Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 41
Lượt truy cập: 1009020
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ TỶ LỆ SINH TỒN SAU UNG THƯ ĐƯỢC CẢI THIỆN Ở PHÁP.

Hơn 50% các bệnh nhân bị một ung thư vẫn còn sống 5 năm sau. Một số quan trọng các bệnh nhân được xem là được chữa lành bệnh.

EPIDEMIOLOGIE. Cuộc đấu tranh chống lại ung thư đang tiến triển. Tuy không phải là cách mạng, nhưng những tiến bộ từng bước nhỏ về sự phát hiện, chẩn đoán sớm và các điều trị, sau cùng mang lại một sự cải thiện đáng kể của tỷ lệ sinh tồn sau ung thư, và ngay cả tỷ lệ chữa lành, một từ cho đến nay vẫn còn cấm kỵ đối với các thầy thuốc chuyên khoa ung thư, vốn từ chối tạo cho bệnh nhân những niềm hy vọng hão. Những bước tiến này có thể được đo bằng những dữ kiện thống kê, tính toán, với 10 năm nhìn lại, tỷ lệ sống sót sau một ung thư. Hôm nay, việc công bố của một báo cáo của Viện ung thư quốc gia (Inca : institut national du cancer) với nhan đề : “ Tỷ lệ sống sót được dự kiến nơi những bệnh nhân bị ung thư ở Pháp. Báo cáo tình hình ”, cho phép khám phá ra rằng, đối với hơn 40% các trường hợp ung thư xảy ra suốt trong thập nhiên qua, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là trên 80%. Với một tỷ lệ còn sống sau 10 năm cũng không kém phần quan trọng.

Những con số này được căn cứ trên những trường hợp ung thư đã cũ, vì lẽ phải có một thời gian nhìn lại quan trọng để phân tích tỷ lệ sống còn. Có thể là những kết quả này sẽ còn tốt hơn đối với những ung thư đang được điều trị. Việc loan báo của một ung thư trong một cuộc đời có tác dụng như sự nổ của một quả bom. Tuy vậy, ngày này ta có thể vẫn còn sống, sống và lành bệnh trong một số các trường hợp không phải nhỏ, sau khi mắc phải một ung thư.

Theo báo cáo của Inca, “ tất cả các dữ kiện đưa đến một sự nhất trí về tỷ lệ còn sống vào lúc 5 năm là trên 50% ”. Với những biến thiên tùy theo nguồn gốc của các con số, vì lẽ tỷ lệ còn sống vào lúc 5 năm là 53% đối với các dữ kiện của Pháp đối với những bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư giữa năm 1987 và 1997. Tỷ lệ này là 51,9% nếu ta tham chiếu những dữ kiện châu Âu và 66,1% theo những thống kê Hoa Kỳ được thực hiện trên những trường hợp ung thư được khám phá mới đây hơn giữa năm 1999 và 2005.

GIAI ĐOẠN VÀO LÚC CHẨN ĐOÁN.

Tỷ lệ còn sống (taux de survie) dĩ nhiên được liên kết với sự định vị của ung thư và giai đoạn vào lúc chẩn đoán của nó. Như thế, vài loại ung thư có thể được sắp xếp như là có tiên lượng tốt, như các ung thư của tuyến tiền liệt, của vú, của tuyến giáp, u hắc tố ác tính (mélanome), bệnh bạch cầu lympho mãn tính (leucémie lymphoide chronique), của tinh hoàn, bệnh Hodgkin, vì lẽ tỷ lệ còn sống của các bệnh nhân vào lúc 5 năm là trên 80%. Thế mà các ung thư này chiếm 42% các trường hợp được chẩn đoán mỗi năm. Mặt khác, trong loại trung gian (catégorie intermédiaire), thì ra rằng đối với hơn một nửa của những ung thư đại tràng, của miệng và của hầu, của bàng quang, của thận, của dạ dày,của tử cung, của thanh quản, của buồng trứng... tỷ lệ sống sót sau 5 năm hiện nay vượt quá 80%. Còn lại 17% các ung thư có tiên lượng tồi.

Nhưng sau đó điều gì xảy ra, giữa 5 và 10 năm sau khi chẩn đoán ung thư. “ Sự phân tích của tỷ lệ tử vong đối với những bệnh nhân bị ung thư thể hiện một sự sụt giảm nguy cơ sau 5 năm đối với đại đa số các ung thư, bảng báo cáo đã nói như vậy. Theo những dữ kiện của Hoa Kỳ, đối với những bệnh nhân được điều trị giữa năm 1988 và 2001, phần lớn các ung thư, có một tỷ lệ còn sống 80% vào lúc 5 năm, cũng đã có một tỷ lệ còn sống khoảng 80% vào lúc 10 năm hay hơn thế. ”

” NHỮNG DỮ KIỆN VỮNG CHẮC ”

Theo các tác giả của báo cáo, ở Pháp mỗi năm, trên 319.000 những bệnh nhân mới của ung thư, có ít nhất 123.000 trường hợp phải có thể được xem như là chữa lành vĩnh viễn. “ Những dữ kiện của Pháp được sử dụng dựa trên những nhóm bệnh nhân được điều trị trước năm 2000. Vậy đó là những dữ kiện vững vàng xác lập những tỷ lệ sống sót tối thiểu được dự kiến. Không phải là phi lý khi nghĩ rằng tỷ lệ sống sót vào lúc 5 năm của các bệnh nhân được chẩn đoán vào năm 2005, thậm chí vào năm 2010, là hoặc sẽ là tốt hơn, các tác giả của bảng báo cáo đã tin chắc như vậy.

Công trình gom góp các dữ kiện này cho thấy một cách chắc chắn sự cải thiện của các tỷ lệ còn sống sau khi bị ung thư. “ Chúng ta chứng kiến một quá trình cải thiện của tỷ lệ sống sót sau ung thư khoảng 10% mỗi thập niên, nếu ta tham chiếu các công trình điều tra trước đây ”, GS Dominique Maraninchi, tổng giám đốc của Viện ung thư quốc gia đã xác nhận như thế.
(LE FIGARO 23/4/2010)

2/ CHỐNG UNG THU TIỀN LIỆT TUYỂN, MỘT VIRUS HIỀN TÍNH VÀ RẤT PHỔ BIẾN, TỎ RA CÓ HIỆU QUẢ.

Sử dụng một virus nhắm đích một cách đặc hiệu các tế bào ung thư của tuyến tiền liệt trước khi tiêu diệt chúng, đó là ý tưởng của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Calgary, ở Canada. Các réovirus (Respiratory Enteric Orphan Virus) là những tác nhân nhiễm trùng rất phổ biến, làm nhiễm trùng

không nghiêm trọng các hệ hô hấp và tiêu hóa, gây nên vài triệu chứng hiền tính trong trường hợp tệ hại nhất. Thí nghiệm nhằm tiêm một réovirus vào trong những tế bào ung thư in vitro, và cũng vào nơi 6 bệnh nhân bị một ung thư của tuyến tiền liệt, trước khi rút chúng ra khỏi tuyến này. Các kết quả là đáng phấn khởi : in vitro, virus đã gây nên sự chết của hầu như toàn bộ các tế bào ung thư ; in vivo, virus tiêu hủy các tế bào ung thư rồi đã ngừng tăng sinh, như thế tha miễn các tế bào lành mạnh. Tác dụng vô cùng đặc hiệu và vô hại này làm quan tâm nhiều các nhà khoa học, đã dự kiến mở rộng các dữ kiện lâm sàng nhằm trắc nghiện tính hiệu quả của điều trị này, phối hợp với những liệu pháp khác.
(SCIENCE ET VIE 5/2010)

3/ SỰ MÙ LÒA : HƯỚNG VỀ NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI CHỐNG SỰ THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG.

Các loại thuốc dễ sử dụng hơn được dự kiến từ nay đến dưới 5 năm.

OPHTALMOLOGIE. Là nguyên nhân dẫn đầu của kém thị lực (malvoyance) của các lão niên, bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégérérescence maculaire liée à l’âge) gây bệnh cho hơn 1 triệu người Pháp. Và con số này sẽ tăng gấp đôi từ nay đến 2030. Trong căn bệnh này, vùng trung tâm của võng mạc (macula : hoàng điểm) là nơi của một quá trình viêm, với những phản ứng nối tiếp nhau (réaction en cascade). Có bao nhiêu phân tử khác nhau liên hệ vào trong căn bệnh này, thì có bấy nhiêu mục tiêu tiềm tàng cho những điều trị của ngày mai.

Có thể có hai loại tiến triển. Loại tiến triển đầu tiên dẫn đến một sự phá hủy rất chậm của những tế bào võng mạc (thể khô của bệnh, thường gặp nhất). Và loại tiến triển thứ hai, dẫn đến sự tăng sinh hỗn loạn của các mạch máu mới (néovaisseaux) (thể ướt), do sự sản xuất của các yếu tố tăng trưởng (VEGF). Khi những tân huyết quản này phát triển ngay trước hoàng điểm, sự đánh mất thị lực trung tâm (vision centrale) có thể xảy ra nhanh chóng. Vậy đó là một cấp cứu nhãn khoa. Vấn đề : DMLA vẫn không có triệu chứng trong một thời gian lâu và khi những triệu chứng điển hình của bệnh xuất hiện (các đường thẳng dường như lượn sóng) thì các tân huyết quản đã thắng thế.

“ Chính vì thế mà người ta khuyên thăm khám thầy thuốc nhãn khoa ngay ở tuổi 50 để thực hiện một thăm khám đáy mắt phát hiện bệnh (un fond’oeil de dépistage), GS Eric Souied (trưởng khoa mắt, CHI Créteil) và BS Laurent Benzacken (trưởng khoa mắt, CHU Aulnay-sous-Bois) đã nhấn mạnh như vậy. Trong trường hợp có những dấu hiệu thương tổn ở hoàng điểm, khám đáy mắt được bổ sung bởi chụp mạch (angiographie) để xem các tân mạch máu có thể xảy ra và nhất là bởi một tomographie par cohérence optique (OCT). Thăm khám này, vì cho phép thấy tất cả các lớp của võng mạc, nên có thể phát hiện những thương tổn sớm. Như thế có thể hành động trước khi thị giác bị ảnh hưởng.”

Những điều trị hiện nay (anti-VEGF) ức chế sự tiết của các yếu tố tăng trưởng (VEGF) và do đó ức chế sự tăng sinh của các tân mạch máu không được mong muốn. Các thuốc này rất có hiệu quả với điều kiện can thiệp trước khi các tế bào võng mạc bị chết. Dầu chúng có tính chất cách mạng như thế nào đi nữa, tuy nhiên các anti-VEGF đặt ra hai vấn đề. Một mặt, chúng phải được tiêm vào bên trong nhãn cầu, với một nguy cơ nhiễm trùng nặng nhưng hiếm xảy ra. Và, mặt khác, chúng rất đắc (1290 Euro đối với mũi tiêm Lucentis, thuốc điều trị chuẩn). Thế mà, cần phải tiêm nhiều lần mỗi năm.

Để làm giảm phí tổn mà không đánh mất tính hiệu quả, khuynh hướng hiện nay là gia tăng các kiểm tra (một lần mỗi tháng) nhằm chỉ tiêm thuốc khi điều đó tỏ ra cần thiết. Phương thức này đã cho phép làm giảm số các mũi tiêm toàn bộ được thực hiện đồng thời giữ một tính hiệu quả rất tốt của điều trị. Mặt khác, theo yêu cầu của Bộ y tế và Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits de santé), nhóm nghiên cứu của GS Souied tham gia vào một công trình nghiên cứu so sánh tính hiệu quả của Avastin với tính hiệu quả của Lucentis. Bình thường, Avastin là một thuốc để điều trị ung thư đại tràng, nhưng người ta nhận thấy rằng nó cũng cho những kết quả tốt trong DMLA : vả lại, chinh trong lúc điều trị các bệnh nhân bị đồng thời hai bệnh lý này mà các thầy thuốc đã nhận thấy như vậy. Thế mà phí tổn của Avastin chỉ khoảng 30 Euro một mũi tiêm. Tuy nhiên hiện nay Aventis không có được giấy phép bán ra thị trường đối với chỉ định này, vì vậy công trình nghiên cứu đang được thực hiện mà những kết quả sẽ được biết trong 3 năm nữa.

Tất cả đầu tư hiện nay là tìm thêm những loại thuốc khác có khả năng tác dụng ở những mức khác và dễ cho thuốc hơn. Khoảng gần một chục loại thuốc hiện được đưa vào trong các công trình nghiên cứu. Vậy từ nay đến năm 2015, sẽ xuất hiện nhiều loại thuốc, trước hết dưới dạng tiêm, rồi có lẽ dưới dạng thuốc nhỏ mắt hay implant nhãn cầu, có khả năng cấp chừng ít một liều lượng của hoạt chất. Những thuốc này có thể được liên kết với các anti-VRGF đã hiện hữu và như thế tăng gấp mười tính hiệu quả của chúng. “ Chúng ta cũng đã tìm thấy những chất chỉ dấu di truyền (marqueurs génétiques) tiên đoán mức độ nghiêm trọng của bệnh. Vậy, trước mắt, chúng ta sẽ có khả năng nói trước bệnh nhân nào sẽ là những người đáp ứng tốt hay xấu đối với các điều trị và do đó thích ứng thái độ điều trị của chúng ta ”, BS Souied đã xác nhận như vậy.

Còn lại dạng khô (forme sèche) của bệnh này, mãi đến nay là người bà con nghèo của DMLA vì lẽ vào lúc này không có một điều trị nào để ngăn chặn nó. Lại nữa, các loại thuốc còn đang được đánh giá. Nhằm mục đích ngăn cản sự chết sớm của các tế bào võng mạc, các thuốc loại này là một đường hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn, với những thuốc đầu tiên sẽ xuất hiện trong khoảng một chục năm nữa.
(LE FIGARO 8/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 15 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 27/02/2007 )

1/ CUỘC CHIẾN GIỮA CÁC DƯỢC PHẨM CHỐNG MÙ LÒA

2 dược phẩm tương tự nhau có tác dụng cải thiện thị lực trong bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA=dégénérescence maculaire liée à l’age). AVASTIN giá 30 euros mỗi liều. LUCENTIS (thuốc duy nhất được cho phép sử dụng) giá 1200 Euro mỗi liều.

Các nhà nhãn khoa trên toàn thế giới đang đương đầu với một nghịch lý khó tin,đặt ra những vấn để về đạo đức,kinh tế,khoa học trong điều trị bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác này.

Hãng bào chế Novartis đã sáng chế một dược phẩm, LUCENTIS,được phép lưu hành ở Pháp từ tháng giêng vừa qua.Thuốc này có khả năng cải thiện thị lực nơi những người bi bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác dạng « ướt »(forme « humide »).Thuốc giá 1200 Euros mỗi liều, cứ mỗi 6 tuần tiêm thuốc vào trong nhãn cầu một lần.AVASTIN ,một dược phẩm của hãng bào chế Roche,lúc đầu được sử dụng cho ung thư đại tràng và được các y sĩ Hoa Kỳ thử nghiệm trong bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác và thuốc được nhận thấy có cùng hiệu quả trong điều trị DMLA lúc được tiêm vào trong nhãn cầu.Từ vài tháng nay Avastin đã được sử dụng rất rộng rãi bởi các nhà nhãn khoa trên toàn thế giới để điều trị bệnh thoái hoá điểm vàng,với giá 30 Euros mỗi liều mặc dầu thuốc không được giấy phép lưu hành để điều trị bệnh này và có thể sẽ không bao giờ được phép cả.

Phải chăng là đạo đức khi phải kê toa một thuốc rất tốn kém trong khi đã có sẵn một thuốc khác 40 lần giá rẽ hơn nhưng lại không được cho phép lưu hành? Phải chăng là đúng luật khi phải cấp một thuốc giá rẻ nhưng không được phép lưu hành trong khi thuốc kia lại được phép bán ra thị trường nhưng giá lại rất mắc ? Ở Pháp, Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế vừa nhóm họp một nhóm công tác về chủ đề này, được chủ trì bởi giáo sư Bahram Bodaghi (Pitié-Salpetrière, Paris). Ở Hoa Kỳ, Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm cũng đã phát động một công trinh nghiên cứu để so sanh 2 dược phẩm này.

Ở Pháp,bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác gây bệnh cho một triệu người với những mức độ nặng nhẹ khác nhau.Người ta phân biệt hai dạng : dạng teo (forme atrophique) không điều trị được và dạng ướt (forme humide) với đặc điểm tăng sinh các tân huyết quản sau võng mạc,là nguyên nhân của xuất huyết và mù loà.Dạng này gây bệnh cho 30.000 đến 50.000 người.

Để chống lại sự tăng sinh các tấn huyết quản,cách nay vài năm,hai phương pháp điều trị đã được sử dụng để điều trị bệnh DMLA, đặc biệt là bởi nhóm của G.S Gabriel Coscas (Centre Hospitalier intercommunal de Créteil) : photocoagulation các huyết quản bởi laserrồi photothérapie dynamique với Visudyne, cho phép ổn định thị giác hơn .

CẤU TRÚC TƯƠNG TỰ :

Trong những năm 1990,một nhà nghiên cứu Hoa kỳ Judah Folkman đã đưa ra ý tưởng rằng bằng cách tấn công vào các VEGF( các yếu tố tăng trưởng kích thích các huyết quản),có thể phá hủy sự phân bố mạch (vascularisation) của một khối u và do đó phá hủy ngay chính khối u đó. Khi đó Hãng Bào Chế Genetech hiệu chính các kháng thể chống VEGF và bán 2 bằng sáng chế.Một cho Hãng Roche sản xuất Avastin, một phân tử chống sinh mạch máu (molécule antiangiogénique) chống ung thư ruột già,còn bằng kia thì bán cho Hãng Novartis thương mãi hoá cho châu Âu dược phẩm Lucentis, một phân tử chống sinh mạch máu chống DMLA. Cả hai thuốc đều có cấu trúc tương tự.

Vào tháng 10 năm 2006,một thử nghiệm trên 500 bệnh nhân được công bố trong New England Journal of Medicine đã kết luận rằng Lucentis,tiêm vào trong nhãn cầu cứ mỗi 6 tuần sẽ ngăn cản sự hủy hoại thị giác và cải thiện thị lực.Năm ngoái thuốc này đã được cho phép sử dụng ở Hoa Kỳ với giá 2000 dollars mỗi liều lượng,rồi ở Châu Âu tháng giêng 2007 với giá 1200 Euro.Một thuốc thứ ba,Macugen (Fitzer),một thuốc chống sinh mạch máu khác xuất hiện trên thị trường Pháp tự 2006 với giá 687 Euro.

Cách nay hai năm, một nhà nhãn khoa Hoa Kỳ bị bệnh DMLA đã nhận thấy sự cải thiện rất rõ thị giác của mình sau khi điều trị ung thư trực tràng với Avastin bằng đường tĩnh mạch.Thông tin này được lưu hành mau chóng và Avastin chich vào nhãn cầu tức thời được sử dụng một cách “ hoang dã ” tại Hoa Kỳ trên những bệnh nhân đang bị mất thị giác,vào luc đó Lucentis chưa được lưu hành.Hàng chục nghiên cứu tiền phong thực hiện trên hàng trăm bệnh nhận đã được công bố với những kết quả đáng phấn khởi như đối với Lucentis..


4/ KHI CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĂN NHỊP VỚI CƠN ĐAU TIM.

CARDIOLOGIE. Chắc chắn là số nạn nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế không ngừng gia tăng. Điều chứng thực sau cùng : các biến động của tỷ giá của các cổ phần ảnh hưởng trực tiếp lên số các trường hợp các cơn đau tim (crises cardiques) ! Đó là điều đã được chứng thực bởi các nhà nghiên cứu của Duke University Medical Center, Hoa Kỳ, trong lúc phân tích các trường hợp nhập viện vì cơn đau tim được đăng ký ở bệnh vien Duke giữa tháng giêng 2006 và tháng 7/2009. Bảng tổng kết : “ Khi thị trường chứng khoáng sụt xuống, tỷ lệ cơn đau tim gia tăng. Tỷ lệ này giảm xuống khi các giá trị chứng khoáng tăng lên trở lại, Mona Fiuzat, người đã thực hiện công trình nghiên cứu, giải thích như vậy. Những dữ kiện này xác nhận ảnh hưởng của các biến cố gây căng thẳng (événements stressants) lên sức khỏe của nhân dân. Cũng vậy, một sự gia tăng tỷ lệ cơn đau tim đã được quan sát trong những ngày theo sau biến có 11/9. Cũng vậy lúc trận bão Katrina đi qua.
(SCIENCE ET VIE 5/2010)

5/ NGUỒN GỐC CỦA CHỨNG HÓI ĐẦU : MỘT SỰ BIẾN DỊ TRÊN NHIỄM SẮC THỂ SỐ 18 ĐƯỢC NHẬN DIỆN.

Rất bị ghê sợ bởi các người đàn ông lớn tuổi, chứng rụng tóc hùng sinh (alopécie androgénique), thường được gọi là chứng hói đầu (calvitie), đang chờ đón một người đàn ông trên ba ở tuổi 30 và một người đàn ông trên hai ở tuổi 50.

Mặc dầu mỗi ngày chúng ta đánh mất từ 50 đến 100 sợi tóc trong số khoảng 100.000 sợi che phủ mái đầu của chúng ta, nhưng những sợi tóc này bình thường được thay thế bởi những sợi tóc mới, mọc ở chỗ của những sợi tóc đã rụng đi. Chính vào khi nhịp độ rụng của tóc gia tốc, và không có sợi tóc kế vị nào mọc ra thì khi đó chứng hói đầu mới xuất hiện.

Trong một công trình được công bố tuần này trong Nature, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ tiết lộ sự khám phá của một gène mới có can dự trong sự tăng trưởng của các sợi tóc. Để tìm ra một gène như thế, các nhà khoa học đã dò xét bộ gène (génome) của các thành viên của những gia đình Pakistan và Ý, bị mắc phải một dạng di truyền hiếm của bệnh rụng tóc : chứng ít lông di truyền đơn thuần (hypotrichose héréditaire simple). Bệnh này, do một thiều sót di truyền, được đặc trưng bởi hệ lông (pilosité) bị giảm trên cơ thể và da đầu, và tình trạng này xảy ra ngay từ tuổi ấu thơ.

Những phân tích di truyền đã cho phép phát hiện nơi những người này một sự biến dị chung nơi gène APCDD1. Gène này nằm trên một vùng đặc hiệu của nhiễm sắc thể 18, có can dự trong những dạng khác của bệnh rụng tóc như chứng rụng tóc hùng sinh (alopécie androgénique) hay chứng trụi tóc (pelade).

Không những đã khám phá ra gène liên kết với sự rụng tóc, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã nhận thức rằng rằng gène này ức chế một đường mang tín hiệu (voie de signalisation), được biết nhằm kiểm soát sự tăng trưởng của các sợi lông nơi chuột. “ Đây là lần đầu tiên mà người ta chứng tỏ rằng con đường mang tín hiệu này, được gọi là Wnt, đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của các sợi tóc nơi người ”, Angela Christiano, giáo sư của Đại học Columbia và là tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ như vậy. Vậy người và chuột đã chia sẻ nhiều điểm tương tự hơn về các cơ chế điều hòa sự xuất hiện của “ mái tóc ” (toison) hơn là điều được nghĩ bởi các nhà khoa học cho đến nay.

“ Những khám phá này gợi ý rằng nếu ta tác động lên con đường mang tín hiệu này, điều đó có thể có một ảnh hưởng lên sự tăng trưởng của các sợi tóc nơi người ”, Angela Christiano nói tiếp. Theo bà, những điều trị nhằm ngăn cản đường mang tín hiệu Wnt hơn là các đường kích thích tố (voies hormonales), như được thực hiện bởi những điều trị hiện nay, có thể được áp dụng rộng rãi hơn nơi những người bị rụng tóc quan trọng.
(LE SOIR 15/4/2010)

6/ CÁC NỐT RUỒI PHẢI CHĂNG LÀ CƠ SỞ CỦA CÁC U HẮC TỐ ÁC TÍNH ?

Được các thầy thuốc bệnh ngoài da gọi là naevus, các nốt ruồi (grains de beauté) là những khối u hiền tính của da (một khối u là một đám bất thường những tế bào, dẫu chúng hiền tính hay ung thư). Hiếm khi thấy một cá nhân không có một nốt ruồi nào cả. Nói chung các nốt ruồi xuất hiện bắt đầu năm 3 tuổi (các nốt ruồi hiện hữu vào lúc sinh là hiếm, chúng có tính chất khác với những nốt ruồi được phát triển sau khi sinh) và tiếp tục xuất hiện cho đến tuổi trưởng thành. Nhưng sự xuất hiện của chúng sau 50 tuổi là hiếm.

Các u hắc tố (mélanome) là những ung thư da, nghĩa là những khối u ác tính. Đó là những ung thư da nghiêm trọng nhất, khả dĩ cho các di căn và gây nên tử vong của bệnh nhân. Các tế bào cấu tạo một u hắc tố, cũng như các nốt ruồi, là những mélanocyte. Trong trường hợp u hắc tố, những tế bào này đã chịu một sự biến hóa ác tính và đã trở thành những tế bào ung thư.

Vì lẽ các nốt ruồi và các u hắc tố ác tính đều được cấu tạo bởi cùng các loại tế bào, nên có vẻ hợp lý khi đặt câu hỏi phải chăng các nốt ruồi là nguồn gốc của những u hắc tố ác tính : nói một cách khác, các nốt ruồi có phải là những tác nhân báo trước (précurseurs) của các u hắc tố ác tính hay không,

Câu trả lời cho câu hỏi này được mang lại cho chúng ta bởi những công trình nghiên cứu dịch tễ học. Phần lớn các u hắc tố ác tính không được phát triển bắt đầu từ một nốt ruồi có trước. Chúng xuất hiện trên da ở một nơi đã không hiện hữu một cấu tạo đặc biệt nào, nghĩa là trên da lành mạnh. Một số lớn các u hắc tố ác tính bắt đầu bằng sự xuất hiện của một vết (tache) giống như một naevus mới. Chỉ 15 đến 30% các u hắc tố ác tính có thể được phát triển từ một nốt ruồi đã có trước.

Như thế ở nơi vài người, các naevus có thể là những chỉ dấu nguy cơ để phát triển một u hắc tố ác tính. Một chỉ dấu nguy cơ (marqueur du risque) là một yếu tố lâm sàng (có thể được phát hiện bằng một thăm khám bệnh nhân) hay sinh học (có thể được phát hiện bằng một thăm khám sinh học như xét nghiệm máu) chỉ rõ rằng bệnh nhân mang chỉ dấu này có một nguy cơ tương đối gia tăng (risque relatif augmenté) phát triển một bệnh nào đó. Nguy cơ tương đối gia tăng là một sự gia tăng nguy cơ phát triển một bệnh so với một người bình thường. Ví dụ, đi bộ xuyên qua đường bao hàm một nguy cơ có thể tính được về mặt thống kê bị làm té ngã bởi một chiếc xe hơi. Đi xuyên qua đường đôi mắt bị bịt lại tạo một nguy cơ tương đối gia tăng bị quật ngã bởi một chiếc xe hơi.

Những người mang nhiều nốt ruồi (hơn 15 đến 20) có kích thựớc lớn (đường kính trên 4 hay 5 mm) có một nguy cơ tương đối gia tăng phát triển một u hắc tố ác tính. Nguy cơ này cũng được liên kết với những yếu tố di truyền (màu da, sự phát triển của một u hắc tố ác tính nơi cha mẹ hay con cái) và những yếu tố môi trường (thói quen sưởi nắng, trúng nắng nặng trong thời kỳ thơ ấu hay thiếu niên).

Những người này tạo nên một nhóm người có nguy cơ và họ phải là đối tượng của một sự theo dõi bởi một thầy thuốc chuyên khoa da một lần mỗi năm và học cách tự khám lấy mình đều đặn để có thể đi thăm khám nhanh chóng trong trường hợp một nốt ruồi bị biến đổi hay nếu một yếu tố khác xuất hiện. Vậy các nốt ruồi không phải là những dấu hiệu báo trước của các u hắc tố ác tính.
(LE FIGARO 22/3/2010)

7/ SỐ TRƯỜNG HỢP CÁC UNG THƯ DA GIA TĂNG.

Sự phơi nắng và sự lão hóa giải thích tiến triển này.

DERMATOLOGIE. Nếu như các u hắc tố ác tính (mélanome malin), các ung thư da rất nghiêm trọng, đã được quảng bá khá rộng rãi trong những năm qua, những khối u da khác (cancers baso[*] hay spino-cellulaires) lại không được biết nhiều bởi dân chúng, mặc dầu tần số của những ung thư này đang gia tăng trong một số lớn các nước phương tây. Hôm nay, một bài báo được công bố trong Archives of Dermatology, lo ngại về sự gia tăng số các trường hợp ở Hoa Kỳ. Nước Pháp cũng bị ảnh hưởng bởi một tiến triển tương tự. Mặc dầu tỷ lệ tử vong liên kết với những ung thư này vẫn thấp, nhưng chúng có thể dẫn đến những hủy hoại mô quan trọng nếu chúng không được điều trị kịp thời. Một lý do gây lo ngại khác của giới hữu trách y tế Hoa Kỳ là tổn phí sinh ra bởi những khối u này, đôi khi cần những can thiệp nhiều lần.

“Các cancer baso-cellulaire xuất hiện thường nhất ở mặt hay trên những vùng hở của cơ thể, cũng ở trên lưng, và tần số của nó gia tăng rõ rệt với tuổi tác, BS Claudine Blanchet-Bardon, phó chủ tịch của Syndicat national des dermatologues-vénérologues đã xác nhận như thế. Hình thái của cancer baso-cellulaire là đa dạng, cũng như màu sắc của nó. Mặc dầu ung thư da này không bao giờ gây nên di căn, nhưng nó có thể tăng trưởng theo chiều rộng và bề sâu và gây nên những tàn phá không sửa chữa được. Về ung thư được gọi là spino-cellulaire, dầu ít gặp hơn, nhưng tiên lượng của nó hơi it tốt hơn, bởi vì loại ung thư này có thể gây nên các di căn. ” Không có sổ ghi các ung thư ở Pháp theo dõi tần số xuất hiện của các cancer baso[*] và spinocellulaire, vài dữ kiện đưa ra con số khoảng 100.000 trường hợp mỗi năm. Để có một sự đánh giá chính xác, một thầy thuốc Hoa Kỳ, khảo sát từ một mô hình toán học (modèle mathématique), đã ước tính rằng, đối với năm 2007 không thôi, 13 triệu người Mỹ (không kể đến những người nguồn gốc châu Phi hay hispanique) đã bị một lần trong cuộc đời mình, ít nhất một ung thư da khác với u hắc tố ác tính.Khoảng một người trên 70 tuổi trên năm đã bị một cancer baso[*] hay spinocellulaire. “ Tần số cùa ung thư da cao hơn nhiều so với tần số của bất cứ ung thư nào khác ”, GS Robert Stern (Havard Medical School, Boston) đã giải thích như vậy.

“CÓ MỘT DỊCH BỆNH”

Tỷ lệ điều trị toàn bộ đối với những ung thư này đã gia tăng 77% từ năm 1992 đến 2006, số các thủ thuật điều trị đã chuyển từ 1,6 triệu vào năm 1992 lên 2 triệu năm 2006 ở Hoa Kỳ. “ Có một dịch bệnh ung thư da khác với các u hắc tố ác tính, các tác giả đã xác nhận như vậy, với một sự gia tăng hàng năm 4,2% số các trường hợp, theo các cơ sở dữ kiện của Medicare. Những chương trình bảo vệ chồng nắng đã gây thất vọng vì không kềm hãm được tỷ lệ ung thư gia tăng. Cần những công trình nghiên cứu bổ sung để tối ưu hoà những chiến dịch giáo dục, ngăn ngừa.”

Trên bình diện điều trị, sự xử trí trước hết là ngoại khoa. “ Điều trị ưu tiên một, đó là ngoại khoa ở phòng mạch của thầy thuốc bệnh ngoài da. Khi người ta đã có một lần cancer baso-cellulaire, cần phải được tái khám mỗi năm, bởi vì nguy cơ mắc phải một ung thư khác là tăng cao ”, BS Blanchet-Bardon đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 16/3/2010)

8/ NHỮNG ĐƯỜNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU CHƯA TỪNG CÓ CHỒNG BỆNH HEN PHẾ QUẢN THỂ NẶNG.

Những hướng mới được thăm dò để trả lời tốt hơn căn bệnh vẫn còn khó hiểu này.

RESPIRATION. “ Hen phế quản là một bệnh vừa dễ lại vừa khó điều trị : dễ đối với đại đa số các bệnh nhân chỉ cần một điều trị nhẹ, và khó đối với những bệnh nhân mà điều trị đầu tiên không kiểm soát được bệnh tức thời.” New England Journal of Medicine đã trình bày như thế một công trình nghiên cứu mới đây về sự điều trị của các trẻ em bị hen quản quản nặng. Đối với các trẻ em này, chỉ một quy tắc : một điều trị tùy theo từng cá thể (un traitement sur mesure), được đánh giá đều đặn. Bằng không, căn bệnh viêm mãn tính này, gồm các cơn, trong đó sự hẹp của các khí quản hạn chế sự hô hấp, có nguy cơ trầm trọng thêm.

3 triệu người Pháp bị hen phế quản, và 350 triệu người bị ảnh hưởng trên thế giới. “ Căn bệnh đã tiến triển nhiều trong vòng 40 năm trong các nước công nghiệp hóa, với, dường như, một mức bình nguyên (plateau) từ ba năm nay nơi người trưởng thành, trong khi bệnh tiếp tục gia tăng nơi trẻ em. Trong các nước mới phát khởi theo lối sống phương Tây, sự gia tăng nhanh như chớp ”, GS Michel Aubier, trưởng khoa phổi của CHU Bichat (Paris) đã chỉ rõ như vậy. Có nhiều lý do. “ Để phát triển một bệnh hen phế quản, phải có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và những yếu tố môi trường. Sự ô nhiễm không khí đóng một vài trò, nhưng môi trường nội thất cũng vậy bởi vì 90% thời gian của cuộc sống của chúng ta được trải qua trong các gian phòng ít thoáng khí, nhiều các dị ứng nguyên đủ loại. Chế độ ăn uống của chúng ta đã bị biến đổi. Chúng ta tiêu thụ ít các sản phẩm tươi hơn, do đó ít các chất chống oxy hóa (antioxydants) có tác dụng bảo vệ hơn, và nhiều thức ăn công nghiệp hơn, chứa nhiều dị ứng nguyên : các dầu lạc (huiles d’archide), các chất nhuộm màu, các chất bảo quản. Sau cùng, việc làm giảm các nhiễm trùng của thời thơ ấu, do một trình độ vệ sinh tốt hơn, hướng sự phát triển của hệ miễn dịch về một profil dị ứng hơn là nhiễm trùng.” Ở Pháp, một sự xử trí điều trị tốt hơn đã làm thu giảm các tử vong do hen phế quản của năm 2000 xuống dưới 1500 trường hợp mỗi năm, nhưng số các trường hợp nặng dường như gia tăng.

Hen phế quản là do một loạn năng miễn dịch (dysfonctionnement immunitaire), gây nên một sự bất dung nạp của các phế quản đối với vài kháng nguyên (antigène) hay các dị ứng nguyên (allergène) của môi trường. Sự hiện diện của chúng làm phát khởi một chuỗi nối tiếp nhau các phản ứng “ thù địch ” , được chỉ đạo bởi các tế bào miễn dịch, nhiều loại tế bào lympho T, như những tế bào hoạt hóa sự sản xuất các chất trung gian của phản ứng dị ứng hay những tế bào trung gian có nhiệm vụ “ giám sát ” toàn bộ sự thiết đặt của các phòng vệ.

Nhưng đặc biệt là bệnh hen phế quản càng ngày xuất hiện như là một bệnh của biểu mô (maladie de l’épithélium), lớp phủ của các phế quản. “ Có những trao đổi giữa lớp biểu mô phế quản này với các tổ chức mô bên dưới, G.S Aubier đã giải thích như vậy. Trong vài hen phế quản thể nặng (asthme sévère), lớp biểu mô có một sự vận hành chức năng bất bình thường, đôi khi ngay từ tuổi bé thơ, gây nên một quá trình tạo dáng lại (remodelage) dần dần của các phế quản, trở nên bị xơ hóa đi, và một sự phì đại của các cơ trơn phế quản, chúng cũng bất bình thường. Sự tạo dáng lại (remodelage) này, mà ta không biết làm thoái triển như thế nào, là nguồn gốc của sự tắc phế quản (obstruction bronchiqu). Hiểu điều đó tốt hơn để tìm ra những mục tiêu điều trị là một thách thức quan trọng. Do đó, ta bắt đầu tự hỏi bệnh hen phế quản có phải là một bệnh duy nhất và đơn độc hay không. “ 80% các hen phế quản thể nhẹ đến trung bình được kiểm soát dễ dàng với các bêta-mimétiques, làm giãn các cơ trơn và các corticoides, ức chế phản ứng viêm. Với điều kiện theo dõi tốt sự điều trị, GS Aubier lấy làm tiếc, vì điều này chỉ đúng đối với 30% các bệnh nhân, có nghĩa là có 60% các hen phế quản không được kiểm soát tốt ”

1,5 TỶ EURO MỖI NĂM.

Còn lại là 20% các phế quản thể nặng, chiếm 80% phí tổn gây nên bởi hen phế quản, 1,5 tỷ euro mỗi năm. “ Những bệnh nhân hen phế quản có thành phản dị ứng mạnh (asthme à forte composante allergique) được cái thiện rõ rệt nhờ một thứ thuốc tiêm mới anti-IgE, Xolair. Những bệnh nhân khác có tăng bạch cầu ưa éosine cao (asthme à forte éosinophilie) có thể được điều trị bằng những kháng thể anti-IL5. Nhưng vài hen phế quản thể nặng không đáp ứng với corticoides vẫn không có phương pháp điều trị mới. Chúng ta đã chứng tỏ rằng endothéline 1, một yếu tố làm dễ xơ hóa và tăng sinh (facteur profibrosant et proliférant) của cơ trơn, là rất được qua biểu hiện trong biểu mô của những bệnh nhân không đáp ứng. Một công trình nghiên cứu đang tiến hành đánh giá lợi ích của một kháng thụ thể (antirécepteur) của endothéline 1 ”, GS Aubier nói rõ như vậy.

Người ta thử chia cắt hen phế quản thể nặng thành những nhóm đồng nhất các bệnh nhân để nhận diện những chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) thích ứng và để hiệu chính những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) đối với những nhóm khác nhau này. Những đường hướng mới, với những kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) khác đang là đối tượng của các nghiên cứu. Một hướng khác, thermoplsatie, nhằm phá hủy một phần cơ trơn bằng tần số phóng xạ (radiofréquence) để làm giảm khối cơ trơn này. Được trắc nghiệm ở Hoa Kỳ, phương pháp này dường như làm giảm tần số của các cơn.
(LE FIGARO 6/4/2010)

9/ CANNABIS CÓ THỂ LÀ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ?

Những cuộc luận chiến và tranh luận không còn có lý do để tồn tại nữa : không những cannabis không phải là một điều trị trong trường hợp những rối loạn tâm thần, mà đúng chính cannabis, trong 15% đến 20% các trường hợp, tác dụng như là yếu tố khởi phát trên những người dễ bị thương tổn này.

Cannabis đúng là có liên hệ với một sự phát triển gia tăng của các bệnh tâm thần (psychose), trong đó có bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie). Mối liên hệ rõ ràng đầu tiên giữa cannabis và bệnh tâm thần đã được phát hiện ở Thụy Điển vào năm 1988. Một cuộc điều tra, đã kéo dài 15 năm, trên một quần thể hơn 45.000 tân binh trẻ nhập ngũ dưới 20 tuổi, đã chứng minh một mối liên hệ giữa sự tiêu thụ cannabis và sự phát triển của bệnh tâm thần phân liệt. Ngay cả nguy cơ đã được định lượng : nguy cơ này được nhân lên 6 lần.

NHỮNG TÁC DỤNG CÓ HẠI LÊN SỨC KHOẺ TÂM THẦN.

Vào năm 2002, giả thuyết này đã được xác nhận : sự chẩn đoán của bệnh tâm thần phân liệt và của những bệnh tâm thần khác đã được liên kết về lượng với sự tiêu thụ của cannabis : 50 “ joints ” nhân nguy cơ tâm thần lên 6,7 và sự chứng minh trở nên rõ ràng khi tiêu thụ 10 joints trước 18 tuổi. Vào năm 2007, sự chứng minh được khẳng định sau khi so sánh và phân tích các kết quả phát xuất từ gần 5.000 công trình nghiên cứu. Khi đó người ta chứng tỏ rằng số các trường hợp các bệnh tâm thần (psychose) gia tăng khoảng 40% nơi những người tiêu thụ cannabis, và rằng vì mối liên hệ này phụ thuộc liều lượng, nên sự gia tăng này có thể quan trọng hơn nhiều nơi những người tiêu thụ thường xuyên nhất.

Ngay năm 1845, thầy thuốc tâm thần người Pháp Jacques-Joseph Moreau de Tours đã mô tả những tác dụng có hại của cannabis lên sức khỏe tâm thần. Nhưng vào thời kỳ đó, sự tiêu thụ cannabis không có tính chất đại trà, chỉ xảy ra nơi vài người, nên cannabis không đặt ra một vấn đề y tế công cộng, như từ vài năm qua. Theo các cuộc điều tra dịch tễ học, cannabis đúng là được liên kết với sự xuất hiện của những triệu chứng tâm thần : lo âu, chứng trầm cảm, các rối loạn về trí nhớ, sự mất thích thú đối với môi trường gia đình, học đường, tình cảm, nhưng cả bệnh tâm thần phân liệt nữa. Là một căn bệnh nói riêng, bệnh tâm thần phân liệt thể hiện một rối loạn quan trọng của nhân cách, một bệnh trầm trọng ảnh hưởng một người Pháp trên 100 mà sự điều trị vẫn không được đầy đủ. Những người bị bệnh tâm thần phân liệt có những triệu chứng loạn tâm thần, được biểu hiện, ngoài những triệu chứng khác ra, bởi những ảo giác (hallucination), những mê sảng (délires) và những rối loạn tư duy và của hành vi, có thể kèm theo những lo âu dữ dội với những hậu quả không thể tiên đoán được.

Nguy cơ phát triển các rối loạn tâm thần phân liệt tỷ lệ với cường độ của sự tiêu thụ và nhất là với tuổi lúc tiêu thụ lần đầu. Khi sự tiêu thụ cannabis bắt đầu lúc 15 tuổi, nguy cơ cao hơn khi bắt đầu lúc 18 tuổi. Nguy cơ gia tăng 40% nơi những người trẻ hút joints, so với những người đã không bao giờ hút thuốc. Thế mà cannabis là thuốc ma túy bất hợp pháp được tiêu thụ nhất bởi những người trẻ tuổi. Trên toàn thể những người tiêu thụ đều đặn, 20% các thiếu nữ và 30% các thanh niên 17 tuổi tuyên bố đã tiêu thụ cannabis trong tháng vừa qua.

Và, mặc dầu bệnh tâm thần phân liệt hẳn còn có những nguyên nhân khác ngoài cannabis không thôi, nhưng cannabis có lẽ là nguồn gốc của 15% những trường hợp được chẩn đoán ở Pháp. Cannabis tác động như là một yếu tố phát khởi nơi những bệnh nhân yếu ớt, trẻ tuổi và tiêu thụ mạnh. Nhưng cannabis không chỉ có những hậu quả tâm thần, nó cũng là nguồn gốc của những nguy cơ khác được biết và không phải là kém nghiêm trọng, từ các ung thư (phổi, tai mũi họng, bàng quang, tuyến tiền liệt), các rối loạn mạch máu (viêm động mạch) và sự sinh sản, ở phụ nữ cũng như các đàn ông, tần số của các tai nạn lưu thông, ở nhà, ở nơi làm việc.
(LE FIGARO 19/4/2010)

10/ NHỮNG THUỐC CỦA THẾ KỶ XXI : NHỮNG ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA (TRAITEMENTS À LA CARTE).

Trong cuốn sách của mình “ Médicament, enjeu du XXI siècle ”, Christian Lajoux, chủ tịch của Liên đoàn công nghiệp y tế Pháp, giải thích làm sao, nhờ những kỹ thuật mới, các bệnh nhân sẽ hưởng được một điều trị cá thể hóa (prise en charge sur mesure).

Hỏi : Từ năm 2000, một trong những tiến bộ của nghiên cứu trong công nghiệp dược phẩm là gì ?
Christian Lajoux : Kỹ thuật sinh vật (biotechnique hay biotechnologie) đã đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong việc chế tạo thuốc men ! Nhất là đối với các thuốc chống ung thư. Ngược lại với phần lớn các dược phẩm cổ điển được tạo ra từ những nguyên tố hóa học, những loại thuốc phát xuất từ kỹ thuật sinh vật được cấu tạo từ những hoạt chất trích ra từ người, thực vật hay siêu vi trùng (được tái sản xuất với số lượng lớn bằng cấy trong phòng thí nghiệm). Nguyên tắc của “ biotech ” là thay thế trong cơ thể một yếu tố “ không chạy ” bằng một yếu tố khác phát xuất từ người sống. Để đơn giản hóa, tôi sẽ nói rằng đó là những loại thuốc tạo lại những tác dụng của các phân tử trong chính cơ thể của chúng ta. Giai đoạn mới này thể hiện một sự thay đổi quyết định trong nghiên cứu. Quá trình được phát động với một quy mô lớn : nếu hôm nay 20% các loại thuốc phát xuất từ kỹ thuật sinh vật (biotechnologies) và 80% từ hóa học, thì ngày mai, 40 đến 50% sẽ phát xuất từ kỹ thuật sinh vật.

Hỏi : Phải chăng chúng ta sẽ tiến về một nền y khoa cá thể hóa (médecine individualisée) ?
Christian Lajoux : Vâng, bởi vì với những điều trị nhắm đích (traitements ciblés) này, bệnh nhân được xem như là một cá thế, hơn là như là một yếu tố của một quần thể rộng lớn. Người ta điều trị một bệnh nhân hơn là điều trị một căn bệnh. Căn bệnh này từ lâu đã được xử trí theo một phương pháp đại trà (une approche de masse), trong đó chúng ta điều trị hầu như tất cả các bệnh nhân bị cùng một bệnh lý, theo một cách giống hệt nhau, dầu trọng lượng, tuổi tác..của bệnh nhân như thế nào. Đối với ung thư, chúng ta đã có những kỹ thuật nhắm đích (techniques ciblées) cho phép vài điều trị tùy theo cá thể (traitements sur mesure).

Hỏi : Những công trình nghiên cứu về các biotechnologies này được thực hiện với mức độ an toàn nào ?
Christian Lajoux : Vào đầu thế kỷ này đã có một sự thay đổi thật sự : những thí nghiệm lâm sàng của các loại thuốc từ nay diễn ra trong một môi trường đúng quy cách, quan tâm bảo vệ các bệnh nhân được đưa vào trong các công trình nghiên cứu hơn. Các protocole được tiến hành dưới sự kiểm soát của một comité d’éthique được gọi là “ comité de protection des personnes ”. Từ nay bệnh nhân nằm trong tâm điểm của thử nghiệm, tham gia vào sự đánh giá điều trị của mình và có quyền ngưng bất cứ lúc nào.

Hỏi : Để có một phương cách điều trị các bệnh nhân cá thể hóa hơn, những tiến bộ mà ta chờ đợi là gì ?
Christian Lajoux : Với sự kéo dài tuổi thọ, chúng ta sẽ điều trị càng ngày càng nhiều những bệnh nhân già. Thế mà, mãi đến nay, các hiệu quả của phần lớn các loại thuốc đã không được đánh giá nơi những người 80 tuổi hoặc hơn. Cũng sẽ phải kiểm tra những tương tác khả dĩ của những phối hợp thuốc rất thường được kê toa nơi những người già. Tất cả những kết quả nghiên cứu này sẽ cho phép thích ứng các liều lượng theo trọng lượng, tình trạng sức khỏe tổng quát...cho phép thực hiện một y khoa theo từng trường hợp (une médecine au cas par cas). Ngày hôm nay, về quần thể người già này, chúng ta ở trong cùng tình huống mà ta đã gặp cách nay 10 năm đối với sự cho thuốc của các trẻ em ! Chúng ta đã bằng lòng việc cắt một viên thuốc thành hai hoặc ba : một phương pháp rất là thường nghiệm (une approche très empirique).

Hỏi : Vào thế kỷ thứ XXI này, đâu là những hy vọng lớn nhất của sự nghiên cứu ?
Christian Lajoux : Nhờ một sự tiến triển nhanh của các kiến thức về bộ gène (génome), những hy vọng lớn nhất được đặt vào các bệnh di truyền (maladies génétiques). Đó là can thiệp vào các gène bị thiếu. Một thử nghiệm đang được tiến hành đối với các trẻ em bị bệnh adrénoleucodystrophie (có thể phá hủy não bộ trong vài tháng). Đối với bệnh sclérose latérale amyotrophique, một bệnh lý trầm trọng dẫn đến tử vong, những công trình nghiên cứu giai đoạn III đã cho phép nhận diện nguồn gốc di truyền của căn bệnh này. Trong tương lai, chúng ta hy vọng hưởng được một y khoa sẽ điều trị những cái đích mới của cơ thể, mà các loại thuốc hiện nay không thể đến được : nanotechnologies. Đó là sử dụng những hạt (particules) có kích thước một phần triệu của milimet.
(PARIS MATCH 25/3-31/3/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (26/4/2010)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san kho

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969