Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 41
Lượt truy cập: 1009021
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ LÀM SAO ĐƯƠNG ĐẦU VỚI CHỨNG CHÁN ĂN TÂM THẦN (ANOREXIE MENTALE) ?

NHỮNG ĐIỂM MỐC

CÁC CON SỐ. Trong tất cả các nước phương Tây, bệnh chán ăn tâm thần (anorexie mentale) gây bệnh 0,5 đến 2% các thiếu niên. 9 trường hợp trên 10 liên quan đến các thiếu nữ. Về chứng ăn quá độ (boulimie), căn bệnh này ảnh hưởng, với một tần số gia tăng, 3 đến 4% các thiếu nữ. Nói chung, các triệu chứng của chứng ăn quá độ bắt đầu chậm hơn so với chứng chán ăn, khoảng 19 đến 20 tuổi. Theo Brigitte Remy, thầy thuốc tâm thần trong một trung tâm của MGEN, những rối loạn hành vi ăn uống là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trong tâm thần học. Những người bị chứng chán ăn chủ yếu ngã gục vì bị ngừng tim.

NHỮNG YẾU TỐ LIÊN KẾT. Những công trình nghiên cứu dịch tễ học cho phép nhận diện nhiều tham số liên kết với chứng chán ăn, bắt đầu là những yếu tố văn hóa. Những người chán ăn sống trong những nước kỹ nghệ. Không có một trường hợp nào đã được báo cáo ở châu Phi, và những công trình đã chứng minh rằng, nơi những người di dân châu Á ở Hoa Kỳ, chỉ thế hệ thứ hai mới bị mắc bệnh. Những tiền sử có những rối loạn ăn uống xảy ra trong gia đình, một sự bất hòa với bố mẹ, những kỳ vọng cao của gia đình đối với con mình, sự lạm dụng các thuốc ma túy, một nhân cách “ borderline ” hay những lạm dụng tình dục cũng tương quan với sự xuất hiện của chứng chán ăn.

DI TRUYỀN. Những trường hợp gia đình và những công trình trên các người sinh đôi đã xác nhận vai trò của di truyền trong chứng chán ăn, nhưng các gène de susceptibilité vẫn còn không được biết rõ. Một công trình nghiên cứu nơi những người sinh đôi thật (vraies jumelles) đã cho thấy rằng khi một người bị chứng chán ăn, thì người kia có 55% nguy cơ là như vậy, trong khi tỷ lệ chỉ là 5% nơi những người sinh đôi giả (fausses jumelles).

Tâm lý liệu pháp (psychothérapie), vật lý trị liệu (kinésithérapie)...Điều trị phải nhắm đến tất cả các khía cạnh của căn bệnh.

CÁC RỐI LOẠN ĂN UỐNG (troubles alimentaires). Theo các thầy thuốc tâm thần, đó là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trong tâm thần học. Các rối loạn của thái độ ăn uống (trouble du comportement alimentaire), chứng chán ăn (anorexie) và chứng ăn vô độ (boulimie), gây tàn phá nơi các thiếu niên, nhưng cũng nơi những người trưởng thành (chiếm ½ các trường hợp). Đứng trước bệnh lý phức tạp là sự chán ăn này, bố mẹ và các thầy thuốc rất thường bị bối rối. Sự điều trị thường quá muộn và không hẳn là tối ưu, các chuyên gia đã nhấn mạnh như vậy, nhưng chẳng bao lâu sẽ được cải thiện, nhờ các sáng kiến.

Institut mutualiste de Montsouris (Paris) điều khiển một công trình nghiên cứu quy mô lớn nhiều trung tâm cho phép đánh giá những lợi ích của nhập viện, cần thiết trong những trường hợp nghiêm trọng nhất của chứng chán ăn.

Còn Haute autorité de santé (HAS) sẽ công bố trước cuối hè này những điều khuyến nghị để điều trị căn bệnh này.

BỆNH NHÂN KHÔNG KÊU CA.

Vì sự điều trị chứng chán ăn càng có hiệu quả khi rối loạn được phát hiện càng sớm, nên những điều khuyến nghị sẽ cho phép những người chuyên môn tiếp xúc với các thiếu niên, nhận biết tốt hơn những dấu hiệu đầu tiên phát hiện bệnh lý này. Ở Pháp, cũng như trong tác cả các nước tây phương, từ 0,5 đến 2% các thiếu niên bị ảnh hưởng bởi những rối loạn hành vi ăn uống này, và chủ yếu là những thiếu nữ trẻ, chiếm 95% các trường hợp.

Khởi đầu của rối loạn có thể âm ỉ. Với tuổi dậy thì, các cô thiếu nữ thấy thân hình bị biến đổi và những bộ phận tròn trặn xuất hiện. “ Cô ta hơi phát phì, và một hôm, ông anh hay ông bố nêu nhận xét với cô ta về điều đó. Cô thiếu nữ lo lắng, hỏi các cô bạn ở trường ; các cô này xác nhận là đúng như vậy, bởi vì các cô gái thường khó tính với nhau, GS Bruno Falissard, phụ trách một đơn vị nghiên cứu Inserm ở khoa tâm thần trẻ em thuộc bệnh viện Paul-Brousse, đã kể lại như vậy. Đó là khởi đầu cổ điển của lịch sử của bệnh chán ăn.

Đối với vài cô thiếu nữ, mà profil tâm lý xoay quanh việc kiểm soát, đó là một tình huống không thể chịu được. Các cô phải tự kềm chế, theo chế độ kiêng khem và để mặc sự kích động do sự thiếu dinh dưỡng gây nên. Thế là các cô tự làm chủ lấy mình và gầy ốm đi. Vậy thì trên quan điểm của các cô gái này, mọi việc sẽ tốt đẹp hơn.

Như thế bệnh chán ăn đúng là một bệnh lý nói riêng, bởi vì bệnh nhân không than vãn, bệnh nhân không muốn chữa lành. Bệnh nhân có thể che dấu lâu dài căn bệnh của mình và một khi được chẩn đoán, từ chối các điều trị. Tuy vậy các dấu hiệu là rõ ràng : các bệnh nhân chán ăn tâm thần muốn gầy ốm, tự thấy mình quá béo phì, trong khi không phải là như vậy và sợ lên cân.

Vậy các bố mẹ phải chú ý ngay khi con em mình có một hành vi không như lệ thường vào các bữa ăn và mặc dầu mảnh khảnh hay gầy ốm, vẫn cứ cho là mình bị béo phì. “ Thật vậy, các bố mẹ thường là những người đầu tiên thấy những thay đổi, bởi vì các thầy thuốc khám càng ngày càng ít các bệnh nhân thuộc loại này, nhất là các cô gái lại tỏ ra dè dặt ”, GS Falissard đã nhấn mạnh như vậy.

Khi chứng chán ăn được phát hiện rất sớm, vài can thiệp đơn giản lên sự hoạt động của gia đình nói chung cũng đủ để khai thông tình hình.

Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, khi chứng chán ăn đã xuất hiện từ lâu hơn, các bệnh nhân phải được nhập viện. Một vài bệnh nhân trong tình trạng bi thảm, với một sự mất cân có thể đạt đến 50%. “ Ở giai đoạn này, làm các bệnh nhân căng phồng trở lại về phương diện vật lý không đủ, điều này thường được thực hiện trong những đơn vị không chuyên môn, BS Xavier Pommereau, giám đốc của đơn vị y khoa-tâm lý của thiếu niên thuộc centre Abadie de Bordeaux lấy làm tiếc như vậy. Cần phải điều trị bệnh nhân trên tất cả mọi phương diện. Các nhóm đa khoa (équipe pluridisciplinaire) thu được những kết quả tốt hơn, nhất là nếu có thể theo dõi các bệnh nhân trong một thời gian đầy đủ.”
(LE FIGARO 7/6/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về BỆNH TRẦM CẢM (Depression) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

2/ BỆNH TRẦM CẢM VÀ BỆNH THIÊN ĐẦU THỐNG.

Người ta đã biết rằng bệnh thiên đầu thống (migraine) có thể làm dễ sự xuất hiện của chứng trầm cảm (dépression). Nhưng một công trình nghiên cứu, được trình bày nhân hội nghị thường niên lần thứ 62 của Hiệp hội thần kinh học Hoa Kỳ, gợi ý ngược lại rằng bệnh trầm cảm là một yếu tố làm nặng thêm đối với bệnh thiên đầu thống. Trong 5 năm, nguy cơ chuyển từ một bệnh thiên đầu thống xảy ra từng cơn (migraine épisodique) thành một bệnh thiên đầu thống mãn tính (hơn 15 cơn mỗi tháng) càng cao khi chứng trầm cảm càng nặng. Nguy cơ tăng gấp đôi đối với một bệnh trầm cảm mức độ trung bình và tăng gấp ba trong trường hợp trầm cảm nặng.
(SCIENCE ET AVENIR 7/2010)

Đọc thêm :
3/ VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ : MỘT TIA HY VỌNG.

Nhờ liệu pháp gène, các con chuột đã khôi phục lại thị giác.

OPHTALMOLOGIE. Là bệnh di truyền, bệnh viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) gây bệnh cho khoảng 40.000 người ở Pháp và 1 triệu rưỡi người trên thế giới. Ngày nay, chỉ có một điều trị chữa tạm (traitement palliatif). Đó là cho bệnh nhân vitamine A suốt đời. Nhưng sự kê đơn này bị chống chỉ định nơi những người hút thuốc. Bệnh lý này được đặc trưng bởi một sự mất thị giác ngay khi chiều xuống. Rồi bệnh tiến triển và thị giác hẹp dần lại : người bệnh có cảm tưởng như trong một đường hầm. Theo dòng thời gian, cái đường hầm này càng ngày càng hẹp dần lại và bệnh nhân thường bị mất vĩnh viễn thị giác. Mặc dầu đàn ông nói chung bị mắc bệnh hơn phụ nữ và mặc dầu bệnh thường được biểu hiện ở tuổi thiếu niên, nhưng bệnh viêm võng mạc sắc tố cũng có thể được phát triển ngay lúc sinh ra đời và cần 15 năm để thoái hóa.

Các công trình (mà những kết quả được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ Science) của các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ thuộc Friedrich Miescher Institute và những công trình của các nhóm của GS José-Alain Sahel và của BS Serge Picaud của Institut de la vision (Paris) có thể sẽ mang lại một hy vọng cho những người bị bệnh viêm võng mạc sắc tố. Thật vậy, nhờ liệu pháp gène, họ vừa trả lại thị giác cho các con chuột bị bệnh và các kết quả của họ đã được xác nhận in vivo trên các canh cấy mô người.

Trong bệnh lý này, các thương tổn ảnh hưởng lên các quang thụ thể (photorécepteur) nhạy cảm với ánh sáng. Đó là những tế bào thần kinh đặc hiệu chuyển đổi ánh sáng thành những xung động thần kinh. Những xung động thần kinh này sau đó được xử lý bởi võng mạc và được gởi đến não bộ nhờ các sợi thần kinh. Thế mà có hai loại quang thụ thể : các thể gậy (bâtonnet) và các thể nón (cône). Sự tiến triển của bệnh trước hết dẫn đến sự thoái hóa của các quang thụ thể thể gậy (photorécepteurs à bâtonnets), chịu trách nhiệm thị giác hoàng hôn (vision de nuit). Trong giai đoạn hai, chính các quang thụ thể thể nón (photorécepteurs à cônes), chịu trách nhiệm thị giác ban ngày, bị ảnh hưởng. Nhưng, mặc dầu các thể gậy bị phá hủy, các thể nón, trở nên không hoạt động, nhưng vẫn sống sót lâu dài trong cơ thể, và điều này, ngay cả sau khi xuất hiện sự mù lòa.

Khám phá này là quan trọng bởi vì mãi đến nay, các nhà khoa học nghĩ điều trái lại. “ Thật vậy, các thể nón không chết nhưng không hoạt động nữa, GS Sahel, giáo sư nhãn khoa Paris-VI và giám đốc của Viện thị giác đã tóm tắt như vậy. Để nói một cách khác, con mắt bị bệnh cũng tương tự một chiếc xe hơi đầy xăng, có một động cơ, có các bánh xe.Tất cả đều ở đó, nhưng thiếu chiếc chìa khóa xe. ” Khi đó, vấn đề là cần biết làm sao để làm tái hoạt động các thể nón“ đang ngủ ” (icône dormante).

Ernst Bamberg, một nhà nghiên cứu của Viện Max Planck ở Francfort, đã nhận diện, cùng với nhóm của ông, những protéine nhạy cảm với ánh sáng và lúc đáp ứng, sinh ra một tín hiệu điện. Rồi các nhà nghiên cứu đã thành công sử dụng quá trình này trên các tế bào thể nón còn lại của các con chuột. Nói một cách khác, họ đã thành công “ rebrancher ” chúng. Để đạt được điều đó, họ đã đưa các protéine vào, qua một vecteur của liệu pháp gène, trong các thể nón nhờ những mũi tiêm trong nhãn cầu dưới võng mạc. Mục tiêu là tái tạo một hệ thống quang-điện sinh học. Kết quả đã có thể được quan sát một tháng sau : các con chuột thấy trở lại và điều này một cách dài lâu.

Vấn đề bây giờ là cần phải biết những công trình này, được tiến hành trên chuột, có thể được áp dụng trên người hay không. Những công trình nghiên cứu đã được tiến hành một cách thành công trên các võng mạc được lấy trên những người chết. “ Những công trình nghiên cứu này đặt cơ sở cho một thử nghiệm lâm sàng tương lai sẽ diễn ra ở Pháp, tại bệnh viện Quinze-Vingts (Paris), trong 3 đến 5 năm nữa, GS Sahel đã đánh giá như vậy.Trước hết chúng tôi phải kiểm tra tốt rằng việc đưa vào các protéine là không nguy hiểm đối với những tế bào của mắt người. ” Khởi đầu, các trắc nghiệm sẽ được thực hiện trên khoảng 20 bệnh nhân trước khi được thực hiện trên những nhóm bệnh nhân quan trọng hơn.
(LE FIGARO 1/7/2010)

Đọc thêm :
Thời Sự Y Học Số 131, Đề Mục 7/ VIÊM VÕNG MẠC SẮC TỐ (RETINITE PIGMENTAIRE) : MỘT NIỀM HY VỌNG ĐIỀU TRỊ .

4/ CÁC BỆNH CỦA VÕNG MẠC : ĐẶT MỘT VÕNG MẠC BIONIQUE NHẰM MANG LẠI MỘT “ THỊ GIÁC HỮU ÍCH ”

Để mang lại thị giác cho những người mù bị các bệnh thoái hóa của võng mạc, có gì hợp lý hơn là thay thế võng mạc bị phá hủy bằng một võng mạc“ bionique ” ? Ý tưởng tương lai học (idée futuriste) này, được nảy sinh cách nay 30 năm, không còn thuộc về khoa học viễn tưởng nữa. Vào năm 2002, võng mạc nhân tạo đầu tiên đã đuợc ghép nơi một bệnh nhân bị bệnh viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) ở Doheney Eye Institute (Californie).

NHỮNG TIẾN BỘ ĐÁNG KỂ.

Từ đó, nhiều thử nghiệm lâm sàng đã cho phép 30 bệnh nhân hưởng được những puce bé xíu này, được đặt ở đáy mắt. Những puce này hoạt động cặp đôi với một camera, được đặt bên ngoài, trên các kính đeo. Camera bắt các hình ảnh và mã hóa dưới dạng các xung động điện. Các xung động điện được truyền bằng vô tuyến đến các điện cực của implant, và implant này đến lượt lại truyền chúng đến các tế bào thần kinh nguyên vẹn của võng mạc, như các quang thụ thể (photorécepteur) đã làm như vậy. Cho đến nay, các kết quả không hẳn là nhiệm màu, nhưng những bệnh nhân “ được ghép ” đã thành công cảm nhận được những điểm sáng và phân biệt được những vật có màu sắc đối chọi nhau (objets contrastés). Nếu kết quả khiêm tốn này gây nhiều hy vọng, đó là bởi vì mức tiến bộ đạt được là đáng kể. Trong khi những prototype đầu tiên chỉ chứa 16 điện cực, truyền một hình ảnh 16 pixel, thì thế hệ thứ hai mang lại một hình ảnh 60 pixel. Ở Pháp, năm 2009, 4 bệnh nhân đã nhận mô hình implant mới này trong khoa của José-Alain Sahel, ở bệnh viện Quinze-Vingts. Sau vài tháng hồi phục chức năng quang học (rééducation optique), các bệnh nhân đã có thể đoán được sự hiện diện của một cánh cửa hay một chướng ngại vật to lớn. Nhưng mục tiêu tối hậu của các nhà nghiên cứu là mang lại một thị giác “ hữu ích ” cho các người mù, cho phép họ định hướng và đọc được những chữ lớn. Và sự nghiên cứu tiến bước nhanh. “ Những implant sắp đến sẽ có 250 pixel, nhưng phải có khoảng 600 mới cho phép đọc được và 1000 để nhận diện các gương mặt ”, Serge Picaud, nhà thần kinh sinh học (neurobiologiste) ở viện thị giác và cộng tác viên của José-Alain Sahel, đã xác nhận như vậy. Những thách thức có nhiều : sự thu nhỏ (miniaturisation) các điện cực, làm cho tinh tế hơn sự mã hóa của các hình ảnh thành các tín hiệu điện và cải thiện tính tương hợp sinh học (biocompatibilité), vì lẽ các implant được dùng hiện nay gây nên một phản ứng phòng vệ của mô võng mạc, làm trở ngại sự truyền của tín hiệu. “ Ngoài ra implant thoái hóa một cách nhanh chóng trong mắt, Serge Picaud đã chỉ rõ như vậy. Do đó chúng tôi đang nghiên cứu những vật liệu tương hợp sinh học (biocompatible) hơn, như kim cương. ” Từ nay đến 3 năm nữa, nhóm nghiên cứu của ông hy vọng trắc nghiệm nơi người một puce mới, kích thước 2mm trên 3mm, được cấu tạo bởi 600 điện cực kim cương. Về phía mình, một nhóm nghiên cứu người Đức đã thành công không cần đến camera, bằng cách tạo nên một implant có khả năng bắt ánh sáng một cách trực tiếp và chuyển hóa nó thành điện. Nhưng võng mạc điện tử sẽ không bao giờ hoàn lại một thị giác bình thường, được sinh ra bởi hàng tỷ các nối kết. Vậy phòng bệnh hơn là chữa bệnh, bằng cách ngăn cản sự thoái hóa của các quang thụ thế.

LIỆU PHÁP GENE

Chính liệu pháp gène (thérapie génique) mang lại hy vọng. Nguyên tắc của nó ? Thay thế gène khuyết tật, gây nên dạng này hay dạng kia của các bệnh võng mạc, bằng một gène nguyên vẹn, được đưa vào trong võng mạc qua một virus vô hại. Vào năm 2008, hai nhóm nghiên cứu đã thành công cải thiện thị giác của 6 bệnh nhân bị bệnh mù bẩm sinh (amaurose congénitale de Leber), một trong những nguyên nhân đầu tiên gây mù lòa của trẻ em. Trong vòng một năm, thị giác của chúng được cải thiện đến độ một trong những đứa trẻ này, ngày xưa gần như mù lòa, giờ đây có thể chơi baseball ! Chỉ có điều, có hơn 300 gène có liên hệ trong các bệnh của võng mạc, và phải phát triển một liệu pháp cho mỗi gène. Để tránh vấn đề này, nhiều nhóm đã chọn đưa vào trong võng mạc các gène đảm bảo sự sống còn của các quang thụ thể. Được trắc nghiệm một cách thành công nơi người, phương pháp này có thể được áp dụng cho tất cả các bệnh thoái hóa võng mạc.
(SCIENCE ET VIE 11/2009)

5/ GHÉP MẶT: KỶ LỤC MỚI.

Từ nay trên thế giới có 12 người đang sống với một gương mặt mới. Bệnh nhân sau hết, Jérôme, bị bệnh u xơ thần kinh (neurofibromatose), một bệnh di truyền làm biến dạng mặt. Cuộc giải phẫu đã diễn ra vào cuối tháng sáu và đã được thực hiện bởi đội phẫu thuật của GS Laurent Lantieri, trưởng khoa giải phẫu thẩm mỹ và tái tạo thuộc bệnh viện Henri-Mondor (Créteil, Pháp). Một thầy thuốc ngoại khoa đã vốn lừng danh trong kỹ thuật sửa chữa này, vì lẽ (một trong những bệnh nhân này, được ghép đồng thời mặt và các bàn tay, đã chết) trong số 13 bệnh nhân đã được hưởng phẫu thuật này trên thế giới đều đã phải qua tay ông. Ngoài ra, trong trường hợp Jérôme, nhà giải phẫu đã thực hiện một kỷ lục đầu tiên trên thế giới nhờ một ghép các mí mắt với chuyển toàn bộ hệ các ống lệ (système lacrymal), một công việc dựa trên các microsuture của các ống dẫn nước mắt (canal lacrymal).

Được tiếp xúc bởi chúng tôi, nhóm phẫu thuật của bệnh viện Vall d’Hebron ở Barcelone, đã thực hiện một giải phẫu khác, cũng được trình bày vào tháng tư vừa qua như là một đầu tiên, đã công nhận là đã không ghép các tuyến lệ. Ngược lại nhóm phẫu thuật này đã thay thế những phần xương, là điều đã không được thực hiện ở Créteil…thật khó phân hơn thua nhóm nào được bước lên bậc đầu tiên của đài danh dự, vì mỗi nhóm gắn bó vào chi tiết cơ thể học bổ sung này hay chi tiết cơ thể học kia… Chẳng hề chi ! Kể từ cuộc ghép mặt thật sự đầu tiên, (ghép một phần), được thực hiện năm 2005 bởi một nhóm phẫu thuật Amiens, các cuộc can thiệp sau này đã tốt hơn về tính hiệu quả, về thời gian, và mức độ chính xác. Chẳng bao lâu nữa những cuộc giải phẫu ghép mặt này, như được dự kiến bởi bác sĩ Lantieri (đã nhận được phép cho năm cuộc phẫu thuật khác), cũng được thực hiện nơi những người bị bỏng nặng.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

6/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI BỆNH TRẦM CẢM KHÔNG ?

Professeur Jean-Pierre Olié
Psychiatre
Membre correspondant de l’Académie nationale de médecine


Những thuốc chống trầm cảm đầu tiên (Tofranil, Anafranil…) đã được khám phá vào năm 1957. Trước đó, người ta chỉ có các opiacés và sốc điện (électrochoc) để làm giảm bớt những trạng thái trầm cảm nặng. Và người ta còn chết vì suy nhược thần kinh (neurasthénie), biến chứng chính của các rối loạn trầm cảm. Bắt đầu từ những năm 1980 đã xuất hiện một số lớn các thuốc chống trầm cảm mới, Prozac đầu tiên được đưa ra thị trường, tiếp theo là Zoloft, Deroxat…Tính chất dễ sử dụng (liều lượng y hệt nhau cho tất cả, một liều duy nhất mỗi ngày, ít hoặc không có những tác dụng phụ so với các thuốc chống trầm cảm thế hệ thứ nhất) và hiệu quả của chúng đã mang lại sự thành công cho các thuốc chống trầm cảm này.

Theo định nghĩa, các thuốc được gọi là chống trầm cảm có khả năng điều chỉnh khí chất trầm cảm (humeur dépressive). Nhưng đó không phải là những viên thuốc mang lại hạnh phúc (pilules du bonheur) : chúng đã không bao giờ làm cho đỡ những tâm trạng có nội hàm trầm cảm mà mỗi người trong chúng ta đã từng trải qua vào những lúc khác nhau trong cuộc sống của mình, phản ứng lại vài biến cố đau đớn. Những thuốc chống trầm cảm chỉ chứng tỏ tính hiệu quả trong những tình huống mà cường độ của rối loạn trầm cảm rõ ràng và tính chất bệnh lý được xác nhận bởi sự dai dẳng của các triệu chứng ngày này qua ngày khác hay tuần này qua tuần kia.

Một thuốc chống trầm cảm được gọi là có hiệu quả khi nó làm thuyên giảm toàn bộ hay một phần những triệu chứng trầm cảm (buồn rầu, đau đớn tâm thần và đau đớn vật lý, mặc cảm phạm tội, ức chế, bi quan, các rối loạn giấc ngủ, của sự ăn ngon miệng). Điều này đòi hỏi một chẩn đoán rối loạn trầm cảm, hiệu quả của thuốc càng rõ ràng khi cường độ của các triệu chứng càng quan trọng, điều này cũng giống như thuốc hạ nhiệt, bình thường có một tác dụng càng rõ rệt khi sốt càng cao. Khoảng 1/3 các bệnh nhân bị một bệnh trầm cảm được chẩn đoán đúng sẽ có một thuyên giảm hoàn toàn các triệu chứng sau 4 đến 6 tuần, thời hạn tác dụng của những thuốc này ; 1/3 các bệnh nhân chỉ có một thuyên giảm một phần và 1/3 không đáp ứng với thuốc chống trầm cảm được kê toa, nhưng điều này không báo trước sự thất bại của một thuốc chống trầm cảm khác.

Nhưng một thuốc trầm cảm có tiếng xấu.Tại sao ?

Những công trình nghiên cứu mới đây đã nghĩ là có thể chứng minh rằng một thuốc chống trầm cảm chỉ là những placebo, nghĩa là những thứ thuốc không có hoạt chất, chỉ tác dụng nhờ sự tự kỷ ám thị (autosuggestion).Tuy nhiên trước hết cần phải xác nhận rằng tất cả các triệu chứng không nhất thiết phải cần đến một điều trị chống trầm cảm. Ví dụ, một phản ứng xúc cảm ngay sau một biến cố đau đớn (ví dụ tình trạng tang chế). Bệnh trầm cảm là một bệnh nói riêng, nhưng với những tiêu chuẩn rất chính xác, không nên lầm nó với những bệnh khác không đáp ứng với một hóa liệu pháp chống trầm cảm (chimiothérapie antidépressive).

Do đó vấn đề sử dụng đúng đắn các thuốc chống trầm cảm được đặt ra bởi vì những thuốc này hiệu quả một cách không chối cãi được để làm dừng những biểu hiện trầm cảm thật sự. Và cũng đặt ra nhu cầu cần những thuốc mới có những tác dụng thần kinh-sinh học và do đó trị liệu còn rõ ràng hơn. Cần biết rằng có hơn 10.000 người chết mỗi năm vì tự tử ở Pháp. Và rằng khoảng 80% trong số những người này bị chứng bệnh trầm cảm được xác nhận.
(LE FIGARO 22/2/2010)

Đọc thêm :
Thông Tin Y Học Về BỆNH TRẦM CẢM (Depression) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

7/ UNG THƯ VÚ : PHÓNG XẠ LIỆU PHÁP TRONG KHI MỒ.

Điều trị chuẩn của ung thư vú bao gồm một động tác ngoại khoa, được bổ sung bởi một phóng xạ liệu pháp ngoài (radiothérapie externe), được thực hiện trong 3 đến 7 tuần, bằng nhiều buổi hàng tuần, tùy theo các trường hợp. BS Jayant Vaidya (University College de Londres) đã hiệu chính một khái niệm rọi tia X vào vùng khối u, bằng một buổi duy nhất kéo dài, thực hiện trong lúc giải phẫu. Một công trình nghiên cứu quốc tế vừa so sánh phương pháp này với phương pháp truyền thống. Gần 2.000 bệnh nhân bị ung thư vú có đường kính dưới 3,5 cm, đã được đưa vào nghiên cứu. Sự rọi tia X trong khi mổ, sử dụng một nguồn các tia X có năng lượng thấp, được phát ra trong 30 phút ở đầu một ống được đặt trong khối u. Liều lượng được phát ra 4 lần ít hơn liều lượng của phóng xạ liệu pháp cổ điển. Sau 4 năm, hai phương pháp đều có những kết quả như nhau : không có sự khác nhau đáng kể trong tỷ lệ các tái phát tại chỗ, kể cả tần số các biến chứng thông thường, nhưng với ít hơn những biến cố độc tính nghiêm trọng trong nhóm phóng xạ liệu pháp trong khi mổ (radiothérapie peropératoire) (nhưng nhiều tràn dịch bạch huyết tạm thời hơn).
(PARIS MATCH 29/7-4/8/2010)

Đọc thêm: Thông Tin Y Học Về BỆNH UNG THƯ VÚ (BREAST CANCER) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

8/LOÉT DẠ DÀY : CÁC THUỐC KHÁNG SINH CÓ NGĂN CẢN TÁI PHÁT ?

Docteur Anne Courillon-Mallet
Hépato-gastroentérologue
CHU Villeneuve-Saint-Georges


Nhiễm trùng do vi khuẩn Helicobacter pylori là nguyên nhân của 70% các loét dạ dày hay của tá tràng (tá tràng là phần đầu của ruột ngay sau dạ dày). Chừng nào nhiễm trùng còn tồn tại, loét sẽ tái phát trong 60% các trường hợp trong năm. Sự loại bỏ nhiễm trùng vi khuẩn khiến nguy cơ chuyển từ 60% xuống còn 6%.

Điều trị kháng sinh nhiễm trùng do Helicobacter pylori do đó ngăn ngừa một cách hiệu quả loét tái phát tuy nhiên với điều kiện đảm bảo rằng vi trùng đúng là đã được loại bỏ sau điều trị. Thật vậy, tỷ lệ loại bỏ nhiễm trùng sau một đợt điều trị kháng sinh đầu tiên chỉ là 70%, bởi vì những đề kháng đối với các kháng sinh, được phát triển bởi vi khuẩn. Vậy cần phải kiểm tra tính hiệu quả của điều trị.

Trong trường hợp loét tá tràng (ulcère du duodénum), người ta sử dụng một trắc nghiệm hô hấp (test respiratoire). Trắc nghiệm này phát hiện sự hiện diện của một enzyme, uréase, đặc trưng của vi khuẩn Helicobacter pylori. Trắc nghiệm đơn giản và không gây đau đớn : sau 8 giờ nhịn đói, cho bệnh nhân uống urée được đánh đầu với carbone 13 (không phóng xạ) rồi thu lại khí thở ra 30 phút sau. Trắc nghiệm rất đáng tin cậy với điều kiện đã không dùng kháng sinh trong 4 tuần trước khi xét nghiệm và không sử dụng các thuốc ức chế sự tiết axít trong hai tuần trước khi trắc nghiệm.

Trong trường hợp loét dạ dày, người ta khuyến nghị thực hiện một soi dạ dày sau vài tuần để kiểm tra sự lành sẹo của vết loét (và đừng bỏ qua một ung thư có dạng vẻ của một loét thông thường) và soi dạ dày cho phép kiểm tra đồng thời sự biến mất của nhiễm trùng. Nếu nhiễm trùng vẫn tồn tại, người ta đề nghị một đợt điều trị thứ hai và, có thể, một đợt điều trị kháng sinh thứ ba. Một khi nhiễm trùng đã biến mất, ta có thể xem như rằng sự loại bỏ vi khuẩn là dứt điểm bởi vì nguy cơ tái nhiễm trùng nơi những người trưởng thành hầu như là số không.

Nguyên nhân chính khác của loét là sử dụng thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) hay uống aspirine. Khi người ta dự kiến một điều trị kéo dài bởi loại thuốc này, tốt hơn là tìm kiếm và điều trị một nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori để không kiêm nhiệm hai yếu tố nguy cơ. Nhưng việc loại bỏ nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori không đủ để hủy bỏ nguy cơ loét do các thứ thuốc.

Để tránh những loét trong lúc điều trị bởi AINS hay aspirine, người ta khuyến nghị, trong vài trường hợp, ví dụ sau 65 tuổi hay trong trường hợp điều trị kháng đông, sử dụng một loại thuốc ức chế sự sản xuất axít.
(LE FIGARO 29/3/2010)

9/ CÁC BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP : THUỐC MỚI CÓ TÁC DỤNG KÉO DÀI.

Gs Nicolas Roche, thầy thuốc chuyên khoa phổi thuộc bệnh viện Hôtel-Dieu, giải thích tiến bộ được thực hiện đối với các bệnh viêm phế quản-phổi với một loại thuốc mới : indacaterol.

Hỏi : Ông định nghĩa như thế nào một bệnh viêm phế quản-phổi (broncho-pneumopathie) ?
GS Nicolas Roche : Tên của bệnh phế quản, mà một điều trị mới đã được hiệu chính, là bệnh viêm phế quản -phổi tắc mãn tính (BPCO : broncho-pneumopathie chronique obstructive). Bệnh này được định nghĩa bởi một sự hẹp lại của các phế quản, làm trở ngại sự đi qua của khí và có khuynh hướng nặng dần với thời gian (ở Pháp, khoảng 3 triệu người bị bệnh, chủ yếu là những người trưởng thành).

Hỏi : Những hậu quả của một bệnh viêm phế quản-phổi tắc mãn tính là gì ?
GS Nicolas Roche : Những triệu chứng đầu tiên là khó thở lúc gắng sức, làm trở ngại những hoạt động hàng ngày. Rồi thì, với dòng thời gian, khi thực hiện những cố gắng càng ngày càng ít mạnh. Bệnh BPCO xuất hiện một cách âm ỉ, và có thể kèm theo mệt, viêm phế quản mãn tính (bronchite chronique)... Những đợt cấp tính với sự trở nặng của các triệu chứng có nguy cơ xảy ra, nhất là khi bị những nhiễm trùng. Trong những trường hợp rất nặng, đôi khi phải được nhập viện.

Hỏi : Nhiều nguyên nhân có thể gây nên khó thở... nhất là khi tiết trời nóng nực. Làm sao đảm bảo một chẩn đoán thật sự ?
GS Nicolas Roche : Bệnh nhân được thăm dò chức năng hô hấp bằng một máy đo hơi thở, cặp với một máy vi tính, cho lưu lượng thật sự của khí thở ra. Do đó chẩn đoán rất là chính xác.

Hỏi : Những nguyên nhân của bệnh này là gì ?
GS Nicolas Roche : Ít nhất 80% các trường hợp là do nghiện thuốc lá.Những phần trăm còn lại, do những tiếp xúc nghề nghiệp, gây nên điều mà chúng tôi gọi là “ một sự nhiễm bụi quan trọng ” (une empoussiérage important). Những nông dân và những nhà chăn nuôi tiếp xúc với các độc tố vi khuẩn cũng có nguy cơ. Có lẽ cũng có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique).

Hỏi : Điều trị được thực hiện như thế nào ?
GS Nicolas Roche : Trước hết phải có một vệ sinh cuộc sống mới : ngừng thuốc lá, các biện pháp bảo vệ chống lại các tiếp xúc do nghề nghiệp, hoạt động vật lý. Bởi vì những bệnh nhân này ít di chuyển, nên họ thường đánh mất các cơ, điều này lại còn làm giảm khả năng đi đứng của họ. Và để tránh mọi nhiễm trùng, các bệnh nhân cần được tiêm chủng chống lại cúm và phế cầu khuẩn.

Hỏi : Tiếp theo, điều trị thuốc cổ điển là gì ?
GS Nicolas Roche : 1. Đối với những trường hợp nặng, người ta thường sử dụng các corticoide phối hợp với một thuốc giãn phế quản dạng hít. 2. Trong những trường hợp ít nghiêm trọng, ta chỉ kê đơn một thuốc giãn phế quản. Những điều trị này giảm khó thở và những đợt trở nặng nhưng không chữa lành bệnh. Chúng cũng có những bất tiện : thuốc thường phải dùng nhiều lần mỗi ngày, điều này tạo nên một sự gò bó. Các corticoide hít với liều lượng mạnh và dùng lâu dài, có thể có những hậu quả có hại như tính dễ vỡ của xương, nhãn cầu...

Hỏi : tác dụng của loại thuốc điều trị mới nhất là gì ?
GS Nicolas Roche : Indacaterol là một loại thuốc kích thích một cách đặc hiệu vài thụ thể phế quản, các thụ thể này, do làm giãn cac cơ của phế quản, sẽ cho phép những phế quản này mở ra, như thế làm dễ sự đi qua của khí. Thuốc này được cho dưới dạng hít nhờ một thiết bị bột (dispositif à poudre) dễ sử dụng. Ưu điểm lớn: tác dụng của nó đồng thời nhanh và kéo dài 24 giờ. Bệnh nhân chỉ cần hít một lần mỗi ngày.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh tính hiệu quả này ?
GS Nicolas Roche : 5 công trình nghiên cứu quốc tế (nơi hơn 5.000 bệnh nhân) đã chứng minh một sự cải thiện triệu chứng khó thở, khả năng gắng sức, chất lượng cuộc sống cũng như sự giảm đáng kể các đợt trở nặng. Tác dụng phụ duy nhất : một cơn ho khan vài giây khi hít thuốc. Giấy phép đưa ra thị trường đã được cấp cho các nước châu Âu, trong đó có Pháp. Vậy loại thuốc mới này sẽ có sử dụng ngay năm 2011.
(PARIS MATCH 29/7[*] 4/8/2010)

10/ THUỐC CHỐNG BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG AVANDIA CHẲNG BAO LÂU SẼ ĐƯỢC RÚT RA KHỎI THỊ TRƯỜNG ?

Các chuyên gia Hoa Kỳ vừa công nhận rằng loại thuốc này làm gia tăng những nguy cơ tim-mạch.

SANTE PULIQUE. Thời buổi khó khăn đối với Avandia, thuốc chống bệnh đái đường (loại 2) của Hãng bào chế Glaxosmithkline (GSK), được đưa ra thị trường vào năm 1999 ở Hoa Kỳ và vào năm 2002 ở Pháp. Hôm kia, một ủy ban tham vấn các chuyên gia được triệu tập bởi FDA (Food and Drug Administration), đã đánh giá rằng Avandia làm gia tăng các nguy cơ tim với một tỷ lệ tử vong gia tăng (surmortalité) do nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Ủy ban đã khuyến nghị các giới hữu trách y tế Hoa Kỳ hãy rút loại thuốc này ra khỏi thị trường hoặc tăng cường những biện pháp thận trọng lúc kê toa.

Mặc dầu FDA không buộc phải theo những lời khuyến nghị này, nhưng lịch sử đã cho thấy rằng cơ quan này thường tuân theo.

Những kết luận này càng gây tai hại khi nơi những bệnh nhân đái đường, những vấn đề tim mạch là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong. Cách nay 2 tuần, Journal of American Medical Association đã công bố một công trình nghiên cứu kết luận một nguy cơ gia tăng nhiều bị tai biến mạch máu não hay suy tim với Avandia, so sánh với những thuốc cạnh tranh. GSK đánh giá rằng 210.000 người Pháp sử dụng thuốc này (hoặc một bệnh nhân đái đường trên 10), chiếm 2,3% doanh thu của hãng bào chế ở châu Âu.

Cơ quan các dược phẩm châu Âu sẽ điều nghiên hồ sơ này tuần đến. Về cơ quan an toàn y tế của các sản phẩm y tế Pháp (Afssaps), cơ quan này nhấn mạnh rằng chỉ “ vài trường hợp hiếm hoi cảnh giác dược (pharmacovigilance) ” đã được ghi nhận mà thôi. “ Chúng tôi cũng đã hạn chế nhiều lần, lần cuối cùng vào tháng giêng năm 2008, việc sử dụng thuốc này, đặc biệt nơi những bệnh nhân có một bệnh tim mạch, Anne Castot, thuộc Afssaps đã xác nhận như vậy.

GS André Grimaldi, cựu trưởng khoa chuyên bệnh đái đường thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris) thú nhận là đã không còn kê toa Avandia nữa từ vài năm nay. “ Người ta đã loan báo với chúng tôi một lợi ích về tim mạch, thế mà không phải là như vậy, ông đã giải thích như thế. Avandia cũng làm lên cân, điều này dầu sao không thể chấp nhận được đối với những bệnh nhân bị bệnh đái đường loại 2 ! Nó làm gia tăng số các trường hợp gãy xương. Và nó làm dễ sự ứ nước, điều này dĩ nhiên bị chống chỉ định trong trường hợp suy tim.” Mặc dầu “ bằng cớ tuyệt đối ”, theo sự diễn đạt của chuyên gia này, về tính độc hại của Avandia chưa được đưa ra. Vì vẫn còn có sự nghi ngờ, nên vài chuyên gia thích kê toa thuốc của Nhật Bản, Actos, có cùng những bất tiện về sự lên cân và gãy xương. Nhưng có ưu điểm là bảo vệ tim mạch hơn. “ Thật lấy làm tiếc bởi vì Avandia là thuốc rất mạnh để cải thiện tính nhạy cảm đối với insuline của các cơ và của gan. Và đó là thuốc duy nhất làm chậm lại tiến triển của bệnh ”, GS Grimaldi lấy làm tiếc vậy .

“ Câu chuyện với Avandia kéo dài từ 3 năm qua ! GS Patrick Vexiau, trưởng khoa chuyên bệnh đái đường thuộc bệnh viện Saint-Louis (Paris) và tổng thư ký của Hiệp hội các bệnh nhân đái đường của Pháp, đã tóm tắt như vậy, không phải là không cay đắng. Nhiều ấn bản khoa học đã lay động thế giới y khoa về việc sử dụng của Avandia.” Vị thầy thuốc này tự bảo là người ủng hộ“ tối thiểu, một sự hạn chế việc kê toa, thậm chí cấm chỉ loại thuốc này ” .
(LE FIGARO 16/7/2010)

Đọc thêm: Thông Tin Y Học Về BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG (DIABETES) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (2/8/2010)
-----------------------
Đọc thêm : MỤC LỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ THỜI SỰ Y HỌC - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969