Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 75
Lượt truy cập: 1008391
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186

BS NGUYỄN VĂN THỊNH


1/ BỆNH VẢY NẾN (PSORIASIS) : VIÊM TRONG DA.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

BIỂU BÌ. Với nhiều những mảng đỏ (plaques rouges) lan rộng ít hay nhiều và ở những nơi khác nhau của cơ thể, gây ngứa ngáy đau đớn, bệnh vảy nến gây tác hại cho khoảng 3 triệu người Pháp. Gần 25% các trường hợp là những thể từ trung bình đến nặng và 30% các bệnh nhân phát bệnh trước năm 20 tuổi. Đó thường là những thể nghiêm trọng nhất. Và từ 10 đến 30% các bệnh nhân có một thương tổn ở da, cũng có những thương tổn ở khớp. Các dạng khớp này có thể nghiêm trọng và dẫn đến tàn phế thường trực.

NGUỒN GỐC. Bệnh vảy nến là một tình trạng viêm da mãn tính, dẫn đến một sự bất thường trong sự đổi mới của biểu bì. Mặc dầu người ta không biết một cách chính xác nguồn gốc của nó, nhưng người ta biết rằng một rối loạn miễn dịch dường như đóng một vai trò. Có thể có một thể địa di truyền (terrain génétique) bởi vì một tố bẩm gia đình (prédisposition familiale) hiện diện trong 30% các trường hợp.

CÁC NGUYÊN NHÂN. Thông thường nhất, bệnh diễn biến bằng các cơn bộc phát. Nguyên nhân đầu tiên, stress làm tăng cường sự “ sợ hãi ” các cuộc tấn công được cảm nhận bởi da và “ kích động ” hệ viêm. Điều đó có thể là một vòng luẩn quẩn, vi sự xuất hiện các mảng đỏ làm tăng thêm stress ban đầu. Nhưng cũng có những cọ sát, những tình trạng choáng, các bệnh nhiễm trùng và ngay cả vài loại thuốc.

CÁC ĐIỀU TRỊ. Cứ hai bệnh nhân thì có một không được điều trị, điều này đôi khi gây nên những hậu quả nặng nề. Tuy vậy, có nhiều điều trị cho phép kềm chế tiến triển của bệnh. Các crème dermocorticoide, các dẫn xuất của các vitamine D và A và những liệu pháp căn cứ trên các tia tử ngoại.

NHỮNG HẬU QUẢ. Ngoài sự bó buộc do điều trị, bệnh lý này có những ảnh hưởng tâm lý nghiêm trọng. Người ta ước tính rằng 40% các bệnh nhân chịu một cách đều đặn những xáo trộn xã hội quan trọng trong những quan hệ gia đình, nghề nghiệp, bạn bè...và ngay cả với các thầy thuốc của họ

Mặc dầu được kiểm soát bởi các điều trị, căn bệnh này vẫn còn bí ẩn.

DERMATOLOGIE. “ Ông/Bà có da bị nhột... ” Chính như thế mà GS Louis Dubertret (CHU Saint-Louis, Paris) đã giải thích bệnh vảy nến (psoriasis) cho các bệnh nhân mình. Căn bệnh mãn tính này được thể hiện bởi sự hiện diện trên da của những mảng đỏ, có bề rộng thay đổi, được phủ bởi những vảy dày chứa da chết. Bệnh tiến triển bằng các đợt bộc phát. Thường khó sống bởi vì với những mảng đỏ màu sắc lòe loẹt gây sự chú ý, bệnh vảy nến lại còn kèm theo triệu chứng ngứa một trường hợp trên hai. Bệnh này, không có tính chất lây nhiễm, vẫn còn nhiều điều chưa biết, mặc dầu người ta bắt đầu hiểu nó tốt hơn.

Rất mới đây, các công trình nghiên cứu, trong đó một của Pháp trên 1.500 bệnh nhân, đã cho thấy rằng ta có thể, chỉ bằng phân tích thống kê các triệu chứng và tiến triển của bệnh, phân chia các bệnh nhân thành 6 nhóm thuần nhất. Đó là một cuộc cách mạng, GS Dubertret đã đánh giá như vậy. Đối với ông “ Phải xác nhận những kết quả này và xem phải có 6 bệnh khác biệt nhau với những tính nhạy cảm khác nhau với các điều trị ”

“ SỰ TU SỬA GẤP ”

Mãi đến nay, người ta cứ tưởng rằng bệnh vảy nến, dầu mức độ nghiêm trọng như thế nào, chỉ là cùng một bệnh lý, mà cái đích bị tấn công là da. “ Da là một cơ quan vùng biên giới, thường trực bị tấn công, đáp ứng bằng làm khởi động một hệ thống tu sửa biểu bì, được cấu tạo bởi nhiều gène. Nơi những người bị bệnh vảy nến, đáp ứng này diễn ra quá mức bởi vì vài trong số những gène này tăng phản ứng, thầy thuốc chuyên khoa đã đã giải thích như vậy. Biểu bì đổi mới quá nhanh. Các tế bào cấu tạo nó, các kératinocyte, tăng sinh và không còn có thể phân hóa một cách hoàn toàn thành lớp sừng. Da bắt đầu bóc vỏ, hàng rào da sụp đổ, một phản ứng viêm phát triển và các bạch cầu của hệ miễn dịch, các tế bào lympho T và các bạch cầu đa nhân, thâm nhiễm và tấn công da. Một vòng luẩn quẩn thành hình : căn bệnh tự duy trì và trở nên mãn tính.

Các đợt bộc phát có thể được gây nên bởi nhiều yếu tố : do gãi, choáng, do cọ xát, do sự thay đổi mùa màng, các bệnh nhiễm khuẩn, các thuốc beta-bloquant…Stress đóng một vai trò quan trọng, “ như thể để đáp ứng lại với mỗi dấu hiệu nguy hiểm được cảm nhận bởi não bộ, hàng rào da bị biến đổi, phát khởi quá trình tu sửa gấp rút này ”.

Mặc dầu bệnh vảy nến dưới dạng các mảng (psoriasis en plaques) là thường xảy ra nhất, căn bệnh cũng có thể xuất hiện dưới dạng các tạng (psoriasis en nappes), các mụn mủ (en pustules) hay các giọt (en gouttes), giới hạn ở các móng tay, các lòng bàn tay và lòng của các bàn chân, ở da đầu, bao phủ rộng lớn cơ thể hay chỉ biểu hiện bởi một thương tổn nhỏ. Gây bệnh cho 2 đến 3% dân số của các nước phát triển, bệnh vẩy nến dường như ít thấy trong vài vùng, như châu Phi. Một tố bẩm gia đình trong 30% các trường hợp.

Bệnh vảy nến là một bệnh lý, trong đó hệ miễn dịch can dự vào một cách mạnh mẽ. “ Ngay da lành mạnh của các bệnh nhân có một trạng thái tiền viêm (état préinflammatoire). Trong các bệnh vảy nến lan rộng, quá trình viêm xảy ra toàn thể và xét nghiệm máu cho thấy toàn bộ hệ miễn dịch hơi bị kích động lên. Vậy bệnh không chỉ diễn ra ở da, GS Hervé Bachelez (bệnh viện Saint-Louis, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Các bệnh vảy nến nghiêm trọng thường được liên kết với chứng béo phì, bệnh cao huyết áp, bệnh đái đường loại II, có lẽ với bệnh tim mạch, nhưng ta không biết đó là một sự gặp gỡ của các tố bẩm di truyền hay là một hậu quả của lối sống của những bệnh nhân này.” Bệnh Crohn, bệnh viêm mãn tính của đường tiêu hóa, cũng thường xảy ra hơn. “ Và 30% các bệnh nhân cũng có một thấp khớp vảy nến (rhumatisme psoriasique), ảnh hưởng lên các đầu chi hay các khớp trung ương. Tất cả những phối hợp này khiến vài tác giả gợi ý một rối loạn có tính cách toàn bộ hơn, GS Jean-Paul Ortonne, trưởng khoa da, CHU de Nice, đã xác nhận như vậy.

Các yếu tố môi trường và di truyền liên kết với nhau như thế nào ? “ Khoảng một chục vị trí trên nhiễm sắc thể đã được nhận diện, mà người ta vẫn chưa biết gène hay những gène chịu trách nhiệm, cũng như không biết chức năng của chúng như thế nào. Cũng có một liên kết mạnh với một gène của hệ miễn dịch, HLA-Cw6 ”, GS Bachelez đã xác nhận như vậy.

TIA TỬ NGOẠI A VÀ TIA TỬ NGOẠI B.

Về mặt điều trị, kho vũ khí hiện nay không cho phép điều trị bệnh mà chỉ kềm hãm nó mà thôi. Trong những thể từ nhẹ đến trung bình, các kem dermocorticoides làm giảm phản ứng viêm. Trong những thể khác, các dẫn xuất của vitamine D hay của vitamine A (rétinoides), điều hòa sự tăng sinh và sự phân hóa tế bào.

Tác dụng có lợi của các tia tử ngoại được biết từ lâu. “ Trong các bệnh vảy nến nghiêm trọng, các tia tử ngoại A (UVA) của puvathérapie (chữ viết tắt của psoralène-ultraviolet A et thérapie ; phép điều trị vài bệnh ngoài da bằng cách hấp thụ một psoralène rồi cho tiếp xúc với các tia tử ngoại A) đã nhường chỗ cho các tia tử ngoại B chọn lọc (UVB sélectifs), làm giảm tính hung dữ của các tế bào lympho T, và có lẽ can thiệp sớm hơn, với các hạn chế do nguy cơ ung thư da ”, GS Ortonne đã xác nhận như vậy.

Những dạng nghiêm trọng này cần một điều trị bằng đường miệng với rétinoides, thậm chí méthotrexate hay ciclosporine, hay thuốc làm suy giảm miễn dịch. Và nếu cần, nhưng liệu pháp sinh học mới, được phát triển từ ít lâu nay nhờ một sự hiểu biết tốt hơn các cơ chế phân tử của bệnh.
(LE FIGARO 5/7/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 159 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 1/2/2010 )

9/ BỆNH VẨY NẾN (PSORIASIS) THỂ NẶNG : NĂM 2010 ĐIỀU TRỊ MỚI BẰNG SINH LIỆU PHÁP (BIOTHERAPIE).

GS Carle Paul, thầy thuốc chuyên khoa da, trưởng khoa da của CHU de Toulouse, giải thích sự điều trị bằng sinh liệu pháp (biothérapie) đã biến đổi chất lượng sống của bệnh nhân như thế nào.

Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của bệnh vẩy nến (psoriasis) ?
GS Carle Paul : Đó là một bệnh mãn tính của da, không lây nhiễm ; bệnh này ở Pháp gây bệnh cho 3% dân chúng. Bệnh được biểu hiện bởi những mảng đỏ (plaques rouges), được phủ bởi các vảy trắng (squames), xuất hiện chủ yếu ở da đầu, cùi chõ, đầu gối và các bàn tay. Những mảng này là do một sự đổi mới quá nhanh của các tế bào da, trong vòng 3 hay 4 ngày thay vì 3 tuần. Cứ 3 trường hợp vẩy nến thì có 2 gây ngứa ngáy và có thể cả đau đớn nữa. Ngoài da, các khớp đôi khi bị thương tổn.

Hỏi : Có nhiều giai đoạn phải không ?
GS Carle Paul : Vâng, có 3 giai đoạn. Những thể nhẹ được biểu hiện bởi sự xuất hiện hai hoặc ba mảng (plaques). Trong những thể trung bình, các thương tổn lan rộng hơn hay nằm ở những vùng có thể thấy được. Trong những thể nghiêm trọng, vẩy nến bao phủ hơn 10% cơ thể. Bệnh này ảnh hưởng rất to lớn lên chất lượng sống : các bệnh nhân sợ rằng “ những thương tổn gây nên một sự ruồng bỏ bởi những kẻ khác ”.

Hỏi : Người ta có biết nguyên nhân của bệnh vẩy nến không ?
GS Carle Paul : Nguyên nhân chính xác không hoàn toàn được làm sáng tỏ. Có những thể bệnh xảy ra trong gia đình, vậy có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique). Người ta cũng chứng thực một sự viêm của bì và biểu bì, với sự giãn của các huyết quản và sự tích tụ của những tế bào của hệ miễn dịch (những tế bào lympho, những tế bào đa nhân). Những tế bào này gây nên những thương tổn qua những “ sứ giả sinh học ” (messager biologique), được sinh ra quá mức, các cytokine. Chính các cytokine này là nguyên nhân của sự đổi mới gia tốc của da.

Hỏi : Có những yếu tố làm dễ sự xuất hiện của các mảng vẩy nến không ?
GS Carle Paul : Có : một sự căng thẳng tâm thần (stress psychique) hay vật lý, các nhiễm trùng, vài loại thuốc, như những bêta-bloquants.

Hỏi : Tùy theo giai đoạn, những điều trị là gì ?
GS Carle Paul : Trong những thể nhẹ, người ta sử dụng những điều trị tại chỗ (kem, pomat,v…v). Đối với những thể trung bình và nặng, ta kê đơn những buổi quang liệu pháp bằng tia cực tím (photothérapie aux ultraviolets) hay một điều trị bằng thuốc uống (méthotrexate, rétinoides..). Nơi những bệnh nhân đề kháng với những điều trị này, một bước tiến quan trọng đã được thực hiện với sự hiệu chính những điều trị sinh học rất nhắm đích (traitements biologiques très ciblés), bằng đường tiêm (dưới da hay tĩnh mạch), trung hòa các cytokine, nguyên nhân của những thương tổn. Chúng ta đã có nhiều loại thuốc trung hòa tác dụng của cytokine TNF alpha. Một loại thuốc mới sẽ xuất hiện trên thị trường vào năm 2010 : ustekinumab. Những thứ thuốc khác đang được đánh giá và sẽ được thương mại hóa trong hai hay ba năm.

Hỏi : Đối với những bệnh vẩy nến nghiêm trọng và đề kháng này, những kết quả thu được với những điều trị sinh học (traitement biologique) là gì ?
GS Carle Paul : Các sinh liệu pháp (biothérapies) có một hiệu quả bằng hoặc trên các điều trị quy ước. Chúng cho phép, với sự theo dõi y khoa, kiểm soát căn bệnh và tái lập một chất lượng sống bình thường. Nơi 70 đến 80% các bệnh nhân được điều trị, người ta nhận thấy một sự biến mất gần như hoàn toàn của các mảng. Phần lớn các bệnh nhân phải tiếp tục điều trị trong nhiều năm.

Hỏi : Ngoài điều trị sau cùng được thương mãi hóa vào năm 2010, sự đổi mới mới nhất trong điều trị bệnh vẩy nến là gì ?
GS Carle Paul : Mới đây, chúng tôi đã hiệu chính, trong các khoa bệnh ngoài da bệnh viện và cùng với những y tá chuyên môn, một chương trình giáo dục các bệnh nhân để họ có thể quản lý tốt hơn căn bệnh của họ và chính họ tự tiêm lấy thuốc nhờ một stylo hay một ống tiêm da được làm đầy thuốc trước (seringue préremplie).

Hỏi : Phải chăng người ta đã đánh giá những lợi ích của phương pháp tự cho thuốc (autoadministration) mới này ?
GS Carle Paul : Vâng, bởi những công trình nghiên cứu quốc tế, được thực hiện trên nhiều ngàn bệnh nhân. Theo các kết quả, những điều trị này, và đặc biệt cách cho thuốc mới này, mang lại cho bệnh nhân một sự cải thiện rõ rệt chất lượng sống của họ.
(PARIS MATCH 31/12/2009-6/1/2010)


2/ CÁC THIẾU NIÊN NGHIỆN INTERNET CÓ KHẢ NĂNG HƠN BỊ CÁC ĐỢT TRẦM CẢM.

Các thiếu niên phụ thuộc internet có hai lần rưởi dễ bị chứng trầm cảm hơn so với những thiếu niên chơi trên mạng một cách bình thường và có kiểm. Đó là điều vừa được chứng tỏ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trong Archives of Pediatric and Adolescent Medicine. Công trình này được tiến hành trên 1041 thiếu niên của tỉnh Quảng Châu, miền nam Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu đặc biệt muốn nhận diện những người sử dụng bệnh lý mạng internet và tìm kiếm những dấu hieu lo âu và trầm cảm. Đại đa số các thiếu niên lên mạng một cách bình thường nhưng 62 (6,2%) đã được nhân diện như là những người sử dụng internet bệnh lý (internautes pathologiques) và hai (0,2%) như là những người sử dụng “ bệnh lý một cách trầm trọng ”. 9 tháng sau, tình trạng tâm lý của các thiếu niên đã được đánh giá. Kết quả là những thiếu niên sử dụng internet một cách không hợp lý có nguy cơ 2,5 lần chìm vào trong chứng trầm cảm nhiều hơn những trẻ khác.
(LE FIGARO 4/8/2010)

3/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH CROHN ĐƯỢC XÁC NHẬN.

Bệnh Crohn là một bệnh viêm mãn tính của ruột, trong đó hệ thống phòng ngự của bệnh nhân được hoạt hóa một cách không thích ứng. Có nhiều yếu tố nguy cơ di truyền, nhưng những yếu tố khác (di truyền, vệ sinh đời sống, toàn bộ các vi khuẩn ruột hay microbiote intestinal) cũng có can dự vào. Ken Cadwell, thuộc Phòng bệnh lý học và miễn dịch học của Đại học Washington ở Saint-Louis Hoa Kỳ, và các cộng sự viên của ông đã cho thấy rằng 3 yếu tố (một gène, một virus và một phản ứng viêm) cũng đủ làm phát khởi căn bệnh nơi chuột.

Ở Pháp, vào năm 2005, 60.000 người bị bệnh Crohn, gây tác hại chủ yếu các thiếu niên và những người trưởng thành trẻ tuổi. Căn bệnh được biểu hiện bởi một tình trạng ỉa chảy mãn tính, được kèm theo bởi đau bụng, đôi khi sốt, một sự mất cân và một sự mệt mỏi quan trọng. Các điều trị chủ yếu dựa trên các thuốc chống viêm và các thuốc làm suy giảm miễn dịch. Thật vậy, trong ruột, người ta quan sát thấy một sự tăng hoạt hóa của hệ miễn dịch, tấn công các tế bào của ruột : đó là một bệnh tự miễn dịch (maladie autoimmune). Mặc dầu có một sự mẫn cảm di truyền (susceptibilité génétique) (32 gène đã được nhận diện), nhưng các yếu tố môi trường cũng tham gia vào sự phát khởi của bệnh. Những yếu tố này là gì ?

Các nhà sinh học Hoa Kỳ đã khảo sát các con chuột được biến đổi về mặt di truyền, biểu hiện một gène nhạy cảm với bệnh, gène Atg16L1 bị biến dị. Nơi người, tất cả những ai bị bệnh đều mang biến dị này, nhưng tất cả những người mang biến dị không nhất thiết bị bệnh. Các con chuột được làm biến đổi về mặt di truyền có một loạn năng của các tế bào Paneth của ruột non, những tế bào này tham gia vào việc duy trì microbiote của ruột.

Bằng cách nuôi các con chuột này trong một môi trường vô khuẩn, các nhà sinh học đã chứng thực rằng chúng khỏe mạnh và các tế bào Paneth của chúng đều bình thường. Ngược lại, khi chúng bị nhiễm bởi một norovirus, thì tình trạng bất thường xuất hiện. Thế mà virus này thường là nguyên nhân của bệnh viêm dạ dày-ruột nơi người. Ngoài ra, nếu các nhà nghiên cứu làm nhiễm trùng các con chuột được làm biến đổi về mặt di truyền và mang virus, với một độc chất đối với ruột (điều này làm phát khởi một phản ứng viêm bởi microbiote ruột), các con chuột phát triển bệnh. Một virus như thế, sự biến dị di truyền và phản ứng viêm dường như cần thiết để làm phát phát khởi bệnh Crohn nơi các động vật gặm nhấm. Vấn đề còn phải xem virus này có phải là một nguyên nhân khả dĩ nơi người hay không.
(POUR LA SCIENCE 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 161 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 15/2/2010 )

10/ BỆNH CROHN : HƯỚNG CỦA ĐẠI THỰC BÀO.

Bệnh Crohn (60.000 người bị bệnh ở Pháp) là một viêm mãn tính của ruột, có thể dẫn đến những biến chứng trầm trọng. Mặc dầu nguyên nhân của bệnh này vẫn không được biết đến, nhưng bệnh được cho là “ bệnh tự miễn dịch.” Theo nhóm nghiên cứu của GS Anthony Segal (đại học Luân Đôn) thì đó là một sai lầm ! Những công trình của ông và những kết luận của các công trình này, được cho chỉ là một sự khiêu khích đối với những người này, là sự khám phá quan trọng đối với những người khác. Segal và nhóm nghiên cứu của ông đã tiêm các vi khuẩn được làm vô hại vào những bệnh nhân lành mạnh và vào những bệnh nhân bị bệnh Crohn, rồi đã so sánh sự đáp ứng miễn dịch của chúng : nơi những bệnh nhân bị bệnh Crohn, vài tế bào miễn dịch, được gọi là “ đại thực bào ” (macrophage), trong tình trạng giảm hoạt. Hậu quả : chúng sản xuất rất ít cytokine, protéine làm biến đổi hệ miễn dịch để chống lại kẻ thù. Sự suy diễn những kết quả này lên hệ tiêu hóa gợi ý rằng nơi những người có các đại thực bào ít hoạt động, hệ miễn dịch được huy động một cách không đầy đủ cho phép các vi khuẩn trở nên rất hung dữ. Đối với Segal, các vi khuẩn trực tiếp là căn nguyên của của những thương tổn đường tiêu hóa.
(PARIS MATCH 21/1-27/1/2010)

4/ MỘT VI KHUẨN THÔNG THƯỜNG DƯỜNG NHƯ ĐƯỢC LIÊN KẾT VỚI UNG THƯ ĐẠI TRÀNG.

Đó là một khám phá bất ngờ. Có một mối liên hệ giữa ung thư đại tràng và sự hiện diện trong ống tiếu hóa của Escherichia coli, một vi khuẩn thông thường. Vi khuẩn này bình thường sống một cách rất hài hòa với con người, mặc dầu nó có thể gây nên ỉa chảy, các nhiễm trùng đường tiểu hay những ngộ độc thức ăn. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu của Inra đánh giá rằng vi khuẩn này có thể là căn nguyên của sự xuất hiện của những tế bào ung thư. Cách nay 4 năm, họ đã khám phá ra rằng một giống gốc đặc biệt của E.coli tiết ra một độc tố, được gọi là colibactine. Thế mà, độc tố này dường như gây nên những thương tổn của ADN. Để xác nhận điều này, các nhà nghiên cứu lần này đã cấy giống gốc E.coli với các tế bào ruột non của chuột. Sau một ngày, họ đã nhận thấy các chỗ gãy trên hai dây ADN của những tế bào.Vì không thể phân chia một cách bình thường, những tế bào này đã tích tụ những bất thường trong cấu trúc và số các nhiễm sắc thể của chúng. Đáng lo ngại khi ta biết rằng những thương tổn này và những bất thường nhiễm sắc thể này có thể dẫn đến sự biến đổi ác tính của các tế bào và dẫn đến sự ung thư hóa. Tuy nhiên còn cần phải thực hiện những công trình nghiên cứu sinh ung thư (cancérogenèse) và dịch tễ học để xem mối liên hệ này có được xác nhận hay không. Từ nhiều thập niên nay, các thầy thuốc đều biết rằng vi khuẩn Helicobacter pylori đóng một vai trò trong các ung thư dạ dày hay rằng các papillomavirus gây nên những thương tổn tiền ung thư, nhưng họ đã chưa bao giờ nghi ngờ các vi khuẩn E.coli.
(SCIENCE ET VIE 8/2010)

5/ CÓ MỘT TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN TỐT BẢO VỆ CHỒNG LẠI BỆNH ALZHEIMER.

Một thời gian học vấn lâu dài gìn giữ các chức năng nhận thức (fonctions cognitives) mặc dầu sự hiện diện của những thương tổn não bộ, chịu trách nhiệm chứng sa sút trí tuệ này. Sự xuất hiện căn bệnh sẽ được làm chậm lại 7 đến 10 năm.

VIEILLISSEMENT. Nếu tất cả mọi người đều đi học, thế thì sẽ còn có những người bị bệnh Alzheimer hay không ? Tất nhiên là có, nhưng có lẽ họ sẽ bị bệnh ở một lứa tuổi cao hơn so với hiện nay. Đó là kết quả của những công trình nghiên cứu, được tiến hành phối hợp bởi các nhà nghiên cứu Anh và Phần Lan và được công bố tuần qua trong tạp chí Hoa Kỳ Brain. Theo các nhà nghiên cứu này, sự việc đã đi học cho phép tích trữ những “ năng lực nhận thức ” (aptitudes cognitives) có khả năng chống lại những tác dụng có hại của các thương tổn não chịu trách nhiệm căn bệnh này. Hiện nay không có một thầy thuốc nào đã khám phá ra phương thuốc nhiệm màu chống lại căn bệnh ảnh hưởng lên 800.000 người ở Pháp này.

Đã từ vài năm nay người ta biết rằng một trình độ học vấn tốt có thể bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer hay làm chậm lại sự xuất hiện của nó. Nhưng một câu hỏi vẫn chưa được giải đáp : sự việc đã theo một học trình cao có ngăn cản sự xuất hiện của những thương tổn não bộ liên kết với bệnh Alzheimer hay chỉ cho phép làm giảm bớt tác động của chúng ?

Để làm sáng tỏ sự việc, nhóm nghiên cứu Anh-Phần Lan đã phân tích não bộ của 832 người già, đã tham gia, nhiều năm trước khi chết, vào những cuộc điều tra về vấn đề lão hóa. Nhiều dữ kiện về trình độ học vấn, giáo dục, môi trường xã hội-văn hóa, tình trạng sức khỏe của họ, cũng như những rối loạn trí nhớ hay những chẩn đoán chứng sa sút trí tuệ đã được tích lũy, vào lúc não bộ của họ được giải phẫu tử thi.

NHỮNG THƯƠNG TỔN THOÁI HÓA.

Điều chứng thực đầu tiên : dầu trình độ học vấn là gì đi nữa, các thương tổn cơ thể học đặc trưng của bệnh Alzheimer (các mảng amyloide giữa các tế bào thần kinh, sự tích tụ của protéine Tau bên trong các neurone) đều tương tự nhau. Không có những thương tổn cơ thể bệnh lý ít hơn nơi những người có thời gian học vấn dài lâu. Nhưng tuy vậy, phần lớn những người này không bị bệnh Alzheimer trong lúc còn sống, trong khi những người khác, mặc dầu có cùng các thương tổn nhưng đã không làm mòn đũng quần trên các ghế nhà trường hay đại học, đều đã trở nên bị bệnh.

“ Những kết quả của chúng tôi cho thấy rằng, sự việc đã từng theo đuổi học hành có thể giúp những người già quản lý, trên bình diện lâm sàng, những thương tổn thoái hóa của não bộ, Hannah Keage (đại học Cambridge, Anh), một trong những đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Như thể sự học vấn gìn giữ các chức năng não bộ, mặc dầu đã có một sự biến đổi mô học. “ Sự giáo dục là một yếu tố công bằng xã hội. Công trình của chúng tôi ủng hộ thêm nữa cho sự cần thiết phải đầu tư, lúc bắt đầu của đời sống, vào những chương trình có một tác động lên toàn xã hội và trong suốt cuộc đời ”, Carol Brayne, đồng tác giả của công trình nghiên cứu, cũng là giáo sư của đại học Cambridge, đã tuyên bố như vậy.

Công trình nghiên cứu Paquid, được tiến hành ở Pháp dưới sự chỉ đạo của GS Jean-François Dartigues, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHU de Bordeaux, cũng đã đưa đến những kết luận theo chiều hướng này : “ Trình độ học vấn mang lại những khả năng dự trữ nhận thức (capacité de réserves cognitives) rất quan trọng, đặc biệt là qua mạng lưới các nối kết của các tế bào thần kinh và của kích thước của các neurone ”, ông đã giải thích như vậy.

Cùng điều được quan sát như thế đối với Nun Study (nun : tiếng Anh là nữ tu sĩ), một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, căn cứ trên giải phẫu tử thi các não bộ của các nữ tu sĩ đã chết. Lại nữa, những thương tổn tương tự nhau nơi tất cả những người tham gia. Chỉ có khác là những nữ tu sĩ có một trình độ học vấn tốt có những neurone lớn hơn ở thùy hãi mã (một vùng của não bộ có liên hệ trong những hiện tượng ghi nhớ) và đã ít bị chúng sa sút trí tuệ hơn.

MỘT TÁC DỤNG BẢO VỆ.

Dường như không phải tầm quan trọng của hoạt động trí tuệ trong suốt cuộc sống của mình có một tác dụng bảo vệ. Mà đúng là trình độ học vấn, những khả năng trí tuệ được tích lũy trước năm 25 tuổi. “ Sự việc đã theo một học trình làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh Alzheimer từ 7 đến 10 năm, GS Dartigues đã đánh giá như vậy. Khi ta đã từng không đi đến trường, ta có hai lần nguy cơ cao hơn bị bệnh Alzheimer so với khi ta đã từng đi học. Trường học ảnh hưởng lên sự phát triển của các khớp thần kinh não bộ (synapses cérébrales) và kích thước và số lượng của các neurone. Nghề nghiệp đóng một vài trò ít quan trọng hơn.”

Mới đây các du kích quân Colombie đã chấp thuận học đọc. Thăm khám bằng IRM não bộ của họ đã cho phép thấy rằng, chỉ với việc học tập này cũng đã đủ làm phát triển chất xám của họ. Để bảo vệ chong lai sự sa sút trí tuệ, không gì bằng một sự đam mê, hội họa, âm nhạc... “ Phải phát triển những mối liên hệ xã hội, GS Dartigues đã ghi nhận như vậy. Hãy đọc và bàn luận những bài đọc với những người chung quanh mình. ”
(LE FIGARO 2/8/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Mất Trí Nhớ (Alzheimer)- Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây


6/ VIRUS CỦA BỆNH SIDA CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ CÓ LIỆU PHÁP GENE.

Các thuốc kháng siêu vi trùng (antiviraux) chống lại virus của bệnh sida phải chăng một ngày nào đó sẽ được thay thế bởi một liệu pháp gène (thérapie génique ? Đó là hy vọng được dấy lên bởi một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu đã lấy các tế bào máu trên 4 người bị nhiễm bởi VIH và bị một ung thư máu, hay lymphome, liên kết với bệnh sida. Sau đó họ đã biến đổi một phần nhỏ của những tế bào này bằng cách đưa vào đó những gène ngăn cản sự phát triển của VIH. Sau cùng, các nhà nghiên cứu đã đưa các tế bào này vào lại trong máu của các bệnh nhân. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng, các triệu chứng của tất cả các bệnh nhân đã được cải thiện và rằng, nơi hai trong số các bệnh nhân này, các tế bào chữa lành bệnh (cellulues guérisseuses) đã tăng sinh. Ngược lại, không có sự bảo đảm về tính hiệu quả của các gène“ thuốc ” này về lâu về dài.
(SCIENCE ET VIE 8/2010)

7/ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT.

Sống trong môi trường đô thị, di dân, tiêu thụ cannabis...Những tình huống này có phải là những yếu tố nguy cơ đối với bệnh tâm thần phân liệt, căn bệnh tâm thần gây bệnh cho 1% dân số thế giới ? Lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu, được phát động bởi Fondation FondaMental (mạng lưới hợp tác khoa học về sức khỏe tâm thần), sẽ mang lại câu trả lời ở Pháp. Bệnh tâm thần phân liệt, xuất hiện giữa 15 và 20 tuổi, gây nên những ảo giác (hallucination), thường nhất là thính giác, và những ý tưởng mê sảng (idées délirantes), dẫn đến một sự cắt đứt tiếp xúc xã hội (rupture du contact social) và một một sự giảm khả năng xúc cảm (une baisse de l’affect). Theo các nghiên cứu dịch tễ học, “ có một yếu tố di truyền làm dễ (un facteur génétique de prédisposition), mà người ta đã chưa có thể nhận diện được các biến dị ”, BS Andrei Szoke, thuộc bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) và là người đồng phụ trách công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy. Một tính chất dễ bị thương tổn di truyền (vulnérabilité génétique) được biểu hiện trong vài điều kiện môi trường. “ Một đứa trẻ đã lớn lên trong thành phố, sẽ có một nguy cơ hai lần cao hơn phát triển một bệnh tâm thần phân liệt, so với một trẻ của môi trường nông thôn ”, vị thầy thuốc nói tiếp như vậy. Cũng vậy, các dân di tản cũng sẽ bị ảnh hưởng hơn “ có lẽ là do stress gây nên bởi sự đối xử phân biệt ”. Sau cùng, sự tiêu thụ cannabis sẽ nhân lên gấp 2,5 lần nguy cơ xuất hiện của hợp chứng.

Có bao nhiêu lý thuyết, có bấy nhiêu công trình muốn kiểm chứng.“ Chúng tôi sẽ so sánh 150 trường hợp mới trong các thành phố của Val-de-Marne và trong một vùng nông thôn của Puy-de-Dome, với 100 trong số các anh hay chị của họ, ở trong cùng một môi trường và một phần của các gène của họ và với 150 người chứng.Tất cả sẽ trả lời những bảng câu hỏi, và một xét nghiệm máu sẽ xác định những yếu tố di truyền hay nhiễm trùng.” Cũng cuộc điều tra sẽ được tiến hành ở Tây ban Nha, ở Ý, Anh và ở Hoà lan, tất cả được tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu. Mục tiêu cuối cùng ? “ Hiểu biết tốt hơn nguồn gốc của những bệnh lý này, thiết đặt những biện pháp phòng ngừa và báo động các nhóm dân và những vùng có nguy cơ.” Cac kết quả sẽ có trong 3 năm nữa.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Đọc thêm : Thông Tin Y Học Về Bệnh Tâm Thần Phân Liệt (Schizophrenia) - Tổng hợp thông tin từ các bài TSYH trước đây

8/ SỰ SAY RƯỢU CÓ HẠI NGHIÊM TRỌNG CHO TUỔI TRẺ.

Một công trình nghiên cứu trên các động vật linh trưởng (primate) xác nhận ảnh hưởng của rượu lên sự phát triển của thùy hải mã (hippocampe), vùng não bộ cần thiết cho học tập và ghi nhớ.

Nơi các thiếu niên, một ly đã là quá nhiều, còn nhiều ly, thì xin chào các tổn hại trên não bộ ! Ít nhất cũng nơi khỉ macaque. Một công trình nghiên cứu, được tiến hành trên động vật linh trưởng này, lần đầu tiên mang lại bằng cớ về ảnh hưởng của rượu lên sự phát triển của hồi hải mã (hippocampe), một vùng của não bộ chủ yếu trong việc ghi nhớ và học tập. Các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Scripps (Californie) đã tạo khả năng cho hai nhóm khỉ macaque thiếu niên, được uống tha hồ, một lần mỗi ngày : những con khỉ thuộc nhóm thứ nhất uống nước đường, còn những con khỉ thuộc nhóm thứ hai uống nước tương tự nhưng có pha rượu. Và như thế trong 1 tháng. Kết luận : nhóm tiếp cận với rượu đã uống không có mức độ, thường đi đến một tình trạng say thực sự. Hai tháng sau khi cai rượu, bilan đối với thùy hải mã của chúng đã không thể đảo ngược : số các tế bào mới cũng như sự tăng sinh của chúng đã bị sụt giảm một nửa so với những động vật kiêng rượu.

Những kết quả này, than ôi, theo cùng chiều hướng với một công trình nghiên cứu, được công bố bởi American Journal of Psychiatry vào tháng năm năm 2000, lần này được tiến hành trên người. Công trinh nghiên cứu này đã phát hiện, nơi các thiếu niên, một sự nhạy cảm mạnh hơn của thùy hải mã đối với rượu : thể tích của thùy hải mã càng bị thu giảm khi việc uống rượu đã bắt đầu càng sớm và càng kéo dài. Bây giờ chúng tôi biết rằng, não bộ đang được tạo thành của các thiếu niên là rất nhạy cảm với độc tính của rượu, BS Georges Picherot, trưởng khoa nhi đồng của CHU de Nantes đã lấy làm lo ngại như vậy.Thế mà, việc tiêu thụ rượu mạnh lập đi lập lại, càng ngày càng có liên hệ đến các trẻ em dưới 15 tuổi.” Thật vậy, mặc dầu sự tiêu thụ rượu nhìn toàn bộ đang giảm đều đặn từ 50 năm qua, nhưng những hành vi đáng lo ngại như chứng nghiện rượu do nhu cầu giao tiếp xã hội (alcoolisme mondain) của những người trưởng thành và “ những cuộc chè chén tốc hành ” (beuveries express) nơi các vị thành niên. Chúng được liên kết với sự tiêu thụ rượu mạnh càng ngày càng thường xảy. Việc bán rượu whisky đã nhảy vọt 20% trong 5 năm vừa qua. Nơi các thiếu niên, nhìn toàn bộ sự tiêu thụ rượu vẫn ổn định và thấp hơn so với những nơi khác ở châu Âu, Georges Picherot đã nói thêm vào như vậy. Nhung chúng ta không thoát khỏi sự xuất hiện những trường hợp say cấp tính nơi những trẻ em càng ngày càng nhỏ tuổi. ”
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

9/ TA CÓ THỂ HY VỌNG CÓ CON SAU MỘT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỤ KHOA KHÔNG ?

Professeur Roger Henrion
Gynécologue obstétricien
Président de l’Académie nationale de médecine


Ta có nghĩ rằng có thử thách nào đau đớn hơn đối với một phụ nữ trẻ, khi hay tin cùng một lúc rằng, cô ta bị một ung thư và điều trị được sử dụng, mặc dầu càng ngày càng có hiệu quả và cứu mạng, lại có thể gây nên một sự vô sinh vĩnh viễn ? Những tình trạng tiến thối lưỡng nan như thế, nếu xảy ra vào những thời điểm trước đây, là điều không thể quan niệm được, là vì khi đó chẩn đoán ung thư chậm hơn nhiều và tiên lượng nghiêm trọng hơn nhiều, thì từ nay, điều này không còn hiếm hoi nữa, nhất là khi các thai nghén muộn ngày càng gia tăng với sự chậm trễ ngày càng rõ rệt của tuổi thai nghén đầu tiên hay ước muốn có thai sau một cuộc hôn nhân mới.

Đứng trước nỗi thống khổ của các bệnh nhân mình, các thầy thuốc đã tìm cách làm giảm những tác dụng có hại của các điều trị lên chức năng buồng trứng. Ngoài sự làm chủ tốt hơn, bởi các thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến và ung thư, các liều lượng được cho, các trường phóng xạ và tính chất của các tác nhân hóa học và của sự phối hợp chúng lại với nhau, còn được thêm vào những kỹ thuật được sử dụng bởi các thầy thuốc chuyên khoa phụ sản và các nhà sinh học, nhằm bảo tồn các chức năng sinh sản.

Nhưng, nếu ở người đàn ông, sự bảo tồn tinh dịch được quy tắc hóa tốt, với những kết quả được nhận thấy, thì tình huống phức tạp hơn nhiều ở người phụ nữ. Một mặt, bởi vì các noãn bào (ovocyte) được tiếp cận khó khăn hơn và đề kháng kém với quá trình làm đông lạnh-làm tan đông (congélation-décongélation), mặt khác bởi vì phần lớn các kỹ thuật đều cần một sự thành thục sinh dục (maturité sexuelle), một sự kích thích buồng trứng (stimulation ovarienne) và sự hiện diện của một người phối ngẫu.

Trong trường hợp phóng xạ liệu pháp (radiothérapie), kỹ thuật được sử dụng nhất nhằm tách xa buồng trứng khỏi những nguồn bức xạ, bằng cách đặt nó trong bụng, trên vị trí bình thường của nó. Sự bảo toàn của chức năng buồng trứng đat được trong khoảng 80% các trường hợp, với điều kiện người phụ nữ dưới 40 tuổi. Kỹ thuật thứ hai, vẫn còn ở giai đoạn thí nghiệm, là ghép buồng trứng với các cuống mạch máu của nó trong một nơi khác của cơ thể không phải hố chậu, ở dưới cẳng tay hay trong bụng.

Nhưng trong hoá học liệu pháp, xê dịch buồng trứng chẳng ích lợi gì. Ngoài một sự thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro) được thực hiện cấp cứu, ngoài sự hiện diện của một người phối ngẫu và một sự kích thích buồng trứng, làm trì hoãn sự thực hiện điều trị của ung thư, giải pháp an toàn nhất là làm đông lạnh (congélation embryonnaire).

Tỷ lệ sinh bằng chuyển phôi (accouchement par transfert) là khoảng 20%. Nhưng vì sự làm đông lạnh chậm các noãn bào trưởng thành đã không có những kết quả được mong chờ, nên người ta đã đề nghị một loại làm đông lạnh các noãn bào cực nhanh, được gọi là vitrification. Tỷ lệ sinh khi đó sẽ là 30% bằng chuyển phôi, trong khi tỷ lệ này chỉ 10% sau phương pháp làm đông chậm (congélation lente). Mặc dầu sự theo dõi hơn 900 trẻ em sinh ở Ý vào năm 2009 là hoàn toàn làm an lòng, nhưng kỹ thuật này chưa được cho phép ở Pháp.

Một phương pháp khác, đáng lưu ý đối với các thiếu nữ, là sự bảo tồn bằng đông lạnh (cryoconcervation của mô buồng trứng, nhằm bảo tồn các noãn nang nguyên thủy (follicules primordiaux), nằm ở vỏ của buồng trứng. Mô của buồng trứng được đặt lại hoặc ở vị trí hố chậu, hoặc xa vị trí gốc của nó. Thật ra, cho đến ngày nay, chỉ có các ghép ở vị trí hố chậu mới đã cho phép có được các thai nghén. Người ta cũng có thể nhờ đến sự hiến các noãn bào, nhưng với những thời hạn từ hai đến 5 năm, một phần do hiếm có người cho (donneuse), khoảng 200 đến 300 mỗi năm ở Pháp.

Còn về việc có thai cho những kẻ khác, giải pháp duy nhất cho một cặp vợ chồng có một đứa con phát xuất từ các gène riêng của mình khi tử cung đã bị lấy đi nhưng các buồng trứng được bảo tồn. Sẽ là đáng ngạc nhiên khi sự thai nghén này được chấp thuận ở đất nước chúng ta cách nay vài năm. Các lựa chọn càng khó thực hiện khi ta thiếu các công trình nghiên cứu được tiến hành trên một số lớn người, điều này khiến vẫn còn những hoài nghi về các phương thức điều trị tốt nhất của chứng vô sinh và sự xuất hiện của các tái phát. Rõ ràng là các quyết định chỉ nên được thực hiện trong các équipe biết rất rõ nhau. Dầu thế nào đi nữa, mặc dầu các kết quả không hoàn toàn được đảm bảo, nhưng chỉ nội việc loan báo một khả năng có con về sau này cũng là một thông điệp mang lại hy vọng.
(LE FIGARO 28/6/2010)

10/ CÁC KEM CHỐNG NẮNG CÓ THẬT SỰ BẢO VỀ CHỒNG LẠI NHỮNG TÁC DỤNG CÓ HẠI CỦA ÁNH NẮNG MẶT TRỜI.

Docteur Paul Young
Dermatologue (Rouen)


Từ những năm 1970, số các ung thư da gia tăng một cách quan trọng. Điều này phần lớn được liên kết với những thói quen mới khi phơi nắng. Bởi vì các yếu tố nguy cơ của các ung thư da, một phần là di truyền, mà chúng ta không thể tác động được, và một mặt khác được liên kết với sự tiếp xúc với ánh nắng, dầu đó là cấp tính và đoạn hồi hay mãn tính, tình nguyện hay do nghề nghiệp.

Những trường hợp trúng nắng (coups de soleil) và những sự tiếp xúc mãn tính ánh nắng mặt trời là những tác nhân chính chịu trách nhiệm 3 loại ung thư da chủ yếu, các carcinome basocellulaire, các carcinome épidermoide và những u hắc tố (mélanome). Những trường hợp trúng nắng là đặc biệt nguy hiểm khi chúng xuất hiện trong thời thơ ấu. Những sự tiếp xúc mãn tính với ánh nắng mặt trời cũng chịu trách nhiệm sự lão hóa của da (các vết nhằn và các đốm nắng hay actinique) và những dày sừng quang hóa (kératose actinique), là những thương tổn tiền ung thư.

HIỆU QUẢ TRONG 8 GIỜ.

Vậy cần phải thiết đặt một sự phòng vệ ánh sáng (photoprotection) ngay từ tuổi ấu thơ (nhất là giữa 10 giờ và 17 giờ) và như thế suốt cả cuộc đời. Các tia tử ngoại B chịu trách nhiệm các vết bỏng và các đợt trúng nắng, các tia tử ngoại A chịu trách nhiệm sự lão hóa của da và các dày sừng quang hóa (kératose actinique). Sự làm rám da (bronzage) vì là một tác nhân bảo vệ tồi chống lại các tia tử ngoại A, nên sự bảo vệ ánh sáng tốt nhất được đảm bảo bởi quần áo. Các kem và màn ngăn chống nắng (crème et écran solaire) phải được đặc biệt dành cho những vùng khó bảo vệ bởi quần áo.

Những kem chống nắng đầu tiên, được thương mãi hóa vào đầu những năm 1970, chỉ bảo vệ độc nhất và yếu chống lại các tia tử ngoại B (UVB). Dần dần các chỉ tiêu bảo vệ (indice de protection) chống lại UVB đã gia tăng, nhưng hiện nay chúng cũng bảo vệ chống lại UVA. Chỉ đấu SPF (Sun Protection Factor) thể hiện sự bảo về chống lại UVB. Dĩ nhiên, SPF càng cao, sự bảo vệ sẽ càng tốt hơn.

Cùng cách như thế, thời gian bảo vệ liên kết với sự bôi kem chống nắng đã dần dần gia tăng. Thí dụ rất mới đây đã xuất hiện một kem chống nắng có thời gian bảo vệ 8 giờ chỉ cần một lần bôi. Tuy nhiên, phần lớn các kem và màn ngăn chống nắng có hiện nay bảo vệ trong một thời gian khoảng 2 giờ. Sau cùng, cũng có những kem tương đối đề kháng với sự tắm rửa.

Do sự gia tăng của số các ung thư da, và nhiều chiến dịch ngăn ngừa và phát hiện của các thầy thuốc chuyên khoa da, nên dân chúng cũng được thông tin khá tốt về những nguy cơ do phơi nắng. Trong mục đích vừa ngăn ngừa các ung thư da và làm chậm lại sự lão hóa da, việc sử dụng các kem và màn ngăn chống nắng co tầm quan trọng. Các màn ngăn (écran) được chế tạo từ các khoáng chất phản chiếu ánh sáng (oxyde de titane hay oxyde kem), gởi trả lại bức xạ tử ngoại trong khi các bộ lọc (filtre) hấp thụ năng lượng của chúng. Đa số các sản phẩm, bắt đầu từ những SPF 30, chứa đồng thời các màn ngăn và các bộ lọc để trang trải tốt toàn bộ phổ của các tia tử ngoại.

Việc ngăn ngừa các ung thư phải bắt đầu bởi sự hạn chế thời gian tiếp xúc với ánh nắng và nhất là bằng cách giảm bớt số những trường hợp trúng nắng. Điều này phải là một mối lo âu thường xuyên nơi các bố mẹ có con em còn nhỏ tuổi. Việc sử dụng quần áo bảo vệ ánh sáng, bây giờ khá phổ biến và phí tổn phải chăng, là vô cùng hữu ích. Chúng cho phép tắm và chơi thể thao nhưng đồng thời vẫn được bảo vệ. Việc sử dụng kem chống nắng phải đều đặn : phải bôi kem rộng khắp, khoảng mỗi 2 giờ. Các chỉ dấu SPF phải được tăng cao (trên 30).

KEM BAN NGÀY (CREME DE JOUR).

Sự ngăn ngừa quá trình lão hóa da (các vết nhăn và các đốm) cũng cần bôi kem ban ngày chứa những tác nhân bảo vệ chống lại ánh sáng. Những kem này càng ngày càng được phổ biến và được nhận biết dễ dàng. Thật vậy, trên bao bì của chúng, xuất hiện lời ghi chú “ SPF ” . Nói chung chỉ tiêu này bao gồm giữa 15 và 25. Việc bôi các kem này cho phép làm chậm lại sự xuất hiện của những dấu hiệu của lão hóa da, nhưng cũng cho phép, khi những dấu hiệu này rất rõ rệt, một sự cải thiện tương đối những dấu hiệu của nó, do đó việc bôi kem phải là rất nghiêm túc (bôi hai lần mỗi ngày, sáng và trưa).

Cũng đừng quên rằng các tổn hại của các tia tử ngoại không chỉ giới hạn ở da, mà còn có thể ở cả mắt nữa. Sự bảo vệ da chống lại ánh sáng phải được bổ sung bởi việc đeo kính râm (lunettes de soleil) lọc rất tốt các tia tử ngoại A bà B.
(LE FIGARO 22/3/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 137 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 2/8/2009 )

5/ PHƠI NẮNG : NHỮNG CẠM BẨY KHÔNG ĐƯỢC BIẾT ĐẾN.

BS Anny Cohen-Letessier, thầy thuốc chuyên khoa da, giảng viên, cảnh cáo về những tác hại, thường không được nghĩ tới, của những tia UVA và UVB.

Hỏi : Những nguy cơ ít được biết đến của phơi nắng (exposition solaire) ?
BS Anny Cohen-Letessier : Công chúng được thông tin rõ về những tác dụng có hại thông thường nhất : sự lão hóa da, các vết (taches), ung thư da, v...v. Nhưng phần lớn người ta không biết đến những nguy cơ gặp phải trong vài trường hợp... Ví dụ khi họ đang được điều trị bởi các thuốc gây nhạy cảm ánh sáng (traitement médicamenteux photosensibilisant)...Hoặc khi đang mang một vết sẹo có từ dưới hai năm... Hoặc trong một tình huống “ tiếp xúc thụ động ”, như ngồi sau một kính chắn gió xe hơi hay một lỗ kính (baie vitrée). Phải nhớ rằng mặt trời là một người bạn giả của các da mụn (peaux acnéiques)... rằng các buổi pique-nique dưới ánh mặt trời, trên bãi cỏ, có thể gây nên (nếu da ẩm ướt) một “ bệnh viêm da của các bãi cỏ ” (dermite des prés), đau đớn, với sự xuất hiện của các nốt rộp da (cloques).

Hỏi : Dưới ánh nắng mặt trời, những điều trị nào có nguy cơ gây nên những biến chứng ?
BS Anny Cohen-Letessier : Vài kháng sinh, các thuốc chống viêm, các thuốc chống trầm cảm, các thuốc chống loạn nhịp tim... có nguy cơ gây nên một sự nhạy cảm ánh sáng (photosensibilisation). Do sự tương tác giữa thuốc và các tia tử ngoại, da phản ứng mạnh, gây nên ban đỏ (érythème) (đỏ, bỏng...) và các vết (taches). Lúc được điều trị bởi những thuốc này, phải tránh những giờ nóng nhất và phải bôi lại thường xuyên kem mặt trời (crème soliare), ngay cả lúc tắm (nước có tác dụng của một kính loupe trên da !).

Hỏi : Tại sao phải chờ hai năm mới có thể phơi nắng một vết sẹo mổ ?
BS Anny Cohen-Letessier : Những tia tử ngoại làm xáo trộn các giai đoạn của tiến trình hóa sẹo, đặc biệt là sự tái sinh của các tế bào của tổ chức da. Phơi nắng sớm có nguy cơ làm sẹo hóa thành màu nâu, điều này sẽ làm nổi rõ dạng vẻ xấu xí của một di chứng giải phẫu. Mỗi vết sẹo, nhỏ hay lớn, đều cần được bảo vệ.

Hỏi : Vì những lý lẽ gì mà mặt trời là một một người bạn giả của các da mụn (peaux acnéiques) ?
BS Anny Cohen-Letessier : Bởi vì những người bị mụn luôn luôn có cảm tưởng rằng tình trạng của họ sẽ được cải thiện dưới ánh nắng mặt trời. Thoạt đầu sự làm rám da (bronzage) làm cho đều nước da mặt, “ ngụy trang ” các nốt mụn. Sự dày lên của da như thế che dấu các vi nang (microkyste), nguồn gốc của các mụn mọc. Những lúc đi hè về, da phản ứng lại rất nhanh chóng bằng một đợt nổi mụn rất quan trọng, với sự tái xuất hiện các thương tổn..

Hỏi : Những trường hợp phơi nắng thụ động là gì ?
BS Anny Cohen-Letessier : Trong xe hơi, người ta, như ở tren bờ biển, chịu những tia UVA đi xuyên qua kính : kính của kính chắn gió và kính của các kính bên. Để tránh những ban đỏ thường xảy ra nơi mặt, cần thận trọng bôi một loại kem có tính chất bảo vệ chống nắng cao trước khi đi nghỉ hè. Cũng vậy, vào lúc hoạt động ngoài trời, thể thao hay không (như làm vườn, xén cỏ..), người ta quên rằng những phần hở sẽ chịu những tác dụng có hại do phơi nắng mặt trời quá mức : bỏng, các vết, sự lão hóa da sớm, v..v. Do đó lợi ích mặc quần áo nhẹ thích hợp hay bôi một lớp kem ngăn ánh nắng.

Hỏi : Hiệu quả thật sự của các loại kem chắn toàn thể (crèmes à écran total) là gì ?
BS Anny Cohen-Letessier : Thuật ngữ “ chắn toàn thể ” (écran total) là không thích hợp bởi vì một loại kem không bao giờ bảo vệ hoàn toàn cả. Những liều lượng sử dụng trên da không đủ để tạo nên một màng chắn toàn thể, và có thể có một sự hủy hoại các bộ lọc lúc phơi nắng, làm mất khả năng che chở. Mặt khác hiệu quả của thuốc có thể giảm khi ống thuốc nằm dưới ánh nắng. Những tên gọi của những kem chắn toàn thể này sẽ thay đổi : ta sẽ nói là che chở nhẹ, trung bình, cao hãy rất cao (hiệu quả gần hai giờ).

Hỏi : Mặt trời cũng có những lợi ích của nó chứ ?
BS Anny Cohen-Letessier : Một bức xạ được gọi là “ánh sáng thấy được” có một tác dụng có lợi lên khí chất, làm thư giãn sự căng thẳng. Những tia cực tím cho phép cơ quan tổng hợp vitamine D.
(PARIS MATCH 16/7- 22/7/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (9/8/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969