Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 102
Lượt truy cập: 1026997
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ MỘT THẤU KÍNH (LENTILLE) ĐỂ PHÁT HIỆN BỆNH TĂNG NHÃN ÁP (GLAUCOME).

Tăng nhãn áp (hypertension oculaire), nguyên nhân quan trọng của mù lòa, có thể được phát hiện tốt hơn nhờ đeo liên tục trong 24 giờ, một “ thấu kính thông minh ” (lentille intelligente).

Chậm chạp, âm ỉ và không đau đớn. Đó là những đặc điểm của bệnh tăng nhãn áp, nguyên nhân thứ hai gây mù lòa trên thế giới, mà người ta ước tính rằng cứ hai người bệnh thì có một người không hay biết là mình bị bệnh. May mắn thay, bệnh này từ nay có thể được phát hiện rất sớm nhờ đeo một thấu kính tiếp xúc (lentille de contact) “ thông minh ”, được hiệu chính bởi công ty quốc tế STMicroelectronics. Được đặt bởi thầy thuốc và được đeo trong 24 giờ, thấu kính này ghi liên tục nhưng trị số của nhãn áp. Hãy nhắc lại rằng bệnh glaucome được gây nên bởi sự đóng lại dần dần của trabeculum, bộ phận lọc có nhiệm vụ bài xuất thủy dịch (humeur aqueuse), được sản xuất bởi mắt. Sự tích tụ của chất dịch này gây nên một sự gia tăng áp lực, đè ép động mạch của mắt và gây nên sự teo của các sợi của dây thần kinh thị giác với hậu quả thu hẹp thị trường và gây mù lòa.

Hôm nay, việc phát hiện dựa trên sự đo áp lực nhãn cầu, được thực hiện bởi thầy thuốc nhãn khoa với một nhãn áp kế (tonomètre). Thế mà, như GS Philippe Denis, trưởng khoa mắt của bệnh viện Edouard-Herriot (Lyon) và là hội viên của Hiệp hội của bệnh glaucome ở Pháp, đã giải thích, “ Áp lực nội nhãn thường chịu những thay đối sinh lý trong ngày, do đó sự tăng nhãn áp có thể không được phát hiện bởi một lần đo duy nhất ”. Được đặt tên là Sensimed, lăng kính mới cho phép truyền một cách liên tục những trị số được đo nhờ một thiết bị được nối với một máy thu (récepteur) mà bệnh nhân đeo quanh cổ. Nếu được phát hiện kịp thời, bệnh tăng nhãn áp có thể được điều trị bằng thuốc nhỏ mắt, các buổi laser hay ngoại khoa. Được trắc nghiệm ở Thụy Sĩ và ở Đức, các thử nghiệm đang được tiếp tục và sự thương mãi hóa ở châu Âu được dự kiến vào tam cá nguyệt thứ hai của năm nay.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2010)

2/ MỘT CÁI ĐÍCH MỚI ĐỂ KIỂM SOÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN.

Bernard Jégou, điều khiển unité Inserm “ groupe d’étude de la reproduction chez l’homme et les mammifères ” ở Univerité de Rennes-I, trả lời các câu hỏi.

Hỏi : Các nhà sinh học đã khám phá ra cơ chế cho phép các tinh trùng người di chuyển đến tận các noãn (ovules). Cơ chế này là thế nào ?
Bernard Jégou : Để di chuyển đến tận noãn, và làm thụ tinh, các tinh trùng người phải được hoạt hóa trong bộ máy sinh dục nữ. Để có được sự hoạt hóa này, cần phải làm hạ nồng độ axít nội tại bằng cách tống các ion xuyên qua màng tế bào của chúng. Mãi đến nay, cơ chế phân tử giải thích sự tống xuất này vẫn còn bí ẩn. Nhưng Yuriy Kirichok và nhóm nghiên cứu của ông của đại học Californie vừa nhận diện một kênh màng (canal membranaire) chuyên về công tác này. Được mệnh danh là Hv1, kênh này có nhiều trên đoạn chính của roi (flagelle) của các tinh trùng.

Hỏi : Các nhà khoa học đã tiến hành như thế nào ?
Bernard Jégou : Họ đã khám phá vai trò của kênh Hv1 nhờ sự thích ứng kỹ thuật “ patch clamp ” vào các tinh trùng người. Phương pháp này cho phép ghi những dòng ion vận chuyển qua các màng tế bào. Đó là một thành tích bởi vì các tinh trùng người có kích thước rất nhỏ, với một thể tích bên trong cực kỳ nhỏ.

Hỏi : Những yếu tố nào ảnh hưởng lên sự mở của kênh này ?
Bernard Jégou : Các nhà sinh học đã nhận diện nhiều yếu tố. Theo các kết quả của họ, sự mở của kênh Hv1 được làm dễ nếu các tinh trùng tắm trong một môi trường kiềm, điều này xảy ra trong bộ máy sinh dục nữ, trong khi môi trường là axít trong các tinh hoàn. Một chất endocannabinoide, anandamide, cũng có một tác dụng dương tính. Chất này thuộc cùng họ với hợp chất hoạt tính của marijuana. Điều này giải thích tại sao sự tiêu thụ chất ma túy này làm giảm khả năng sinh sản nam giới : nó hoạt hóa sớm các tinh trùng. Nó cũng làm giảm khả năng sinh sản nữ giới, do làm biến đổi nồng độ của các endocannabinoide trong đường sinh dục. Nhưng điều đó cần phải được chứng minh. Ngược lại, kẽm, nguyên tố hiện diện với những nồng độ trong bộ máy sinh dục nam cao hơn trong bộ máy sinh dục nữ, ức chế sự vận hành chức năng của kênh tế bào. Đây là lần đầu tiên mà người ta xác định được các cơ chế phân tử, qua đó nhiều yếu tố khác nhau tác động.

Hỏi : Từ khám phá này, những áp dụng điều trị là gì ?
Bernard Jégou : Ta có thể tưởng tượng sự phát triển của các kháng thể có khả năng ức chế sự vận hành chức năng của kênh tế bào, hay phát triển những loại thuốc khả dĩ tác động lên những yếu tố kiểm soát sự mở của kênh này. Được đưa vào trong gel được đặt trong âm đạo, các loại thuốc này có thể có một tác dụng ngừa thai. Ngược lại, người ta phát triển các chất hoạt hóa Hv1 để thử điều trị những trường hợp vô sinh nam giới mà người ta không biết được nguyên nhân. Chúng có thể được sử dụng in vivo hay bằng thụ tinh in vitro.

Nhưng trong tất cả các trường hợp, những thứ thuốc điều trị này sẽ chỉ được nhắm vào các kênh Hv1 hiện diện trên các tinh trùng, để không làm xáo trộn những kênh hiện diện trên những tế bào khác của cơ thể.
(LA RECHERCHE 4/2010)

3/ VAI TRÒ CỦA NGỪA THAI CẤP CỨU ?

Mặc dầu có một sự bảo vệ ngừa thai (couverture contraceptive) rất tốt, nước Pháp mỗi năm vẫn còn ghi nhận 350.000 trường hợp có thai ngoài ý muốn, trong đó 200.000 trường hợp nhiên hậu phải gián đoạn tự ý thai nghén (IVG : interruption volontaire de grossesse). 72% những trường hợp IVG này có liên quan đến những phụ nữ sử dụng phương pháp ngừa thai, trong đó 2/3 uống thuốc ngừa thai. Một điều tra đã cho thấy rằng 54,9% những người sử dụng thuốc ngừa thai đã quên uống từ 1 đến 5 lần trong 6 tháng trước… điều đó nói lên tầm quan trọng của ngừa thai cấp cứu (contraception d’urgence), trong tình huống này và trong trường hợp giao hợp không được bảo vệ.

Được thương mãi hóa từ năm 2000, Norlevo (levonorgestrel) được bán tự do trong các hiệu thuốc và có thể được cấp miễn phí cho các thiếu nữ, ở trường học hay theo kế hoạch gia đình. Nhưng hiệu quả của nó chỉ kéo dài 72 giờ, và thuốc phải được uống càng sớm càng tốt. “ Từ đó nảy ra ý tưởng kéo dài tính hiệu quả ít nhất đến 5 ngày, như vòng ngừa thai (stérilet) được đặt để ngừa thai cấp cứu. Đó là điều EllaOne cho phép, thuốc ngừa thai cấp cứu mới đã có từ vài tháng nay, BS Nathalie Chabbert-Buffet, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết ở bệnh viện Tenon (Paris) đã giải thích như vậy. Người ta còn chưa biết rõ lý do của tác dụng kéo dài này, có thể là do một tác động khác lên nội mạc tử cung. ” EllaOne chỉ có thể được cấp theo toa và không được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tế, do đó giá rõ rệt đắc hơn (30 euro đối với EllaOne trong khi 7,5 euro đối với Norlevo).

Tuy vậy, một cách đáng ngạc nhiên, sự ngừa thai cấp cứu không làm giảm tỷ lệ IVG. “ Dường như vài phụ nữ không áp dụng biện pháp ngừa thai cấp cứu bởi vì họ nghĩ là không ở trong một tình huống có liên quan đến họ, người thầy thuốc giải thích như vậy. Những lời khuyến nghị trong trường hợp quên viên thuốc ngừa thai cũng quá ư là phức tạp. Trong trường hợp này phải luôn luôn áp dụng biện pháp ngừa thai cấp cứu. Và cũng thông tin tốt hơn các thiếu nữ để làm giảm những hành vi có nguy cơ. ”

QUÊN UỐNG THUỐC.

Theo GS Quéreux, “ viên ngừa thai (pilule) không phải là phương tiện ngừa thai tốt. Thất bại của của sự ngừa thai, trước hết là quên viên thuốc ngừa thai. Càng ngày càng có nhiều thầy thuốc phụ khoa ủng hộ vòng tránh thai, áp đặt hiệu quả ngừa thai lên các phụ nữ ”. Là nhà xã hội học của Inserm và chuyên viên về những vấn đề này, Nathalie Bajos chứng thực sự tiến triển theo chiều hướng này của một bộ phận y sĩ đoàn về vòng tránh thai. “ Vậy ta dự kiến sẽ có nhiều phụ nữ trẻ hơn nhờ đến phương pháp ngừa thai này. Nhưng tôi tin rằng không nên chờ đợi những sự đảo lộn quan trọng chừng nào các thầy thuốc không được đào tạo để đặt vòng tránh thai.
(LE FIGARO 26/4/2010)

Đọc thêm :

4/ SỰ NGƯỢC ĐÃI TRẺ EM TRONG THỜI THƠ ẤU LÓT ĐƯỜNG CHO BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG (MIGRAINE).

Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, sự ngược đãi trong thời thơ ấu, nhất là sự lạm dụng (abus) và sự lơ là về mặt tình cảm, là thường xảy ra nơi các bệnh nhân bị bệnh thiên đầu thống. Ngoài ra, nơi các bệnh nhân này, sự ngược đãi có thể là một yếu tố nguy cơ của các bệnh xảy ra đồng thời (comorbidités).

Các công trình nghiên cứu đã chứng minh sự liên kết giữa các lạm dụng (abus) trong thời thơ ấu và các cơn thiên đầu thống ở tuổi trưởng thành. Các nhà nghiên cứu của American Headache Society Gretchen Tiejen và các cộng sự viên, đã nghiên cứu mối liên hệ này. Các bệnh nhân đến 11 trung tâm điều trị bệnh thiên đầu thống (centre de la migraine) ở Hoa Kỳ và Canada, đã trả lời các bảng điều tra có liên quan đến các chẩn đoán thiên đầu thống và chứng trầm cảm, các dữ kiện dân số cũng như các dữ kiện có liên quan đến các tiền sử và mức độ nghiêm trọng của các lạm dụng (tình dục, tình cảm và vật lý) và các sao lãng (tình cảm và vật lý) bị chịu đựng trong thời thơ ấu. Các bệnh xảy ra đồng thời (comorbidités) như các hội chứng đại tràng dễ kích thích (syndrome du colon irritable) và mỏi mệt kinh niên, fibromyalgie, viêm bàng quang kẽ (cystite interstitielle) và viêm khớp, cũng đã được ghi nhận.

Toàn bộ, 1348 người bị bệnh thiên đầu thống (88% phụ nữ) đã được đưa vào công trình nghiên cứu (tuổi trung bình 41), 40% đã báo cáo những cơn thiên đầu thống với tiền triệu (aura) và 34% báo cáo đau đầu kinh niên ( > 15 ngày mỗi tháng).

Những sự ngược đãi (maltraitance) được nói đến là gì ? Trong nhóm người được khảo sát này, 38% đã bị lạm dụng (abus) và lơ là (négligence) tình cảm, 25% bị lạm dụng tình dục, 22% bị lơ là thể chất và 21% bị lạm dụng vật lý (abus physique). 9% báo cáo 3 loại lạm dụng (vật lý, tình dục và tình cảm) và 17% kêu ca các lơ là vật lý và tình cảm (négligences physiques et émotionnelles). Tỷ lệ bị tái diễn (revictimisation) ở tuổi trưởng thành không phải là ít (43%). Sau hết, những người đau thiên đầu thống báo cáo ít nhất 3 loại chấn thương trong thời thơ ấu, có nhiều nguy cơ hơn nhận chẩn đoán bệnh trầm cảm và lo âu.

Ngoài ra công trình nghiên cứu này đã chứng minh rằng loại ngược đãi này có thể là một yếu tố nguy cơ phát triển các chứng đau đầu mãn tính, trong đó có bệnh thiên đầu thống. Sự liên kết của sự ngược đãi và của tần số các cơn đau đầu dường như độc lập với chứng trầm cảm và chứng lo âu. Việc khám phá sự kiện rằng sự lạm dụng tình cảm (abus émotionnel) được liên kết với một khởi đầu sớm hơn của bệnh thiên đầu thống có thể có những hàm ý trong vai trò của đáp ứng đối với stress trong sinh lý bệnh của bệnh thiên đầu thống.

NHỮNG BỆNH LIÊN KẾT.

Những người đau thiên đầu thống đã bị lạm dụng tình cảm hay bị lơ là vật lý trong thời thơ ấu có một tỷ lệ các bệnh cùng xảy ra tăng cao hơn một cách đáng kể, so với những người trưởng thành không có những tiền sử như thế. 31% bi hội chứng đại tràng dễ kích thích (syndrome du côlon irritable), 1% bị mệt mỏi kinh niên, 10% bị fibromyalgie, 6,5% bị viêm bàng quan kẽ, 25% bị viêm khớp, ngoài ra các phụ nữ báo cáo lạc nội mạc tử cung (15%) và các u xơ tử cung (14%).

61% các bệnh nhân có ít nhất một bệnh cùng xảy ra, 18% có hai bệnh và 13% ba hay nhiều hơn. 58% các bệnh nhân cũng đã tuyên bố bị ngược đãi trong thời thơ ấu. Số các ngược đãi mà người bệnh đầu thống đã chịu đựng trong thời thơ ấu tương quan với số các bệnh cùng xảy ra vào tuổi trưởng thành. Đặc biệt hơn, sự lạm dụng vật lý (abus physique) được liên kết với một tỷ lệ bị viêm khớp lớn hơn, sự làm dụng tình cảm (abus émotionnel) được liên kết với một tỷ lệ bị hội chứng đại tràng dễ bị kích thích, mệt mỏi mãn tính, fibromyalgie và viêm khớp lớn hơn ; và sự lơ là vật lý (négligence physique) được liên kết nhiều hơn với hội chứng đại tràng dễ bị kích thích, mệt mỏi mãn tính, viêm bàng quan kẽ và viêm khớp. Nơi các phụ nữ, sự lạm dụng và lơ là vật lý được liên kết với lạc nội mạc tử cung và các u xơ tử cung.

Những dữ kiện này gợi ý rằng, nơi những người đau thiên đầu thống, sự ngược đãi trong thời kỳ thơ ấu có thể là một yếu tố nguy cơ phát triển các bệnh cùng xảy ra (comorbidités). “ Nếu sự xuất hiện của một bệnh thiên đầu thống đi trước sự xuất hiện của các bệnh xảy ra đồng thời, thì những chiến lược điều trị như các liệu pháp hành vi nhận thức (thérapies comportementales cognitives) sẽ được đặc biệt thích ứng ”, BS Tietjen đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 15/1/2010).

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152 - Đề Mục : 9/ MIGRAINE : ĐIỀU TRỊ MỚI ĐẺ CÓ MỘT HIỆU QUẢ NHANH HƠN.

5/ MỘT HORMONE TĂNG CƯỜNG LÒNG TIN CẬY CỦA CÁC BỆNH NHÂN TỰ KỶ (AUTISTE).

Việc cho một hormone, oxytoxin, bằng đường mũi, đã cho phép cải thiện hành vi xã hội (comportement social) của những bệnh nhân mắc bệnh tự kỷ (autistes). Đó là kết quả đáng phấn khởi thu được bởi một nhóm nghiên cứu Pháp, được lãnh đạo bởi Marion Leboyer (Inserm, Créteil) và Angela Sirigu (CNRS, Bron). Được tổng hợp bởi vùng dưới đồi (hypothalamus), oxytoxine đặc biệt làm dễ sự điều hoàn các cảm xúc, làm dễ sự quyến luyến hay sự nhận biết các khuôn mặt.

Tài liệu khoa học đã gợi ý rằng bệnh tự kỷ (autisme) có thể là do những bất thường trong sự tổng hợp của kích thích tố chủ chốt này. Dựa trên tất cả các dữ kiện này, các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm sau đây : 13 bệnh nhân bị bệnh tự kỷ mức độ cao (hay hội chứng Asperger : có trí năng được bảo tồn nhưng khó khăn trong giao tiếp xã hội) đã chơi bóng (ballon). Cách chơi : bệnh nhân được tiền mỗi lần nhận được bóng. Trước mỗi bệnh nhân là 3 cầu thủ mà hành vi khác nhau : cầu thủ thứ nhất dội lại bóng 7 lần trên 10, cầu thủ thứ hai, 3 lần trên 10 và cầu thủ thứ ba chỉ 1 lần trên 10. Nhận xét : với placebo, bệnh nhân tự kỷ chuyển bóng một cách không phân biệt cho 3 ba cầu thủ đối diện, không tỏ một ưu tiên nào đối với một trong những người này. Với oxytoxine, bệnh nhân tự kỷ nhiên hậu chuyển bóng cho cầu thủ có tinh thần hợp tác nhất. “ Ngoài ra, sau cuộc chơi, bệnh nhân cho cầu thủ được ưa thích này điểm tốt nhất trên một thang đánh giá, Angela Sirigu đã ghi nhận như vậy. Vậy bệnh nhân đã cải thiện khả năng phân biệt và năng lực tin cậy. ” Oxytocine, điều trị tương lai của bệnh tự kỷ ? Hiện nay thì không, bởi vì tác dụng của nó lên não bộ chỉ khoảng 90 phút mà thôi, nhà nghiên cứu nói tiếp như vậy. Phải sản xuất một chất tương tự nhưng có thời gian tác dụng dài hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về OCYTOCINE - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

6/ DẬY THÌ SỚM : HƯỚNG BỊ TRANH CÃI CỦA CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM.

Nhân một cuộc hội thảo, được tổ chức về các chất gây rối loạn nội tiết (perturbateurs endocriniens), các nhà nghiên cứu Pháp đã bày tỏ nỗi băn khoăn của họ.

TOXICOLOGIE. Từ năm 1850 đến 1950, ở Châu Âu và ở Hoa Kỳ, tuổi dậy thì của các cô con gái trung bình sớm 3 năm, chuyển từ 17 tuổi xuống còn 14 tuổi. Sự tiến triển này ngày nay dường như được ổn định, nhưng ngược lại, người ta gặp ngày càng nhiều những trường hợp dậy thì cực sớm, được đặc trưng chủ yếu bởi sự xuất hiện vú trước 8 tuổi hay kinh nguyệt trước 10 tuổi.

Nguồn gốc của những xáo trộn của sự phát triển sinh dục này là gì ? Mặt khác những xáo trộn này cũng ảnh hưởng các cậu con trai với những bất thường tinh hoàn hay những dị tật niệu quản.Từ những năm 1980-1990, một bộ phận của các chuyên gia độc chất học (toxicologue) quy trách nhiệm vào các chất hoá học, được biết hơn dưới tên các chất gây xáo trộn nội tiết (perturbateurs endocriniens) bởi vì chúng có khả năng biến đổi những chức năng hormone. Những chất gây rối loạn nội tiết này hiện diện khắp nơi trong môi trường (các thuốc trừ sâu), nhưng cũng trong nhiều sản phẩm mà chúng ta sử dụng trong đời sống hàng ngày (plastiques, các mỹ phẩm, đồ bao bì, nước hoa…)

LIỀU LƯỢNG KHÔNG TẠO NÊN ĐỘC CHẤT.

Tuy nhiên hướng này không mang lại sự nhất trí trong giới nghiên cứu. Một colloque được tổ chức ở Rennes để trình bày những kết quả của các công trình nghiên cứu, được tài trợ trong bối cảnh của của chương trình nghiên cứu về các chất gây rối loạn nội tiết, được phát động ở Pháp bởi bộ trưởng môi trường năm 2005.

Có những chỉ dấu, nhưng dưới mắt của các nhà nghiên cứu thì chúng không đủ để xác lập một mối liên hệ nhân quả trực tiếp. Vài yếu tố vững chắc đã hiện hữu trong lãnh vực kích thích tố : cửa sổ tiếp xúc (fenêtre d’exposition) (thai nghén và những tháng đầu tiên của thai nhi) có một vai trò chủ yếu và mặt khác, chính không phải liều lượng gây độc, điều này làm phức tạp tất cả. Các nhà nghiên cũng đã khám phá rằng các phản ứng đối với các chất gây rối loạn nội tiết có thể thay đổi tùy theo cá thể.

3 LỚP SẢN PHẨM.

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ mới đây đã cho thấy rằng, trong số một nhóm hơn 1000 thiếu nữ, mà ¼ đã bắt đầu tuổi dậy thì vào năm 8 tuổi và ½ vào năm 9 tuổi, các nồng độ đáng kể của các chất gây rối loạn nội tiết đã được ghi nhận trong nước tiểu của chúng. 3 lớp sản phẩm đã được phát hiện : các phénol, trong đó có biphénol nổi tiếng, hiện diện trong các bình sữa, các phtalate và các phyto-œstrogène, mà các tính chất thơm rất được ưa chuộng bởi công nghiệp.

Phản ứng lại công trình nghiên cứu này trong le Quotidien du médecin, GS Charles Sultan, CHU de Montpellier, đánh giá rằng công trình nghiên cứu mang lại những lý lẽ để “ đề nghị giảm bớt, nếu không thì cấm chỉ các chất gây ô nhiễm nói chung và các thuốc trừ sâu nói riêng, mà ảnh hưởng lên sự cân bằng nội tiết vẫn đáng quan ngại ”.

Ở Rennes, ý kiến được đưa ra lại khác hẳn. “ Nguồn gốc của những trường hợp dậy thì rất sớm có lẽ do nhiều yếu tố ”, Jean-Paul Bourguignon, thầy thuốc chuyên khoa nhi nội tiết của đại học Liège (Bỉ) đã đánh giá như vậy. Đối với ông ta phải tính đến nhiều yếu tố khác như chế độ ăn uống hay stress của người mẹ trong thời kỳ thai nghén
(LE FIGARO 14/4/2010)

7/ NÃO BỘ KHÔNG NGỦ CÙNG MỘT LẦN.

Các bạn nghĩ là các bạn bắt đầu ngủ đùng một cái chăng ? Các bạn đừng lầm nhé : não bộ không ngủ toàn bộ cùng một lúc. Nó “ lịm dần đi ” vùng này qua vùng khác. Đó là điều được khám phá bởi Michel Magnin và nhóm nghiên cứu của ông ở Inserm (Lyon), trong lúc nghiên cứu lần đầu tiên hoạt động điện của não bộ khi não đi từ trạng thái thức tỉnh (éveil) sang trạng thái ngủ (sommeil). Để đạt được điều đó, các nhà nghiên cứu đã khai thác các dữ kiện ghi được bởi các điện cực cắm vào bên trong não bộ của các bệnh nhân bị bệnh động kinh. Nơi những bệnh nhân này, các điện cực cho phép định vị trí vùng phát khởi các cơn động kinh trước khi thực hiện một điều trị ngoại khoa. Nhưng các điện cực cũng đã cho phép phát hiện điều gì xảy ra lúc bắt đầu vào giấc ngủ (endormissement) : đồi thị (thalamus), nhận những thông tin cảm giác (informations sensorielles), ngủ trước tiên. Vỏ não (cortex), phân tích những thông tin này, ngủ 10 đến 15 phút sau đó ! “ Thật đáng ngạc nhiên, bởi vì vỏ não và đồi thị vốn rất liên hệ mật thiết với nhau, Michel Magnin đã giải thích như vậy. Lúc ngủ, đồi thị (thalamus) cắt đứt chúng ta ra khỏi thế giới bên ngoài, trong khi vỏ não tiếp tục hoạt động, điều này giải thích những ảo giác (hallucinations) xảy ra khi ta ngủ. “ Nhưng những nghiên cứu này cho thấy nhất là vai trò quan trọng sủa đồi thị khi bắt đầu vào giấc ngủ, và có thể giúp hiểu hơn chứng mất ngủ không tránh được có tính chất gia đình (insomnie fatale familiale), một sự mất ngủ mãn tính được liên kết với những thương tổn của đồi thị.
(SCIENCE ET VIE 5/2010)

8/ TIẾN VỀ MỘT SỰ PHÁT HIỆN SỚM CỦA BỆNH XƠ GAN.

Trong trường hợp ngộ độc rượu mãn tính (alcoolisation chronique), gan trước hết trải qua một giai đoạn gan mỡ (stéatose), rồi trở thành nơi của một quá trình viêm nhiễm mãn tính (hépatite chronique), rồi xơ hóa (fibrose). Tình trạng xơ hóa vẫn có thể đảo ngược được, với điều kiện từ bỏ rượu. Nếu không, sẽ xuất hiện một xơ gan (cirrhose du foie), là biểu hiện một yếu tố nguy cơ của ung thư gan. Do đó lợi ích của một phát hiện sớm…

“ Mọi người Pháp có nguy cơ xơ hóa gan phải được đề nghị phát hiện. Đặc biệt có liên quan là những người tiêu thụ quá nhiều rượu (khoảng 8% các người Pháp), nhưng cũng những người trưởng thành tăng thể trọng (15%) và, dĩ nhiên những nạn nhân của một nhiễm trùng mãn tính bởi một virus của viêm gan B hay C (1,5%), GS Stanislas Pol, trưởng khoa gan của bệnh viện Cochin (Paris) đã giải thích như vậy.

Tin vui, đó là để phát hiện một xơ hóa gan, không còn cần phải thực hiện một sinh thiết nữa. Có hai thăm khám không xâm nhập : xét nghiệm máu đo những chất chỉ dấu khác nhau và Fibroscan tính tốc độ di chuyển của một làn sóng từ da đến gan (làn sóng đi càng nhanh khi gan càng bị xơ).

“ Khi một sự xơ hóa được khám phá, sự kiểm soát lâu dài của tất cả các yếu tố nguy cơ (rượu, tăng thể trọng, virus) đã chứng tỏ kết quả : bệnh khi đó có thể đảo ngược 100%. Sự trở lại bình thường này đã khó đạt được vào giai đoạn xơ gan, nhưng chúng tôi hy vọng có khả năng tạo lại dáng (remodeler) hoàn toàn gan trong 5 đến 10 năm đến ”, GS Pol nói tiếp như vậy.

Đối với 250.000 người Pháp có một xơ gan, cần phải phát hiện sớm ung thư. Mọi người có một xơ gan được biết phải được hưởng một siêu âm gan một cách hệ thống mỗi 6 tháng. Biện pháp duy nhất này đã cho phép gia tăng hơn 20% số các khối u được nhận diện ở một giai đoạn có thể mổ được. Đó cũng là số người mà ta sẽ chữa lành bệnh ung thư của họ.

Bên cạnh phẫu thuật cổ điển (cắt bỏ khối u), cắt bỏ bằng nhiệt (thermo-ablation) bùng nổ. Phương pháp này nhằm cắm một chiếc kim vào trong khối u, dưới sự kiểm soát của siêu âm, và đốt bằng những micro-ondes. Một kỹ thuật mới, chimio-embolisation artérielle hépatique, nhằm bít các huyết quản nuôi dưỡng khối u, cho phép phá hủy nó hơn 95%. Hiện nay phương pháp này đặc biệt dành cho những bệnh nhân chờ đợi một ghép gan hay như điều trị chữa tạm (traitement palliatif).

“ Người ta chữa lành khối u nhưng không chữa lành xơ gan. Vậy, những nguy cơ tái phát khởi khối u là luôn luôn có thể. Đó là lý đó tại sao, khi có thể thực hiện được, ghép gan vẫn là giải pháp làm thỏa mãn nhất ”, GS Stanislas Pol đã kết luận như vậy. Mỗi năm, 125 trường hợp ghép gan được thực hiện nơi những bệnh nhân bị xơ gan do rượu, nhưng đã vĩnh viễn từ bỏ rượu.
(LE FIGARO 22/3/2010)

Đọc thêm :

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - Đề Mục : 8/ XƠ GAN : NGỪNG UỐNG KHÔNG BAO GIỜ LÀ QUÁ MUỘN.

9/ THALIDOMIDE TÌM RA NHỮNG ÁP DỤNG MỚI.

Bị cấm chỉ từ 50 năm nay, thalidomide chữa lành bệnh Rendu-Osler và có hiệu quả chống lại các ung thư.

MEDECINE. Thalidomide là một loại thuốc nổi tiếng chẳng hay ho gì nhưng chẳng bao lâu nữa có thể được nhắc lại về nó trong điều trị vài bệnh ung thư và các bệnh xuất huyết. Đó là một sự phục quyền khó có thể tin được. Được kê toa trong những năm 1950-1960 cho các phụ nữ có thai để chống lại nôn mửa, thalidomide là nguồn gốc của một trong những vụ tai tiếng lớn nhất về y tế cộng đồng trong 50 năm qua. Thật vậy, các thầy thuốc đã khám phá, sau khi thuốc xuất hiện trên thị trường rằng, thalidomide gây nên những dị dạng rất nghiêm trọng nơi thai nhi. Người ta ước tính rằng gần 12.000 trẻ em đã là nạn nhân của thuốc này trong khoảng 40 nước, trong đó 4000 đã không sống sót.

Mặt khác, sự vụ đã dẫn đến một sự tăng cường các thử nghiệm lâm sàng để đánh giá tốt hơn những tác dụng phụ của các loại thuốc lên các phụ nữ có thai và phôi thai (effets tératogènes).

Ngày nay, thalidomide tái xuất hiện trong một bối cảnh khác. Một nhóm nghiên cứu được lèo lái bởi Franck Lebrin, nhà nghiên cứu của Inserm và Collège de France, vừa cho thấy rằng loại thuốc này rất có hiệu quả chống lại bệnh Rendu-Osler, một bệnh lý xuất huyết gây bệnh một trên 10.000 người và không có một loại thuốc nào để điều trị nó cả.

Nguồn gốc di truyền, bệnh Rendu-Osler được gây nên bởi một sự thiếu ổn định của các huyết quản. Bệnh được đặc trưng bởi 3 triệu chứng : những xuất huyết ruột và mũi nghiêm trọng cũng như nhiều courts-circuits động-tĩnh mạch. Chảy máu mũi có thể xảy ra hơn 30 lần mỗi ngày và kéo dài một giờ.

Thalidomide đã được thử nghiệm thành công ở Hoà Lan trên 7 bệnh nhân tuổi từ 48 đến 75 và bị những thể nặng. Uống mỗi ngày 100 mg thalidomide đã đủ để làm giảm bớt một cách đáng kể tần số và thời gian chảy máu. Điều trị trong thời gian 6 tháng đến 5 năm đã cho phép tránh các truyền máu, đặc biệt cần thiết nhất là khi chảy máu đường tiêu hóa, để chữa tạm sự thiếu máu. Các tác dụng phụ của thalidomide, ngoài những tác dụng sinh quái thai, là những nguy cơ gây huyết khối (thrombose). Chính vì vậy những người cảm thấy triệu chứng kiến bò sau khi uống một viên thuốc đầu tiên đã bị loại khỏi các cuộc thử nghiệm.

CÁC CƠ CHẾ PHỤC HỒI.

“ Tác dụng có lợi của thuốc có thể đo lường được một tháng sau khi sử dụng thuốc. Nếu bệnh nhân ngừng điều trị, các xuất huyết cũng bắt đầu lại một tháng sau ”, Franck Lebrin đã đảm bảo như vậy. Một thử nghiệm quy mô lớn hơn có thể được tổ chức trên 32 bệnh nhân ở bệnh viện Tenon (Paris).

Bằng cách hiểu được các cơ chế tác dụng của thalidomide chống lại bệnh Rendu-Osler, các nhà nghiên cứu sẽ mở ra những hướng điều trị mới. Thật vậy, trong khi cho đến nay thuốc này có tiếng là ức chế sự tăng trưởng của các huyết quản, thì các phân tích đã cho thấy rằng nó có tác dụng ngược lại. Thalidomide khôi phục các huyết quản bằng cách làm gia tăng số các tế bào được gọi là thành, che phủ thành ngoài và cần thiết cho sự sống còn của chúng.“ Điều trị cho phép thu hồi lại một lớp phủ binh thường của các huyết quản ”, Franck Lebrin đã nhấn mạnh như vậy.

Cơ chế phục hồi này, theo nhà nghiên cứu, chẳng bao lâu nữa sẽ được trắc nghiệm chống lại các khối u. Một sự phân bố mạch (vascularisation) tốt hơn có thể cho phép mang các thuốc chống ung thư đến trung tâm của khối u để hủy diệt nó. Vì thalidomide cũng có tính chất hoạt hóa các tế bào lympho T (mà một vài tế bào thuộc loại này cũng tấn công các tế bào ung thư), nên thalidomide có thể tỏ ra có hiệu quả trong khung cảnh của một hóa học liệu pháp cổ điển.

Nhóm nghiên cứu Pháp không phải là nhóm duy nhất theo hướng điều trị này. Khoảng 50 thử nghiệm đang được tiến hành trên thế giới. Thalidomide đã được sử dụng trong điều trị bệnh hủi (lèpre) và vài loại myélome. “ Thalidomide đã được hiệu chính trong những năm đầu tiên của hóa học và ta còn lâu mới biết được tất cả các cơ chế tác dụng của nó, Franck Lebrin đã ghi nhận như vậy.
(LE FIGARO 7/4/2010)

10/ BỆNH THỐNG PHONG : SAU CÙNG MỘT ĐIỀU TRỊ MẠNH !

GS Thomas Bardin, trưởng khoa khoa thấp khớp của bệnh viện Lariboisière, giải thích tiến bộ điều trị được thực hiện đối với bệnh thống phong (gây bệnh cho 600.000 người Pháp).

Hỏi : Bệnh thống phong nghĩa là gì ?
GS Thomas Bardin : Đó là những cơn cực kỳ đau đớn (liên kết với một viêm khớp rất cấp tính xuất hiện đột ngột), được gây nên bởi các tinh thể dẫn xuất từ axít uric hiện diện trong dịch khớp. Viêm khớp của bệnh thống phong thường nhất là gây bệnh nơi đàn ông. Vào lúc bắt đầu bệnh, cái đích đầu tiên là khớp của ngón cái, bị sưng tấy lên, trở nên đỏ, nóng (với các chỗ sưng khó chịu dưới da), tạo nên một phế tật lúc bước. Không điều trị, trong 10 năm sau, các cơn sẽ trở nên thường xuyên hơn và lan rộng qua các khớp khác. Ở một giai đoạn rất nghiêm trọng, các chất lắng của các tinh thể hủy hoại dần dần xương và sụn, gây nên một tàn tật vĩnh viễn.

Hỏi : Xin ông hãy nhắc lại cho chúng tôi nguyên nhân của bệnh viêm khớp đau đớn này.
GS Thomas Bardin : Bệnh thống phong là do một sự thặng dư axít uric trong máu vì nhiều nguyên nhân. 1. Một sự khiếm khuyết di truyền của chức năng thận liên kết với một chế độ ăn uống giàu các tiền chất (précurseur) của axít uric (thí dụ : thịt ...). 2. Việc sử dụng lâu dài vài loại thuốc ngăn cản sự loại bỏ của axít uric bởi thận, như các chất lợi tiểu. 3. một suy thận mãn tính.

Hỏi : Cho mãi đến nay, điều trị cổ điển của bệnh thống phong là gì ?
GS Thomas Bardin : Protocole gồm hai liệu pháp bổ sung nhau. 1. Chống lại viêm với colchicine hay các chất kháng viêm không phải stéroide. 2. Một điều trị chữa lành với các thuốc làm giảm sự sản xuất axít uric hay loại bỏ nó. Trong loại này, thuốc được dùng nhất từ 30 năm nay là allopurinol. Nơi rất nhiều bệnh nhân, điều trị này đã cho phép làm hạ một cách đáng kể nồng độ axít uric trong máu. Nhưng trong khoảng một trường hợp trên năm, có một thất bại điều trị.

Hỏi : Những thất bại này là do gì ?
GS Thomas Bardin : Các đề kháng với điều trị xảy ra hoặc là do một sự bất dung nạp (với các ban da đôi khi nghiêm trọng), hoặc do một sự suy thận ngăn cản gia tăng liều lượng để chữa lành bệnh, hoặc do sự không tuân thủ điều trị.

Hỏi : Tác dụng của thuốc mới vừa được thương mãi hóa là gì ?
GS Thomas Bardin : Đó là một loại thuốc mới, febuxostat, tạo nên một bước tiến quan trọng đối với tất cả các bệnh nhân đề kháng với điều trị quy ước. Thuốc này luôn luôn được sử dụng để làm hạ nồng độ axít uric, nhưng có một thành phần rất khác với allopurinol. Ngoài tác dụng mạnh hơn, febuxostat có một ưu điểm khác : sự sử dụng của nó không bị hạn chế bởi suy thận hay những loạn năng khác của thận.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ hiệu quả lớn hơn của febuxostat ?
GS Thomas Bardin : 3 công trình nghiên cứu so sánh quốc tế lớn đã được thực hiện trên khoảng 3.000 bệnh nhân. Tôi nêu lên các kết quả của một trong những công trình này, được chia thành 3 nhóm. Trong nhóm đầu tiên, các bệnh nhân được điều trị với allopurinol, nhóm thứ hai, với febuxostat và, trong nhóm thứ ba, các bệnh nhân đã nhận một placebo. Kết luận : điều trị mới (với febuxostat) cho phép thu được một nồng độ axít uric bình thường trong 50 đến 65% các trường hợp, so với 20 đến 30% với điều trị quy ước (allopurinol). Những công trình nghiên cứu đầu tiên bây giờ có một thời gian nhìn lại 5 năm. Febuxostat, được thương mãi hóa cách nay một năm ở Hoa Kỳ và ở Pháp từ một tháng nay.

Hỏi : Thuốc mới này có gây nên những tác dụng phụ hay không ?
GS Thomas Bardin : Người ta đã ghi nhận vài trường hợp nổi ban da nhẹ, một sự gia tăng của các men gan (enzymes hépatiques), và sự xuất hiện của các cơn thống phong tạm thời vào lúc bắt đầu điều trị (được tránh bởi colchicine). Có hai loại chống chỉ định : các suy gan và suy thận nặng và sự sử dụng vài loại thuốc làm suy giảm miễn dịch nơi những bệnh nhân được ghép. Cũng phải thận trọng đối với những người bị bệnh tim.
(PARIS MATCH 15/4[*] 21/4/2010)

Đọc thêm :
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132 - Đề Mục : 6/ GENE GÂY BỆNH THỐNG PHONG (GOUTTE) ĐƯỢC KHÁM PHÁ.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (3/5/2010)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san kho

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969