Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 30
Lượt truy cập: 1028457
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ LỊCH SỬ BỆNH HỦI VÀ NHỮNG NGƯỜI HỦI.

Lễ phong thánh của Cha Damien, đã đi săn sóc trong thế kỷ qua những bệnh nhân hủi, được nhốt trên một hòn đảo của Hawai, để rồi chính ông cũng phải ngã gục vì căn bệnh khủng khiếp này, nhắc nhở cho chúng ta rằng bệnh hủi đúng là đã hiện diện trong suốt nhiều thế kỷ ở Tây Phương. Bệnh hủi là một trong những vết thương bên cạnh những dịch bệnh khủng khiếp dịch hạch và dịch tả.

NGUỒN GỐC BỆNH HỦI.

Quả thật là bệnh hủi không gây cùng tác hại như bệnh dịch hạch, mặc dầu bệnh cũng có tính chất lây nhiễm, nhưng suốt trong sự tiến triển của thời gian, bệnh hủi, cũng như bệnh lao đã tham gia vào sự hình thành sinh học của nhân loại trong một bối cảnh xã hội và văn hóa, trong đó căn bệnh này đã chiếm một vị trí to lớn.

Bệnh hủi xưa như trái đất hay gần như vậy, vì lẽ nó đã ngự trị ở Ẩn Độ và có lẽ ở Trung Hoa ngay trước công nguyên của chúng ta. Dẫu sao bệnh này dường như đúng là đã hiện diện vào năm 600 trước Jésus-Christ trong một bản văn đích thị của Ẩn Độ, và những người lính của Alexandre le Grand và của Darius, sau khi đi viễn chinh quân sự tận những miền xa của Phương Đông, đã mang bệnh hủi về đến vùng Cận Đông (Proche-Orient), rồi từ đó những người Phénicien đã mang đến châu Âu hay ít nhất đến các bờ biển Địa Trung Hải. Các đoàn lính lê dương La Mã hoàn tất công việc còn lại khi mang bệnh này vào trung tâm của Cựu lục địa. Những cuộc viễn chinh thập tự và những cuộc xâm lăng của người Ả rập đã chỉ có thể làm tăng cường sự hiện diện của nó. Dẫu sao, bệnh hủi trở nên thông thường ở châu Âu từ thế kỷ thứ XII, nếu ta tin vào nhiều tư liệu hiện có về chủ đề này vào thời đó. Thật vậy, bệnh hủi thuộc về lãnh vực của tòa án vì lẽ bất kỳ ai chứng thực một căn bệnh ngoài da nơi một người láng giềng đều buộc phải tố cáo người này trước chính quyền dân sự hay tôn giáo. Trong thời kỳ đầu, người ta yêu cầu chính những người bị bệnh hủi phải nhận biết những triệu chứng của căn bệnh, nhưng sau đó, những người bị hủi phải đối diện với một bồi thẩm đoàn (jury) gồm những thầy thuốc hay những nhà phẫu thuật và một đại diện thế tục hay tôn giáo. Người bị tình nghi kém may mắn này có thể được bào chữa bởi một người bà con, thậm chí một luật sư nếu người này có phương tiện.

CẢ MỘT VỤ ÁN

Làm sao người ta đã có thể chẩn đoán bệnh một cách chắc chắn ? Người bị bệnh hủi hay được cho là như vậy phải trình diện mình trần như nhộng. Vào lúc đêm đến, người ta đặt gương mặt của bệnh nhân dưới sáng trăng và gương mặt của người bị bệnh hủi phô ra nhiều màu sắc, đó là dấu hiệu của bệnh bởi vì một gương mặt lành mạnh vẫn nhợt nhạt khi đứng trước vì tinh tú của ban đêm !“ Người bị bệnh hủi có một gương mặt đỏ, đôi mắt lờ đờ, chiếc mũi hẹp, các sợi tóc rất mảnh và thưa, đôi tai bé nhỏ. ” Một trắc nghiệm khác nhằm rải tro chì nấu chảy vào trong nuớc tiểu của một bệnh nhân hủi ; các tro này nổi lên trong khi bình thường chúng nằm ở đáy lọ. Nhưng người ta cũng có thể nhờ đến thí nghiệm lấy máu của bệnh nhân pha trộn với giấm. Sau đó nếu người ta xoa hỗn hợp này vào lòng của bàn tay, nó cho một cảm tưởng khô nơi người bị hủi. Chưa phải là hết, còn phải lọc nó xuyên qua một tấm vải mịn để quan sát các chất cặn giống như những hạt kê. Sau cùng, người ta có thể trộn hỗn hợp này với nước phát xuất từ một nguồn nào đó để xem nó đông lại ở nơi mà máu phát xuất từ một cơ thể lành mạnh vẫn tinh khiết. Có lẽ đơn giản hơn nhiều, sự kiện chích vào gót chân của bệnh nhân mà không phản ứng với đau đớn hay đặt bệnh nhân nằm dài trên một vật lạnh mà không khiến người bệnh phải lùi lại một chút nào vì đã đã trở nên không nhạy cảm, đó là những dấu hiệu không lầm lẩn được. Dĩ nhiên người bị nghi ngờ có thể chống án. Nhưng điều đáng ngạc nhiên nhất là một khi bệnh được phát hiện, người bệnh không quan tâm đến phương cách chữa nó. Bệnh nhân xem căn bệnh hủi như là một định mệnh và do đó dưới mắt người bị hủi là hoàn toàn không thể chữa lành được ! Như một nhà sử học tâm sự với chúng ta điều đó : “ Người ta có thể tắm họ thường xuyên, băng bó các vết thương của họ bằng vải đã sờn mòn, bôi các vết loét rỉ nước với thuốc bôi dẻo (onguent) và nhựa thơm (baume) có chất căn bản là hương liệu, phủ các chốc vảy (dartre) với các chất nghiền từ rắn lục, nuôi họ bằng thịt gà vỗ béo hay thịt ếch áp chảo, cho uống dâu tây ngâm cồn, nhung chẳng giúp ích được gì Người hủi vẫn như thế suốt cả cuộc đời, bởi vì “ những trường hợp miễn tố rất họa hoằn ”

Sau hết một phương thuốc tối hậu là thiến (castration). Phương pháp này trước hết tìm được một biện minh điều trị. Vì thể tạng của người hủi, bản văn nói với chúng ta như vậy, “ là sầu uất, nóng và khô, nên sự thiến làm thay đổi tính khí thành ôn hòa, bằng cách hủy bỏ các tinh hoàn, vốn làm gia tăng bệnh hủi do sự ảnh hưởng và sự khát khao của người bệnh. Những người hủi bị quấy rầy bởi một ham muốn đặc biệt của động tác giao cấu, họ luôn luôn có các chi cứng như các thần Dê (satyres), vậy ta phải thiến họ để chữa họ khỏi bị sự hành hạ quan trọng này.” Nhưng có lẽ đó chủ yếu là để tránh một sự thoái hóa của giống người.

MỘT THỂ GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ LOẠI TRỪ.

Bản án một khi trở nên không vãn hồi được, người hủi sẽ bị loại trừ ra khỏi xã hội loài người bằng một sự chôn cất giả vờ ; trong vài ngôi làng người hủi buộc phải vào nằm trong một cái huyệt của nghĩa địa để vài lúc sau đó lại được đem ra. Vị linh mục ăn mặc đồ tang tiếp người bệnh đáng thương trên sân của nhà thờ để loan báo với người này những biện pháp trục xuất rồi dẫn vào nhà thờ, ở đó người ta đã chuẩn bị sẵn một nhà táng. Sau đó là bắt đầu lễ mai táng rồi một tấm vải trùm đen được ném lên người bị xua đuổi, được đặt nằm trên đất và còn phải chịu vài xẻng đá trước khi chấm dứt trò chết giả này. Phần còn lại của cuộc đời diễn ra xa thế giới trong một trại hủi (léproserie), thường lợi dụng sự hào phóng của các nhà vua và những người có quyền thế. Người ta sống ra sao trong những ngôi nhà đóng kín này ? Những người hủi làm việc theo khả năng nhưng cuộc sống gia đình bị cấm chỉ đối với họ. Đúng là đôi khi họ được phép đi ra ngoài nhưng với những nội quy rất nghiêm ngặt làm họ nản lòng. Đối với người hủi, không có vấn đề tắm trong một dòng sông, đi dạo với đôi chân trần hay ngỏ lời với ai ngoài cơn gió trước mặt. Người hủi cũng bị buộc chỉ được tham gia những buổi lễ tôn giáo từ xa, mặc những quần áo mà mọi người có thể thấy được và báo cho họ biết sự hiện diện bằng chiếc chuông nhỏ. Người hủi không còn có một quyền dân sự nào nữa và sự kết hôn trên thực tế bị bãi bỏ. Và một khi qua đời, hoài công khi nhờ đến những lễ tang thông thường và chỉ được chôn trong nghĩa địa dành cho người hủi mà thôi.

Nhưng dĩ nhiên chúng ta phải hơi tiết chế lại lời nói bởi vì các quy tắc mà chúng tôi vừa phát biểu đã không được áp dụng với cùng sự khô khan trong tất cả các giáo phận và các giáo khu. Tất cả các sự cưới hỏi đã không bị hủy bỏ và bệnh hủi không phải là lý do đủ để chấm dứt chúng. Tất cả những người hủi không bị tước mất đời sống xã hội. Vài người có thể đi hành hương, những người khác được phép đi ra ngoài để đi ăn xin và đảm bảo những lợi tức bổ sung nơi cộng đồng họ sinh sống, đến độ bắt đầu từ thế kỷ XV, không phải là hiếm khi phát hiện những tay chiếm đoạt sống rất sung sướng nhờ vào một trại hủi. Sau cùng, vài người hủi được phép sống tại nhà họ hay được tham gia vào những sinh hoạt tập thể của làng, để không chỉ canh tác đất đai mà còn chế tạo các thừng chảo của tàu bè (cordages des navires), đến độ danh từ “ người làm thừng chảo ” (cordier) đôi khi trở nên đồng nghĩa với người hủi.

BỆNH HỦI BIẾN MẤT KHỎI CHÂU ÂU.

Người ta có thể tự hỏi bệnh hủi đã có thể ảnh hưởng như thế nào lên sự phát triển của dân số ? Có lẽ không đáng kể, nhưng dầu sao đúng là chưa đến mức của những tàn phá gây nên bởi bệnh dịch hạch, trong thế kỷ XIV, đã tàn sát châu Âu đến độ giết chết 1/3 dân số. Nói chung ta chấp nhận rằng bệnh hủi hoành hành nơi vùng của chúng ta từ thế kỷ XII đến XIX và bệnh hẳn đã được thể hiện bởi những đợt kế tiếp nhau, trong vài vùng nghiêm trọng hơn những vùng khác, nhưng tha miễn hoàn toàn vài vùng mà chúng ta không có được một chút giải thích nào về những ngoại lệ này. Dẫu sao, vào đầu thế kỷ XV, các trại hủi trống dần và các giới hữu trách giáo hội thu hồi lại các tài sản và đưa chúng đến những bệnh viện khác. Ở Pháp, Louis XIV chính thức thanh lý các trại hủi và các gia sản của chúng. Vậy, bệnh hủi đã hầu như biến mất khỏi châu Âu, ngoại trừ, thật kỳ lạ, ở Na Uy, là nơi bệnh hủi vẫn còn tồn tại đến tận thời kỳ hiện đại. Mặt khác, chính Hansen, một nhà nghiên cứu người Na Uy, đã nhận diện vi trùng gây bệnh, khá tương cận với trực khuẩn Koch, nhưng trước sự khám phá của vi khuẩn lao này.

Những nguyên nhân của sự suy tàn của căn bệnh hủi là gì ? Sự cải thiện của trình độ vệ sinh ? Đó là điều ít có khả năng bởi vì sự sạch sẽ đã tiến triển rất ít từ thế kỷ XI đến XIV để ta có thể đưa ra lời giải thích. Phải chăng những người hủi đã biến mất như là nạn nhân của những dịch bệnh khác như bệnh dịch hạch hay dịch tả ? Các tu viện và các trại hủi có lẽ đã phải trả giá nặng nề cho những căn bệnh này nhưng, như chúng ta đã thấy, tất cả các người hủi không đều bị nhốt cả và vài người mang vi trùng gây bệnh đã sống sót và tiếp tục vai trò gây nhiễm của họ. Trên thực tế, mặc dầu thiếu các lời giải thích, tuy vậy có một tác dụng tương quan giữa sự phát triển của bệnh lao và sự biến mất của bệnh hủi. Nhưng sự quan sát của hiện tượng này, mặc dầu được chứng minh về mặt thứ tự niên đại, nhưng vẫn có thể bị tranh cãi về quan hệ nhân quả của nó. Trực khuẩn Hansen đối với bệnh hủi và trực khuẩn Koch đối với bệnh lao mặc dầu có những tính chất sinh kháng nguyên tương tự và thuộc gia đình của các vi khuẩn, nhưng sự giống nhau này dừng lại ở đó ! Không có những bằng cớ nào khác. Phải chăng thế kỷ XVII đã lẩn lộn bệnh hủi với những bệnh phong tình khác, vì lẽ, người ta tin như vậy, có khả năng lây truyền lúc giao hợp ?
(LA SEMAINE MEDICALE 24/12/2009)

2/ ĂN CHAY TỐT CHO XƯƠNG.

Người nào ăn chay có một nguy cơ bị mất canxi xương thấp hơn người ăn thịt. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi Peter Deriemaeker của VUB (Belgique).

Nói chung, một thức ăn giàu chất đạm, như thịt và các sản phẩm sữa có một tác dụng axít hóa (effet acidifiant) lên cơ thể, trong khi một chế độ ăn uống gồm các trái cây và rau xanh có một tác dụng kiềm (effet alcalin). Các chất đạm do đó làm dễ sự làm mất canxi (décalcification) : người ta ước tính lượng canxi bị mất đối với mỗi gam đạm được ăn vào là 1 mg. Các công trình nghiên cứu đã phát hiện một mối liên hệ rõ rệt giữa, một bên, sự tiêu thụ tăng cao đạm động vật và bên kia, nguy cơ bị gãy xương háng hay có những triệu chứng đau lưng (lombalgie).

Một cách khá mâu thuẫn, các chất đạm cũng kích thích sự tạo xương. Sau hết, phải biết xem chúng đóng một vai trò dương tính hay âm tính phần lớn tùy thuộc vào chế độ ăn uống, nhưng cũng tùy thuộc vào thể trạng di truyền của con người, tuổi tác và giới tính của người đó.

Các chất thức ăn kiềm làm gia tăng trị số của pH của máu, điều này bảo vệ xương tốt hơn và dẫn đến sự phóng thích canxi ít hơn.

NHIỀU TRÁI CÂY VÀ RAU XANH HƠN.

Peter Deriemaeker và các cộng sự viên của VUB đã khảo sát sự khác nhau giữa hai cách ăn uống này : họ đã so sánh một nhóm những người ăn chay với một nhóm tương tự (về giới tính, tuổi tác và chỉ số khối lượng cơ thể) những người không ăn chay. Từ những phân tích, họ rút ra kết quả xác nhận ý tưởng được nghi ngờ từ lâu, rằng một chế độ ăn uống giàu chất thức ăn nguồn gốc thực vật có một tác dụng kiềm hóa hơn lên cơ thể so với chế độ ăn uống nhiều thịt và như thế bảo vệ họ chống lại một loạt các bệnh tật, như chứng loãng xương (ostéoporose).
(LE JOURNAL DU MEDECIN 23/3/2010)

3/ CHOCOLAT TỐT CHO TIM VÀ CÁC MẠCH MÁU.

Các nhà nghiên cứu người Đức đã cho thấy rằng những lượng nhỏ chocolat được tiêu thụ mỗi ngày làm hạ huyết áp và làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Nhóm nghiên cứu người Đức đã theo dõi trong khoảng 10 năm những thói quen ăn uống của 19.357 người, tuổi từ 25 đến 65 tuổi. Các tác giả đã có thể chứng thực rằn, những người ăn nhiều chocolat nhất (trung bình 7,5 g mỗi ngày) có một huyết áp thấp hơn và một nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não giảm 39%, so với những người chỉ tiêu thụ rất ít (1,7g mỗi ngày). Về mặt nguy cơ tuyệt đối, điều đó có nghĩa là sự việc ăn một miếng vuông nhỏ chocolat khoảng 6g cho phép tránh, nơi 10.000 người, 85 nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não trong một khoảng thời gian 10 năm, BS Brian Buijssen, nhà dịch tễ dinh dưỡng, người điều khiển công trình nghiên cứu này, đã giải thích như vậy.

Nhưng không nên vì thế mà suy diễn ra rằng ta có thể đồng thời tự cho phép mình gia tăng sự tiêu thụ toàn thể calorie và tiêu thụ ít hơn những thức ăn lành mạnh, nhà nghiên cứu cảnh cáo như vậy. “ Những lượng nhỏ chocolat giúp phòng ngừa sự xuất hiện các bệnh tim mạch, nhưng chỉ khi những lượng này thay thế một nguồn thức ăn giàu calorie khác, để trọng lượng có thể vẫn luôn luôn ổn định. ”

Mặc dầu sự tiếp tục của các nghiên cứu là tỏ ra cần thiết, nhưng nhóm nghiên cứu người Đức đã có thể xác nhận rằng tác dụng có lợi của chocolat được liên kết với sự hiện diện của flavonol trong cacao. Những chất này hiện diện chủ yếu trong chocolat đen. “ Các flavonol cải thiện biodisponibilité của monoxyde d’azote trong các huyết quản. Những chất này làm giãn các mạch máu hơn và điều này góp phần mang lại một huyết áp thấp hơn. Monoxyde d’azote cũng cải thiện chức năng của các tiểu cầu, làm cho máu ít dính hơn ”, Brian Buijsse nói tiếp như vậy.

TRÀ CŨNG THẾ.

Một công trình nghiên cứu mới đây của Hòa Lan cũng quan tâm đến những tác dụng có lợi của các flavonol. Peter Hollman của đại học Wageningen đã phân tích mối liên hệ giữa sự sử dụng các loại flavonoides khác nhau và sự xuất hiện của các tai biến mạch máu não. Trong một phân tích méta, ông đã xét đến hơn 100.000 người phát xuất từ 6 công trình nghiên cứu đã được công bố. Các flavonoides đặc hiệu như các flavonol, dường như có một tác dụng lên nguy cơ tai biến mạch máu não. “ Nếu người ta tiêu thụ một lượng flavonol tương ứng với lượng được tìm thấy trong 3 tách trà, người ta có thể làm giảm 20% nguy cơ

bị một tai biến mạch máu não ”, nhà nghiên cứu Hòa Lan đã bình luận như vậy.

Chúng ta hãy nhớ rằng các flavonols cũng hiện diện trong rau xanh và các trái cây.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 13/4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 160 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 8/2/2010 )

3/ TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA CÁC FLAVONOIDE CỦA RƯỢU VANG, TRÀ, CACAO.

Viện hàn lâm dược học quốc gia hôm qua đã thảo luận về những đóng góp có lợi lên tim và não bộ của những chất được chứa trong vài loại thức ăn.

PREVENTION. Rượu vang, trà, chocolat, là chủ yếu, và những thực phẩm khác chứa những chất flavonoides, có những tác dụng chống oxy hóa (antioxydant) và chống viêm, với một hiệu quả bảo vệ lên tim và não bộ. Từ 15 năm nay, các nghiên cứu gia tăng về những chất được chứa trong thực phẩm này. Hôm qua, Viện dược học quốc gia đã dành một trong những buổi họp để bàn về những tác dụng lên sức khỏe của những chất flavonoides đầy hứa hẹn này. Tuy nhiên, trong khi nhiều xí nghiệp dược phẩm đề nghị các viên thuốc mà chất căn bản là flavonoides, thì viện hàn lâm lại đánh giá rằng những dữ kiện hiện nay không cho phép khuyến khích các “ điều khẳng định sức khỏe ” (“ assertions santé ”) của các chất bổ trợ dinh dưỡng (adjuvants alimentaires).

Lịch sử của các flavonoides bắt đầu trong những năm 1990, với sự phát hiện của nghịch lý Pháp (paradoxe français) : các người Pháp, đặc biệt trong vùng Tây Nam, có một tỷ lệ tử vong do tim mạch thấp hơn so với những nơi khác, mặc dầu một sự tiêu thụ cao các chất mỡ bảo hòa (một yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng). Ngoại lệ này được quy cho sự tiêu thụ rượu vang đỏ, đặc biệt cao ở Pháp. Các flavonoides (các hợp chất polyphénol) của rượu đã được nhận diện như là các chất trung gian của tác dụng có lợi này. Và nhiều công cuộc điều tra dịch tễ học đã cố gắng phân tích mối liên hệ giữa chế độ ăn uống giàu flavonoides và các bệnh tim mạch (đột qụy, nhồi máu) hay thoái hóa thần kinh (bệnh Alzheimer, Parkinson).

“ Toàn bộ các thông tin có được như thế cho thấy một khuynh hướng chung tán trợ cho việc liên kết giữa sự tiêu thụ rượu vang đỏ có mức độ (một hay hai ly mỗi ngày), (trên mức này, những tác dụng có hại của rượu làm đảo ngược khuynh hướng), của sự tiêu thụ trà xanh hay trà đen và cacao và tỷ lệ tử vong nguồn gốc tim mạch hay thoái hóa thần kinh, GS Jean-Claude Stoclet, ủy viên của Hội hàn lâm dược học (đại học Strasbourg) đã giải thích như vậy.

Vậy có vẻ hợp lý khi đưa ra giả thuyết, theo đó sự tiêu thụ đều đặn của vài loại trái cây giàu flavonoides hay những chế phẩm phát xuất từ đó, rượu vang đỏ, một vài nước nho vắt, trà xanh và đen (trong một chừng mực ít hơn), cacao, được liên kết với một sự giảm tỷ lệ tử vong… ”

SỰ ỨC CHẾ CỦA MỘT VÀI GENE .

Bằng cớ chính thức chỉ có thể được mang lại, sau những thử nghiệm lâm sàng so sánh một chế độ ăn uống giàu flavonoides với một chế độ ăn uống nghèo flavonoides. Chúng ta hãy ghi nhận rằng hầu hết các công trình nghiên cứu không phát hiện mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu flavonoide và ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu thí nghiệm, trên cấy tế bào hay mô hình động vật, đã phát hiện một tác dụng của các flavonoides lên thành trong của các huyết quản, với một sự gia tăng của các yếu tố giãn mạch và chống tăng sinh (facteurs vasodilatateurs en antiprolifératifs). Những chất này cũng tác dụng bằng sự ức chế của vài loại gène, để dẫn đến một tác dụng kháng viêm.

Người ta tìm thấy ở đâu các flavonoides này ? Nhiều trăm flavonoides khác nhau đã được nhận diện. Mặc dầu có nhiều điều không chắc chắn, nhưng có vẻ như rằng các flavonoides có một tác dụng bảo vệ, thuộc về các lớp của các flavonols (rượu vang đỏ, trà, cacao) và của các chất anthocyanines (các trái cây đỏ, quả anh đào, cassis). “ Khi tính đến các dữ kiện mới đây về các hiệu quả và các cơ chế tác dụng của vài flavonoides, ta có thể dễ bị cám dỗ khi chủ trương ngay từ bây giờ một sự tăng cường flavonoides trong chế độ ăn uống, GS Stoplet đã đánh giá như vậy. Cần phải cưỡng lại sự cám dỗ này : ngoài những điều không chắc chắn về bản chất của các hợp chất hữu ích, về những lượng cần phải cho, không hoàn toàn loại bỏ sự hiện diện của những tác dụng phụ. ” Đối với GS François Chast, chủ tịch của Viện hàn lâm dược khoa, “ trên cơ sở của các dữ kiện hiện nay, một sự tăng cường các cố gắng nghiên cứu có vẻ được biện minh và khẩn cấp ”.
(LE FIGARO 28/1/2010)

4/ BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC : NHỮNG PHƯƠNG TIỆN PHÒNG NGỪA BỆNH.

Tất cả chúng ta không bình đằng trước bệnh bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Một vài người có nguy cơ hơn phát triển bệnh này vì có những yếu tố tố bẩm (facteurs de prédisposition). Kiến thức chỉ có lợi ích nếu ta có thể tác động ở thượng nguồn và đây chính là trường hợp như vậy.

Có các gène tố bẩm của bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA), trong đó gène thứ ba vừa được nhận diện ở CHU de Créteil, và vài gia đình có nhiều thành viên bị bệnh. Có một người anh/em hay chị/em bị bệnh, nhân gấp 4 lần nguy cơ, một ngày nào đó, bị bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác này. Tuy vậy, sự phát triển các trắc nghiệm di truyền (test génétique) không là một ưu tiên, bởi vì các thầy thuốc nhãn khoa đã biết rằng một người sẽ có nguy cơ mắc phải bệnh DMLA, nếu người này có những tiền sử gia đình, một con mắt đầu tiên bị bệnh, nếu người này hút thuốc (nguy cơ được nhân lên gấp 4), nếu béo phì (nguy cơ nhân lên gấp đôi), hay lại nữa, nếu thăm khám đáy mắt vào lúc 55 tuổi đã cho phép phát hiện sự hiện diện của những dấu hiệu báo trước.

“ Như vậy, một hoàng điểm (macula) hoàn toàn bình thường ở lứa tuổi này được thể hiện bởi một nguy cơ rất thấp (0,5%) phát triển một DMLA trong 5 năm đến, trong khi nếu hoàng điểm đã có những dấu hiệu báo trước, nguy cơ sẽ chuyển lên 50% sau 5 năm và ngay cả 75% sau 10 năm, GS Souied đã xác nhận như vậy.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG.

Khi người ta có một profil nguy cơ, điều đó không muốn nói rằng nhất thiết là ta sẽ phát triển bệnh. Nhưng ta có thể làm giảm nguy cơ này nhờ những biện pháp phòng ngừa, bắt đầu bằng chào vĩnh biệt thuốc lá và sự làm mất các kilo bị dư thừa. “ Chế độ ăn uống của chúng ta cũng có ảnh hưởng nhiều. Như là một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng vài chất chống oxy hóa làm giảm 25% xác suất, đối với những người có nguy cơ cao, phát triển một DMLA trong 5 năm. Một ảnh hưởng không phải là nhỏ ”, BS Benzacken đã nhận xét như vậy. Đó chủ yếu là lutéine và zéaxanthine, hai caroténoide tập trung ở võng mạc để bảo vệ nó. Để có kết quả tốt, ta phải có 6mg mỗi ngày. Các nhu cầu hàng ngày của chúng ta có thể được đảm bảo bằng cách tiêu thụ 5 suất trái cây và rau xanh, nhưng với điều kiện lựa chọn chúng trong số những trái cây và rau xanh chứa nhiều các chất này nhất : các rau xanh có lá xanh đậm, chou hay épinard, nhưng cũng brocolis, các petits pois, các poivrons màu da cam, bắp, kiwis hay nho.

Chất dinh dưỡng khác hữu ích : các axít béo oméga 3, rất có can dự trong sự vận hành chức năng tốt của các tế bào của võng mạc. Người ta tìm thấy chúng trong các loài cá béo của những vùng biển lạnh : saumon, sardine, maquereaux, harengs. “ Tiêu thụ những con cá này 3 đến 4 lần mỗi tuần có thể làm giảm 1/3 nguy cơ bị DMLA ”, BS Benzacken đã nhấn mạnh như vậy.

Sau cùng, các chất chống oxy hóa (vitamine C, E, kẽm) cũng là những ứng viên tốt bởi vì chúng ngăn cản những phản ứng oxy hóa dẫn đến sự lão hóa sớm của những tế bào của võng mạc. Thế có nên sử dụng tất cả bằng cấp bổ sung ? Một câu hỏi hay. Một cõng trình nghiên cứu đang được tiến hành, nhưng kết quả sẽ chỉ được biết trong vài năm.
(LE FIGARO 8/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 82 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 20/6/2008 )

6/ SỰ TIÊU THỤ CÁ NGĂN NGỪA VÀI BỆNH MÙ LÒA.

Những người tiêu thụ các oméga-3 sẽ giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge)

Ở Pháp, sự thoái hóa điểm vàng do tuổi tác gây bệnh, ở những mức độ khác nhau, cho hơn 500.000 người. Sự thoái hóa của vùng trung tâm võng mạc này được thể hiện bởi một sự giảm thị lực trung tâm, có thể dẫn đến mù lòa sau nhiều năm tiến triển. Mặc dầu các nguyên nhân của căn bệnh nghiêm trọng và thường xảy ra này vẫn không được biết đến, nhưng rõ ràng rằng một vài yếu tố làm dễ căn bệnh này như tuổi tác và thuốc lá. Sự tiếp xúc quá mức với ánh sáng cũng được cho là có liên hệ, nhưng không có chứng cớ tuyệt đối.

Vậy người ta có thể bảo vệ chống lại căn bệnh này hay không ? Các nhà nghiên cứu Úc đại lợi vừa khảo sát vấn đề này, và kết luận trong một công trình nghiên cứu được công bố tuần này trong Archives of Ophtalmology, rằng những người có một chế độ ăn uống giàu cá hay ăn bổ sung những thức ăn có oméga 3 sẽ có một nguy cơ bị DMLA ít hơn.

Các oméga-3 là những chuỗi acide béo không bảo hoà mà người ta tìm thấy nhiều nhất trong cá mỡ : cá hồi (saumon), cá thu (maquereau), cá trích (hareng)…, trong cây cai dầu (colza), các quả hồ đào. Vào đầu những năm 1990, các chất mỡ này được gán cho nhiều tác dụng tốt, không phân biệt đúng hay giả.

Mặc dầu nhiều nghiên cứu đã phát hiện một nguy cơ bị tai biến tim mạch ít hơn nơi những người tiêu thụ nhiều cá, nhưng những thử nghiệm phòng ngừa cơn đau tim bằng oméga-3 đã hơi gây thất vọng hơn. Chính trong bối cảnh này mà các thầy thuốc Úc đại lợi ở Melbourne đã quyết định xem xét một cách hoàn toàn, mối liên hệ giữa một chế độ ăn uống giàu cá hay oméga-3 và nguy cơ bị bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA). Để thực hiện điều này, họ đã xem lại 9 công cuộc điều tra được công bố trong 20 năm qua về chủ đề này, và đã sưu tập thành một phân tích méta trên 88.974 người.

Những kết quả của công trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng những người tiêu thụ nhiều oméga-3 nhất, dầu đó là cá hay các bổ sung thực phẩm, có 38% nguy cơ bị một thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) ít hơn, so sánh với những người tiêu thụ ít nhất. Như vậy, sự việc ăn cá hai lần mỗi tuần liên kết với một nguy cơ bị DMLA thấp hơn.

CẦN NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ

“Phân tích của chúng tôi gợi ý rằng sự tiêu thụ cá và các thức ăn giàu oméga-3 được liên kết với một nguy cơ bị DMLA ít hơn”, các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Như vậy có phải ăn cá hay dùng oméga-3, ngay cả khi chúng ta vẫn khỏe mạnh, để ngăn ngừa hoặc kềm hãm sự thoái hóa này hay không?

Các tác giả tỏ ra thận trọng không muốn bước thêm bước nữa, đánh giá rằng trước khi có những khuyến nghị chính thức, thì bây giờ phải thực hiện, không phải là những điều tra quan sát như đã làm cho từ trước cho đến nay, mà phải thực hiện những thử nghiệm điều trị quy mô lớn. Các thử nghiệm này nhằm so sánh tiến triển của thị lực của những người dùng oméga-3 so với những người không dùng chất bổ sung này.

Bằng cách nào các oméga-3 làm giảm nguy cơ bị DMLA? Theo Elaine Chong, tác giả chính của công trình nghiên cứu, các acides béo này là một thành phần sinh tử của võng mạc và một sự thiếu hụt có thể sẽ đóng một vai trò trong việc gây ra bệnh này. Cũng phải biết rằng vào tháng 2 năm 2008, các thầy thuốc Úc Đại Lợi của đại học Sidney đã chứng tỏ rằng những người bị DMLA cũng có một nguy cơ tim mạch gia tăng. Điều này khiến các nhà nghiên cứu nghĩ rằng cùng những yếu tố ảnh hưởng lên tim (huyết áp cao, cholestérol máu cao, nghiện thuốc lá...) cũng gây thương tổn ở mắt và có liên hệ trong sự phát sinh bệnh DMLA. Như thế, tác dụng thuận lợi do oméga-3 lên tim cũng có thể được giải thích ở mắt.

Hiện nay, đó chỉ là một giả thuyết.Trong tất cả mọi trường hợp, không gì có thể ngăn cản chúng ta ăn cá hai lần mỗi tuần, hoặc nhiều hơn nếu trái tim của chúng ta muốn như vậy, ngoại trừ các phụ nữ có thai.
(LE FIGARO 11/6/2008)

Thời Sự Y Học Số 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 12/6/2009 )

10/ CÁ, HỒ ĐÀO VÀ OLIVE CHỐNG BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC (DMLA).

Việc gìn giữ một thị giác tốt cũng có thể phụ thuộc vào chế độ ăn uống. Trong les Archives d’Ophtalmologie, một tạp chí của Hoa Kỳ, được công bố hôm nay, các thầy thuốc người Úc của đại hoc Sidney cho thấy rằng một chế độ ăn uống giàu hồ đào (noix), cá hay dầu olive, làm giảm nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge). Hiện nay, ở Pháp, sự biến đổi thị giác trung tâm này cùa võng mạc tác động lên 500.000 người, ở những mức độ khác nhau. Ngược lại, những axít béo được gọi là trans (những chất béo thực vật được bảo hòa bởi một phương thức công nghiệp để cải thiện sự tiêu thụ chúng) có một tác dụng có hại lên thị giác. Hiện nay, ở Pháp cũng như trong những nước kỹ nghệ hóa khác, DMLA là nguyên nhân chính của thị lực kém (malvoyance) nơi những người trên 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ dĩ nhiên là tuổi tác, cũng như tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và hút thuốc lá.

Để đánh giá mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và DMLA, các nhà nghiên cứu người Úc đã quan tâm đến chế độ ăn uống, và đặc biệt là sự tiêu thụ mỡ, của 2454 người tuổi hơn 65, từ năm 1992 đến 1994 và đã chụp hình võng mạc. 10 năm sau, các kết quả cho thấy rằng những người ăn cá, ít nhất một lần mỗi tuần (nhưng cũng ăn hồ đào và dầu olive) có tỷ lệ bị DMLA 30% thấp hơn. Sự tiêu thụ càng quan trọng thì nguy cơ càng ít cao.

Một công trình nghiên cứu thứ hai, được công bố trong cùng tạp chí, đã kết luận rằng một sự tiêu thụ quá mức axít trans (hiện diện trong viennoiserie công nghiệp, biscuit và vài món ăn tiền chế khác) làm gia tăng nguy cơ bị DMLA.

Những công trình nghiên cứu này, nếu được xác nhận, chứng tỏ một cách rõ ràng một mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sự biến đổi võng mạc do bệnh DMLA.
(LE FIGARO 12/5/2009)

Thời Sự Y Học Số 166 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (22/3/2010)

8/ BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG : 3 GENES LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH.

Tiến bộ lớn và mới nhất trong bệnh thoái hóa điểm vàng liên quan với tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge) là khám phá 3 gène có liên quan trong sự xuất hiện của bệnh này. “ Bây giờ chúng ta biết được vai trò quan trọng của tố bẩm di truyền (prédisposition génétique), GS José-Alain Sahel đã xác nhận như vậy. Từ nay đến vài năm nữa, bằng một xét nghiệm máu ta sẽ có thể xác định một nguy cơ gia tăng, thiết đặt một sự theo dõi sớm và một biện pháp phòng ngừa bằng những quy tắc chế độ ăn uống. Nhất là, sự giáo dục bệnh nhân có nguy cơ sẽ tạo khả năng điều trị rất sớm ! ”. Bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA) khởi đầu bằng một sự tích tụ các mảnh và những tế bào chết trong các cơ quan nhận cảm ánh sáng (photorécepteurs) của võng mạc và các mô nâng đỡ. Vào một giai đoạn tiến triển, sự đổi mới của những cơ quan cảm thụ ánh sáng không còn thực hiện được nữa và bệnh nhân mất thị giác trung ương (vision centrale). Ở Pháp, đó là một vấn đề y tế công cộng thật sự : 1,5 triệu người bị bệnh này và hơn 200.000 người bị tật nguyền nặng. Điều đáng sợ nhất của các bệnh nhân là tình trạng phụ thuộc (dépendance), bởi vì DMLA có thể xảy ra cả hai bên mắt. “ Chúng tôi trấn an các bệnh nhân của chúng tôi bằng cách nói với họ rằng họ sẽ luôn luôn vẫn còn thị giác ngoại biên (vision périphérique), mặc dầu trung tâm của võng mạc bị thương tổn, và rằng họ sẽ phải học sử dụng thị giác ngoại biên này để bù trừ phần nào phế tật ”, GS José-Alain Sahel đã giải thích như thế. Có hai dạng tiến triển : dạng ướt (forme humide), có thể xảy ra rất đột ngột, được đặc trưng bởi sự tạo thành những mạch máu mới (néovaisseaux), và dạng khô (forme sèche), trong đó những cơ quan nhận cảm ánh sáng bị teo di và biến mất dần dần. “ Tần số mắc bệnh trung bình là 1% vào lúc 55 tuổi, 10% vào lúc 65 tuổi, 25% vào lúc 75 tuổi và 60% vào lúc 90 tuổi, GS José-Alain Sahel đã xác nhận như vậy. Với sự kéo dài tuổi thọ, người ta dự kiến tăng gấp đôi những con số này vào năm 2050. ” Những triệu chứng đầu tiên được biểu hiện bởi những vấn đề thích nghi đối với sự thay đổi ánh sáng. Hai dấu hiệu phải khiến đi thăm khám càng sớm càng tốt : một vết cố định (une tache fixe), ổn định trong thị trường, hay một sự biến dạng các hình ảnh.

MỘT THĂM KHÁM VÕNG MẠC, TỪNG TẾ BAO MỘT

Ở Quize-Vingts, nhóm của GS Sahel thuộc một trong những nhóm có hiệu năng nhất trong lãnh vực chẩn đoán DMLA : “ Từ tháng giêng năm 2009, chúng tôi sử dụng một kỹ thuật thiên văn (technique d’astronomie) cho phép nhìn thấy từng tế bào nhận cảm ánh sáng (cellule photoréceptrice) của võng mạc.Nhờ kỹ thuật này và nhờ những tiến bộ của các hệ thống như chụp lớp quang học (tomographie optique), các chuyên gia chẳng bao lâu nữa sẽ có thể quyết định điều trị theo các tiêu chuẩn khách quan và rất là chính xác. Những tiêu chuẩn này cũng sẽ cho phép họ đánh giá tính hiệu quả của điều trị với một chất lượng chưa từng có. Hãy tưởng tượng xem các thầy thuốc ngoại thần kinh sẽ hạnh phúc biết bao nếu họ có thể quan sát từng tế bào thần kinh một ! ”. Trước giai đoạn đặc biệt này, các kỹ thuật chẩn đoán đã hưởng rộng rãi các tiến bộ công nghệ học. Thí dụ từ 3 năm qua, các bệnh nhân có thể được phát hiện nhờ các hình chụp đơn giản của đáy mắt.

ĐIỀU TRỊ DẠNG ƯỚT (FORME HUMIDE) : MỘT SỰ CẢI THIỆN NGOẠN MỤC.

Một giai đoạn quan trọng đã được vượt qua trong những năm qua với sự xuất hiện của các anti-VEGF, các tác nhân chống sinh mạch (antiangiogénique), ngăn cản sự tạo thành các huyết quản mới trong võng mạc và giới hạn sự phù nề. Các loại thuốc này (mà đầu đàn là ranibizumab) là rất có hiệu quả khi chúng được tiêm sớm vào trong mắt mỗi tháng. “ Trong 90% các trường hợp, ta quan sát thấy một sự ổn định của căn bệnh, và trong hơn 10%, một sự cải thiện nhỏ, GS Sahel đã xác nhận như vậy. Kỹ thuật này đã là có tính cách mạng bởi vì, trước đây, với các kỹ thuật bằng laser và quang động (techniques au laser et photodynamiques), chỉ dưới 20% các bệnh nhân được ổn định mà thôi. Những bệnh nhân khác đánh mất thị giác trung ương. Không còn có thể đọc cũng như nhận diện các gương mặt nữa, bị cản trở không thể đi ra đường, họ chịu một phế tật khủng khiếp ! Sự thay đổi tiên lượng này tuyệt vời.” Những nghiên cứu đang được tiến hành để cải thiện thêm nữa chất lượng của các bệnh nhân : người ta đang nghiên cứu chế tạo các loại thuốc giọt có tác dụng kéo dài (được sử dụng mỗi 6 tháng).

NHỮNG THỬ NGHIỆM ĐÁNG PHẤN KHỞI ĐỐI VỚI DẠNG KHÔ.

“ Tiến bộ lớn, GS Sahel đã giải thích như vậy, có liên quan đến các giai đoạn sớm mà ta có thể làm chậm tiến triển của bệnh lại nhờ một cocktail các chất chống oxy hóa (oxydants), làm tăng cường sự hóa sắc tố của võng mạc. Nhưng các nghiên cứu đang tiến triển : các nhóm nghiên cứu, trong đó có nhóm của chúng tôi, đang trắc nghiệm hai loại thuốc mới. Một vài loại thuốc nhằm giới hạn sự tích tụ của các chất đọng (dépôts) trong võng mạc (kháng vitamine A), những chất khác phong bế phản ứng viêm (các chất điều biến của các complément). Những thử nghiệm này, ở giai đoạn 2, là đáng phấn khởi. Sẽ còn phải chờ đợi những kết quả của giai đoạn 3 rồi mới phát biểu được.”

Đối với những người mà bệnh ở một giai đoạn tiến triển và rất bị trở ngại do mất thị giác trung ương, chúng tôi phát triển société Essilor des lunettes mang các caméra nhỏ xíu cho phép lúc nhìn chiếu các hình ảnh được phóng đại trong những vùng ngoại biên mà bệnh nhân còn thấy được. Những prototype đầu tiên đã gần như sẵn sàng. Các trung tâm cải tạo đã được thành lập để dạy cho những bệnh nhân phế tật sử dụng tốt hơn đôi mắt của họ. Ở Viện thị giác, chúng tôi đang hiệu chính đủ loại công nghệ học nhằm cải thiện chất lượng sống, ví dụ một GPS sẽ chỉ rõ rất chính xác cho người sử dụng vị trí, môi trường của mình.
(PARIS MATCH 5/1-1/1/2009).

5/ NHỮNG TRẺ SINH THIẾU THÁNG GIỮA 27 VA 32 TUẦN BỊ NHỮNG NGUY CƠ NÀO ?

Professeur Bernard Salle
Néonatologiste
Membre de l’Académie nationale de médecine.


Mỗi năm ở Pháp 8000 trẻ em thiếu tháng nặng (grand prématuré), giữa tuần lễ thứ 27 và 32 của thai nghén, được sinh ra đời, điều này có nghĩa là khoảng 1% số các sinh đẻ. Trọng lượng lúc sinh của chúng biến thiên giữa 1000 và 1600 g. Nhờ những tiến bộ của sơ sinh học (néontologie), hơn 90% các em bé này sống sót và các biến chứng đã có thể giảm đi. Tuy nhiên, làm thu giảm số các trẻ sơ sinh thiếu tháng được sinh ra đời vẫn là một thách thức quan trọng đối với sản khoa.

Những biến chứng có thể xảy ra ngay tuần lễ đầu tiên sau khi sinh, chủ yếu là hô hấp và thần kinh, với một nguy cơ bị các di chứng lâu dài. Các biến chứng hô hấp là rất thường thấy. Chúng xảy ra là do tình trạng chưa thành thục của sự phát triển phổi hay của hệ thần kinh trung ương chỉ huy sự hô hấp. Sự suy hô hấp (détresse respiratoire) (hơn 60% các trường hợp) hiện nay có thể được ngăn ngừa bằng cách kê toa cortisone cho người mẹ và được điều trị lúc sinh ra bằng sự thông khí hỗ trợ (ventilation assistée) và cho surfactan vào trong khí quản, điều này cho phép duy trì các phế nang phổi hoạt động. Kế đến, trẻ sinh non có thể bị những đợt ngừng hô hấp (apnée de prématuré), mà ta chỉ cần điều trị với céféine bằng đường miệng.

Các biến chứng thần kinh là do tính chất dễ vỡ của các mạch máu não và do tính chất dễ bị thương tổn của chất trắng bao quanh các não thất. Những biến chứng này thường thấy hơn nơi các trẻ sinh non nhỏ tuổi nhất và chịu trách nhiệm những di chứng lâu dài. Các biến chứng thần kinh chủ yếu là các xuất huyết não (5 đến 10% các trường hợp) và một sự hoại tử chất trắng nơi 2 đến 3% các trẻ em. Nhưng ta có thể theo dõi sự xuất hiện và tiến triển của các biến chứng này bằng siêu âm não và điện não đồ.

Những biến chứng có thể được ngăn ngừa hay điều trị : hoàng đảng sơ sinh (jaunisse) được điều trị bằng quang liệu pháp (photothérapie) và hiện nay không gây nên một di chứng nào. Sự thiếu máu, đặc biệt thường xảy ra, có thể được ngăn ngừa bằng cách hạn chế tần số và thể tích lấy máu và được điều trị bằng cách cho érythropoiétine (EPO), một hormone có tác dụng kích thích sự sản xuất các tế bào hồng cầu. Sau cùng, trẻ sinh non có thể được nuôi ăn bằng ống thông dạ dày với những lượng sữa rất nhỏ, tốt nhất là sữa mẹ, với một sự dinh dưỡng bổ sung bằng đường tĩnh mạch trong vài ngày.

CÁC RỐI LOẠN HỌC TẬP.

Những di chứng, khi chúng xuất hiện, ảnh hưởng lên sự phát triển của phổi và não bộ. Suy hô hấp mãn tính được thấy nơi 3 đến 5% các trẻ sinh non đã được hưởng một thông khí hỗ trợ. Trong đại đa số các trường hợp, di chứng hô hấp này được cải thiện trong những năm đầu của đời sống. Những rối loạn của sự phát triển não bộ được thể hiện bởi một sự suy yếu vận động não (infirmité motricee cérébrale), được liên kết hay không với một sự chậm phát triển tâm thần (retard mental). Những rối loạn này ảnh hưởng lên 3 đến 5% các trẻ sinh non, nhất là các trẻ mà tuổi thai nghén thấp và những trẻ đã có một biến chứng thần kinh trong thời kỳ sơ sinh. Sự mù lòa do thương tổn của võng mạc không được thấy trong nhóm trẻ sinh non này ; cũng vậy chứng điếc là ngoại lệ.

Tuy nhiên, những trẻ sinh non này, khi lớn lên, thường là nạn nhân của những rối loạn học tập, của một sự tăng hoạt động (hyperactivité), của một sự thiếu chú ý, nhất là ở nhà trường và những rối loạn động tác (désordres gestuels) ; 1/3 những trẻ sinh non bị liên hệ, nhất là các cháu trai và những em bé phát xuất từ một môi trường xã hội không được ưu đãi. Chúng phải được chăm sóc rất sớm. Nhưng những con số làm an lòng : đại đa số những trẻ này sau đó phát triển hoàn toàn bình thường. Nhưng nguy cơ bị các biến chứng không thể không được biết đến.
(LE FIGARO 22/2/2010)

6/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG : QUÁ NHIỀU MUỐI.

Vào năm 2008, Pierre Meneton, nhà nhiên cứu của Inserm, đánh giá rằng sự tiêu thụ muối ở Pháp (đạt 10 đến 12 g mỗi người và mỗi ngày) là 3 hay 4 lần cao hơn nhu cầu, và chịu trách nhiệm mỗi năm ít nhất 75.000 tai biến tim mạch. Theo ông, sự thặng dư chủ yếu được liên kết với muối được chứa trong các sản phẩm chế biến kỹ nghệ. New England Journal of Medicine vừa công bố những công trình của các nhà dịch tễ học thuộc 3 đại học lớn của Hoa Kỳ (San Francisco, Stanford và Columbia), đưa đến cùng kết luận. Các nhà nghiên cứu đã lấy lại một mô hình các tính toán thống kê, cho phép những dự đoán đáng tin cậy trong lãnh vực tim mạch. Nơi các người Mỹ, tiêu thụ cùng lượng muối như các người Pháp, một sự giảm bớt 3 g mỗi ngày cho phép mỗi năm làm giảm số các trường hợp mới các bệnh động mạch vành 60.000, các tai biến mạch máu não 120.000, các nhồi máu cơ tim từ 99.000 đến 54.000. Với mỗi gam muối bớt đi mỗi ngày, lợi ích được chia ba.
(PARIS MATCH 1/4-7/4/2010)

7/ UNG THƯ PHỔI : MỘT GENE TỔ BẨM.

BS MARTINE PEREZ Nằm trên nhiễm sắc thể số 6, gène này làm gia tăng nguy cơ, ngay cả trong trường hợp nghiện thuốc lá ở mức độ vừa phải.

PNEUMOLOGIE. Những người hút thuốc không bình đẳng trước nguy cơ mắc phải ung thư phổi. Vài người có thể đốt hai bao thuốc mỗi ngày và không bị mắc phải bệnh này sau một cuộc sống kéo dài. Những người khác có thể chỉ hút rất ít hoặc không hút gì cả và ở tuổi 40 có một khối u phổi nghiêm trọng. Mặc dầu cứ 16 người hút thuốc thì một ngày nào đó sẽ có một người bị bệnh này, nhưng con số này thể hiện những thực tế rất thay đổi, được giải thích, ngoài những yếu tố khác ra, bởi những thay đổi về các tố bẩm di truyền (prédispositions génétiques). Những nhà dịch tễ học Hoa Kỳ của Centre Anderson chống bệnh ung thư (Texas), vừa công bố những kết quả của họ trong tạp chí Cancer Research, đã khám phá một yếu tố di truyền mẫn cảm (gène de susceptibilité), có khả năng làm dễ ung thư phổi, ngay cả trong trường hợp nghiện thuốc lá rất ít.

Trong những năm 1960, hai thầy thuốc Hoa Kỳ đã mang lại, một cách rõ ràng, những bằng cớ về các trường hợp ung thư phổi xảy ra trong gia đình nơi những người hút thuốc, gợi ý những tương tác giữa vài đặc tính di truyền với thuốc lá trong sự phát sinh của bệnh này. Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận khuynh hướng xảy ra trong gia đình này. Nguy cơ bị ung thư phổi được nhân lên gấp 3 lần khi ít nhất có 3 người trong cùng gia đình bị một khối u phổi và nhân lên gấp 4 khi ít nhất có 4 người bị bệnh, so với những người hút thuốc không có tiền sử gia đình.

Mới đây hơn, một vùng của nhiễm sắc thể số 6, được liên kết với một tố bẩm bị ung thư phế quản gia tăng nơi những người hút thuốc (và những người không hút thuốc), đã được nhận diện. Marshall Anderson và nhóm nghiên cứu của ông (Đại học Cincinnati) vừa đánh giá tác dụng của chứng nghiện thuốc lá lên nguy cơ bị ung thư phối tùy theo tính đặc hiệu di truyền này trên nhiễm sắc thể số 6. Trong các gia đình không có yếu tố nguy cơ di truyền này, nguy cơ phát triển một khối u phổi càng cao khi chứng nghiện thuốc lá càng quan trọng. Nhưng trong những gia đình, được truyền bởi gène tổ bẩm này, thì ngay cả một chứng nghiện thuốc lá thấp cũng gây nên một nguy cơ cao bị ung thư phổi. “ Khi anh có yếu tố di truyền nhạy cảm (gène de susceptibilité) và anh hút thuốc, thì không quan trọng là anh hút ít hay nhiều các điếu thuốc, anh vẫn có một nguy cơ phát triển ung thư phổi ”, Susan Pinney, một trong đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Marshall Anderson xác nhận rằng “ nếu anh có một bệnh sử gia đình ung thư phổi, có lẽ anh phải tránh ở trong một môi trường trong đó người ta hút thuốc ”.

Hiện nay, tố bẩm di truyền này làm gia tăng nguy cơ nơi những người không hút thuốc, và lại còn hơn trong trường hợp nghiện thuốc lá. Hiện nay, trên bình diện cá nhân, không có một xét nghiệm nào cho phép đánh giá tính nhạy cảm đối với ung thư phổi. Dầu sao, có hay không có tổ bẩm di truyền, thuốc lá vẫn tuyệt đối không thể được khuyến nghị vì lẽ một nguy cơ ung thư phổi rất cao hơn so với những người không hút thuốc, cũng như những loại ung thư khác, các bệnh tim, mạch máu và hô hấp.
(LE FIGARO 15/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 81 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 13/6/2008 )

10/ CHÚNG TA KHÔNG ĐƯỢC BÌNH ĐẲNG TRƯỚC UNG THƯ PHỔI

3 nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó : những biến dị di truyền trên nhiễm sắc thể 15 làm gia tăng đến 80% nguy cơ phát triển ung thư giết người này.

3 công trình nghiên cứu quốc tế độc lập vừa nhận diện trên nhiễm sắc thể 15 một chỉ dấu di truyền (marqueur génétique) liên kết với ung thư phổi, ung thư gây chết người nhất trên thế giới. Mỗi nhóm nghiên cứu đã sàng lọc toàn bộ bộ gène (génome) của những người lành mạnh hay bị một ung thư phổi. Kết quả : những người mang vài biến dị di truyền trên hai bản sao của nhiễm sắc thể 15, có một nguy cơ phát triển một ung thư phổi 80% cao hơn so với những người không có các biến dạng di truyền này. Những người chỉ mang biến dị di truyền trên một bản sao có nguy cơ phát triển ung thư phổi 30% cao hơn. “ Dĩ nhiên còn có nguy cơ do chứng nghiện thuốc lá nơi những người hút thuốc ”, Diana Zelenika, thuộc trung tâm génotypage quốc gia, đồng tác giả của một trong những công trình nghiên cứu đã phát biểu như vậy.Trong vùng bị biến dị của nhiễm sắc thể có nhiều gènes mã hóa các thụ thể đối với nicotine (récepteurs à la nicotine). Hai giả thuyết có thể giải thích sự liên hệ của chúng trong ung thư. “ Những thụ thể này có thể có một tác dụng gián tiếp bằng cách làm gia tăng sự phụ thuộc đối với nicotine, một cách trực tiếp, bằng cách gây nên sự ung thư hóa của biểu mô khí quản mang những tế bào này ” .
(SCIENCE ET AVENIR (6/2008))

8/ BALADEUR VÀ NHỮNG TIẾNG ỒN ĐÔ THỊ : NHỮNG HIỂM NGUY THẬT SỰ.

BS Gérald Fain, thầy thuốc chuyên khoa Tai Mũi Họng, giải thích những nguyên nhân của dịch bệnh các rối loạn thính giác, được phát hiện nhân Ngày thính giác toàn quốc.

Hỏi : Journée nationale de l’audition (Ngày toàn quốc của thính giác) vừa điểm tình hình về những hành vi có nguy cơ của các thiếu niên. Những kết luận được rút ra là gì ?
BS Gérald Fain : Người ta đã khám phá ra rằng các người trẻ tuổi, vẫn mắc vào máy baladeur trung bình một hay hai giờ mỗi ngày, thật là to lớn ! Phải biết rằng, trên ½ giờ tiếp xúc với những âm thanh có cường độ mạnh, tai cần một sự nghỉ ngơi âm thanh tối thiểu một giờ. Hành vi có hại này làm biến đổi sự vận hành chức năng của các tế bào thính giác. Thế mà thính giác là một trong những cơ quan quý báu nhất : 40% các thông tin từ môi trường của chúng ta đều đi qua tai ! Hiện nay các rối loạn của sự điếc tai tạo nên một phế tật xã hội hàng đầu : 7% dân chúng bị bệnh điếc.

Hỏi : Một tiếng ồn với cường độ quá mạnh có thể có hại đối với những tế bào nào của tai ?
BS Gérald Fain : Đối với 16.000 tế bào của tai trong (hay ốc tai : cochlée) ; 3.000 trong số những tế bào này cho phép nghe, còn những tế bào khác khuếch đại âm thanh và chọn lọc các tần số. Một sự vang âm (résonance) quá mạnh gây nên sự tăng tiết của glutamate, một chất, lúc thặng dư, trở nên độc hại bằng cách làm biến đổi sự sản xuất của dopamine (một chất dẫn truyền luồng thần kinh vào đến dây thần kinh thính giác). Các hậu quả : trước hết một sự mệt thính giác (fatigue auditive) với sự tăng nhạy cảm đối với tiếng ồn, một trạng thái bị kích thích (nervosité). Sau đó, điều trầm trọng hơn : một sự mất thính giác đối với những tần số cao (fréquence aigue).

Hỏi : Những nguy cơ này xuất hiện bắt đầu từ những mức độ tiếp xúc âm thanh quá mức nào ?
BS Gérald Fain : Người ta cho rằng tiếng ồn bắt đầu có hại khi nó đạt 70 đến 80 décibel (tiếng hú của xe cứu thương, của xe cứu hỏa, tiếng búa giã...). Trên mức 80 décibel (discothèque, tiếng máy hút, tiếng khoan răng của nha sĩ...), tiếng ồn lúc đó thật sự trở nên gây thương tổn và tấn công các tế bào, mà những tế bào yếu ớt nhất được dành cho những tần số cao. Thật vậy, có 3 loại nguy cơ : thời gian tiếp xúc với tiếng ồn (trên 30 décibel không được vượt quá 30 phút), cường độ và sự ở gần nó.

Hỏi : Đứng trước những yếu tố nguy hại này, có những người dễ bị thương tổn hơn không ?
BS Gérald Fain : Có, và nhìn toàn bộ có 4 lý do.
  • Một khuynh hướng tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) (các tế bào thính giác có thể ít hoặc nhiều đề kháng đối với tiếng ồn).
  • Sự hiện diện của những bệnh lý trước đây của tai, như các viêm tai.
  • Các thuốc độc hại cho thính giác, được dùng lâu dài (aspirine, quinine, vài thuốc kháng sinh…).
  • Tuổi tác : với tuổi càng cao, các tế bào chịu trách nhiệm các tần số cao bị thoái hóa, điều này làm gia tăng tính dễ bị thương tổn của chúng.

Hỏi : Trong cuộc sống hàng ngày, những lời khuyên của ông để bảo vệ là gì ?
BS Gérald Fain : Không nên do dự yêu cầu hạ cường độ của âm nhạc trong một cửa hàng ăn uống hay trong một discothèque, bịt tai lại nếu cần, với các bàn tay hay với các nút tai (bouchons d’oreille). Sau khi tiếp xúc với một chấn thương âm thanh, hãy nghỉ ngơi âm thanh một giờ. Những người lớn phải giải thích cho những người trẻ tuổi những mối hiểm nguy đang rình chờ họ, và khuyên họ hạ một nửa cường độ của baladeur. Trong những nghề nghiệp khác, như trong âm nhạc, ngày nay người ta ngăn ngừa những biến đổi thính giác nhờ những bộ phận lọc tần số (filtre fréquentiel). Những người đi săn và vài người lao động từ nay mang những mũ cát chống ồn (casque antibruit) vì ý thức được những nguy cơ.

Hỏi : Có phải theo dõi thính giác của mình như đối với thị giác hay không ?
BS Gérald Fain : Người ta chủ trương một sự kiểm tra các chức năng thính giác vào những thời điểm khác nhau của cuộc đời. Ví dụ, mọi trẻ sơ sinh đều phải được hưởng một thăm khám đầu tiên. Sau đó người ta khuyến nghị người mẹ cho các con mình được đánh giá về thính giác vào những lứa tuổi 3, 6 và 15. Bắt đầu từ 40 tuổi, đối với toàn dân, thính giác phải là một đối tượng của một thăm khám thường quy và nếu bình thường hãy dời lại lần thăm khám sắp đến vào 10 năm sau. Trong vài trường hợp, cần thăm khám cấp cứu : thí dụ trong trường hợp chấn thương âm thanh cấp tính, gây nên một sự điếc đột ngột, hay trong trường hợp sốc tình cảm (choc émotionnel), gây nên những rối loạn thính giác.
(PARIS MATCH 8/4-14/4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 167 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (29/3/2010)

6/ CÁC BALADEUR LÀ NHỮNG MỐI NGUY THẬT SỰ CỦA THÍNH GIÁC.

Hôm qua, Ngày của thính giác (Journée de l’audition) điểm tình hình về những hành vi có nguy cơ của các thanh thiếu niên. Hơn 40% những người trẻ tuổi này đã bị chứng ù tai (acouphène).

SURDITE. Trong khi việc thăm khám các thầy thuốc nhãn khoa thường là một bộ phận của những thăm khám thường niên không tránh được đối với một đại đa số người Pháp, thì không phải vậy đối với việc thăm khám các thầy thuốc Tai Mũi Họng. “ Nếu võng mạc có 120 triệu tế bào, thì tai trong (oreille interne) chỉ đếm được 16.000 tế bào (13.000 khuếch đại các âm thanh và 3000 cho phép nghe chúng) ”, BS Gérald Fain, chuyên gia Tai Mũi Họng ở Paris đã nêu lên như vậy. Thế mà, việc kiểm tra đều đặn thính giác của mình cho phép có những điểm quy chiếu (points de répère).

Hôm qua, nhân Ngày của Thính giác (Journée de l’audition), hiệp hội tổ chức sự tập hợp này đã công bỏ một cuộc điều tra về chủ đề. Các kết quả rất bổ ích. Sự vấn chẩn (interrogatoire) đã được thực hiện trên 1.001 những người trẻ từ 12 đến 25 tuổi. Kết quả là những thanh thiếu niên này sử dụng baladeur trung bình một giờ rưởi mỗi ngày với một thời gian nghe liên tục một giờ. Những người sử dụng nhiều nhất là các thiếu niên từ 15 đến 17 tuổi với thời gian nghe trung bình 2 giờ 5 phút. Mặt khác, 40% các thanh thiếu niên được hỏi tuyên bố đã cảm thấy các tiếng ù tai (acouphène) sau khi nghe baladeur và lúc ra khỏi discothèque.

Khi các thanh thiếu niên đi thăm khám, thường là quá muộn. Đó là trường hợp đối với chàng thanh niên 19 tuổi đã cảm thấy một tiếng rít trong tai sau một đêm dạ vũ ở discothèque. Anh ta chỉ đi khám một thầy thuốc 4 ngày sau và được chẩn đoán là bị chứng điếc vĩnh viễn (surdité définitive). Hiện nay, người thầy thuốc bất lực khi đứng trước sự phá hủy của những tế bào của tai trong này. Ngoài điều trị bằng corticoides thuốc uống dùng trong khoảng 8 ngày, các hướng điều trị là khả mong manh. Do đó cần phải tự bảo vệ. Một trong những giải pháp, dĩ nhiên, là mang các vật bảo vệ trong các lỗ tai của mình. “ Nghỉ ngơi âm thanh (repos sonore) cũng là một cách tự gìn giữ, GS Frachet, trưởng khoa Tai Mũi Họng thuộc bệnh viện Avicenne, Bobigny, đã phát biểu như vậy. Khi ta thỉnh thoảng đi ra ngoài lúc ở trong một hộp đêm, không sử dụng một baladeur một cách liên tục hay tránh xa các baffles lúc nghe hòa nhạc : xa 2 m ta chia nguy cơ cho 4.”

Trái với các định kiến, tất cả chúng ta không bình đẳng trước tiếng ồn.“ Nếu bạn ở trong một discothèque, và cường độ của tiếng nhạc quá mạnh, đừng an lòng khi người ở cạnh bạn nói với bạn rằng anh ta chịu được tốt cường độ đó, GS Bruno Frachet đã giải thích như vậy. Cũng vậy, vài người sẽ trở thành điếc ngay phát súng đầu tiên trong khi những kẻ khác lại sẽ chịu được nó rất tốt.”

Công trình nghiên cứu, được tiến hành nhân Ngày Thính Giác (Journée de l’audition) cũng nêu ra sự kiện là 75% trong số các thiếu niên 12-14 tuổi không biết decibels biểu hiện cái gì. Thế mà một iPod được mua ở Châu Âu được giới hạn ở mức 100dB, điều này tương đương với mức thính giác của một hộp đêm hay với một TGV phóng với vận tốc 300 km/ giờ ! Để so sánh, 75 dB tương ứng với một máy hút đang hoạt động và 15 dB tương ứng với một marteau-piqueur. “ Nghe baladeur với âm độ 100 dB, thật là quá lớn ! Pascal Petitpas, giám đốc của laboratoire d’essai của Fnac đã kêu lên như vậy, nguy cơ đối với tai đã được xác nhận ở âm lượng 80 dB. ” Một ý kiến được chia xẻ bởi BS Fain : “ Nghe iPod với âm lượng 100 dB, đó là tự tử vậy ! ”

Dẫu sao đi nữa, một vài người không thỏa mãn với âm lượng này, và tháo cương máy để gia tăng cường độ âm thanh. Đó là chưa kể ở Hoa Kỳ, những máy này được bán với một giới hạn 115 dB, hoặc một âm lượng cao hơn rõ rệt so với điều được thực hiện ở Châu Âu. Mặc cho “ trận dịch rối loạn đích giác ” (épidémie de troubles auditifs), theo lời diễn đạt của BS Fain, các thông điệp với mục đích phòng ngừa khó có thể đến với quần chúng, huống hồ là các thanh thiếu niên. “ Những lời khuyên thận trọng được đưa ra bởi những người đứng tuổi, lại không biết rằng âm nhạc phải được nghe với cường độ mạnh, GS Frachet đã phàn nàn như vậy. Thông điệp của họ được cảm nhận như là thiến hoạn (castrateur) trong khi giới trẻ không đánh giá tốt biên giới giữa lạc thú và sự nguy hiểm.” Cũng như đối với các bao thuốc lá, tại sao không viết trên các baladeur, “ tiếng ồn làm điếc tai ”, BS Fain đã yêu cầu như vậy ?
(LE FIGARO 12/3/2010)

Thời Sự Y Học Số 157 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 18/1/2010 )

3/ CỨ MƯỜI THIẾU NIÊN THÌ CÓ MỘT BẮT ĐẦU BỊ CHỨNG ĐIẾC.

Đó là một cấp cứu nội khoa rất thường không được hay biết. Sau khi xem xong một buổi hòa nhạc hay đi ra từ một hộp đêm, cảm giác như một lỗ tai “ bị bít lại ”, ù tai hay chóng mặt có thể là những biểu hiện cùa một chấn thương âm thanh cấp tính (TSA : traumatisme sonore aigu), đe dọa chức năng thính giác. “ Nhiều trong số những bệnh nhân này, nói chung là trẻ tuổi, không thăm khám hay thăm khám muộn khi những thương tổn đã trở thành vĩnh viễn, BS Jean-Michel Klein, tổng thư ký của Công đoàn quốc gia của các thầy thuốc chuyên khoa Tai Mũi họng, đã lấy làm tiếc như vậy. Tuy nhiên, theo ông một điều trị rất sớm bằng corticoides, sau một bilan với thính lực đồ (audiogramme), có thể giới hạn sự mất thính giác.

Trên bình diện cơ thể học, sự mất thích giác này được thể hiện bởi một sự biến đổi của những tế bào tiêm mao (cellules ciliées) của tai trong (oreille interne). 15.000 tế bào này, rất quan trong đối với chức năng thính giác nhưng lại mỏng manh, có thể bị “ nổ tung ” dưới tác dụng của áp suất gây nên trong ốc tai (cochlée) do một sự tiếp xúc âm thanh ở những mức độ rất cao. Ngưỡng đau đớn (seuil douloureux) nằm ở 120 décibel, nhưng những chấn thương âm thanh (traumatisme sonore) cấp tính xuất hiện ở mức cao hơn nhiều so với ngưỡng này.

CÁC BALADEURS MP3 ĐƯỢC CHO LÀ THỦ PHẠM.

( Chú thích : Baladeur là máy điện tử nhỏ xíu tái tạo âm thanh và hình ảnh, được trang bị bởi các tai nghe (écouteurs), nhằm sử dụng cá nhân và thường người sử dụng di động. Các baladeur này rất được ưa thích bởi các thiếu niên ).

Trong thực tiễn, các triệu chứng có thể hồi phục được trong vài giờ, nhưng những bệnh cảnh “ mệt thính giác ” (fatigue auditive) này hẳn phải được xem như là một báo động, Jean-Michel Klein đã nhấn mạnh như thế. Trong vài trường hợp, các tế bào tiêm mao (cellules ciliées) bị phá hủy một cách không vãn hồi được, gây nên những rối loạn thường trực của thính giác, kèm theo tiếng ù tai hay không. Theo một điều tra cách nay vài năm, những chấn thương âm thanh cấp tính này không phải là ngoại lệ : chúng ảnh hưởng lên 1400 người mỗi năm ở Pháp. Các âm nhạc khuếch đại (hòa nhạc, discothèque..) là nguyên nhân đầu tiên, đứng trước tiếng súng bắn, tiếng nổ, pháo, còi báo động và ngay cả điện thoại cầm tay. Mặt khác, những tiếng động quá mạnh có thể gây nên thủng màng nhĩ hay sai khớp chuỗi các xương nhỏ do một hiện tượng sóng va chạm (onde de choc). Những thương tổn này của tai giữa (oreille moyenne), cổ điển trong những vụ nổ do khủng bố, có thể xảy ra, nhưng hiếm, trong các buổi hòa nhạc.

Nhưng ngoài những tai nạn cấp tính này, các thầy thuốc và giới hữu trách đặc biệt quan tâm đến các baladeur MP3, làm gia tốc quá trình lão hóa của tai trong. Theo một báo cáo châu Âu, 50 đến 100 triệu công dân của Liên Hiệp Châu Âu sử dụng hàng ngày những chiếc máy số (appareils numériques) này, và 10 triệu có nguy cơ trở nên điếc vì nghe chúng quá mạnh và quá thường xuyên. Mức âm thanh của các baladeur chẳng bao lâu sẽ được giới hạn bởi Uỷ Ban châu Âu.

MỘT PHẾ TẬT NẶNG.

Patrick Arthaud, chủ tịch công đoàn của các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (audioprothésiste) Pháp cũng ghi nhận rằng các môn đồ của MP3 đã trở thành quen (accoutoumance) với những cường độ âm thanh mạnh (qua trung gian của các chất dẫn truyền thần kinh), tạo nên một dạng phụ thuộc (dépendance). “ Thật là lệch lạc, ta đã thành công làm giảm các chứng điếc do nghề nghiệp bằng cách cải thiện biện pháp phòng ngừa, và rồi ta lại sẽ quan sát thấy một sự gia tăng của các chứng điếc, hậu quả của việc nghe nhạc giải trí ”, Patrick Arthaud nói tiếp như vậy, đồng thời nhấn mạnh đến sự phế tật nặng gây nên bởi chứng điếc trong cuộc sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp.

Những môn đồ đầu tiên của các baladeurs (các walkmans của những năm 1980) phải chăng đã trở thành điếc ? Khó mà biết được nếu không có gần như hoàn toàn những nghiên cứu dịch tễ học về vấn đề này. Các kỹ thuật viên làm những bộ phận thính giác giả (prothèse auditive) (audioprothésiste) có cảm giác đang đặt máy (appareiller) cho những người trẻ tuổi hơn, nhưng tiến triển này có thể do chiến dịch thông tin tốt hơn. Tuy nhiên, một điều tra trong giới học đường đã cho thấy rằng trước 17 tuổi, cứ 10 thiếu niên thì có 1 bị khởi đầu của chứng điếc với một sự mất thính lực hơn 20 dB. Trong những năm qua nhiều chiến dịch phòng ngừa đã được thực hiện nơi giới trẻ.
(LE FIGARO 11/1/2010)

9/ MỘT KEM CHỐNG NHĂN CÓ HOẠT CHẤT PHÁT XUẤT TỪ THAI NHI ĐƯỢC BÁN Ở HOA KỲ.

Một mỹ phẩm, chứa những protéine trích từ canh cấy các tế bào da phát xuất từ một thai nhi người, được thương mãi hóa cách nay vài tháng ở Hoa Kỳ. Chất kem chống già (crème anti-âge) này, trên nguyên tắc phải có toa thầy thuốc mới mua được, nhưng cũng có thể tìm trên internet, đang là tâm điểm của một cuộc luận chiến gay gắt. Kem chống nhăn da (crème anti-ride) này được sản xuất bởi một start-up, Neocutis, được thành lập vào năm 2003 ở Thụy Sĩ nhằm làm sinh lợi các văn bằng của phòng thí nghiệm y khoa thai nhi (médecine foetale) của CHU vaudois, Lausane.

Cha đẻ của dự án, Patrick Hohlfeld, trưởng khoa Phụ Khoa của CHU vaudois, trong những năm 1990, đã chứng thực rằng những can thiệp ngoại khoa trong tử cung đã không để lại một vết sẹo nào trên các trẻ sơ sinh. Do đó nhóm nghiên cứu của ông đã quan tâm đến các khả năng tái sinh của các tế bào da của thai nhi. Nhóm nghiên cứu đã được biếu 4cm2 da của một thai nhi sau một can thiệp làm gián đoạn thai nghén (interruption médicale de grossesse), với sự thỏa thuận của người mẹ, Neocutis đã giải thích như vậy. Các protéine được sử dụng trong kem của nhóm nghiên cứu phát xuất từ những tế bào được cấy trong một ngân hàng mô (banque de tissus).

Bị chỉ trích là đã sử dụng với mục đích thương mãi các tế bào người, Patrick Hohlfeld minh định rằng sản phẩm bán nhằm tài trợ cho sự hiệu chính các bông băng dùng cho những người bị bỏng nặng. Vào năm 2005, nhóm nghiên cứu của ông đã công bố trong tạp chí The Lancet những kết quả chữa lành ngoạn mục được quan sát thấy trên những trẻ em bị bỏng độ hai và ba. Sau khi đã nhờ đến một khuôn collagène có nguồn gốc ngựa, các nhà nghiên cứu đã hiệu chính một phương thức cấy cho phép họ có sử dụng nhiều triệu “ mảnh da ” (lambeau cutané), mỗi mảnh có bề rộng 100 cm. Các mảnh da này, được đổi mới mỗi 3 hay 4 ngày, đã kích thích sự tái tục của sự tăng sinh tự nhiên của các tế bào da.

Trong Le Parisien số ngày 16 tháng 4, nhà di truyền học Axel Kahl nhắc lại rằng, trước những năm 1990, công nghiệm mỹ phẩm sử dụng nhau người “ được xem như là một đồ phế thải phòng mổ ” (déchet opératoire). Sự lo ngại các lan truyền virus đã chấm dứt phương thức này. Ngoài ra, Axel Kakn phân biệt những tế bào thai nhi (cellules du fœtus) với những tế bào phôi thai (cellules embryonnaires) “ phát xuất từ một con người đang lớn mạnh, nằm trong tâm điểm của một vấn đề đạo lý, trái với những tế bào khác ”.
(LE MONDE 17/4/2010)

10/ MỘT DẠNG MAGNESIUM MỚI DÙNG CHO TRÍ NHỚ ?

Magnésium là một oligoélément thiết yếu cho sự vận hành chức năng của các tế bào thần kinh và của các dây thần kinh.

Cách nay vài năm, hai nhà nghiên cứu Gusong Liu và Inna Slutski, đã cho thấy, trên các canh cấy tế bào và in vivo nơi động vật, rằng magnésium kích thích sự tạo thành của các nối kết (các khớp thần kinh : synapses) giữa các neurone, nghĩa là tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale), nhất là trong thùy hải mã (hippocampe), là nơi tọa vị các vùng của trí nhớ. Nhưng sự đi qua trong não của magnésium, nguồn gốc thức ăn, hay được cung cấp bởi các chất bổ sung (compléments), là rất thấp, thậm chí là số không. Mới đây ở đại học Tsinghua (Bắc Kính), Gusong Liu đã hiệu chính một dạng magnésium, thréonate (MgT), được não bộ bắt giữ và có thể làm gia tăng 10% nồng độ của nó. Một công trình nghiên cứu đã được tiến hành trên chuột, trong đó một nhóm đã nhận MgT và một nhóm khác nhận magnésium bình thường. Những kết quả với MgT đã rất là ngoạn mục, với sự cải thiện trí nhớ trước mắt và lâu dài, ở nơi các con chuột già cũng như nơi những con chuột nhỏ nhất. Lúc giải phẫu tử thi, các con chuột được cho MgT có nhiều nối kết thần kinh hơn. Các thử nghiệm đang được dự kiến trên người.
(PARIS MATCH 8/4-14/4/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 165 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH (15/3/2010)

3/ MAGNESIUM ĐỂ “KÍCH THÍCH ” CÁC TẾ BÀO THẦN KINH.

Chính một chất kích thích trí nhớ, ly kỳ, mà các nhà nghiên cứu của đại học Tsinghua ở Bắc Kinh (Trung Hoa) và của Massachusetts Institute of Technology ở Boston (Hoa Kỳ), loan báo đã khám khá trong tạp chí Neuron. Một loại thuốc hoàn toàn mới ? Không, đó là magnésium, nhưng dưới dạng hợp chất cho phép nó đi vào trong não bộ một cách dễ dàng hơn. Magnésium cần thiết cho sự chuyển hóa của các tế bào và đặc biệt là cho sự vận hành chức năng của các tế bào thần kinh. Mặc dầu rất hiện diện, thí dụ trong chocolat, chuối hay vài loại nước uống, nhưng đôi khi magnésium bị thiếu hụt trong chế độ ăn uống hiện đại. Bù lại, sự thặng dư của magnésium trong máu được loại bỏ rất nhanh, điều này khiến nồng độ của nó trong máu ít có khả năng tăng cao trong não bộ, mặc dầu có lợi. Nhóm nghiên cứu Trung quốc-Hoa Kỳ đã khám phá ra rằng sự kết hợp của magnésium với một phân tử nhỏ, acide L-thréonique, làm dễ sự hấp thụ của nó bởi não bộ. Một tháng sử dụng thréonate de magnésium (MgT) cải thiện trí nhớ nơi chuột và dập tắc sự suy đồi của trí nhớ không gian (mémoire spatiale) nơi các động vật gậm nhấm lớn tuổi. Những hiệu năng tốt hơn này vẫn được duy trì chừng nào MgT được thêm vào nước uống của chúng. Những hiệu năng này cũng được thể hiện nơi chuột bởi một sự gia tăng số các nối kết thần kinh (connexions nerveuses) và sự ổn định của chúng trong một vùng não bộ quan trọng đối với trí nhớ và học tập, thùy hải mã (hippocampe). Được hấp thụ dễ dàng bởi cơ thể, vô hại, MgT có thể nhanh chóng thay thế các công thức pha chế Mg đang hiện diện trên thị trường.
(SCIENCE ET AVENIR 3/2010)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH (19/4/2010)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san kho

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969