Ngôn ngữ:  
Sơ đồ web
Tìm kiếm sản phẩm
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến
Yahoo   Nguyễn Minh Tuệ
Skype Mr Tuệ
Thông tin

 
 
 
 
BỘ ĐẾM
Đang trực tuyến : 10
Lượt truy cập: 1028437
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 187

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ VIÊM CỨNG KHỚP ĐỐT SỐNG : MỘT CHỨNG ĐAU LƯNG NƠI 250.000 NGƯỜI PHÁP.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

CÁC CON SỐ. Sau bệnh viêm đa khớp dạng thấp(arthrite rhumatoide), bệnh viêm cứng khớp đốt sống (spondylarthrite ankylosante), là bệnh thấp khớp viêm mãn tính thường gặp nhất : 0,2 đến 0,3% dân số bị liên hệ, hoặc khoảng 250.000 người ở Pháp. Căn bệnh âm ỉ này thường khởi phát giữa 14 và 40 tuổi, đàn ông bị bệnh nhiều hơn phụ nữ. Trung bình chẩn đoán được thực hiện sau khi bệnh đã tiến triển từ 6 đến 8 năm.

CÁC TRIỆU CHỨNG. 3 dấu hiệu luôn luôn có mặt : đau, cứng khớp buổi sáng và mệt mỏi. Các cơn đau, thường dữ dội, trong trường hợp điển hình xuất hiện vào nửa đêm thứ hai. Đau thường nhất ở cột sống và khung chậu. Những khớp khác có thể bị liên hệ : chân, đầu gối, háng...Các cơn đau tương ứng với một quá trình viêm ở các nơi bám của các dây gân và của những dây chằng trong xương. Triệu chứng đau thường kèm theo một sưng cứng khớp vào buổi sáng, có thể kéo dài nhiều giờ. Nhiên hậu, sự cứng khớp (ankylose) trở nên thường trực. Bệnh cũng có thể gây thương tổn ở mắt, da, ống tiêu hóa.

CÁC NGHIÊN CỨU. Một công trình nghiên cứu rộng lớn đang được tiến hành ở Pháp từ năm 2007, bao gồm 700 bệnh nhân, sẽ được theo dõi trong 5 đến 10 năm. Được mệnh danh là Desir (Devenir des spondylarthropathies indifférenciées récentes), công trình nghiên cứu có những mục tiêu chính là nghiên cứu bệnh sử tự nhiên của những căn bệnh này, nhận diện những yếu tố nguy cơ tiên liệu cho tiến triển của chúng và đo lường tác động của chúng lên con người và kinh tế.


Có những điều trị hiệu quả cho bệnh viêm cứng khớp đốt sống (spondylarthrite ankylosante), nhưng chẩn đoán bệnh còn quá chậm.

ARTICULATIONS. Đó là một cuộc cách mạng cho phép tránh những năm tháng khổ đau cho hàng trăm ngàn bệnh nhân. Hiện nay, chẩn đoán của bệnh viêm cứng khớp đốt sống trung bình được thực hiện sau 6 năm tiến triển của các cơn đau đớn. Một sự chậm trễ càng gây tổn hại khi những điều trị hiện nay bằng sinh liệu pháp (biothérapie), có sử dụng từ 10 năm nay, đã làm biến đổi tiên lượng của căn bệnh thấp khớp này, tránh tiến triển thành những dạng cứng khớp (formes ankylosnates). Nhiều công trình nghiên cứu, được công bố cuối năm 2009, xác lập một loạt các tiêu chuẩn mới cho phép từ nay thiết lập một chẩn đoán rất sớm các thương tổn khớp. “ Cho mãi đến năm 2009, sự điều trị các bệnh nhân luôn luôn được thực hiện quá chậm bởi vì chẩn đoán phải được xác nhận bởi X quang, chỉ cho phép thấy những thương tổn đã tiến triển từ nhiều năm, GS Pascal Chaudepierre, thầy thuốc chuyên khoa khớp thuộc bệnh viện Henri-Mondor (Créteil) đã xác nhận như vậy. Những tiêu chuẩn mới chấp nhận IRM, cho phép thấy những thương tổn sớm hơn, nhưng cũng cho phép một chẩn đoán mà không cần một hình ảnh nào, điều này thể hiện một tiến bộ to lớn.”

Bệnh viêm cứng khớp đốt sống chiếm một nửa của các bệnh khớp đốt sống (spondylopathie), gây bệnh cho khoảng 250.000 người ở Pháp. Tỷ lệ lưu hành này, tương đương với tỷ lệ gây bệnh của viêm đa khớp dạng thấp (arthrite rhumatoide), nhưng tuy vậy không đủ làm nó nổi tiếng như bệnh này bởi vì bệnh viêm cứng khớp thường không được nhìn thấy. Thật vậy, bệnh viêm cứng khớp đốt sống ảnh hưởng chủ yếu cột sống và các đau đớn mà nó gây nên chỉ được xác nhận bởi những biến dạng xương sau nhiều năm trải qua những đêm mất ngủ.

Căn bệnh, thường nhất phát ra giữa năm 20 và 40 tuổi và gây bệnh nơi đàn ông hơi nhiều hơn nơi đàn bà, gây thương tổn trước hết các khớp nối liền cột sống với khung chậu, chỗ nối cùng-chậu (jonction sacro-iliaque). Bệnh gây nên một quá trình viêm, làm phát khởi sự xuất hiện các mô sẹo, cho phép dẫn đến một sự cốt hóa của khớp. Nếu sự cốt hóa lan rộng, nó dẫn đến sự bất động của khớp, điều này làm giới hạn cử động của các bệnh nhân.

CÁC NGUYÊN NHÂN KHÔNG ĐƯỢC BIẾT RÕ.

Quá trình này kèm theo những đau đớn tăng dần, nhất là vào ban đêm, thường nhất xuất hiện bằng các cơn bộc phát vào lúc các đợt viêm và những cơn đau này quá dữ dội và xảy ra quá thường xuyên nên không thể cho đó là một chứng đau lưng thông thường được, vì vậy cuối cùng thuyết phục bệnh nhân đi khám bệnh. Viêm cứng khớp đốt sống có thể được phát hiện dưới những dạng khác, được quy tụ dưới thuật ngữ bệnh khớp đốt sống (spondylarthropathie), và gây thương tổn các chi, da, mắt hay bộ máy tiêu hóa. Nguyên nhân chưa được biết rõ, mặc dầu sự hiện diện của vài nhiễm trùng dường như đóng một vai trò cũng như một tố bẩm di truyền.

Những thương tổn xương không xuất hiện ngay giai đoạn đầu của bệnh và phải nhiều năm để xác lập chẩn đoán. “ Chỉ dấu chính là một quá trình viêm của các khớp ở khung chậu, viêm cùng-chậu (sacro-iliite), nhưng nó cần một thời gian rất lâu để xuất hiện. Một hội chứng viêm sinh học cũng có thể xuất hiện nhưng nó chỉ hiện diện nơi 50% các bệnh nhân ”, GS Pascal Claudepierre, đã chỉ rõ như vậy. Một gène cũng đã được nhận diện, HLA B27. Gène này hiện diện trong 90% các trường hợp viêm khớp đốt sống trong khi nó chỉ hiện diện nơi 8 đến 9% dân chúng nói chung. Điều này có nghĩa là gène HLA B27 đóng một vai trò nhưng một mình nó không đủ để giải thích căn bệnh, GS Claudepierre đã nhấn mạnh như thế. Do đó, chẩn đoán chủ yếu dựa trên một bilan hoàn toàn, bao gồm những thăm dò bằng hình ảnh, những phân tích sinh học cũng như một bảng câu hỏi về gia đình và một phân tích di truyền, bởi vì bệnh viêm khớp vảy nến (rhumatisme psoriasique), viêm khớp phản ứng (arthrite réactionnellle) hay bệnh Crohn đều chia sẻ một nguồn gốc di truyền với bệnh viêm khớp đốt sống.

Sự xuất hiện những tiêu chuẩn mới hẳn phải làm dễ và làm nhanh chẩn đoán và cho phép đề nghị nhanh hơn những sinh liệu pháp (biothérapie), mà các tác dụng càng ngoạn mục khi chúng được thực hiện càng sớm. Tuy nhiên hiện nay, các loại thuốc này (cũng được sử dụng trong viêm đa khớp dạng thấp) không thể được kê đơn một cách chính thức nếu không có một chẩn đoán được xác nhận bởi chụp hình ảnh. Giới hữu trách phải nhanh chóng chấp thuận những tiêu chuẩn mới và mở rộng sự cho phép đưa ra thị trường các sinh liệu pháp, GS Claudepierre đã nhấn mạnh như vậy. Hiện nay, thời gian chờ đợi chẩn đoán trung bình vẫn là 6 năm và Hiệp hội bệnh viêm khớp đốt sống của Pháp ước tính rằng 25 đến 30 các bệnh nhân vẫn trong tình trạng tàn phế.
(LE FIGARO 10/5/2010)

2/ BỆNH ALZHEIMER : MỐI HY VỌNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ BẰNG SỰ KÍCH THÍCH NÃO BỘ.

Trí nhớ có thể được hưởng lợi nhờ một sonde cắm vào trong não bộ.

NEUROLOGIE. Bệnh Alzheimer tác hại lên hơn 800.000 người ở Pháp, thế mà chúng ta vẫn chưa có những điều trị hiệu quả. Nhiều thử nghiệm điều trị đang được tiến hành, nhiều chiến lược phòng ngừa được dự kiến, nhưng hiện nay không có gì cho phép ngăn cản sự suy thoái của trí nhớ. Tuần này, tạp chí Hoa Kỳ trình bày những kết quả của những công trình nghiên cứu hoàn toàn đổi mới, được thực hiện trên 6 người bị bệnh Alzheimer ở giai đoạn khởi đầu và được điều trị giữa năm 2005 và 2008 bởi sự kích thích vùng sâu não bộ (stimulation cérébrale profonde) nhờ một sonde. Mặc dầu sự cải thiện được chứng thực sau một năm chỉ được nhận thấy nơi một nửa các bệnh nhân được điều trị, tuy nhiên nếu công trình này được xác nhận (mặc dầu hiện nay đang còn trong thí nghiệm), thì một kỷ nguyên mới sẽ được mở ra, không những trong nghiên cứu mà còn trong điều trị bệnh này. Nên biết rằng sự kích thích não bộ cần một động tác ngoại khoa trên não và do đó đòi hỏi một plateau technique.

Chính vào năm 2003 mà Andres M.Lozano (khoa thần kinh chức năng, đại học Toronto, Canada) đã có trực giác rằng một sự kích thích não bộ có thể có một tác dụng lên bệnh Alzheimer, sau khi các thử nghiệm đã phát hiện tính hiệu quả của nó trong bệnh Parkinson và trong vài chứng trầm cảm ...Vào năm đó, lần đầu tiên, một bệnh nhân béo phì bị rối loạn trí nhớ đã được hưởng một implantation cérébrale thuộc loại này dưới sự giám sát của ông.

Giả thuyết khởi đầu là sự kích thích của vài vùng của não bộ, đặc biệt là thùy hải mã và fornix, được biết có can dự trong những hiện tượng ghi nhớ, có thể có một tác dụng kềm hãm lên căn bệnh. Với điều trị kích thích não bộ, bệnh nhân này đã có thể tìm lại được những yếu tố của tiểu sử cá nhân mình, đặc biệt với một sự cải thiện các kỹ niệm và các năng lực thể hiện chúng bằng lời nói. Nhờ thí nghiệm đầu tiên này, nhóm nghiên cứu Canada khi đó nhận được sự cho phép để trắc nghiệm phương pháp này trên 6 bệnh nhân tuổi từ 40 đến 80, bị bệnh Alzheimer mới được chẩn đoán (dưới hai năm) và đã được điều trị bởi những thuốc hiện có.

Trước hết sự can thiệp nhằm xác định vị trí vài vùng chính xác của não bộ đặc biệt bị thương tổn trong chứng bệnh này nhờ kỹ thuật chụp hình ảnh bằng cộng hưởng điện từ (résonnance mégnétique). Rồi những điện cực kích thích phần sâu của não bộ đã được cắm vào hai bên nơi những vùng đã được xác định vị trí của não. Các điện cực đã cắm được kích thích trong khi bệnh nhân đang thức tỉnh, để kiểm tra rằng sự kích thích này đã không làm biến đổi những vùng chức năng và không gây nên những triệu chứng bất ngờ. Sau cùng, các điện cực đã được nối với một máy phát được cắm ở ngực, lần này với gây mê toàn thân.

Tất cả các bệnh nhân được hưởng thí nghiệm này đã trở về nhà sau đó.“ Sự đánh giá những dấu hiệu của bệnh Alzheimer bằng những trắc nghiệm khác nhau gợi ý một sự cải thiện khả dĩ hay một sự làm chậm lại của sự suy thoái của các chức năng nhận thức, sau 6 tháng hay sau một năm, đối với một số các bệnh nhân ”, các tác giả của thử nghiệm lâm sàng này đã kể lại như vậy. Đã không có những biến chứng đặc biệt.

Dầu sao đi nữa, những nhà nghiên cứu này chủ trương một thử nghiệm điều trị mới nhằm so sánh những hiệu quả của kỹ thuật này với một placebo. “ Công trình này được thực hiện tốt, nhưng vẫn còn rất sơ bộ, Françoise Forette (giáo sư lão khoa, bệnh viện Broca, Paris) đã đảm bảo như thế. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng chính những bệnh nhân ít bị thương tổn nhất lúc ban đầu đã được hưởng những kết quả tốt nhất. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã có thể quan sát thấy một sự cải thiện của chuyển hóa não bộ, điều này hoàn toàn đáng phấn khởi.
(LE FIGARO 9/8/2010)

3/ TA CÓ THỂ TRÁNH ĐƯỢC CÁC NẾP NHĂN DA ?

Không, cuối cùng rồi chúng sẽ luôn luôn xuất hiện. Nhưng tùy theo loại các nếp nhăn, ta có thể làm giảm bớt, làm che khuất chúng hay làm chậm sự xuất hiện của chúng.

Các nếp nhăn da làm quan tâm đến nhiều người. Vài ngôi sao lớn tuổi lại dường như không có các nếp nhăn ? Hay chỉ làm che khuất chúng ? Trước hết ta hãy xác định một nếp nhăn là gì trước khi xem có những phương thuốc điều trị hay không ?

Da được cấu tạo bởi ba lớp : biểu bì (épiderme), bì (derme) và hạ bì (hypoderme), nằm dựa trên các cơ và các cơ này chịu trách nhiệm những biểu hiện của gương mặt. Biểu bì là một lớp các tế bào được gọi là sừng (cellules cornées), được đổi mới một cách thường trực và tạo thành một hàng rào da (barrière cutanée). Bì (derme), dày hơn, chứa các rễ của các lông, các mạch máu, các tế bào mỡ, các tuyến mồ hôi và các tận cùng thần kinh. Bì được cấu tạo bởi các bó sợi collagène (protéine dồi dào nhất của cơ thể con người, chịu trách nhiệm sự kết hợp chặt chẽ của các mô), được nối với nhau bởi các sợi đàn hồi (chịu trách nhiệm về tính đàn hồi của da). Lớp hạ bì (hypoderme) là một mô mỡ, nằm dựa trên các cơ.

Những nếp nhăn da là những đường rãnh (sillon) của bì, do một sự biến đổi của cấu trúc làm nó giãn ra. Các nếp nhăn có 4 loại. Những nếp nhăn biểu lộ (rides d’expression) được liên kết với những biểu lộ của gương mặt (nụ cười, sự lo lắng ...). Mỗi khi các cơ của mặt co lại để biểu lộ một sự xúc cảm, da căng hay giãn ra. Với sự lặp đi lặp lại của các biểu lộ (do đó với tuổi tác gia tăng), những nơi da vốn được cố định vào các cơ, bị lõm xuống : các nếp nhăn xuất hiện. Những nếp nhăn biểu lộ thường là những nếp nhăn đầu tiên ghi dấu ấn trên gương mặt.

Những nếp nhăn được thấy rõ nhất được gọi là cấu trúc (rides de structure) ; ví dụ đó là những rãnh mũi-cằm (sillons nasogéniens), ở mỗi bên mũi, nối các lỗ mũi với các góc miệng. Chúng phát triển dần dần, bởi vì bề mặt của da tiếp tục phát triển một ít trong khi sự tăng trưởng của của gương mặt đã kết thúc. Đó là một sự thặng dư da.

Những nếp nhăn da thứ ba là những nếp nhăn gãy (rides de fracture) : thí dụ đó là những nếp nhăn nhỏ chung quanh miệng, tạo thành những khe (fentes) thẳng góc với môi nơi những người già (trên 70 hay 80 tuổi). Những nếp nhăn này là do những chỗ gãy nhỏ xíu (microfracture) của mô đàn hồi trong bì.

Những nếp nhăn loại thứ tư, được gọi là những nếp nhăn của élastose solaire, là những nếp nhăn nhỏ rải rác khắp nơi trên da. Chúng xuất hiện (nói chung sau 50 tuổi) khi các sợi đàn hồi của bì bị phá hủy bởi ánh sáng (các tia tử ngoại) và ...bởi thuốc lá.

Làm sao tránh được những nếp nhăn này ? Có hai cách để làm giảm các nếp nhăn biểu lộ (rides d’expression) ; người ta tiêm dưới da hoặc là những vật liệu được gọi là lấp đầy (matériaux de comblement), (như acide hyaluronique, một thành phần tự nhiên của bì sẽ tự tan biến đi), làm căng phồng bì, hoặc là toxine botulique. Độc chất này làm liệt các cơ trong khoảng 6 tháng ; nó hủy bỏ những nét biểu lộ của gương mặt và những nếp nhăn tương ứng. Những nếp nhăn cấu trúc (rides de structure) lớn được điều trị bằng những “ lifting ”, nghĩa là những kéo giãn (étirements) của da hoặc bằng những mũi tiêm chất làm đầy (produits de comblement). Những vết nhăn gãy (microrides de fracture) nhỏ quanh môi được che khuất bởi những mũi tiêm làm căng phồng các môi. Ta cũng có thể thực hiện các “ abrasion ” (hớt da) : người ta lấy đi một ít biểu bì và bì để cho da mới được nhẵn hơn.

Các nếp nhăn nông của élastose solaire là mục tiêu của các kem chống nhăn (crème antiride). Mục tiêu là tăng cường trong bì sự tổng hợp collagène và protéoglycane (những protéine giữ nước và cho phép bì giữ được tính dẻo (plasticité) của nó). Theo Louis Dubertret, giáo sư bệnh ngoài da thuộc bệnh viện Saint-Louis, Paris, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã cho thấy rằng một số chất nào đó có khả năng làm đầy trở lại lớp biểu bì và gây nên sự tổng hợp collagène trong bì. Chất chuẩn là vitamine A (hay acide rétinoique).

Làm sao phân tử này tác dụng ? Nó điều biến sự biểu hiện của các gène trong da hay nó thực hiện một kiểu “ lóc ” (peeling) hóa học (một sự phá hủy lớp sừng), mà hậu quả là làm đổi mới lớp biểu bì và sự tổng hợp của collagène. Những chất khác có tính chất “ kích thích ” (irrtitant), như các axít trái cây, sẽ có cùng các tính chất. Ngoài ra, vài chất như vitamine C có thể làm gia tăng sự tổng hợp collagène trong bì.

Vậy ngày nay, chúng ta có cả một kho vũ khí có hiệu quả làm giảm hoặc làm che khuất các nếp nhăn. Tuy nhiên, lý tưởng là ngăn ngừa sự tạo thành chúng bằng cách tránh ánh nắng mặt trời và thuốc lá.
(POUR LA SCIENCE 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 65 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 22/2/2008 )

9/ TẠI SAO HÚT THUỐC LÁ LÀM TĂNG NHANH SỰ LÃO HÓA CỦA DA

Một công trình nghiên cứu trên hai chị em sinh đôi, một hút thuốc, còn người kia thì không, xác nhận những tác hại của thuốc lá. Những người hút thuốc kinh niên chối điều đó, nhưng chính những lời cảnh cáo trên những gói thuốc lá lại xác nhận điều này : thuốc lá góp phần một cách rõ ràng vào sự lão hóa của da. Mãi đến ngày nay, không có nhiều công trình khoa học hổ trợ cho lời xác nhận này. Các thầy thuốc chuyên khoa da của bệnh viện đại học Ohio, vừa công bố một bài báo mang lại một bằng chứng khá rõ ràng về những tác dụng tai hại của thuốc lá lên da. Công trình này, được công bố tháng 12 năm 2007 trong tạp chí Archives of Dermatology, có thể góp phần vào việc làm cho các phụ nữ ghê tởm về sự nghiện ngập thuốc lá của họ. Nếu nguy cơ bị ung thư phổi đối với họ có vẻ như xa vời và không thực, thì sự biến đổi của làn da là một lý lẽ mà những ông hay bà hút thuốc lá sẽ nhạy cảm.

Các thầy thuốc bệnh ngoài da của Cleveland đã có cơ hội cùng thăm khám hai chị em sinh đôi. Hai người sinh đôi thật sự. Nhưng một người đã không bao giờ hút thuốc trong khi người kia thì trái lại, từ năm 20 tuổi đã hút một bao thuốc mỗi ngày. Hai chị em sinh đôi này năm nay 52 tuổi và vẫn luôn luôn sống trong cùng một vùng ở miền nam Hoa Kỳ từ thuở ấu thơ, cả hai đã có cùng một hoạt động nghề nghiệp.

Theo các câu trả lời của hai chị em sinh đôi này cho một bảng câu hỏi rất chính xác, họ có một thể trọng tương đương, có một chế độ ăn uống tương tự và tiếp xúc với ánh nắng mặt trời một cách tương đương trong suốt cuộc đời họ.

Tuy vậy, các thầy thuốc đã có thể chứng nhận, nơi bệnh nhân đã hút thuốc đều đặn, một sự gia tăng rõ rệt kích thước và độ sâu của các vết nhăn so với cô em đã không bao giờ hút thuốc. Nếu chúng ta chấp nhận sự kiện là điểm dị biệt duy nhất giữa hai chị em về lối sống là việc nghiện thuốc lá, thì phải xác nhận rằng sự nghiện ngập này có thể giải thích sự lão hóa gia tăng của người sinh đôi này so sánh với người kia.

Kết luận, các tác giả của nghiên cứu được công bố này cho rằng sự khác nhau trong quá trình lão hóa của da, chỉ có thể được giải thích ở đây là do việc nghiện thuốc lá, có thể được sử dụng như một lý do thêm nữa trong việc khuyên những người hút thuốc bỏ thuốc.

Bây giờ người ta biết nhiều yếu tố giải thích sự lão hóa của da. Trước hết là tuổi: với thời gian, sự đổi mới của các tế bào không còn đủ hoạt động nữa. Kế đó là mặt trời. Những người tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, hoặc lúc vui chơi hoặc lúc hoạt động nghề nghiệp, sẽ có một sự lão hóa sớm, với các vết nhăn, những vết đốm và những thương tổn tiền ung thư. Sau cùng, thuốc lá từ nay chắc chắn phải ngồi trên ghế các bị cáo. Nguồn:
(LE FIGARO 14/2/2008)

4/ BỆNH LAO : TAI ƯƠNG TRƯỚC KHI NHỮNG NGƯỜI THỰC DÂN CHÂU ÂU ĐẾN..

Việc khám phá những dấu vết của bệnh lao trên các di hài của các trẻ iroquois của thế kỷ thứ 10, xác nhận rằng bệnh này đã hoành hành ở châu Mỹ trước khi những người châu Âu đầu tiên đến lục địa này.

“ Bệnh lao đã hiện diện ở Châu Mỹ đúng trước khi những người châu Âu đi đến ”, Olivier Dutour, nhà cổ nhân loại học (paléoanthrologue) thuộc đại học Aix-Marseille-II đã đề xuất như vậy. Điều chứng thực này làm lung lay vài giáo điều muốn làm trùng hợp việc xuất hiện tai ương này với sự đi đến của những người châu Âu đầu tiên trên lục địa Châu Mỹ. Trong lúc làm việc ở Toronto (Canada), trên một hầm hài cốt thuộc thời kỳ trước Colomb, có từ thế kỷ thứ X, nhà nghiên cứu người Pháp và các đồng nghiệp đã quan sát thấy những dấu vết của bệnh lao trên các chiếc sọ phát xuất từ một địa điểm iroquois cổ, đặc biệt là trên rất nhiều di hài của trẻ em. “ Các thương tổn đặc hiệu của các bệnh viêm màng não mãn tính do lao đã được phát hiện ”, Olivier Dutour đã nói thêm vào như vậy, chứng cớ của một tỷ lệ tử vong trẻ em rất cao. Những người Iroquois, cũng được gọi là dân của Cinq-Nations, đã trải qua một dịch bệnh lao địa phương rất mạnh. Dịch bệnh này có phải là do lối sống của họ hay không ? Sự chung đụng và sự xông khói (enfumage) của các bếp lửa (nhiều gia đình sống trong những ngôi nhà dài nổi tiếng) trong mùa đông khắc nghiệt có lẽ đã có thể tạo nên một trong những yếu tố làm dễ sự lan tràn qua không khí của sự nhiễm trùng bởi vi khuẩn này. Không kể đến tầm quan trọng của thuốc lá, một loài cây không được biết đến ở Tây Phương vào thời kỳ đó.

Theo nhà nghiên cứu, bệnh lao được gặp ở loài người từ thời nguyên thủy của nó. Ngoài ra, một sự phát sinh loài vi khuẩn (une phylogenèse du bacille) đã được thực hiện vào năm 2005 ở Viện Pasteur, chứng minh rằng tuổi của vi khuẩn này ít nhất là 3 triệu năm. “ Vi khuẩn lao không những đã cùng tiến hóa với con người mà còn với các họ người (hominidés) có trước nó ”, nhà chuyên gia đã xác nhận như vậy. Vậy, những người Mỹ đầu tiên đến từ Cựu Thế Giới đã mang những vi khuẩn này.

Còn về những dấu hiệu xương của tréponématose, được phát hiện trên một chiếc sọ người lớn, hiện nay không thể nói được đó là một dạng bệnh phong tình (bệnh giang mai) hay không. Vào lúc tiếp xúc, các người dân amérindien chủ yếu đã bị tàn sát bởi các virus như cúm và đậu mùa, những vi trùng này đúng là đã được truyền bởi những người châu Âu.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

Đọc thêm :

Quote

Thời Sự Y Học Số 62 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 4/2/2008 )

6/ CÁCH NAY 500.000 NĂM, LOÀI NGƯỜI ĐÃ BỊ BỆNH LAO

Một mẫu Homo Erectus, cách nầy 500.000 năm, mang dấu vết những thương tổn của bệnh lao dạng màng não, đã được tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ. Mãi đến tận bây giờ, những trường hợp xưa cổ nhất được biết đến (các xác ướp Ai Cập và Pérou) có cách nay vài ngàn năm. Khám phá này là kết quả của một công trình nghiên cứu di truyền học được tiến hành năm 2005 bởi Cristina Gutierrez (Viện Pasteur, Paris). Công trình nghiên cứu này gợi ý rằng tất cả các vi khuẩn Koch đều là hậu duệ của một tổ tiên chung có cách nay 3 triệu năm. Đối với John Kappelman (đại học Texas), việc nhận diện các dấu vết của dạng màng não của bệnh lao trên những phần còn lại của hộp sọ (bình thường là rất hiếm xảy ra) hàm ý rằng vào thời đó dạng bệnh này rất là phổ biến. Nhà nghiên cứu giải thích điều đó là do một sự thiếu hụt vitamine D, sinh tố chủ chốt trong sự điều hòa của hệ miễn dịch : các nồng độ thấp vitamine D làm dễ sự phát triển của nhiều bệnh lý. Thế mà sự tổng hợp vitamine D lại cần đến tia tử ngoại và điều này càng quan trọng khi da càng sẫm màu. Sau khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn ở châu Phi, Homo Erectus (mà da khi đó có màu đen) đã không có thể thích ứng hoàn toàn với khí hậu ôn đới. Mặt khác, người ta đánh giá rằng hiện nay, một vài sắc dân có da sẫm màu có nhiều nguy cơ phát triển bệnh lao hơn. Ngày xưa, người ta gởi các bệnh nhân lao đến các nhà điều dưỡng (sanatorium) để được tiếp đầy trở lại ánh sáng mặt trời và khí trời, và do đó vitamine D.
(SCIENCE ET VIE 2/2008)


5/ CÁC GIA VỊ VÀ NHỮNG CHẤT KÍCH DỤC.

Mặt trời và mùa nghỉ hè trở lại thường kèm theo những bữa ăn nhiều màu sắc. Trong các chất gia vị và cây cỏ được sử dụng trong những dịp này, ta thường tìm thấy những chất được cho là “chất kích dục ” (aphrodisiaque). Nhưng có thật là có những chất có khả năng tăng dục tính hay không ? Các thức ăn, thuốc bột, thuốc viên, nước hãm (infusion)...Điểm lại những chất nổi tiếng nhiệm màu.

Khởi thủy, các chất kích dục là những chất có trong thiên nhiên, được sử dụng để chống lại bệnh vô sinh (infertilité) và làm dễ sự sinh sản. Được gợi ý bởi Aphrodite, nữ thần của tình yêu, sau đó, các chất tăng dục này đã được cho là kích thích sự ham muốn (désir sexuel). Phải ghi nhớ rằng trong tâm trí của các người đàn ông, sự ham muốn (désir) và sự cương cứng (érection) thường bị lẫn lộn với nhau.

Sự lộn xộn này làm cho mọi chất gây nên hay làm dễ sự cương cứng, đều được tức thì xem như là chất kích dục. Thường ngay cả sự việc giống với một bộ phận sinh dục đang cương cũng đủ tạo tiếng tốt của nó, như đối với chất nghiền sừng tê giác (corne de rhinocéros pilée) hay cây khoai ma (mandragore).

NHỮNG CHẤT DANH TIẾNG..

Củ gừng (gingembre), nhân sâm (ginseng), ớt của Jamaique, đinh hương (girofle), quả nhục đầu khấu (muscade), nghệ tây (safran), cây thị là (aneth), cây cúc tía (sarriette) và “ cần tây (céleri) cho các ông chồng già ”. Thường thường, dược lý khám phá ra những chất hóa học, hiệu quả ở những nồng độ cao đến độ những công thức pha chế thông thường chỉ có thể tương tự với một placebo. Dầu sao vài ngoại lệ đáng được nêu ra. Ngày nay, được trồng chủ yếu ở Ấn Độ, gừng (gingembre) có nguồn gốc ở Mã Lai, cách nay hơn 3.000 năm, là nơi nó đã được sử dụng như là cây thuốc và gia vị. Đó là thân rễ (rhizome), thân nằm dưới đất giàu amidon, protéine và lipide, sản xuất một tinh dầu có vị rất đặc biệt hơi cay và có mùi thơm dễ chịu. Tác dụng của nó (còn phải bàn cãi) dựa trên sự giàu các chất sesquiterpène và aldéhyde. Trái lại, nhân sâm (ginseng) đỏ của Triều Tiên, giàu saponine và ginsénoside có tác dụng giãn mạch, đã qua thử nghiệm cương một cách dương tính, so với placebo (1g, 3 lần mỗi ngày). Được thử nghiệm năm nay, cùng liều lượng, nhân sâm cũng đã chứng tỏ hiệu quả của nó trong một thử nghiệm trên sự ham muốn của các phụ nữ mãn kinh.

VÒNG QUANH THẾ GIỚI CỦA DỤC TÌNH.

Khắp nơi trên thế giới, các chất khác nhau được đề nghị, thuộc về 3 loại : chúng làm gia tăng, hoặc là dục tình (libido), sự cường dục (puissance sexuelle) hay khoái lạc (plaisir). Trong lãnh vực ham muốn (désir), những người Ả rập sử dụng ambréine, một cấu chất chính của long diên hương (ambre gris) (chất tiết của cá nhà táng (cachalot). Chất cồn ba vòng (alcool tricyclique) triterpène này làm gia tăng nồng độ của vài hormone của não thùy trước, cũng như những nồng độ của testostérone. Ở Trung Hoa, thuốc “ chân sư ”, được biết ở miền đông Ấn Độ dưới tên “ love stone ”, chứa bufoténine (và những bufadiénolide khác), được trích ra từ da và các tuyến của cóc bufo, chất đối kháng của sérotonine, có đặc tính gây ảo giác. Để cải thiện sự cương, Trung Hoa dùng Panax ginseng, và châu Phi là cái nôi của yohimbine, chất giãn mạch dương vật, trích từ vỏ của một cây địa phương. Tuy nhiên, chất độc với liều cao này bị cấm chỉ trong trường hợp bệnh gan, suy thận hay cao huyết áp.

Còn về khoái lạc (plaisir), thú nhục dục này được làm gia tăng bởi một phương thuốc Tây Ban Nha, cantharidine, được sử dụng từ nhiều thiên niên kỷ. Phương thuốc này có được là do quá trình chế biến một sâu bọ cánh cung (coléoptère), được gọi sai lầm là ruồi Tây Ban Nha (spanish fly), thành bột cantharidine ! Với liều quá mạnh, sự uống vào chất này, độc, có thể gây nên xuất huyết thận, thậm chí tử vong và gây nên một sự kích thích viêm các đường tiểu, với sự sung huyết của dương vật, và sự cương cứng đôi khi kéo dài. Cách tác dụng của nó là do sự ức chế của hoạt tính của phosphodiestérase, với sự kích thích các thụ thể bêta, gây nên xung huyết quản và viêm. Việc nuốt vào các côn trùng sống Palembus dermestoides ở Đông nam Á và Triatomides ở Mễ Tây Cơ cũng có một cơ chế tương tự và cũng nguy hiểm như thế. Chú ý ; những niềm tin này không phải là lạc hậu và có thể lôi kéo các khách du lịch.

NHỮNG NGHIÊN CỨU TIỀN PHONG.

Luôn luôn giàu tưởng tượng, nhiều công trình nghiên cứ mới đây mang lại những điều mới. Đó là trường hợp của một thử nghiệm của Iran trên Crocus sativus (safran : nghệ), được trắc nghiệm trên người đàn ông với các viên thuốc nhỏ 200 mg. Một bảng câu hỏi chuẩn về chức năng cương, kèm theo một sự đo lường sự cương dương vật vào ban đêm (tumescence pénile nocture), đã theo dõi 20 người tình nguyện trong 10 ngày. Tuy số người tham dự ít ỏi, nhưng các kết quả là đáng phấn khởi về sự cải thiện của sự cương cứng cũng như mức độ thỏa mãn chủ quan. Ở Ý các nhà nghiên cứu đã điều nghiên Lepidium meyenii (maca), chất kích dục có tiếng của Pérou, dưới dạng cao khô (extrait sec) 2,4g so sánh với placebo, nơi 50 người đàn ông không bằng lòng về sự cương của họ. 3 tháng điều trị đã hữu ích về phương diện tâm lý, kể cả trong nhóm placebo, với maca hơi lợi thế hơn, nhưng trên cơ sở một thang thỏa mãn (une échelle de satisfaction) không có những trắc nghiệm lâm sàng. Maca cũng đã được trắc nghiệm ở General Hospital de Boston để làm đảo ngược loạn năng sinh dục gây nên bởi các thuốc chống trầm cảm. 1,5 g mỗi ngày đã không có hiệu quả trong khi liều lượng 2g đã có tính cách thuyết phục, không những về sự cương cứng mà còn về dục tình (libido), và không có độc tính. Dường như đó không phải là một tác dụng androgénique trực tiếp, mặc dầu sự nổi tiếng của maca cũng gán cho nó một tác dụng dương tính lên khả năng sinh sản (fertilité). Thật vậy, nó làm gia tăng sự sản xuất và tính di động của tinh dịch mà không có liên hệ với những nồng độ hormone của LH, FSH, prolactine, testostérone và œstrogène. Những nồng độ này vẫn không thay đổi. Hoàn toàn bí ẩn.

NHỮNG HƠI XÔNG KÍCH DỤC (EFFLUVES EROTIQUES).

Sự khám phá, bởi các nhà di truyền học của đại học Rockfeller, các gène mã hóa đối với một thụ thể của phéromone nơi người, được thực hiện vào năm 2001. 8 gène đặc biệt mã hóa cho sự tạo thành, ở bề mặt các tế bào, của điều giống hệt với các thụ thể của phéronome nơi động vật. Mặt khác, một trong những gène này được biểu hiện và rất hoạt động trong niêm mạc khướu giác người. Mặt khác, các nhà sinh học đã khám phá một vùng rất nhỏ nơi mũi (organe voméro-nasal), ở đó các tế bào phản ứng với những kích thích mùi rất tinh tế. Vấn đề là còn phải biết một cách chính xác thông tin hóa học nào được vận chuyển trong não bộ, và bằng con đường nào. Trong lúc chờ đợi, nhiều điều chứng thực đã được xác nhận. Thí dụ, người ta nhận xét rằng các phụ nữ, được cho ngửi các miếng vải thấm mồ hôi đàn ông, đôi khi lại ưa chuộng những mùi rất quyến rũ này. Lời giải thích khoa học được đề nghị bởi các thầy thuốc của đại học Stockholm.

Nghiên cứu nước miếng phát hiện rằng mồ hôi giàu androstadiénone gởi một tín hiệu hóa học làm gia tăng sự sản xuất cortisol nơi người phụ nữ. Hít mồ hôi giàu androstadiénone gây nên, theo những hình ảnh của PET-scan, một sự khởi động các vùng hoạt động trong tình dục như vùng dưới đồi trước (hypothalamus antérieur).

Ghi chú :

  • Phéromone : chất hóa học, được phát ra trong môi trường bên ngoài, với liều lượng rất nhỏ, bởi một động vật, gây nên nơi những động vật cùng loài những hành vi đặc biệt.
  • Aphrodisiaque : nói về một chất được cho là gây nên hay kích thích sự ham muốn.

(LE GENERALISTE 8/7/2010)

6/ CÁC UNG THƯ TỪ NAY GIẾT NGƯỜI HƠN TRONG NHỮNG NƯỚC NGHÈO.

Từ lâu được xem là một bệnh của các nước giàu, ung thư từ nay ảnh hưởng nhiều hơn các nước đang phát triển, theo Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (CIRC : centre international de recherche sur le cancer). Trung tâm này đã khảo sát 27 loại ung thư. Vào năm 2008, các nước nghèo kiêm nhiệm 56% trong số 13 triệu trường hợp ung thư mới được chẩn đoán, và 63% trong 7,6 triệu tử vong do tai ương này. “ Mặc dầu nguy cơ mắc phải một ung thư là thấp hơn trong các nước đang phát triển, tuy vậy các ung thư thường xảy ra nhất ở những nước này lại là những ung thư người ta điều trị ít tốt nhất, Jacques Ferlay, nhà nghiên cứu thuộc CIRC đã ghi nhận như vậy. Những ung thư nguồn gốc nhiễm trùng (cổ tử cung, dạ dày, gan), chiếm 20% các trường hợp trên thế giới, cùng với những ung thư vú và ung thư phổi, là 5 ung thư phổ biến nhất trong các nuớc nghèo. Nguyên nhân : một sự bảo vệ không đầy đủ chống lại virus của viêm gan B và C (ung thư gan) và của papillomavirus (ung thư cổ tử cung). Ở phương Bắc, những bệnh lý này bị vượt qua bởi các ung thư đại trực tràng (do một chế độ ăn uống giàu thịt đỏ) và tuyến tiền liệt (dễ phát hiện nhờ một xét nghiệm máu). Theo CIRC, vào năm 2030, ung thư sẽ giết chết 6 triệu người nhiều hơn so với năm 2008.
(SCIENCE ET VIE 8/2010)

Đọc thêm:

Quote

Thời Sự Y Học Số 93 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 19/9/2008 )

6/ UNG THƯ KHÔNG PHẢI CHỈ DÀNH CHO CÁC NƯỚC GIÀU

2.500 chuyên gia về ung thư đã đến Genève để họp Hội nghị của Hội quốc tế chống ung thư (UICC). Franco Cavalli, chuyên gia về Ung thư học và chủ tịch của UICC trình bày quan điểm của ông.

Hỏi: Ông đã là chủ tịch của UICC trong 2 năm qua và năm nay ông sẽ trao ngọn đuốc thay thế cho David Hill. Điều gì đã thay đổi trong thời gian qua?
Đáp: Trái với điều mà người ta tưởng, ung thư không phải là bệnh của các nước giàu. Trong những năm qua, chúng ta đã nhận thức rằng ung thư trở nên một vấn đề to lớn. Đặc biệt trong những nước nghèo, là nơi người ta nhận thấy một sự bùng nổ của các trường hợp ung thư. Người ta tính rằng 75% các tử vong do bệnh này xảy ra trong các nước đang phát triển. Mặt khác, Tổ chức y tế thế giới đã đặt việc chống ung thư vào hàng ưu tiên cuối năm 2005. Trước đây, OMS nhấn mạnh vào cuộc đấu tranh chống lại các bệnh truyền nhiễm. Thế mà ung thư giết còn hơn bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét hợp lại. Chính vì thế mà UICC đã quyết định dành nỗ lực chính vào các nước đang phát triển. Và hội nghị kỳ tới của chúng ta sẽ tổ chức ở Pékin.

Hỏi: phải chăng sự phòng ngừa đã có nhiều tiến bộ ?
Đáp: chúng ta đã luôn luôn biết rằng một nửa những trường hợp ung thư có những nguyên nhân có thể tránh được. Nhưng mới đây hơn, người ta đã nhận thức rằng sau thuốc lá và các bệnh nhiễm trùng (gây nên 1/3 các trường hợp ung thư trong những nước nghèo), chứng béo phì và sự thiếu hoạt động vật lý chịu trách nhiệm phần lớn các trường hợp ung thư.

Hỏi: Vậy thì những vấn đề này có liên quan đến những nước giàu có phải không?
Đáp: Hoàn toàn không phải vậy. Chính đặc biệt trong các nước nghèo, được kỹ nghệ hóa mới đây, mà chứng béo phì mới gây những tàn phá, như các ung thư, nhưng còn cả bệnh đái đường và những vấn đề tim nữa. Tất cả xảy ra như thể, trong những nước này, thân thể con người đáp ứng ít tốt hơn đối với chứng béo phì.

Hỏi: còn thuốc lá thì sao.
Đáp: Chúng ta đã ghi nhận những tiến bộ quan trọng. Đặc biệt trong chiến dịch của OMS chống thuốc lá, được ký bởi 178 nước. Trong các nước giàu có, tần số của các ung thư phổi đã giảm nơi đàn ông nhưng vẫn còn gia tăng nơi các phụ nữ. Nhưng người ta đã tính toán rằng nếu các người Hoa vẫn tiếp tục hút thuốc theo cùng nhịp độ như hiện nay, thì vào năm 2020 sẽ có 3 triệu người chết vì ung thư mỗi năm. Ở châu Phi hiện nay có ít các nạn nhân của ung thư này, nhưng công nghiệp thuốc lá đang ra sức để phát triển hoạt động trên lục địa này.

Hỏi: thế thì giải pháp cần phải thực hiện là giải pháp nào?
Đáp: Vào năm 2000, đã có 11 triệu trường hợp ung thư ; vào năm 2020, sẽ có 18 triệu trường hợp ; và năm 2030 số trường hợp sẽ là 27 triệụ Đó là không nói về sự gia tăng của các mối nguy cơ. Chúng ta sẽ ra một tuyên bố nói rằng các kế hoạch quốc gia là vũ khí tốt nhất để chống lại sự tiến hóa này, đặc biệt là trong các nước nghèo.

Hỏi: Còn về các thuốc men thì sao?
Đáp: Đó là một trong những vấn để lớn cần phải thảo luận. Tổn phí các điều trị đang bùng nổ ngay cả ở Tây Âu, khó mà kham nỗi. Trong các nước có lợi tức giới hạn, thì không có khả năng trả nỗi. Điều này đặc biệt nghiêm trọng đối với vaccin cho phép phòng ngừa ung thư cổ tử cung. Một nửa triệu ung thư cổ tử cung được chẩn đoán mỗi năm và 300.000 phụ nữ chết vì những ung thư này. Điều này cũng gần giống với sida, là bệnh mà hàng triệu người mắc phải và không thể trả nỗi những điều trị.
Chính Financial Times mới đây đã xác nhận rằng công nghiệp dược phẩm không thể biện minh giá của các thuốc mới chống ung thư bằng phí tổn sản xuất. Nguồn:
(LE SOIR 28/8/2008)


7/ RẮN CẮN : NHỮNG ĐỘNG TÁC CỨU SỐNG.

Các dược phẩm chống nọc độc đuợc bán ở các hiệu thuốc chẳng ích lợi gì. Trong trường hợp bị rắn cắn, phải khẩn cấp đến bệnh viện.

SANTE PUBLIQUE. Như mọi người đều biết, nếu rắn nước (couleuvre) là vô hại, thì không phải là như thế đối với rắn lục (vipère). Thế mà sự phân biệt giữa hai loại rắn này không phải là hiển nhiên, như Xavier Bonnet, người phụ trách nghiên cứu của CNRS và là đại chuyên gia về rắn, đã giải thích như vậy.“ Trên hiện trường, những tiêu chuẩn duy nhất đáng tin cậy, như đồng tử thẳng đứng của các con rắn lục, không có thể sử dụng được. Cũng như vậy đối với kích thước, màu sắc, hình dáng của thân thể và của đuôi : trừ phi được đào tốt , ít người có khả năng phân biệt hai loại rắn ”, chuyên viên về bò sát (herpétologue) đã giải thích như vậy. Dẫu sao cũng có một mẹo : ở Pháp rắn lục không dài quá 1 m và chúng không lặn dưới nước.

Trong trường hợp rắn cắn (rắn độc đúng là có móc), điều cơ bản là phải biết ta đã bị nhiễm nọc độc (envenimé) hay không. Bởi vì rắn có thể cắn mà không chích nọc độc (venin), khi đó ta nói là “ vết cắn trắng ” (morsure blanche). Ngược lại, thường những người đi dạo nghĩ là đã bị rắn cắn trong khi đó chỉ là bị chích bởi các cây ngấy (piqure de ronces) mà thôi... Nếu đúng là đã bị nhiễm nọc độc, một sự đau đớn tại chỗ xuất hiện trong 4 giờ cũng như những vết bầm tím, BS Patrick Harry, giám đốc của trung tâm chống độc chất Angers (Pháp) đã xác nhận như vậy. Trong trường hợp này, chắc chắn là tình hình sẽ trầm trọng, vậy nhất thiết phải đến bệnh viện để được thăm khám và nếu cần được hưởng một huyết thanh chống nọc độc ” (sérum antivenimeux). Dầu sao, hoàn toàn vô ích khi tự sử dụng những dược phẩm bán ở hiệu thuốc, kể các bơm hút nọc độc (pompes à venin), mà những người đi dạo thường lo lắng mang theo mình. “ Những dược phẩm này đã không bao giờ chứng tỏ được hiệu quả của chúng, chúng chẳng có lợi ích gì ”, BS Harry đã đánh giá như vậy. “ Tất cả các máy móc này hoàn toàn chẳng ích lợi gì, ngoại trừ chỉ làm người ta không chú ý đến những động tác cứu sống, nghĩa là phải chạy nhanh đến phòng cấp cứu, Xavier Bonnet đã nói thêm vào như vậy.

Bởi vì ngay cả những phản ứng dị ứng trầm trọng vẫn vô cùng hiếm hoi (dưới một trường hợp rắn cắn trên 100 trường hợp), do đó điều quan trọng là phải được thăm khám bởi một thầy thuốc càng nhanh càng tốt. Một khi đến bệnh viện, hoặc là sự phù nề vẫn được khu trú và tình hình không có nguy cơ trở nặng. Hoặc là phù nề lan rộng, điều này có nghĩa rằng có một lượng quan trọng nọc độc (venin) trong máu. Khi đó cần phải tiến hành tiêm huyết thanh chống nọc độc (sérum antivenimeux), chỉ được thực hiện ở môi trường bệnh viện với sự theo dõi y tế.

ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ CÀNG SỚM CÀNG TỐT.

Mửa, khó ở, đau bụng là những dấu hiệu của một sự lưu thông quan trọng của nọc độc trong máu, có thể là nguồn gốc của một sự sụt huyết áp, một phù phổi và những rối loạn đông máu. “ Trước khi các huyết thanh chống nọc độc xuất hiện ở Pháp, loại những biến chứng này là thường thấy. Khi đó không phải là hiếm thấy những bệnh nhân bị cắn bởi một con rắn lục phải nằm trong phòng hồi sức ba tháng với những vấn đề ở thận. Vài bệnh nhân bị tàn phế rất lâu sau đó ”, BS Harry đã nhớ lại như vậy. Ngày nay, ngay những dấu hiệu đầu tiên báo hiệu một biến chứng xuất hiện, các thầy thuốc đều tiêm huyết thanh chống nọc độc. Và cần được điều trị càng sớm càng tốt. Một mũi tiêm, 3 giờ sau khi bị rắn cắn, chỉ mang lại từ một ngày đến một ngày rưỡi nhập viện để theo dõi tiến triển. Vào khoảng ngày thứ tư hay thứ năm, một xét nghiệm máu được thực hiện để kiểm tra xem có những rối loạn đông máu hay không.

Vậy, khi đi dạo trên núi, trong rừng hay nơi những đầm lầy, chẳng ích lợi gì khi tự cho là mình đã tiên liệu với những dược phẩm được bán tự do ở các hiệu thuốc. Trong trường hợp bị rắn lục cắn, cần gọi ngay centre antipoison gần nhất trước khi đến nhanh bệnh viện. Còn đối với những người đi chơi xa, tốt hơn là nên quay trở về. Dầu sao đi nữa, khiêu khích một con rắn lục là điều chẳng bao giờ cần thiết. “ Không nên hoảng sợ, mà nên lẩn đi một cách nhẹ nhàng ”, Xavier Bonnet chủ xuớng như vậy. Ông cho rằng việc sợ rắn “ được thổi phồng ghê gớm ”. Trong khi các con chó lại đặc biệt nguy hiểm hơn nhiều, ông đánh giá như vậy. Thế nhưng, lại không có huyết thanh điều trị.
(LE FIGARO 2/8/2010)

8/ BỆNH TRẦM CẢM : HƯỚNG MỚI CHỐNG LẠI CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC.

PSYCHIATRIE. Một nhóm các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa công bố một bài báo trong Archives of General Psychiatry, mang lại một cái nhìn mới về điều trị của một loại bệnh trầm cảm. Các nhà nghiên cứu đã khảo sát những hiệu quả chống trầm cảm của một thuốc gây mê để điều trị bệnh hưng phấn-trầm cảm (maniaco-dépression), một bệnh tâm thần bị mắc phải bởi các nghệ nhân như Vincent Van Gogh, Virginia Woolf, nhưng cũng những chính trị gia như Churchill.

Các rối loạn lưỡng cực có liên quan đến khoảng 4% dân số. Căn bệnh mãn tính này, được đặc trưng bởi nhưng rối loạn khí chất, thường được chẩn đoán vào khoảng năm 30 tuổi. Bệnh nhân luân phiên các đợt hưng phấn (épisodes maniaques) và những lúc trầm cảm với những giai đoạn “ bình thường ” giữa các cơn, có thể kéo dài từ nhiều tuần đến nhiều tháng. Trong giai đoạn hưng phấn,, đó là một sự tăng hoạt tính (trí tuệ, sinh dục), có thể gây nên những xài phí không cân nhắc. Nó có thể được cặp đôi với những hành vi nghiện ngập (comportements addictifs), với một sự tiêu thụ quá mức rượu và các chất ma túy. Nhũng giây phút mà người bệnh nhân hưng phấn (maniaque) cảm thấy mình trở nên vô địch và có một sức mạnh vô song, luân phiên với những đợt trầm cảm.

Khi đó bệnh nhân có những ý nghĩ đen tối, thậm chí muốn tự tử, chịu một sự trì chậm tâm-vận động (ralentissement psychomoteur). Điều trị cổ điển dựa trên lithium (hay một thuốc làm ổn định khí chất khác) và trên vài thuốc chống trầm cảm. Ở giai đoạn kích động, các thuốc chống loạn tâm thần (antipsychotiques) cũng có thể được kê đơn.

Đi từ điều chứng thực rằng một số bệnh nhân nào đó không đáp ứng với những điều trị này, các nhà nghiên cứu của viện quốc gia Hoa Kỳ về sức khoẻ tâm thần (Bethesda, Maryland) đã có ý tưởng trắc nghiệm các tác dụng chống trầm cảm của kétamine, một thuốc gây mê. Hiện nay, các nhà nghiên cứu chỉ có một kiến thức giới hạn về nguồn gốc sinh-thần kinh của những rối loạn lưỡng cực. Tuy nhiên, những công trình mới đây gợi ý rằng một sự loạn năng trong hệ thống glutaminergique của não bộ (đóng một vai trò trong việc xử lý thông tin và trí nhớ) góp phần vào sự xuất hiện của những rối loạn tâm thần. BS Nancy Diazgranados và các đồng nghiệp đã trắc nghiệm tính hiệu quả của một loại thuốc, kétamine, có khả năng kiểm soát các khớp thần kinh (synapses) này.

“ MỘT THUỐC GÂY SẢNG KHOÁI ”

Từ tháng mười 2006 đến tháng Sáu 2009, một thử nghiệm được thực hiện trên 18 bệnh nhân. Tất cả trung bình đã theo 7 điều trị chống trầm cảm khác nhau mà chất cơ bản là lithium hay valproate (một thuốc chống trầm cảm điều hòa khí chất), nhưng không mang lại sự cải thiện. Ngoài ra, hơn một nửa trong số những bệnh nhân này đã không đáp ứng dương tính với sốc điện (électrochoc). Tất cả đã nhận hai mũi tiêm tĩnh mạch cách nhau 15 ngày, một mũi là kétamine, còn mũi kia là một placebo. Hiệu quả đã được đánh giá nhờ một thang xếp loại bệnh trầm cảm trước mỗi mũi chích rồi 40, 80, 120, 230 phút rồi một, hai, ba, bảy, mười và 14 ngày sau. Trong chưa được 40 phút, những bệnh nhân đã nhận kétamine đã được một sự cải thiện đáng kể các triệu chứng trầm cảm của họ so với những bệnh nhân đã nhận placebo. Lợi ích quan trọng nhất đã được chứng thực sau hai ngày là vẫn đáng kể cho đến ngày thứ ba.“ Những khám phá này là rất đáng lưu ý bởi vì phần lớn các người tham gia trước đó đã nhận những điều trị khác nhau nhưng đã không có hiệu quả ”, các tác giả đã đánh giá như vậy.

“ Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng kétamine cải thiện một triệu chứng khí chất trầm cảm (humeur dépressive) nhưng không cải thiện bệnh trầm cảm, BS Xavier Laqueille, trưởng servive addictologie, bệnh viện Sainte-Anne (Paris) đã nhận xét như vậy. Mặc dầu sau khi được chích thuốc kétamine, các bệnh nhân ít buồn bã hơn, nhưng không vì thế mà được chữa lành. Dầu sao điều này cũng hợp lý vì lẽ đó là một dược phẩm gây khoan khoái (euphorisant) hơn là một thuốc chống trầm cảm ”. Chất này có những tác dụng thuộc loại morphine và có thể đưa đến sự lạm dụng. Hiện nay, đó là một hướng nghiên cứu đáng lưu ý để tìm ra những thuốc chống trầm cảm mới, hiệu quả lâu dài nhưng không có những tác dụng gây nghiện.
(LE FIGARO 4/8/2010)

Đọc thêm:

Quote

Thời Sự Y Học Số 156 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH ( 11/1/2010 )

5/ TÂM THẦN HỌC : LITHIUM VẪN LÀ ĐIỀU TRỊ CĂN BẢN CỦA CÁC RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC.

Một công trình nghiên cứu lớn xác nhận vai trò của Lithium trong căn bệnh xen kẽ những giai đoạn kích động và trầm cảm này.

Bệnh loạn tâm thần hưng-trầm cảm (psychose maniaco-dépressive), còn được gọi là bệnh lưỡng cực loại 1 (maladie bipolaire de type 1), gây bệnh 1% dân chúng trong dạng “ thuần nhất ” nhưng 4% bị một dạng nhẹ (“ édulcorée ”), tuy nhiên không phải là kém phần đau khổ. Những rối loạn được gọi là lưỡng cực này, được thể hiện bởi những giai đoạn trầm cảm xen kẽ với những lúc kích động, mất ngủ, cảm giác khoái trá, những ý nghĩ vĩ đại… được phân biệt với những trầm cảm phản ứng (dépressions réactionnelles) bởi sự thiếu những yếu tố khởi động rõ ràng. Và nhất là bởi những khác nhau trong điều trị và xử trí. Đã từ nhiều năm nay, một tố bẩm di truyền mạnh có thể là nguyên nhân của những bệnh này. Một vài gia đình có vẻ bị ảnh hưởng hơn so với những gia đình khác.

Trái với những bệnh tâm thần nghiêm trọng khác, đối với loạn tâm thần hưng-trầm cảm và các rối loạn lưỡng cực, có những điều trị tỏ ra có hiệu quả và đảm bảo một đời sống gần như bình thường đối với một tỷ lệ không phải nhỏ các bệnh nhân. Nhưng rất thường những rối loạn này không được chẩn đoán tốt, gây nên một sự chậm trễ trong việc xử lý. Điều trị cơ bản không dựa vào các thuốc chống trầm cảm mà vào các thuốc điều hòa tính khí (régulateurs de l’humeur). Tuần này, tạp chí Anh The Lancet đã xuất bản những kết quả của một thử nghiệm điều trị rất quan trọng, thử nghiệm Balance, mà những kết luận chứng minh một cách chính thức rằng điều trị hiệu quả nhất đối với các rối loạn lưỡng cực là ở chỗ kết hợp của hai thuốc điều hòa tính khí, lithium và valproate. “ Những kết quả này rất là quan trọng, GS Chantal Henry, giám đốc trung tâm chuyên gia về những rối loạn lưỡng cực, thuộc bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) đã giải thích như vậy. Trước hết, những kết quả này đã có được nhờ một công trình nghiên cứu độc lập của công nghiệp dược phẩm. Sau đó, chúng cho phép mang lại những câu trả lời cụ thể bằng cách xác định một loại “ gold standard ” trong điều trị những rối loạn lưỡng cực.

Thử nghiệm, được công bố trong The Lancet, đã được tiến hành bởi một mạng thế giới các thầy thuốc tâm thần chuyên về căn bệnh này. Thử nghiệm được thực hiện trên 330 bệnh nhân trong 41 trung tâm điều trị ở Anh, Ý, Pháp và Hoa Kỳ. Các bệnh nhân được chia thành 3 nhóm : những bệnh nhân của nhóm đầu tiên chỉ nhận lithium, những bệnh nhân của nhóm thứ hai chỉ nhận valproate (một thuốc chống động kinh đã tỏ ra có hiệu quả chống lại những rối loạn tính khí) và những bệnh nhân của nhóm thứ ba nhận một phối hợp của hai thứ thuốc. Tất cả những bệnh nhân này đã được điều trị và theo dõi trong hai năm.

Những kết quả cho thấy rằng 46% các bệnh nhân nhận hai loại thuốc đã không bị tái phát, đặc biệt là không có một đợt hưng phấn (manie) hay trầm uất (dépression) trong hai năm điều trị, so với 41% những bệnh nhân chỉ nhận lithium và 31% đối với những bệnh nhân chỉ nhận valproate. “ Nếu những kết quả này chỉ rõ rằng sự kết hợp của lithium và valproate cho những kết quả tốt nhất, phân tích thống kê cho thấy rằng, sự khác nhau giữa sự sử dụng hai loại thuốc kết hợp với nhau và lithium được dùng riêng rẽ, là không đáng kể, GS Chantal Henri, đã góp phần vào công trình nghiên cứu này cho Pháp, đã xác nhận như vậy.

Những tác dụng ngoạn mục của lithium lên các loạn thần kinh hưng[*] trầm cảm đối với một số bệnh nhân nào đó (nhưng không phải tất cả) đã được khám phá trong những năm 1970. Tuy vậy thuốc này vẫn không được sử dụng đầy đủ nhất là bởi vì hơi khó quản lý. “ Những liều lượng điều trị không xa lắm những liều lượng gây độc, GS Henry đã nói thêm như vậy. Phải theo dõi đều đặn bệnh nhân. Ngoài ra, sức ép thương mãi của các hãng được phẩm khiến các thầy thuốc cho toa những thuốc mới, dễ quản lý hơn, nhưng có vẻ ít hiệu quả hơn. Các bệnh nhân, đáp ứng tốt với lithium, thấy đời sống mình thật sự thay đổi, với một sự thoái lui các giai đoạn hưng phấn và trầm cảm, thậm chí một sự biến mất đối với vài bệnh nhân. Tất cả các phân tích méta đều cho thấy rằng lithium làm giảm tỷ lệ tự tử và nhập viện nơi những bệnh nhân bị nhưng rối loạn lưỡng cực. Trong công trình nghiên cứu Balance, một số quan trọng các bệnh nhân đã không tái phát chút nào.” Lithium được thương mãi hóa ở Pháp dưới tên Téralithe. Sử dụng liều lượng không đúng đắn, thuốc gây nên một cảm giác khát dữ dội và một nguy cơ bị thương tổn thận và giáp trạng.

Cái khó khăn điều trị là ở chỗ sự trì chậm trong chẩn đoán bệnh này, nhất là trong những thể ít điển hình. “ Công trình nghiên cứu Balance xác nhận rằng ngày nay lithium vẫn là điều trị chọn lựa của những rối loạn lưỡng cực.”, GS Chantal Henry đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 28/12/2009)


9/ CUỘC TRANH CÃI CHUNG QUANH PHUƠNG PHÁP LÀM ĐÔNG LẠNH CÁC NOÃN BÀO (CONGELATION D’OVOCYTES)

Dành cho các phụ nữ vô sinh, một kỹ thuật mới “ vitrification ” mặc dầu đã chứng tỏ hiệu quả, lại bị cấm chỉ ở Pháp.

PROCREATION. Một bên, các thầy thuốc chuyên khoa trong hỗ trợ y khoa sinh sản (AMP : assistance médicale à la procréation). Còn bên kia, chính quyền. Đối tượng của sự tranh chấp ? Một kỹ thuật mới có tính chất cách mạng, “ vitrification ”, nhằm làm đông lạnh một cách cực kỳ nhanh và không tạo nên những tinh thể nuớc đá, những tế bào sinh sản phụ nữ, các noãn bào (ovocytes). Các thầy thuốc tin chắc rằng đó là một bước ngoặt trong AMP. Kỹ thuật này có liên quan đến những phụ nữ, ví dụ, phải chịu một điều trị trong bối cảnh của một ung thư, nhưng sau đó lại muốn có con. Các chuyên gia không hiểu tại sao kỹ thuật này, mặc dầu được sử dụng trong nhiều nước (Nhật Bản, Canada, Đức, Tây Ban Nha, Ý, Bỉ), và đã thấy chào đời hơn một ngàn em bé, nhưng lại không được cho phép ở Pháp. Lại còn tệ hại hơn, họ không hiểu tại sao lại không được phép đánh giá phương thức hỗ trợ sinh đẻ này. Vài thầy thuốc không do dự gởi các thành viên đi đào tạo ở nước ngoài.

Ở Pháp, từ những năm 1940, có thể làm đông lại (congeler) các tinh trùng. Ngược lại, việc làm đông lạnh những tế bào sinh sản của phụ nữ lại bị cấm chỉ. Đất nước của chúng ta bị đối đầu với một tình trạng thiếu người hiến các noãn bào. Vào năm 2006, chỉ có 220 phụ nữ đã hiến noãn, cho phép thực hiện 400 thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro), trong khi 1.300 cặp vợ chồng phải chờ đợi. Kỹ thuật vitrification này đúng là “ giải pháp cho những vấn đề dự trữ buồng trứng bị biến đổi và cho những tình trạng mãn kinh xảy ra sớm ”, BS Jean-Michel Dreyfusn, phó chủ tịch của nghiệp đoàn các thầy thuốc chuyên khoa ngoại sản, đã đánh giá như vậy.

Nếu các thầy thuốc cũng ủng hộ việc làm đông lạnh các noãn bào, đó là vì phương pháp này cho phép để dành noãn bào của các phôi thai, điều này được cho phép từ những năm 1980. Nhưng phải công nhận rằng hệ thống này đặt ra một số vấn đề nào đó. Chúng ta còn nhớ câu chuyện nổi tiếng chẳng hay ho gì của Evans ở Anh, đã trở thành chủ đề thời sự của năm 2006. Nathalie Evans bị một khối u ung thư buồng trứng. Vì biết rằng cô ta sẽ phải theo một điều trị làm cô trở thành vô sinh, nên Evans quyết định cùng với chồng làm đông lạnh các phôi thai. Nhưng rồi cặp vợ chồng ly dị. Sau khi đã được chữa lành bệnh, cô đòi lại các phôi thai của mình. Nhưng chính quyền Anh từ chối vì cho rằng các phôi thai không thuộc về Nathalie mà là sở hữu của cặp vợ chồng. Sau đó Tòa án Châu Âu cũng đưa ra một quyết định theo cùng chiều hướng này.

BS Pierre Boyer là nhà sinh học thuộc bệnh viện Saint-Joseph de Marseille. Vào năm 2007, ông tham dự một cuộc trình bày về đông lạnh các noãn bào tại một hội nghị. Tức khắc, ông hiểu được lợi ích của vấn đề này. “Với sự đông lạnh của các noãn bào, chỉ có người mẹ mới quyết định, cũng theo cách như có một sự đông lạnh của các tinh trùng đối với những người cha ”, ông đã nêu lên như vậy. Một lý lẽ cũng được sử dụng bởi BS Pierre Tourane, thầy thuốc phụ khoa ở Marseille. “ Kỹ thuật này sau cùng cho phép tránh được gánh nặng của sự đông lạnh các phôi thai. ” Rất phấn chấn, GS Claude Sureau, cựu trưởng khoa phụ sản của bệnh viện Cochin, ủy viên của Hội hàn lâm y học và của Comité national d’éthique, tố cáo một “ sự ngu xuẩn hành chánh ” làm cho nước Pháp phải trụt hậu một cách lố bịch trong vấn đề này ”.

NHỮNG “ PHƯƠNG THUỐC ” KHÁC NHAU.

Vậy thì, tại sao giới hữu trách lại từ chối không cho phép kỹ thuật này chào đời ? “ Các kỹ thuật mới của AMP bị cấm chỉ. Thế thì không thể trắc nghiệm phương pháp đông lạnh này mà không thay đổi luật đạo đức sinh học(loi de bioéthique) năm 2004. ”, François Thepot, phó giám đốc của Agence de biomédecine đã tóm tắt như vậy. Ở Bộ y tế, người ta công nhận rằng sự cấm đoán này tạo nên một sự “ kềm hãm ” đối những người chuyên nghiệp và rằng vấn đề này đang được nghiên cứu. Ở Afssaps, Fabienne Bartoli, phó tổng giám đốc, giải thích rằng những phương thức tiến hành vitrification là “ phức tạp vì lẽ chúng không được tiêu chuẩn hóa trong tất cả các phòng thí nghiệm ”. Vấn đề, các nhà sinh học chuyên về AMP đã trả lời như vậy, là mỗi phòng thí nghiệm có “ phương thức chế biến ” (recette de cuisine) của riêng mình. Ví dụ, các thầy thuốc Canada khi thực hiện vitrification, không sử dụng cùng protocole như các đồng nghiệp ở Nhật Bản. Và tất cả các thầy thuốc Canada cũng không sử dụng cùng kỹ thuật… “ Đất nước của chúng ta bị chấn thương bởi vụ máu ô nhiễm, BS Jean-Michel Dreyfus đã phân tích như vậy. Người ta vẫn còn sợ cái bóng ma của sự vụ này. Như thế, người ta áp dụng nguyên tắc thận trọng (principe de précaution) khắp mọi nơi. ”

Luật đạo đức sinh học (loi de bioéthique) sẽ có vài thay đổi trong thời gian tới. Nhưng những điểm liên quan đến những phương pháp mới của AMP có được thay đổi hay không ? Trong lúc chờ đợi, các thầy thuốc cho rằng chúng ta đã mất khá nhiều thời gian. Một điều không thể chấp nhận được đối với một đất nước đã luôn luôn ở mũi nhọn trong lãnh vực này.
(LE FIGARO 26/3/2010)

10/ NHỮNG NGUY CƠ CỦA ĐIỀU HÚT THUỐC LÀO ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ.

Lần đầu tiên, một phân tích méta, được thực hiện trên 23 nghiên cứu lâm sàng, chỉ rõ nhưng những nguy cơ y tế của việc sử dụng điếu ống (narguilé), những điếu hút (pipe à eau) lớn dùng để hút thuốc lá, cũng được gọi arguileh (Syrie và Liban), hookah nơi thổ dân da đỏ hay chicha (Ai cập và Maghreb). Từ đầu những năm 1980, cách hút thuốc này cũng đã trở thành phổ biến ở Châu Âu và Hoa Kỳ. Các kết quả cho thấy rằng điếu ống (narguilé) làm tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện một ung thư phổi hay một bệnh đường hô hấp cao như viêm mũi, cũng như nguy cơ có trọng lượng thấp lúc sinh nơi các trẻ được sinh ra từ những phụ nữ đã sử dụng loại điếu ống này. Nó tăng gấp ba nguy cơ bị các bệnh nha chu (affections périodontales) (ảnh hưởng các mô nâng đỡ của các chiếc răng).

Ngược lại, không có một sự liên kết nào được nhận thấy đối với ung thư bàng quang, ung thư thực quản, các loạn sản miệng (dysplasies buccales) hay nguy cơ bị viêm gan C (có thể được liên kết với tính cách mời mọc giao tế của việc sử dụng phương cách này).
(SCIENCE ET AVENIR 8/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (16/8/2010)
 
    Cách phân biệt u cục lành tính và ác tính
    Những thành tựu mới trong phẫu thuật tim tại Singapore.
    Hỏng da vĩnh viễn vì đặt laptop lên đùi
    Cứu sống thai nhi trong cơ thể người mẹ đã chết
    Phát hiện nguồn gốc tế bào miễn dịch trong não
    Dạ dày nhân tạo
    “Tử dược” Mediator vẫn được bày bán!
    Những lời tâm huyết với các bạn trong và ngoài ngành Y
    Chăm sóc sốt xuất huyết tại gia đình, địa long, lá đu đủ chữa Sốt xuất huyết
    Mỡ trong máu, huyết áp, và tiểu đường
    Bức thư của một bác sĩ về hưu
    Giải Nobel y sinh học 2010 vinh danh người đem niềm vui cho người vô sinh
    Thuốc rẻ cho người nghèo
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 1 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 125 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 126 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 127 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 128 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 129 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 130 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 133
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 134
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 135
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 136
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 137
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 138
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 139
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 140
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 141
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 142
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 143
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 145
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 146
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 147
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 148
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 149
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 150
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 151
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 152
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 153
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 154
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 155
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 156
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 157
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 158
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 159
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 160
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 161
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 162
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 163
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 164
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 165
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 166
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 167
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 168
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 169
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 170
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 171
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 172
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 173
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 174
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 175
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 176
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 177
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 178
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 179
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 180
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 181
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 182
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 185
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 188
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 189
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 190
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 191
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 192
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 193
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 194
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 195
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 196
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 197
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 198
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 199
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 200
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 201
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 202
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 203
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 204
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 205
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 24 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 26 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 27 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 287 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 29 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    THỜI SỰ Y HỌC SỐ 30 - BS NGUYỄN VĂN THỊNH
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Thái
Địa chỉ: Tầng 8, 434 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: (84.4) 3974 1454 - Fax: (84.4) 3976 2969