh động kinh trong tất cả các dạng thức.
(PARIS MATCH 25/9-1/10/2008)

8/ THỜI GIAN NGHIỆN THUỐC LÁ VÀ BỆNH PARKINSON.

Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng những người hút thuốc chịu nguy cơ phát triển bệnh Parkinson thấp hơn. Số các năm tháng hút thuốc quan trọng hơn là lượng các điếu thuốc được hút mỗi ngày.

Honglei Chen và các đồng nghiệp (National Institute of Environmental Health Sciences in Research Triangle Park, North Carolina) đã căn cứ trên các dữ kiện có liên quan đến 305.468 người đàn ông và đàn bà 50 tuổi hoặc hơn. Trong thời gian theo dõi kéo dài hơn 10 năm, 1.662 người tham dự đã phát triển bệnh Parkinson, hoặc 0,5 đến 1%. Các nhà nghiên cứu đã có thể thiết lập một mối quan hệ với hành vi hút thuốc. Như thế, những người trong quá khứ đã hút ít nhất 1 bao thuốc mỗi ngày trong dưới 10 năm, có 4% nguy cơ ít hơn phát triển bệnh so với những người đã không bao giờ hút thuốc. Nhưng những người đã hút trong 10 đến 19 năm thấy nguy cơ của mình giảm 22%. Nếu thời gian nghiện thuốc lá trải dài từ 20 đến 29 năm, nguy cơ được giảm đi 36%, và nếu nó kéo dài trong hơn 30 năm, nguy cơ được thu giảm 41%. Vậy nguy cơ dường như được liên kết với số năm trong đó những thói quen hút thuốc được duy trì. Các tác giả, mà công trình nghiên cứu được công bố hôm 10/3 trong Neurology, hy vọng rằng khám phá của họ sẽ cho phép làm sáng tỏ tốt hơn nhưng cơ chế giải thích sự xuất hiện của bệnh Parkinson.

(LE JOURNAL DU MEDECIN 23/3/2010)

9/ CÁC CHẤT BỔ SUNG THỨC ĂN : TÍNH HIỆU QUẢ, TÍNH VÔ HẠI, CÁC NGUY CƠ.

Trong cuốn sách được viết bởi GS Luc Cynober “ La vérité sur les compléments alimentaires ”, BS Jacques Fricker, thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng của bệnh viện Bichat, Paris, giải thích khi nào cần cho chất bổ sung thức ăn.

Hỏi : Sự khác nhau giữa một vị thuốc (médicament) và một chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire) là gì ?
BS Jacques Fricker : Mục đích của một vị thuốc là để chữa lành bệnh(hay để ngăn ngừa) trong khi mục đích của một chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire) là cải thiện sự vận hành chức năng của cơ thể hay của một cơ quan nhất định. Mọi loại thuốc phải được một giấy phép cho luu hành trên trường (AMM : autorisation de mise sur le marché), đây không phải là trường hợp đối với các chất bổ sung thức ăn. Những chất bổ sung thức ăn này chủ yếu phải chứng tỏ tính vô hại của chúng. Sự chuẩn y về tính hiệu quả ít đòi hỏi hơn.

Hỏi : Làm sao tìm kiếm được một sự thiếu (déficience) thật sự vitamine và các chất khoáng ?
BS Jacques Fricker : Để đánh giá một sự thiếu hụt (déficit) hay một sự thiếu (carence) một vài chất dinh dưỡng (nutriment), như vitamine D hay sắt, phải có những xét nghiệm máu cho phép chẩn đoán sự thiếu hụt này. Ngược lại, đối với những chất dinh dưỡng khác, không có phân tích đáng tin cậy ở quy mô cá nhân. Vậy phải dè chừng những lời đề nghị làm bilan này, tốn kém và vô ích.

Hỏi : Ở Pháp, tần số của những sự thiếu (déficience) này là gì ?
BS Jacques Fricker : Thiếu (carence) là một sự thiếu quan trọng của một hay nhiều chất dinh dưỡng, dẫn đến sự xuất hiện của một căn bệnh, ví dụ bệnh scorbut do thiếu vitamine C, hay bệnh còi xương (rachitisme) do thiếu vitamine D. Trong các đất nước phát triển của chúng ta, những sự thiếu (carence) này rất là hiếm. Sự thiếu hụt (déficit) tương ứng với một sự cung cấp hơi dưới các nhu cầu, có nguy cơ gây nên một sự mệt mỏi, một sự đề kháng kém hơn của cơ thể. Ở Pháp, những thiếu hụt thường gặp nhất là các thiếu hụt sắt (nơi các phụ nữ trẻ), vitamine D (nơi các thiếu niên và những người trên 50 tuổi), vitamine C và calcium (nơi những người ít tiêu thụ những sản phẩm sữa), vitmine B9 hay folate (nơi những người ăn ít rau xanh).

Hỏi : Những người có nguy cơ thiếu hụt mà ta khuyên cho bổ sung là những ai ?
BS Jacques Fricker : 1. Những người bị vài bệnh tiêu hóa gây nên một sự hấp thụ kém các vitamine và các chất khoáng. 2. Những người bị loét dạ dày hay u xơ tử cung gây nên một sự xuất huyết và một sự thiếu sắt (carence en fer). 3. Những người ăn toàn chay (végétaliens) không tiêu thụ một sản phẩm có nguồn gốc động vật, bị thiếu oméga 3, sắt, calcium, vitamine D và B 12, gây nên những rối loạn thần kinh. 4. Những người theo chế độ ăn uống làm gầy không thích hợp (do đó bị thiếu hụt toàn bộ các vitamine và các chất khoáng). Cũng có những giai đoạn trong cuộc sống mà việc cho bổ sung thức ăn là hữu ích : trong thời kỳ thai nghén, một sự cung cấp sắt và folates thường là cần thiết và vitamine D gần như luôn luôn được khuyến nghị vào tháng thứ 7. Đối với những bà mẹ tương lai tiêu thụ ít cá, một sự cho bổ sung iode thường được kê đơn. Sau thời kỳ mãn kinh, vitamine D được chỉ định để bảo vệ hệ xương. Trong thời kỳ hoạt động trí tuệ cật lực, việc sử dụng các viên thuốc oméga 3 có thể tỏ ra là một hỗ trợ quý giá. Các nữ vận động viên thể thao lớn thường thiếu sắt. Vào một lứa tuổi cao, lúc mà các nguy cơ thiếu vitamine D và B9 gia tăng, người ta thường khuyên cho bổ sung các vitamine này.

Hỏi : Thế thì những nguy cơ của một sự thặng dư của các chất bổ sung này là gì ?
BS Jacques Fricker : Một sự thặng dư sắt có một tác dụng làm dễ oxy hóa (effet pro-oxydatif), nghĩa là một sự oxy hóa (oxydation) của các tế bào (protéines, lipides, nhiễm sắc thể), sẽ làm biến hóa chúng, làm chúng dễ bị nhạy cảm hơn với quá trình lão hóa. Sắt được kê đơn với những liều lượng thấp nhưng mục đích là phòng ngừa (từ 15 đến 20 mcg mỗi ngày), và trong trường hợp thiếu hụt quan trọng, liều lượng sẽ chuyển lên khoảng 80 mcg. Vitamine A cho quá liều có thể gây nên một bệnh của gan, với nguy cơ thoái hóa thành xơ gan (liều lượng 80 mcg mỗi ngày không được vượt quá). Vitamine C hàm chứa một nguy cơ oxy hóa các tế bào bắt đầu từ 500mg mỗi ngày. Và chú ý đến các cocktail đa vitamine được đề nghị trên Internet ! Nếu chúng quá liều, chúng có thể gây nên một sự hạ của khả năng miễn dịch.
(PARIS MATCH 4/3[*] 10/3/2010)

10/ CHỐNG CHÍ RẬN, MỘT ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐƯỜNG MIỆNG

Hiệu quả của thuốc uống cao hơn hiệu quả của các thuốc thoa cổ điển.

DERMATOLOGIE. Tất cả mọi gia đình hay hầu như tất cả đã trải qua những giây phút trong đó mỗi người phải chịu xoa trên da đầu một thuốc chống ký sinh trùng và phải bắt đầu lại tất cả 15 ngày sau, vì lẽ điều trị không có hiệu quả. Ở Pháp, theo các công trình nghiên cứu, từ 2 đến 20% các trẻ em học tiểu học, vào một lúc nào đó, bị xâm nhập bởi các con chí (poux de tête). Các trẻ từ 3 đến 11 tuổi đặc biệt dễ bị thương tổn, do các hành vi xã hội của chúng (các trò chơi), làm dễ sự lan tràn của các ký sinh trùng.

Trong những năm 1990, giáo sư Olivier Chosidow, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc bệnh viện Henri-Mondor, Créteil (Val-de-Marne), và nhóm nghiên cứu của ông đã nhận thức được rằng các khả năng đề kháng chống lại các thuốc xức (lotions) cổ điển phát triển nhanh chóng, đặc biệt là do áp lực của sự chọn lọc liên kết với sự sử dụng gia tăng của chúng. Vài trong những ký sinh trùng này khi đó không nhạy cảm với các thuốc diệt côn trùng, malathion hay pyréthrine, được chứa trong những sản phẩm này.

Giáo sư Chosidow, cộng tác với Bruno Giraudeau, nhà nghiên cứu của trung tâm điều tra lâm sàng của Inserm, đã quyết định đánh giá, trong bối cảnh một nghiên cứu lâm sàng, tính hiệu quả chống chí của ivermectine, một thứ thuốc được cho bằng đường miệng (đã được sử dụng chống ghẻ) với liều lượng 400 mg mỗi kg thể trọng và ông đã so sánh điều trị bởi thứ thuốc này với một điều trị tại chỗ cổ điển (malathion, thuốc xức 0,5%). Tổng cộng, 812 người bị nhiễm chí xuất phát từ 376 gia đình (ở Pháp, Anh, Ái Nhĩ Lan, Israel) đã được điều trị hai lần cách nhau 7 ngày với một trong những thứ thuốc này. Những kết quả, được công bố hôm qua trong tạp chí có uy tín của Hoa Kỳ, The New England Journal of Medicine, hoàn toàn có sức thuyết phục : 95% trong số 398 người đã nhận ivermectine bằng đường miệng đã khử được các con chí 15 ngày sau khi bắt đầu điều trị, so với 86% của 414 bệnh nhân được điều trị với malathion.

CHƯA CÓ TRÊN THỊ TRƯỜNG.

Đối với giáo sư Olivier Chosidow, người điều hành công trình nghiên cứu này, không còn nghi ngờ gì nữa : “ Trong khi các điều trị cổ điển chống chí không có hiệu quả, việc sử dụng ivermectine hai lần cách nhau 7 ngày mang lại những kết quả rất tốt và là một thay thế thật sự đối với các thuốc thoa chống chí cổ điển.”. Hiện nay, thuốc này không có giấy phép cho lưu hành trên thị trường, mặc dầu hãng bào chế đã yêu cầu. “ Tuy nhiên, Olivier Chosidow nói thêm, thuốc này sẽ chỉ được sử dụng ưu tiên hai, thậm chí ưu tiên ba, nếu ta muốn tránh các con chí thích nghi và cũng trở nên đề kháng đối với ivermectine.”

Không có tác dụng phụ nào liên kết với thuốc đã được quan sát trong khung cảnh của thử nghiệm điều trị này. Nhưng số người được tuyển mộ vẫn còn thấp và cần những công trình khác để đảm bảo tính vô hại hoàn toàn của dược phẩm.
(LE FIGARO 12/3/2010)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (5/4/2010)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san kho

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969