Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 19
Lượt truy cập: 1028446
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ THUỐC KÉO DÀI TUỔI THANH XUÂN CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ CÓ TRÊN THỊ TRƯỜNG?

Nhờ công trình nghiên cứu trên các lão niên, một nhà nghiên cứu người Anh đảm bảo rằng chính gia sản di truyền (patrimoine génétique), trước hết, quyết định chúng ta có sẽ trở nên già không bệnh tật hay không và chúng ta sẽ sống bao lâu. Nhà nghiên cứu này đang nghiên cứu để hiệu chính một viên thuốc có khả năng kéo dài tuổi thọ của chúng ta thêm khoảng 30 năm nữa.

Việc xuất hiện một dân số cực kỳ già chỉ mới cách nay khoảng 50 năm. Điều này là do những tiến bộ trong các lãnh vực y tế, lối sống, dinh dưỡng và môi trường, nhưng chủ yếu là do có vài loại gène bảo vệ (gène protecteur) làm chậm lại sự xuất hiện của những bệnh lý có liên quan với sự lão hóa, như các bệnh tim mạch, bệnh Alzheimer hay bệnh đái đường. Đó là điều được khám phá bởi Nir Barzilai, giám đốc của Viện lão hóa ở Collège de médecine Albert-Einstein de New York, trong lúc nghiên cứu 500 người Do Thái Hoa Kỳ tuổi từ 95 đến 112.

CÁC GENE BẢO VỆ.

Theo chuyên gia người Anh này, lối sống của các bách niên không đủ để giải thích thời gian sống đặc biệt của họ, cũng như tại sao họ chết trong tình trạng sức khoẻ tốt. Mặt khác, trong công trình nghiên cứu của ông, những người bách niên tất cả không phải là những kiểu mẫu của cuộc sống lành mạnh. Trái lại là khác. “Những người này đã hút thuốc, đã ăn những sản phẩm mỡ hay đường, lên cân, và có một nồng độ cholestérol tăng cao”, ông đã chỉ rõ như vậy, đồng thời xác nhận rằng 1/3 bị béo phì và rằng 30% vẫn bị nghiện nicotine cho đến tuổi 95.

“Những người đạt đến một lứa tuổi cao trước hết nhờ vào chương trình hóa di truyền của họ (programmation génétique), họ được bảo vệ chống lại môi trường nhờ génotype của họ và sau cùng khi họ chết, họ chết vì cùng nguyên nhân đối với những người khác, trừ phi điều đó xảy ra 30 năm sau”, sau đó ông đã giải thích như vậy trước Royal Society of London for the Improvement of Natural Knowledge, tương đương với Viện hàn lâm khoa học ở Pháp, là nơi ông đã đọc một bài diễn văn với đề tài: “Làm rối loạn sự lão hóa để điều trị những bệnh của cao tuổi.”

MỘT LOẠI THUỐC TRONG 5 ĐẾN 10 NĂM NỮA?

Sau khi đã nhận diện một số nào đó trong số những gène nổi tiếng tạo nên sự trường thọ quá mức (một trong những gène này làm gia tăng sự sản xuất “cholestérol tốt” trong cơ thể, cholestérol làm giảm nguy cơ bị các bệnh và các nhồi máu cơ tim, và một trong những gène này ngăn ngừa bệnh đái đường), Barzilai và nhóm nghiên cứu của ông hiện đang làm việc để chế tạo những loại thuốc mang lại cùng những bảo vệ di truyền. Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên có thể bắt đầu từ nay đến 2012 và một loại thuốc có thể được đưa ra thị trường “trong 5 đến 10 năm nữa”, vị giáo sư người Anh đã loan báo như vậy. “Các bệnh nhân sẽ uống một viên thuốc bắt đầu từ 40 tuổi, và cuộc sống của họ sẽ được kéo dài, cho đến thêm 30 năm nữa.”

Khám phá thuốc kéo dài tuổi thanh xuân (élixir de jeunesse): Nir Barzilai không hẳn là người duy nhất đã lao mình vào hướng này. Trong hội nghị được tổ chức mới đây bởi Royal Society, có nhan đề là “Đảo ngược thời gian” (Turning back the lock, Inverser le temps), các nhà nghiên cứu chỉ rõ đã nhận diện ít nhất 10 biến dị di truyền cho phép kéo dài một nửa thời gian sống của các con chuột. Nhiều trong số những biến dị này được liên kết với sự trường thọ nơi người. Chúng bao gồm một lớp các enzyme, sirtuine, mà ta thường gặp nơi các bách niên hơn là trong phần còn lại của dân số.

Những yếu tố di truyền khác ảnh hưởng lên sự sản xuất của các kích thích tố tăng trưởng (hormone de croissance) và các IGF (insulin-like growth factors, những yếu tố tăng trưởng mà cấu trúc và cách tác dụng giống với insuline). Nhưng có thể có một chuyển hóa nhanh hơn có khuynh hướng chết sớm hơn. Một giải pháp để làm chậm lại sự lão hóa là làm chậm lại sự chuyển hóa bằng cách phong bế các thụ thể của các kích thích tố tăng trưởng và các IGF. Proteostasis, một xí nghiệp sinh kỹ thuật học của Massachusetts, nghiên cứu khả năng này bằng cách sử dụng các IGF như là những đích khả dĩ của các thứ thuốc chống lại sự lão hóa.

LÀM CHẬM LẠI, KHÔNG LÀM ĐẢO NGƯỢC.

Để kích thích các đầu tư vào các phương thuốc làm hoãn lại sự xuất hiện của một loạt các bệnh liên kết với cao tuổi, Nir Barzilai đã yêu cầu các giới hữu trách như FDA của Hoa Kỳ công nhận sự lão hóa như là một căn bệnh riêng biệt. “Chống lại một căn bệnh liên kết với tuổi già chẳng lợi ích gì, bởi vì, vào cùng lúc, bệnh nhân có nguy cơ phát triển một căn bệnh khác. Sự già cả phải được xem như là một tổng thể và phải được chống lại với tính cách như thế để con người có thể trở nên bách niên mà không bị nhiều thứ bệnh và phải phụ thuộc vào những kẻ khác để sống còn."

Mục tiêu của giáo sư Barzilai là đầy tham vọng, nhưng ông không làm ngạc nhiên nhà di truyền học nổi tiếng của Pháp Axel Kahn. “Chúng ta đã bước vào một giai đoạn điều trị sự lão hóa bằng cách nhận diện những thứ thuốc có khả năng tái tạo những thông điệp di truyền (messages génétiques)”, ông đã tuyên bố như vậy. “Nhưng đó không thể là viên thuốc hồi xuân (pilule de jouvence), mà đúng là những thứ thuốc để kềm hãm lại sự lão hóa.”

Đối với Jean-Marie Robine, nhà nhân khẩu học của Inserm, “Thật là không lương thiện khi nói rằng chúng ta sẽ sống thêm được vài chục năm bằng một thứ thuốc trong khi các tiến bộ trong công cuộc chống ung thư lại được tính bằng những ngày rồi bằng những tuần lễ.”

Dẫu sao chăng nữa, mặc dầu sự lão hóa là không thể đảo ngược được, các nhà khoa học đều nhất trí nói rằng sự lão hóa này có thể được làm chậm lại và rằng càng ngày chúng ta càng tiến gần đến những điều trị có khả năng giúp chúng ta sống tốt hơn và dài lâu hơn.

(LE JOURNAL DU MEDECIN 4/6/2010)

Đọc thêm: Tổng Hợp Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer)- Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

2/ CHÂM CỨU KÍCH THÍCH SỰ TIẾT CỦA MỘT CHẤT CHỒNG ĐAU.

Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ phát hiện tác dụng chống đau của y học cổ truyền này.

NEUROSCIENCE. Châm cứu làm cho đỡ đau trong các cơ bởi vì nó làm dễ sự phóng thích một phân tử tự nhiên, adénosine, có những tác dụng giảm đau, theo một công trình nghiên cứu được công bố mới đây trên site Internet của tạp chí Anh Nature Neuroscience.

Thầy thuốc chuyên khoa thần kinh Hoa Kỳ Malken Nedergaard, thuộc Trung tâm y khoa của Đại học Rochester và nhóm nghiên cứu của ông, đã thực hiện khám phá tuyệt vời này lúc tiến hành một thí nghiệm trên các con chuột bị đau ở một cẳng chân.

Các động vật gặm nhấm đã chịu một điều trị châm cứu cổ điển trong 30 phút, bằng những chiếc kim mảnh, được cắm vào trong một điểm gần đầu gối, điểm Zusanli và những người làm thí nghiệm quay nhẹ những chiếc kim này mỗi 5 phút.

Các tác giả của công trình nghiên cứu sau đó đã chứng thực rằng sự đau đớn được làm giảm 2/3 và rằng nồng độ adénosine trong các mô chung quanh các mũi kim là 24 lần tăng cao hơn so với trước khi điều trị. Đảo lại, châm cứu không có tác dụng trên các con chuột mà người ta đã lấy đi các thụ thể đối với adénosine. Ngoài ra, một sự gia tăng nồng độ adénosine nơi vùng đau đớn cho phép làm giảm sự đau đớn của các động vật, ngay cả không châm cứu. Sau cùng, các con chuột được cho deoxycoformycine, thứ thuốc có khả năng làm chậm lại sự biến mất của adénosine trong cơ, đã được hưởng các hiệu quả của châm cứu 3 lần lâu hơn.

MỘT NỀN Y HỌC 4000 NĂM.

“Từ 4000 năm nay, châm cứu là cơ sở của y học của vài nơi trên thế giới nhưng vì ta không hiểu hoàn toàn châm cứu hoạt động như thế nào nên nhiều người vẫn tỏ ra hoài nghi”, BS Nedergaard đã giải thích như thế.

Những công trình nghiên cứu này, trong khi chứng tỏ tác động của châm cứu lên hệ thần kinh ngoại biên, bổ sung điều mà chúng ta đã biết về những tác dụng của nó lên hệ thần kinh trung ương, ở đây châm cứu kích thích não bộ sản xuất hàng loạt các endorphine, những chất chống đau tự nhiên. “Rõ ràng là châm cứu có thể hoạt hóa cả một loạt các cơ chế khác nhau”, Josephine Briggs, giám đốc của Trung tâm quốc gia y học bổ sung và thay thế (Centre national de médecine complémentaire et alternative) ở National Institute of Health (NIH) đã ghi nhận như vậy. Công trình nghiên cứu này, được trình bày nhân hội nghị khoa học, Purines 2010, đã kết thúc hôm qua ở Barcelone.
(LE FIGARO 3/6/2010)

Đọc thêm: Thông Tin Y Học Về Khoa Châm Cứu (Acupuncture) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

3/ TÁC DỤNG CỦA CÀ PHÊ LÊN MẬT ĐỘ XƯƠNG: CAFEINE CÓ HẠI ĐỐI VỚI CỘT SỐNG

Theo một công trình nghiên cứu Mễ Tây Cơ, cà phê ảnh hưởng một cách âm tính lên khối lượng xương (masse osseuse) của các thân đốt sống.

Vài công trình nghiên cứu đã gợi ý một mối liên hệ nghịch giữa sự tiêu thụ caféine và khối lượng xương, nhưng những kết quả của các công trình này mâu thuẫn nhau. Nhóm nghiên cứu của BS Eduardo Barreira-Mercado (Universidad Autonoma de Querataro, Mexique) đã đánh giá những nguy cơ của một sự tiêu thụ mãn tính cà phê nơi các phụ nữ. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện một cuộc khảo sát nghiên cứu một mối liên kết khả dĩ giữa việc tiêu thụ caféine và khối lượng xương, nơi các phụ nữ thành thị, tuổi từ 35 đến 50.

Sự liên kết giữa việc tiêu thụ caféine và khối lượng xương đã được đánh giá nơi 120 phụ nữ tuổi từ 35 đến 50 tuổi. Những người tham dự đã được chia thành hai nhóm: nhóm thí nghiệm (84 phụ nữ uống cà phê) và nhóm kiểm chứng (36 phụ nữ không uống). Để được tuyển mộ, không được có bệnh toàn thân hay bất cứ bệnh nào liên kết với một sự mất khối lượng xương. Sự tiêu thụ cà phê được đánh giá bằng một bảng câu hỏi được hợp thức hóa, xác định lượng và dung lượng caféine. Các người tham dự được xếp loại như sau: không tiêu thụ (0ml/ngày), tiêu thụ thấp (<200ml/ngày), có mức độ (200-450 ml/ngày), hay cao (> 450ml/ngày).

Sự tiêu thụ cà phê là thấp nơi 22,5%, mức độ vừa phải nơi 22,5% và cao nơi 25% những người tham dự. Các phân tích thống kê đã không phát hiện những sự khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê đối với mật độ xương của háng. Tuy nhiên, có một sự giảm đáng kể của mật độ xương của cột sống trong nhóm thí nghiệm. “Một mặt, các dữ kiện của chúng tôi cho thấy rằng các phụ nữ Mễ Tây Cơ là những người tiêu thụ từ mức trung bình đến cao, các tác giả đã kết luận như vậy. Mặt khác, cà phê có lẽ ảnh hưởng một cách âm tính lên khối lượng xương của các thân đốt sống, và khả năng này có lẽ phải được xem như là một yếu tố nguy cơ, đặc biệt là trong khung cảnh của một điều trị của một ostéopénie và của một khối lượng xương thấp.”
(LE JOURNAL DU MEDECIN 11/6/2010)

Đọc thêm: Thông Tin Y Học Về Cafe (coffee) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

4/ LỐI SỐNG LÀNH MẠNH CÓ BẢO VỆ BỆNH ALZHEIMER?

Professeur Jean-Pierre Olié
Psychiatre
Membre de l’Académie nationale de médecine


Dưới 1% các trường hợp bệnh Alzheimer được xác định bởi di truyền: khi đó đó là những thể gia đình (formes familiales) của bệnh, có khởi đầu rất sớm (khoảng 40 tuổi), di truyền, tiến triển nhanh với một sự giảm mạnh tuổi thọ. Gần 99% các trường hợp được gọi là xảy ra lẻ tẻ (formes sporadiques), xuất hiện sau 65 tuổi. Bệnh thoái hóa này được báo hiệu bởi những rối loạn cảm xúc: trong một nửa các trường hợp, các triệu chứng lo âu và trầm cảm (symptômes anxieux et dépressifs) đi trước vài năm các triệu chứng nhận thức (symptômes cognitifs) và những khó khăn nhớ các sự việc vừa mới xảy ra (mémoire des faits récents). Nhưng không nên lẩn lộn bệnh Alzheimer với ảnh hưởng bình thường của các chức năng nhận thức (fonctions cognitives), liên kết với sự lão hóa sinh lý. Cảm giác bị giảm đi các khả năng ghi nhớ là việc bình thường nơi những người trên 50 tuổi: điều này được bù lại bởi những khéo léo xã hội do kinh nghiệm của tuổi tác mang lại.

Người ta có thể ngăn ngừa sự xuất hiện về sau của bệnh Alzheimer, hay làm bệnh lùi lại, bằng cách theo một vệ sinh đời sống tốt. Thật vậy, những yếu tố nguy cơ chính được biết và đã được nhận diện đối với những bệnh tim mạch và chuyển hóa khác. Như là, một cao huyết áp hay một tăng cholestérol-huyết ở tuổi trung niên của đời sống làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh về sau; bệnh đái đường hay chứng béo phì cũng là những yếu tố nguy cơ. Do đó, một chế độ ăn uống loại Địa Trung Hải (cá, rau xanh và trái cây) sẽ mang tính chất bảo vệ. Những thức ăn giàu một loại axít béo đặc biệt (oméga 3) có một tác dụng thuận lợi: sự tiêu thụ cá ít nhất hai lần mỗi tuần làm giảm 1/3 nguy cơ bị bệnh Alzheimer.

Rượu không chung sống tốt với một bệnh thoái hóa thần kinh (maladie neurodégénérative) loại Alzheimer, thuốc lá cũng vậy. Các tế bào thần kinh nhạy cảm với những tác dụng có hại của các gốc tự do của oxy mà thuốc lá và sự ô nhiễm làm gia tăng sự sản xuất, cũng như sự lão hóa. Điều này đã dẫn đến một giả thuyết của một tác dụng phòng ngừa của các chất chống oxy hóa (antioxydants) như các vitamine E và C hay carotène. Và kết quả đã xác nhận một tác dụng thuận lợi của vitamine E.

Những hoạt động thể thao (bước, nhảy múa) được liên kết với một sự giảm nguy cơ: vài công trình nghiên cứu cho thấy một sự giảm lên đến 60%.

Cũng vậy đối với sự thực hiện đều đặn những hoạt động nhận thức (activités cognitives) hay xã hội. Trình độ học vấn thấp thường được nêu lên như là liên kết với một nguy cơ gia tăng phát triển bệnh Alzheimer. Những người đã không có được chứng chỉ học tập đã được ghi nhận là bị bệnh Alzheimer hơn. Điều này tán trợ cho giả thuyết của một “nhận thức dự trữ” (réserve cognitive), có khả năng làm hoãn lại sự xuất hiện của các triệu chứng nơi những người được hưởng một trình độ học vấn cao. Tóm lại, luyện tập vật lý và trí tuệ có thể là một yếu tố bảo vệ.

MỘT TRIỆU NGƯỜI BỆNH.

Tuy nhiên chẩn đoán phải được thực hiện càng sớm càng tốt. Ở Pháp, bệnh Alzheimer thiếu được chẩn đoán: dưới 25% những người trên 80 tuổi bị bệnh Alzheimer được hưởng những điều trị hiện có; dưới một nửa những người bị mang chứng bệnh này đã được khai báo. Hoặc gần một triệu người Pháp hiện nay bị bệnh Alzheimer: 2-4% những người trên 65 tuổi, hơn 20% những người đã vượt quá tuổi 80. Thay đổi đoạn kết của cuộc đời mình, đó là thay đổi lối sống càng sớm càng tốt.
(LE FIGARO 31/5/2010)

Đọc thêm: Tổng Hợp Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer)

5/ BỆNH TÂM THẤN PHÂN LIỆT CÓ PHẢI LÀ MỘT BỆNH DI TRUYỀN?

Professeur Jean-Marie Danion
Directeur de l’ unité Inserm “Physiopathologie et psychopathologie
cognitive de la schizophrénie”
Université de Strasbourg


Thường khởi đầu giữa năm 15 và 25 tuổi, bệnh tâm thần phân liệt liên kết, theo tỷ lệ thay đổi, một sự mê sảng (délire), những ảo giác (hallucinations)(người bệnh thường nghe những giọng nói), một sự rối loạn hành vi và tư duy, và một sự khép mình lại (repli sur soi). Căn bệnh kèm theo một sự đau khổ tâm thần (souffrance psychique), đôi khi mạnh mẽ, nơi bệnh nhân cũng như nơi những người chung quanh, và một phế tật thật sự (phế tật tâm thần: handicap psychique), được đặc trưng bởi những khó khăn trong đời sống hàng ngày và sự hội nhập xã hội và nghề nghiệp.

Bệnh tâm thần phân liệt có phải do di truyền hay không? Cũng như tất cả những gì liên quan đến các bệnh tâm thần, câu hỏi này là nhạy cảm, nhất là nó liên hệ đến một căn bệnh mà sự xuất hiện của nó trong một gia đình luôn luôn gây nên một sự tra vấn âu lo và đau khổ về nguồn gốc của bệnh. Cái thời kỳ, trong đó người ta quy tội một cách nặng nề các bố mẹ khi buộc tội họ là những bố mẹ “xấu”, và như thế chịu trách nhiệm về căn bệnh mắc phải của đứa con của mình, may mắn thay đã qua rồi. Những câu hỏi về tính chất di truyền có thể làm nảy sinh một dạng tội lỗi khác, cái tội lỗi đã truyền lại cho con mình những gène “xấu”, là nguyên nhân của căn bệnh.

Tính chất tội lỗi sau không được biện minh hơn so với tính chất tội lỗi đã được nói trước đó. Mặc dầu nơi vài bố mẹ, ngày nay, sự hiện diện của một thành phần di truyền được chứng minh, nhưng nhiều công trình nghiên cứu về các tiền sử gia đình của các bệnh nhân, cũng như những công trình nghiên cứu các người sinh đôi và các con nuôi, cho phép đánh giá ảnh hưởng lần lượt của những yếu tố di truyền, gia đình và môi trường, chứng tỏ một thực tế phức tạp và tương đối hơn nhiều. Trong khi trong dân chúng nói chung cứ 100 người có khoảng một người bị bệnh tâm thần phân liệt, thì nơi những người trưởng thành mà một trong các bố mẹ bị bệnh, thì cứ 100 người có bảy người có nguy cơ bị mắc bệnh. Trong quần thể những người mà cả hai bố mẹ bị bệnh tâm thần phân liệt, thì cứ 100 người có 27 người khả dĩ bị bệnh. Trong khi nơi những người anh, chị và những người sinh đôi giả (faux jumeaux) của những bệnh nhân tâm thần phân liệt (chỉ có một nửa các gène của họ), nguy cơ là 10%,, thì nguy cơ này đạt 50% nơi những người sinh đôi thật (vrais jumeaux), có một bộ gène (génome) gần như tương tự.

Vậy, đúng là có một thành phần di truyền của bệnh tâm thần phân liệt. Nhưng sự kiện nguy cơ trở thành tâm thần phân liệt nơi những người sinh đôi thật là 50%, chứ không phải là 100%, cũng cho thấy rằng bệnh tâm thần phân liệt không phải là một bệnh di truyền theo nghĩa thông thường của thuật ngữ này: mang thành phần di truyền này không nhất thiết rằng ta sẽ trở nên tâm thần phân liệt. Điều này có nghĩa rằng ta có một nguy cơ gia tăng phát triển một bệnh tâm thần phân liệt, rằng ta có một tính nhạy cảm (susceptibilité) hay một tính dễ bị thương tổn (vulnérabilité) đặc biệt đối với bệnh này do các gène được gọi là “tính dễ bị thương tổn” (gène de vulnérabilité), khác xa với ý niệm về các gène “xấu”. Rõ nét, những yếu tố khác với di truyền phải hiện diện để bệnh có thể xảy ra. Mặc dầu nhiều “gène tính dễ bị thương tổn” đã được nghi ngờ, nhưng chỉ một số nhỏ trong số các gène này đã có thể được xác nhận bởi nhiều công trình nghiên cứu độc lập trên bình diện quốc tế. Chúng đều tham dự vào trong sự phát triển và sự vận hành chức năng của não bộ. Sau cùng, những công trình nghiên cứu rất mới đây gợi ý rằng tính dễ bị thương tổn di truyền của bệnh tâm thần phân liệt một phần được chia sẻ với một dạng đặc biệt của các rối loạn khí chất, rối loạn lưỡng cực (trước đây gọi là loạn tâm thần hưng - trầm cảm: psychose maniaco-dépressive).

NHỮNG TƯƠNG TÁC.

Trong số những yếu tố không di truyền (facteurs non génétiques) làm gia tăng nguy cơ bệnh tâm thần phân liệt, vài yếu tố can thiệp rất sớm, ngay trong đời sống phôi thai hay ngay lúc sinh ra đời. Nguy cơ cũng được gia tăng nơi những người sinh ra từ một bà mẹ đã chịu một bệnh nhiễm trùng hay bệnh chuyển hóa, một tình trạng suy dinh dưỡng hay bị stress qua mức trong thời kỳ thai nghén, hay đã bị sinh khó, nguồn gốc của một tình trạng giảm oxy mô của đứa trẻ. Tuy nhiên những yếu tố này chỉ là nguyên nhân trong một số nhỏ các trường hợp. Những chấn thương tâm lý trầm trọng trong thời kỳ thơ ấu cũng bị quy kết. Sự cô lập về mặt xã hội tiếp theo sau sự đô thị hóa hay sự nhập cư cũng có thể góp phần vào sự phát triển của bệnh. Sau cùng, ngày nay người ta đã xác lập rằng sự tiêu thụ cannabis làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh tâm thần phân liệt, và điều này nhất là khi sự tiêu thụ là quan trọng và được bắt đầu rất sớm trong thời kỳ thiếu niên.

Từ nay, các nghiên cứu hướng về sự phân tích các tương tác giữa các gène “tính dễ bị thương tổn” và những yếu tố không phải di truyền: đó là sự gặp gỡ giữa các yếu tố nguy cơ và một thể trạng di truyền dễ bị thương tổn. Như thế rất có khả năng rằng bệnh tâm thần phân liệt là do nhiều mối tương tác phức hợp giữa các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, mà những tác dụng càng quan trọng khi chúng xảy ra, vào thời thơ ấu và tuổi thiếu niên, trong một trạng thái động của sự phát triển não bộ và của sự cấu thành của nhân cách. Những yếu tố này kết hợp với nhau để làm xáo trộn động lực này và làm biến đổi sự liên lạc trao đổi giữa các vùng khác nhau của não bộ, điều này có thể tạo nên con đường chung cuối cùng của bệnh tâm thần phân liệt. Bản chất và sức nặng của mỗi yếu tố này thay đổi với mỗi bệnh nhân, điều này giải thích tính đa dạng lâm sàng và mức độ trầm trọng khác nhau của bệnh.

Vậy những tranh cãi về nguồn gốc duy nhất sinh học, hay ngược lại độc nhất tâm lý, ngày nay không còn có lý do để tồn tại nữa.
(LE FIGARO 16/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Tâm Thần Phân Liệt (Schizophrenia) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

6/ TRÁI CÂY VÀ RAU XANH LÀM GIẢM ÍT NGUY CƠ UNG THƯ.

Ăn 5 suất trái cây và rau xanh mỗi ngày có lợi, với điều kiện biết thích nghi lối sống của mình

Tổ chức y tế thế giới từ năm 1990 luôn nhấn mạnh điều đó: Ăn năm suất trái cây và rau xanh mỗi ngày làm giảm nguy cơ mắc phải ung thư.” Theo các nhà nghiên cứu của trường y Mont Sinai (Nữu Ước), sự khẳng định này là quá đáng về mặt khoa học. Thông điệp của OMS căn cứ trên vài quan sát có tính cách thường nghiệm (observation empirique), bằng cách tập trung vào các ung thư đặc hiệu hay vào vài loại trái cây và rau xanh. Thế mà các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã đo lường tác động của một chế độ ăn uống trái cây/rau xanh lên tất cả các loại ung thư, bằng cách nghiên cứu một cơ sở rộng rãi các dữ kiện của 142.000 người đàn ông và của 335.000 phụ nữ tình nguyện, được tuyển mộ giữa năm 1992 và 2000 trong 10 nước châu Âu. Kết luận: sự tiêu thụ hơn 200g trái cây và rau xanh mỗi ngày chỉ làm giảm 3% nguy cơ bị ung thư. Và nếu như các rau tươi có một lợi ích thấp, lợi ích này chỉ có thể được quan sát ở các phụ nữ. Bù lại, những người tiêu thụ nhiều trái cây và rau xanh có một vệ sinh đời sống tốt hơn: họ uống rượu ít hơn, hút thuốc ít hoặc không và ít bị béo phì. Các trái cây và rau xanh tuy vậy bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch.
(SCIENCE ET VIE 6/2010)

7/ CÓ NÊN BẢO TỒN MÁU CUỐNG RỐN LÚC SINH ĐỂ NGĂN NGỪA MỘT BỆNH THOÁI HÓA VỀ SAU?

Professeur Luc Douay
Hématologiste
Membre correspondant de l’Académie nationale de médecine


Máu lưu thông trong cuống rốn chứa các tế bào gốc (cellules souches), thường định vị trong tủy xương. Những tế bào gốc này sản xuất các tế bào máu: các hồng cầu, bạch cầu và các tiểu cầu. Được lấy vào lúc sinh, các tế bào gốc này, được gọi là “sinh huyết” (hématopoiétique), có thể được sử dụng để thay thế ghép tủy xương (greffe de moelle osseuse) để điều trị những bệnh của máu, như các bệnh bạch cầu (leucémie) hay các u bạch huyết (lymphome), các bệnh di truyền hay các thiếu hụt miễn dịch (déficience immunitaire). Sau khi được tiêm bằng đường tĩnh mạch, những tế bào gốc này sẽ di tản một cách ngẫu nhiên về tủy xương, tăng sinh ở đó và tái sinh những tế bào máu của người nhận.

Hơn 20.000 những loại ghép này đã được thực hiện trên thế giới trong 20 năm qua. Chính vì thế, các ngân hàng máu cuống rốn (banque de sang de cordon) phát triển nhanh chóng, và đặc biệt là ở Pháp, bổ sung cho những hộp phiếu những người cho tủy xương thiện nguyện (donneurs volontaires de moelle osseuse). Trong trường hợp này, đối với một phụ nữ đang sinh, đó là một sự biếu tặng nặc danh và miễn phí máu cuống rốn của con mình, để máu được trích lấy, hợp thức hóa, làm đông lạnh và được tích trữ trong các ngân hàng công không lợi nhuận của Etablissement français du sang hay của một trung tâm bệnh viện-đại học (CHU). Đó đúng là một cho đồng loại (don allogénique), phát xuất từ một cơ thể người khác, sẽ được dùng cho những bệnh nhân khác bị mắc phải bệnh.

Thật hiển nhiên, nhiều người đặt nghi vấn về lợi ích bảo quản máu cuống rốn của chính đứa con mình. Đó là để dành những tế bào gốc quý giá của nó. Ở đây không phải là vấn đề biếu tặng, mà là trả tiền các ngân hàng tư dùng cho mục đích cá nhân để làm đông lạnh và bảo tồn cuống rốn lúc hữu sự... Có thể nói đó là một loại đánh cá trên một “bảo hiểm nhân mạng tế bào” (assurance-vie cellulaire) ! Có những lý lẽ khoa học và y khoa được xác nhận để đề nghị điều đó với các bố mẹ mong muốn bảo vệ đứa con của mình hay không? Câu trả lời dứt khoát là không.

Không có lý do khoa học cũng như y học nào khuyên thực hiện điều như thế cả. Ghép máu cuống rốn (greffe de sang de cordon) có lợi ích tích cực trong các bệnh ung thư bạch cầu (leucémie) bởi vì người cho và người nhận là hai cá thể phân biệt về phương diện miễn dịch học (người ta nói là ghép đồng loại: greffe allogénique hay homogreffe). Thật vậy, trong số những tế bào được ghép, những tế bào miễn dịch có khả năng nhận diện những tế bào ung thư máu (cellules leucémiques) còn lại của người nhận và hủy diệt chúng. Khi đó ta nói là một tác dụng “mẫu ghép chống bệnh bạch cầu” (greffon contre leucémie). Ghép bản thân (greffe autologue hay autogreffe: ghép đuợc thực hiện từ một mẫu ghép lấy trên chính người được ghép) máu cuống rốn không cho phép điều đó và do đó không có lợi ích trị liệu. Những công trình nghiên cứu nơi các trẻ phát triển một bệnh bạch cầu cho thấy rằng máu cuống rốn lúc sinh đã chứa các tế bào ung thư máu. Đưa các mẫu ghép bản thân (greffons autologues) này vào những người bệnh nhân trẻ này chẳng khác nào tiêm trở lại cho chúng chính căn bệnh đã bị mắc phải.

CHỈ 30% CÁC MẪU GHÉP ĐƯỢC HỢP THỨC BỞI CÁC NGÂN HÀNG MÁU.

Khi để điều trị một căn bệnh di truyền, các tế bào được tiêm vào không mang bất thường mà ta muốn sửa chữa. Ở đây cũng vậy, phải sử dụng những tế bào phát xuất từ một người cho không mang bất thường. Sau cùng, để cho thủ thuật ghép được thành công, các tế bào gốc sinh huyết (cellules souches hématopoiétiques) phải có số lượng đầy đủ, nếu không, sự tái tạo của tủy xương sẽ không xảy ra. Chỉ có 30% các mẫu ghép được lấy đáp ứng với các tiêu chuẩn này và được hợp thức hóa để tích trữ trong các ngân hàng. Đến nay chúng ta không biết làm khuếch đại số các tế bào gốc, trái với điều mà vài xí nghiệp tư nhân làm bố mẹ tưởng như vậy. Vậy nguy cơ là bảo tồn một mẫu ghép không thể sử dụng được trong tương lai.

Những máu cuống rổn này có thể dùng làm kho dự trữ các tế bào gốc để điều trị tất cả các bệnh?

Để sửa chữa một cơ quan bị thương tổn trầm trọng, ngày nay chúng ta chỉ có khả năng ghép một cơ quan lành. Hôm nay có một lựa chọn khác: thay thế các tế bào không hoạt động hay bị phá hủy. Đó là liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire), đang mở đường cho nền y học tái sinh (médecine régénérative) của ngày mai. Những tế bào gốc được sử dụng để sửa chữa những mô bị thương tổn, một cách tạm thời hay vĩnh viễn. Để được điều đó chúng ta phải có những tế bào chuyên biệt (cellules spécifiques) của mô cần sửa chữa, dễ tách riêng với số lượng lớn, có khả năng hòa mình vào trong mô cần sửa chữa (tissu cible) và hoạt động ở đó.

Rất nhiều nghiên cứu đang được tiến hành với cố gắng làm chủ quá trình biệt hóa các tế bào gốc (différenciation de cellules souches) của máu cuống rốn thành tất cả các loại mô: xương, sụn, tụy tạng, thần kinh, gan, bì, cơ và tim. Nhiều công trình cũng đang được tiến hành về sự biệt hóa của các tế bào gốc được tách từ các mô nhau, đặc biệt là từ gelée de Wharton (cấu tạo vỏ bao quanh cuống rốn). Mặc dầu đầy hứa hẹn, nhưng những nghiên cứu này vẫn luôn luôn ở mức của nghiên cứu cơ bản, và mọi hy vọng điều trị vẫn còn không được biện minh.

Cần chống lại sự cám dỗ của các xí nghiệp thương mại, đề nghị, với điều kiện phải trả một số tiền quan trọng, tích trữ vô thời hạn các máu cuống rốn với mục đích cá nhân. Ngoài ra, nhiều nghi vấn vẫn tồn tại về chất lượng của các phương cách lấy và bảo quản các tế bào trong những điều kiện này. Người ta không biết, liệu các tế bào này có thể đề kháng một sự đông lạnh trong nhiều thập niên hay không, điều này tạo vấn đề đối với các bệnh, mà đại bộ phận sẽ xảy ra trong một nửa thứ hai của cuộc đời.

Như thế, nếu việc cho thiện nguyện, ẩn danh và miễn phí của máu cuống rốn trong các ngân hàng đồng loại (banques allogéniques) của nhà nước có một lợi ích điều trị không thể tranh cãi được, thì sự bảo quản các máu ghép bản thân (conservation autologue) cần được bác bỏ, và sự quảng cáo cổ võ sự bảo tồn này chỉ có tính chất dối trá.
(LE FIGARO 17/5/2010)

Đọc thêm:

Quote

Thời Sự Y Học Số 105 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/12/2008 )

6/ THỊ TRƯỜNG MÁU CUỐNG RỐN

THERAPIE CELLULAIRE: Các ngân hàng tư nhân máu cuống rốn(banques privées de sang de cordon ombilical) phát triển gia tăng ở châu Âu. Các bố mẹ hy vọng có thể dùng để điều trị con họ trong trường hợp bị bệnh nặng. Ở Pháp, chính quyền mong muốn phát triển những ngân hàng công. Có nên bảo quản máu cuống rốn (sang de cordon ombilical) hay không? Càng ngày càng có nhiều phụ nữ nghe nói đến khả năng này, nhất là qua những thí dụ của những nhân vật danh tiếng đã đặt máu cuống rốn của con mình vào ngân hàng. Trên site Internert, hãng Cryogenesis của Anh không do dự quảng cáo rằng trong số các khách hàng của hãng có ca sĩ Rod Stewart, cầu thủ bóng đá Thierry Henry và ngay cả những thành viên của “các hoàng gia châu Âu”

Trên thế giới hàng chục ngân hàng tư đề nghị đảm bảo lấy máu cuống rốn khi sinh và bảo quản máu này trong 20-25 năm, để dùng có tính cách cá nhân hay trong gia đình. Phí tổn dịch vụ từ 1000 đến 3500 Euro. Thoạt đầu, những lý lẽ của họ rất thuyết phục. “Quý vị muốn điều tốt lành nhất cho con của quý vị sau này? Vậy thì hãy tồn trữ ngay từ bây giờ máu cuống rốn của chính nó. Như thế, trong tương lai, nó sẽ có sẵn để sử dụng những tế bào gốc của chính mình. Những tế bào gốc của máu cuống rốn này có lẽ sẽ cho phép chữa lành một bệnh nghiêm trọng.” Những tế bào của máu cuống rốn có tính chất đa năng (pluripotent): chúng có khả năng biến hóa thành những tế bào khác nhau của cơ thể và là một nguồn tiềm tàng dùng cho liệu pháp tế bào (therapie cellulaire). Được bảo quản đông lạnh, các tế bào gốc của máu cuống rốn vẫn sẽ bảo tồn tất cả những tính năng của chúng.

Ở Anh, theo Cryogenesis, hơn 30.000 bố mẹ bị quyến rũ bởi những quảng cáo này. Để so sánh, ngân hàng quốc gia Anh tích trữ 11.000 đơn vị. Các hãng tư Hoa Kỳ có hơn 2,5 triệu khách hàng. Ở Pháp, nước duy nhất đã không cho phép mở các ngân hàng tư, nên khó mà có được các con số. Tuy vậy, một vài hãng ngoại quốc quảng cáo ở Pháp, nhất là nơi những vùng biên giới. Những người Pháp sống ở biên giới Bỉ hay Thụy Sĩ, sau khi sinh, yêu cầu các ngân hàng tư đến tại chỗ trong các nhà hộ sinh để thu lấy máu cuống rốn của em bé vừa mới chào đời

MỘT THÁCH THỨC VỀ TƯƠNG LAI

Vấn đề là những lời hứa đẹp dầu sao hiện nay là không thực tế. “Bảo quản máu của cuống rốn với tính cách tư nhân, cho con hay gia đình mình, là một thách thức về tương lai, nhưng không được xác nhận bởi các kiến thức hiện nay về y học”. Ghép máu cuống rốn đã trở nên một giải pháp quy giá để thay thế (và càng ngày càng thường xảy ra) ghép tủy xương trong một số bệnh càng ngày càng gia tăng. Nhưng việc ghép này được thực hiện trong khung cảnh allogreffe (bệnh nhân được ghép bằng những tế bào của máu cuống rốn từ một cơ thể khác), chứ không phải là autogreffe. Do đó, ngày nay, sự bảo quản các tế bào gốc của bệnh nhân chỉ có ý nghĩa trong một hệ thống liên kết, chứ không phải với tính cách tư nhân.

Con đường điều trị đã được mở ra cách nay 20 năm bởi G.S Eliane Gluckman (bệnh viện Saint-Louis, Paris). Bà là người đầu tiên đã điều trị thành công một em bé bị một bệnh huyết học hiếm có, bệnh thiếu máu Fanconi, bằng cách tiêm vào trong tĩnh mạch của em bé bị bệnh, máu cuống rốn của chị nó. Thật vậy, cũng như tủy xương, cuống rốn giàu các tế bào gốc sinh huyết, những tiền thân của các tế bào máu.

CÓ SẴN ĐỂ DÙNG NGAY

Từ đó, trên thế giới, 20.000 bệnh nhân đã được ghép với máu cuống rốn, và các chỉ định càng ngày càng gia tăng: các ung thư máu (bệnh bạch cầu, u bạch huyết), các bệnh di truyền của hồng cầu như thalassémie và drépanocytose, maladies orphelines... “Vào năm 2004, có 40 bệnh có thể điều trị bằng truyền máu cuống rốn, bây giờ con số lên đến 85. Ngoài ra, những ghép bằng máu cuống rốn, từ lâu dành cho trẻ em , từ nay có thể thực hiện nơi những người lớn”. “Máu cuống rốn có những lợi điểm đáng kể. Trước hết, một sự dung hợp miễn dịch hoàn toàn (une compatibilité immunologique complète) không cần thiết cho sự thành công của một cuộc ghép. Một sự phù hợp 4-5 tiêu chuẩn trên 6 là đủ, trong khi phải 9 hay 10 trên 10 trong trường hợp ghép tủy xương. Ngoài ra, mẫu ghép có sẵn để dùng ngay vì đã được tích trữ.” Một sự có sẵn tức thời, trái với quá trình nặng nề khi tiến hành phẫu thuật ghép tủy xương (phải gọi người cho và nhập viên người này để lấy mẫu ghép, dưới gây mê tổng quát. “Các tế bào gốc của máu cuống rốn, của nhau hay của chính cuống rốn cũng đầy hứa hẹn trong y khoa tái tạo (médecine régénérative), đối với ghép da, nhưng cũng trong khung cảnh của bệnh đái đường, những bệnh thần kinh thoái hóa như bệnh Alzheimer, những bệnh lý của gan, của tim. Hiện giờ, đó là những công trình sơ khởi. Chưa có gì đã được công bố nơi người cả.”
(LE FIGARO 25/11/2008)


8/ GIAO HỢP ĐAU: THƯỜNG XẢY RA VÀ THẦM KÍN.

Chỉ cần đặt câu hỏi cho họ thì cứ năm phụ nữ sẽ có một kêu đau khi giao hợp (dyspareunie). Mặc dầu thường được xem như là một loạn năng sinh dục do tâm lý (dysfonction sexuelle psychogénique), chứng giao hợp đau này có thể có nguyên nhân thực thể. Trong tất cả các trường hợp, chứng giao hợp đau nên được thăm dò trên bình diện thân thể cũng như trên bình diện tâm thần. Cần biết vài hướng mới.

Chứng giao hợp đau (dyspareunie), từ tiếng Hy lạp “dus”, nghĩa là khó khăn, và “ pareunos”, nghĩa là người chồng, gợi lên một cách cổ điển những đau đớn của phụ nữ trong lúc giao hợp. Sự bôi trơn sinh lý (lubrification physiologique), bị giảm trong thời kỳ mãn kinh do giảm oestrogène (hypo-oestrogénie), nhưng cũng trong thời kỳ hậu sản (biểu mô âm đạo bị teo lại và đánh mất một nửa các tế bào), là căn nguyên thông thường nhất. Khi chứng giao hợp đau có nguồn gốc ở lỗ vào (dyspareunie orificielle), thì thường là do nguyên nhân thực thể: sự lành sẹo xấu của thủ thuật cắt tầng sinh môn (épisiotomie), rách tầng sinh môn (déchirure périnéale), sa sinh dục (prolapsus), loét, nhiễm trùng sinh dục hay đường tiểu, ban đỏ âm hộ (chàm, bệnh vẩy nến (psoriasis). Ở sâu, tận đáy của âm đạo, chứng giao hợp đau được gây nên do sự lay động của tử cung. Nguyên nhân là do sinh đẻ, nếu được thực hiện bằng dụng cụ hay trong trường hợp rách cơ-gân và thần kinh (Hội chứng Allen và Masters), nhưng nhất là lạc nội mạc tử cung (endométriose), tử cung hậu lệch (rétroversion) và các nhiễm trùng sinh dục. Trong trường hợp loại bỏ nguyên nhân bệnh lý cơ thể, phải tìm kiếm nguồn gốc tâm thần (lo âu và trầm cảm). Khi đó, việc từ chối không để cho đưa vào, là do một sự vô hiệu hóa của lòng ham muốn tình dục (nền giáo dục cứng nhắc, chấn thương tình dục, xung đột lứa đôi), không khởi động đường cong kích thích và không bôi trơn. Một sự e sợ âm tính sau đó tăng cường hiện tượng, có thể đi đến chỗ gây co thắt phản xạ của hệ cơ vùng hội âm, liên kết với một trạng thái tăng cảm giác (hyperesthésie) âm hộ-âm đạo, gây nên một sự bịt khít phản xạ của âm đạo, hay chứng co đau âm đạo (vaginisme).

ĐÔI KHI DO ĐIỀU TRỊ.

Một duyệt xét tư liệu nhằm đánh giá những giải phẫu quan trọng gây nên chứng giao hợp đau, ngoài ung thư học. Điều trị bằng phẫu thuật chứng són đái bằng treo âm đạo (colposuspension) theo phương pháp Burch (cố định thành trước của âm đạo vào các dây chằng của các xương vùng chậu) không gây nên hoặc ít chứng giao hợp đau. Trái lại colporraphie postérieure (khâu âm đạo sau) là nguyên nhân khá thường với 26% giao hợp đau sau phẫu thuật. Cắt bỏ tử cung (hystérectomie) thường không bị cáo buộc, nhưng mới đây, sự kiểm tra khoảng 60 người được mổ bằng đường âm đạo hay bằng đường bụng, đã chứng minh rằng chứng giao hợp đau sau mổ là thường xảy ra hơn sự can thiệp lên âm đạo, có lẽ do sự rút ngắn của các kích thước âm đạo.

KHÔ ÂM ĐẠO: CÓ GÌ MỚI?

Tình trạng giảm oestrogène (hypo-oestrogénie) lúc mãn kinh thường bị cáo buộc trong trường hợp khô âm đạo. Tuy nhiên, sự điều chỉnh kích thích tố không phải luôn luôn là đủ. Tất cả các bài báo gợi ý rằng chứng giao hợp đau là thông thường nơi phụ nữ mãn kinh nhưng không phải hoàn toàn tương quan với các nồng độ của œstrogène trong máu cũng như với sự teo âm đạo (atrophie vaginale). Tuy nhiên, một sự giảm oestradiol trong máu góp phần vào và một điều trị thay thế thường có thể làm thuyên giảm. Ospemifène là một chất chủ vận (agoniste)/đối kháng (antagoniste) mới không phải hormone của các thụ thể đối với oestrogène. Những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên cho thấy một tính hiệu quả và một độ dung nạp rất tốt để làm bình thường hóa chỉ số thành thục (index de maturation) của biểu mô âm đạo cũng như pH. Thuốc đang được thí nghiệm giai đoạn III với liều lượng 60mg mỗi ngày. Một tác dụng thuận lợi lên vú và xương cũng được dự kiến, mà không làm tăng sản nội mạc tử cung (hyperplasie endométriale) hay làm phừng mặt (bouffée de chaleur). Loạt các chất mới này được gọi là SERM hay Selective Estrogen Receptor Modulator, nằm trong dòng dõi của tamoxifen, toremfene, clomifene và raloxifene. Thế hệ các hợp chất mới này kết hợp những đặc tính của các thuốc trước, không có những tác dụng phụ, bảo vệ vú và khung xương và làm tái sinh niêm mạc âm đạo mà không tác động lên nội mạc tử cung cũng như không làm gia tăng sự phừng mặt hay nguy cơ huyết khối nghẽn mạch (risque thromboembolique). Bazedoxifene, arzoxifene, lasofoxifene và ospemifene là 4 ứng viên đang đua tranh.

MỞ RỘNG BẰNG PHUƠNG PHÁP CƠ HỌC.

Liệu pháp của đau tiền đình âm đạo (vestibulodynie) (đau ở phần phía trước hết của âm đạo, gây nên chứng đau giao hợp lỗ, (dyspareunie orificielle), cần đến các kỹ thuật nong. Một nghiên cứu đa trung tâm đã quan tâm đến việc sử dụng một bộ 4 dụng cụ nong âm đạo (dilatateur vaginal), có một kích thước gần giống với dụng cụ soi hậu môn. Hệ thống này đóng một vai trò dương tính nơi các phụ nữ đã thử không thành công những liệu pháp khác. Sự đưa vào thận trọng và dần dần dụng cụ nong mảnh nhất, để trong âm đạo 10 phút, 3 lần mỗi tuần, tiếp theo sau, khi thủ thuật được thực hiện dễ dàng, bởi cùng công việc với dụng cụ nong hơi lớn hơn, và như thế cho 4 dụng cụ nong.

TOXINE BOTULIQUE, TẠI SAO KHÔNG?

Một nhóm nghiên cứu của Cleveland đã đề nghị toxine botulique cho khoảng 40 phụ nữ có tình trạng tăng hoạt tính lúc nghỉ ngơi của cơ nâng hậu môn (muscle releveur de l’anus) (được phát hiện bởi EMG), cũng như một sự ức chế bị giảm trong thời kỳ giãn ra của cơ. Được theo dõi trong khoảng hai năm, các phụ nữ này đã nhận những mũi tiêm toxine botulique vào trong cơ nâng hậu môn. Được hỏi và thăm khám một tháng sau mỗi buổi tiêm, họ tuyên bố một sự cải thiện của khả năng đưa vào dương vật, không gây trở ngại lên chức năng ruột và đường tiểu. Vào cuối thời kỳ theo dõi, 63,2% hoàn toàn được chữa lành, 15,4% cần phải được tiêm trở lại và cùng tỷ lệ này đã bỏ cuộc. Các tác giả khuyến nghị kỹ thuật này đặc biệt là khi chứng giao hợp đau không đáp ứng với các liệu pháp thuốc và nhận thức, nhất là nếu nguyên nhân là giải phẫu.
(GENERALISTE 20/5/2010)

9/ MỠ BỤNG LÀM TĂNG NGUY CƠ SA SÚT TRÍ TUỆ.

Nơi những người ở lứa tuổi trung niên, mỡ tạng (graisse viscérale) được liên kết với một sự giảm thể tích não bộ và như thế với một nguy cơ mắc phải chứng sa sút trí tuệ về sau này trong đời sống.

Chứng béo phì được liên kết với một sự gia tăng của nguy cơ mắc phải chứng sa sút trí tuệ. Mặc dầu chúng ta không biết một cách chính xác tại sao, tuy nhiên sự chứng thực này có thể mang lại một khả năng phòng ngừa nào đó. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ ở Boston, công tác trong bối cảnh của Framingham Heart Study, đã phân tích mối liên hệ giữa chỉ số khối lượng cơ thể (BMI), vòng thân (tour de taille), tỷ số giữa thân hình/háng, kích thước của mô mỡ dưới da và tạng và những chỉ dấu khác của sự lão hóa não bộ trong một tập thể những người trưởng thành tuổi trung niên.

Các đo lường bằng IRM nhằm vào thể tích toàn bộ não, thể tích sừng thái dương (corne temporale), thể tích chất trắng và nhồi máu não.

Nơi 733 người tham dự (tuổi trung bình 60 tuổi, 53% các phụ nữ), Stéphanie Debette và các đồng nghiệp đã quan sát thấy một mối liên kết nghịch giữa chỉ số khối lượng cơ thể, vòng thân, tỷ số thân hình/háng, kích thước mô mỡ dưới da và thể tích toàn bộ não là quan trọng nhất và vững chắc nhất và điều này cũng độc lập với chỉ số khối lượng cơ thể và sự đề kháng đối với insuline.

Các nhà nghiên cứu đã không ghi nhận những mối liên kết có ý nghĩa giữa các trị số đo mỡ bụng (bằng scanner) và thể tích sừng thái dương, cũng như với thể tích chất trắng và các nhồi máu não.

“Những kết quả của chúng tôi xác nhận sự liên kết nghịch giữa một chỉ số khối lượng cơ thể tăng cao (BMI) và các thể tích não nhỏ hơn nơi những người trưởng thành lớn tuổi và nơi những người trẻ tuổi nhất. Điều này càng được xác nhận vì những dữ kiện phát xuất từ một công trình nghiên cứu có quy mô lớn hơn (700 người so với 300 người trong những lần nghiên cứu trước đây). Điều quan trọng hơn, những công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ý một mối liên hệ mạnh hơn giữa chúng béo phì trung tâm (obésité centrale) (đặc biệt là mỡ tạng trong trường hợp béo phì bụng) và nguy cơ bị chứng sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer”, một trong các tác giả của công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 1/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Béo Phì (Obesity) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

10/ BỆNH TỰ KỶ (AUTISME) VÀ LỢI ÍCH CỦA OCYTOCINE.

GS Marion Leboyer, giám đốc phòng thí nghiệm Inserm Tâm thần học di truyền, giải thích những lợi ích có được với một kích thích tố: ocytocine.

Hỏi: Sự công bố mới đây, trong tạp chí khoa học có uy tín “Nature”, thời sự hóa trở lại các công trình của bà về bệnh tự kỷ. Những đặc điểm của căn bệnh tâm-thần kinh (maladie neuropsychiatrique) này là gì?
GS Marion Leboyer: Đó là một rối loạn của sự phát triển của hệ thần kinh não bộ, bắt đầu trước 3 tuổi và được thể hiện bởi 3 loại triệu chứng.
  • Một sự thu mình lại (repli sur soi) với sự tránh cái nhìn của kẻ khác, điều này làm giảm những quan hệ xã hội.
  • Những khó khăn về ngôn ngữ: người bệnh phát biểu một cách dè xẻn và với một giọng nói đều đều. Ngay cả đôi khi họ không nói gì cả.
  • Những hành vi ám ảnh (comportements obsessionnels).
Ở Pháp, sự phát hiện bệnh tự kỷ gia tăng: đến 1% dân chúng ngày nay bị mắc phải bệnh này, với nhiều thể dạng và độ trầm trọng ít hay nhiều. Những kết quả của công trình nghiên cứu được công bố trong “Nature” (mà chúng tôi đã tham dự) chứng minh sự hiện diện của rất nhiều bất thường di truyền. Các gène liên hệ mã hóa (chế tạo) các protéine có trách nhiệm về những nối kết giữa các neurone.

Hỏi: Với thời gian, bệnh lý này tiến triển như thế nào?
GS Marion Leboyer: Tùy theo dạng bệnh, căn bệnh sẽ tạo nên một phế tật quan trọng ít hay nhiều. Trong những trường hợp trầm trọng, kết cục là bi thảm. Những đứa trẻ vẫn phải ở suốt đời trong những cơ sở điều trị đặc biệt. Thể được gọi là “hội chứng Asperger”, trong đó các năng lực trí tuệ được bảo tồn, là có tiên lượng tốt hơn. Tuy nhiên, những người bị bệnh thường bị phế tật nặng trong đời sống xã hội của họ.

Hỏi: Than ôi, không có điều trị đặc hiệu, do đó các kết quả của bà với với ocytocine rất được quan tâm. Làm sao bà đã có ý tưởng sử dụng kích thích tố này?
GS Marion Leboyer: Chúng tôi biết rằng những người bị bệnh tự kỷ có một sự thiếu hụt ocytocine, hormone được tiết ra bởi não thùy. Vì kích thích tố này đóng một vai trò quan trọng trong những hành vi cảm xúc(comportements affectifs), nên chúng tôi đã nghĩ rằng nếu cho người bệnh ocytocine tổng hợp, thì có lẽ ta sẽ có thể cải thiện những khó khăn về quan hệ (diificultés relationnelles) của họ.

Hỏi: Thử nghiệm được diễn ra như thế nào?
GS Marion Leboyer: 13 người trưởng thành bị dạng Asperger đã được điều trị bằng đường mũi (hít với một bình xịt mũi), cho phép hormone đến não trong vài phút. Trước khi được thải ra một cách nhanh chóng. Sau một liều duy nhất, chúng tôi đã quan sát thấy, suốt trong 90 phút (trong đó các bệnh nhân đã chịu những trắc nghiệm), hai cải thiện rất có ý nghĩa.
  • Trên bình diện cái nhìn: không có ocytocine, khi người ta trình cho họ thấy các gương mặt trên ordinateur, các người bệnh đều nhìn đi cho khác. Nhưng, dưới tác dụng của hormone, họ chăm chú đôi mắt vào những gương mặt của người đó trên màn ảnh.
  • Trong trắc nghiệm thứ hai các người bệnh tham dự vào một trò chơi bóng với 3 người ảo, sự tương tác với các người chơi đã tỏ ra tốt hơn dưới tác dụng của ocytocine.

Hỏi: Sau những kết quả đầu tiên này, kết quả sắp đến của bà là gì?
GS Marion Leboyer: Với nhóm nghiên cứu của BS Angela Sirigu (CNRS de Lyon), chúng tôi đang tiến hành những công trình nghiên cứu khác ở Pháp, trên nhiều chục bệnh nhân bị dạng Asperger. Chúng tôi muốn biết cơ chế thật sự của ocytocine ở não bộ. Nhưng để theo đuổi những thử nghiệm này, chúng tôi cần một kích thích tố tổng hợp có một thời gian tác dụng dài hơn. Điều này cần đến những phương tiện tài chánh quan trọng... FondaMental, được thành lập để khuyến khích những công trình nghiên cứu về các bệnh tâm thần, đang chờ đợi những quyên góp.

Hỏi: Nếu những kết quả của những công trình nghiên cứu này xác nhận những kết quả trước, khi nào chúng ta có thể hy vọng một thuốc điều trị?
GS Marion Leboyer: Có lẽ chúng ta sẽ không có những kết quả này trước một năm. Giai đoạn còn rất sơ khởi. Nhưng nếu những thử nghiệm này dương tính, chúng ta có thể hy vọng, từ nay đến vài năm nữa, cải thiện đời sống xã hội của những người bị bệnh tự kỷ.
(PARIS MATCH 17-23/6/2010)

Đọc thêm :

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (21/6/2010)

hồi sức cấp cứu phòng mổ mắt tai mũi họng tim mạch thận tiết niệu chuyên khoa chống nhiễm khuẩn tiệt trùng nhi khoa sản khoa cáng vận chuyển giường hồi sức cấp cứu máy đo độ bão hòa oxy máu bàn mổ hệ thống khí y tế máy gây mê giúp thở sản phẩm tiêu hao  Sinh hiển vi khám mắt Sinh hiển vi phẫu thuật Máy khúc xạ kế - javal kế Máy chiếu thử thị lực Máy soi đáy mắt, soi bóng đồng tử      Máy chụp huỳnh quang võng mạc  Máy siêu âm mắt Máy đo thị trường Máy laser điều trị mắt  Máy phaco và cắt dịch kính Dụng cụ phẫu thuật Thủy tinh thể nhân tạo Máy tập nhược thị Hệ thống khoan cắt nạo IPC - XPS 3000     Tay khoan cắt, nạo cho XPS 3000 và IPC  Mũi khoan, lưỡi cắt nạo cho XPS 3000 và IPC Monitor theo dõi thần kinh trong phẫu thuật tai, đầu, cổ Bộ dụng cụ phẫu thuật      Sản phẩm tiêu hao trong phẫu thuật TMH  Dụng cụ thay thế  Các loại đèn soi tai Máy sàng lọc thính lực trẻ sơ sinh Thiết bị phẫu thuật TMH Đèn phẫu thuật     Điện tim  Hệ thống điều trị điện sinh lý  Holter huyết áp  Ống thông điện sinh lý Hệ thống điều trị không can thiệp bệnh thiếu máu mạch vành # Máy tán sỏi Máy rửa màng lọc thận  Máy Giặt Vắt Tự Động Máy Sấy Công Nghiệp Máy Là Ga Máy giúp thở Cân thước đo trẻ sơ sinh  Máy sưởi ấm trẻ sơ sinh Đèn chiếu vàng da Máy đo độ bão hòa oxy máu Giường đa năng điều khiển điện HillRom 405  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 900  Giường đa năng điều khiển điện HillRom 1000 Giường đa năng điều khiển điện HillRom CareAssist Giường đa năng điều khiển điện HillRom VersaCare  Giường đa năng điều khiển điện HillRom TotalCare Catheter tĩnh mạch trung tâm Dome đo huyết áp xâm lấn  Radical 7 Pronto 7 Rad 87 Sinh hiển vi khám mắt RS-1000 Sinh hiển vi khám mắt L-0185 Sinh hiển vi khám mắt L-0187  Inami L-0189 BM-900 bd900 bp900 bSinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0990 Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt L-0980A Sinh hiển vi phẫu thuật Mắt ALLEGRA 90 Máy khúc xạ kế - giác mạc tự động Speedy KMáy javal kế BL-8001 Máy siêu âm A & A/B Máy đo thị trường tự động AP-5000C Máy laser quang đông VITRA Máy laser võng mạc 810nm Hệ thống mổ Phaco - Associate 2500 Compact System Máy tập nhược thị L-2510B Máy giặt vắt UC 20-125 Máy giặt vắt RC      Máy giặt vắt UW 35 -150 Máy g iặt vắt giảm chấn UX 18 -200  Máy sấy UNIMAC UT 25 - 170Máy là ga UD08F055 – UD20F126 Máy rửa/ khử khuẩn 250 lít   Máy rửa siêu âm 12/22 lít Máy rửa siêu âm 42/57 lít  Máy rửa ống nội soi loại nhỏ Máy hấp tiệt trùng loại 108/256 lít  Máy hấp tiệt trùng 575/766/958 L  Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng PA      Máy tiệt trùng nhiệt độ thấp sử dụng Hydrogen peroxide       Mô hình đặt nội khí quản người lớn Mô hình điều dưỡng Mô hình đào tạo  CPR  Mô hình tiêm dưới da  Mô hình đo huyết áp  HBP-9020   P1000 PLUS  HEART SCAN HCG-801  HEM-907  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP MÁY CHẨN ĐOÁN XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH KHÔNG XÂM LẤN  MÁY ĐIỆN TIM  MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG ÁY XÔNG KHÍ DUNG  NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ     MÁY ĐO LƯỢNG MỠ - TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂ # MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI     MÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN  ÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C29     NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ ĐO Ở TAI MC-510 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7300  CÂN ĐO TRỌNG LƯỢNG HN-283   
MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-113      ÁY MASSAGE XUNG ĐIỆN HVF-128  MÁY XÔNG KHÍ DUNG NE-C25 MÁY ĐO HUYẾT ÁP TỰ ĐỘNG HEM-7080 NHIỆT KẾ ĐIỆN TỬ MC-343  CÂN ĐO LƯỢNG MỠ CƠ THỂ HBF-200  MÁY ĐẾM BƯỚC ĐI HJ-109  MÁY XÔNG KHÍ DUNG SIÊU ÂM NE-U17  Máy giặt vắt giảm chấn LM 6 - 85  hoi suc cap cuu phong mo mat tai mui hong tim mach than tiet nieu chuyen khoa chong nhiem khuan tiet trung nhi khoa san kho

 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969